intTypePromotion=1
ADSENSE

ĐỀ TÀI: “Đánh giá các dự án ODA”

Chia sẻ: Nguyễn Đắc Dũng | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:32

189
lượt xem
42
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Căn cứ theo không gian có thể phân loại đánh giá dự án thành đánh giá nội bộ và đánh giá bên ngoài. Đánh giá nội bộ là loại đánh giá dự án được thực hiện bởi tổ chức đang thực hiện dự án với mục đich chủ yếu là cung cấp các thông tin cần thiêt về dự án , làm cơ sở để ra quyết định điều chỉnh, bổ sung kịp thời phục vụ cho công tác quản lý dự án.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: ĐỀ TÀI: “Đánh giá các dự án ODA”

  1. Trường Đại học kinh tế quốc dân ĐỀ TÀI “Đánh giá các dự án ODA” Nhóm: 9 Lớp: kinh tế đầu tư 51D Khoa: đầu tư Hà nội 201 Danh sách nhóm 9 lớp kinh tế đầu tư 51D 1. Đỗ Trung Hiếu 2. Lương Hoàng Huy 3. Hoàng Thị Huyền Trang 4. Nguyễn Thùy Trang 5. Nguyễn Kim Thoa 6. Nguyễn Minh tú
  2. PHẦN I: LÝ THUYẾT VỀ ĐÁNH GIÁ DỰ ÁN 1. khái niệm, mục tiêu và phân loại 1.1. Khái niệm “Đánh giá dự án là quá trình xác định, phân tích một cách hệ thống và khách quan các kết quả, mức độ hiệu quả và các tác động, mối liên hệ của dự án trên cơ sở các mục tiêu của chúng”. 1.2. Mục tiêu Đánh giá dự án là nhằm các mục tiêu sau đây: Khẳng định lại tính cần thiết của dự án, đánh giá các m ục tiêu, xác • định tính khả thi, hiện thực của dự án. Đánh giá tính hợp lý, hợp pháp của dự án. Xem xét tính đ ầy đ ủ, h ợp lý, • hợp pháp của các văn kiện thủ tục liên quan đến dự án. Đánh giá giữa kỳ là nhằm làm rõ thực trạng diễn biến của dự án, • những điểm mạnh, yếu những sai lệch mức độ rủi ro của dự án trên cơ sở đó có biện pháp quản lý phù hợp, xem xét tính khoa h ọc, h ợp lý c ủa
  3. các phương pháp được áp dụng trong việc xây dựng và triển khai dự án. 1.3. Phân loại Đánh giá có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau. Căn cứ theo không gian có thể phân loại đánh giá d ự án thành đánh giá nội bộ và đánh giá bên ngoài. Đánh giá nội bộ là loại đánh giá d ự án đ ược thực hiện bởi tổ chức đang thực hiện dự án với mục đich chủ y ếu là cung cấp các thông tin cần thiêt về dự án , làm c ơ s ở đ ể ra quy ết đ ịnh đi ều ch ỉnh, bổ sung kịp thời phục vụ cho công tác quản lý dự án. Đánh giá bên ngoài là hình thức tổ chức đánh giá dự án được thực hiện bới nh ững ng ười , c ơ quan bên ngoài, ví dụ các nhà tài trợ, cơ quan chính phủ có th ẩm quyền, v ới m ục tiêu chủ yếu là cung cấp những thông tin cần thi ết v ề d ự án cho chính h ọ và các cơ sở có liên quan đến dự án khác. Căn cứ theo thời gian hay chu kỳ thực hiện dự án có thể chia thành 3 loại chủ yếu: đánh giá giữa kỳ, đánh giá kết thúc, đánh giá sau dự án. Đánh giá giữa kỳ (hay đánh giá trong giai đoạn thực hiện) Đánh giá dự án trong qua trình thực hiện là nhằm. Xác định phạm vi, các kết quả của dự án đến thời điểm đánh giá, d ựa • trên cơ sở những mục tiêu ban đầu. Phân tích tiến độ thực hiện công việc cho đến thời điểm đánh giá. • Giúp các nhà quản lí dự án đưa ra những quyết định liên quan đ ến vi ệc • điều chỉnh mục tiêu, cơ chế kiểm soát tài chính, kế hoạch. Phản hồi nhanh cho các nhà quản lý về những khó khăn, nh ững tình • huống bất thường để có sự điều chỉnh chi phí và nguồn lực kịp thời Là căn cứ để đề ra những quyết định về việc tiếp tục hay từ bỏ d ự án, • đánh giá lại các mục tiêu và thiết kế dự án. Đánh giá kết thúc dự án Loại đánh giá này thường được thực hiện khi dự án đã hoàn tất. Mục tiêu của đánh giá kết thúc dự án là:
  4. Xác định mức độ đạt được mục tiêu các dự án. • Phân tích các kết quả của dự án. Đánh giá những tác động có th ể có • của các kết quả Rút ra bài học , đề xuất các hoạt động tiếp theo hoặc tri ển khai nh ững • pha sau trong tương lai. Đánh giá sau dự án (cón gọi là đánh giá tác động của dự án) Đánh giá sau dự án được tiến hành khi dự án đã hoàn thành được một th ời gian. Mục tiêu của đánh giá sau dự án là: Xác định kết quả và mức độ ảnh hưởng lâu dài của dự án đến đời • sống kinh tế, chính trị, XH của những người hưởng lợi từ dự án cũng như những đối tượng khác. Rút ra bài học kinh nghiệm, đề xuất khả năng triển khai các pha sau • của dự án hoặc những dự án mới. Đánh giá giữa kỳ thường được tiến hành đối với các dự án lớn, phức tạp và thuộc loại đánh giá nội bộ. Hai loại đánh giá k ết thúc d ự án và sau d ự án là cơ sở để xem xét lai các chính sách, quyết định có tính chiến lược của các cấp có liên quan. Chúng thường là loại đánh giá bên ngoài, đ ược th ực hiện bởi các nhà tài trợ. Ngoài ra còn có thể kể đến một só loại đánh giá dựa án rất c ụ th ể khác mà thuộc quá trình thực hiện như: Đánh giá khó khăn: mục đích chủ yếu của loại nàu là tìm ph ương hướng giải quyết những vấn đề khó khăn cụ thể nào đó, nảy sinh trong quá trình thực hiện dự án. Đánh giá giải thể: đây là loại đánh giá thực hiện khi nhà tài trợ muốn k ết thúc dự án trước thời hạn. Mục đích chính của loại đánh giá này là xem xét các mục tiêu của nhà tài trợ có được thực hiện đúng hay không. Đánh giá kiểm tra: loại đánh giá này chủ yếu xem xét, kiểm tra chất lượng công tác quản lý tài chính và điều hành của đơn v ị tổ ch ức d ự án có đáp ứng yêu cầu hay không.
  5. 2. Nội dung đánh giá dự án Theo điều 6 nghị định về giám sát và đánh giá đầu tư Số: 113/2009/NĐ- CP đánh giá dự án bao gồm những nội dung sau: 1. Đánh giá ban đầu: a) Đánh giá công tác chuẩn bị, tổ chức, huy động các nguồn lực của dự án, bảo đảm thực hiện dự án đúng mục tiêu, tiến độ đã được phê duyệt; b) Đánh giá những vướng mắc, phát sinh mới xuất hiện so với th ời đi ểm phê duyệt dự án; những vướng mắc, phát sinh mới do yếu tố khách quan (như môi trường chính sách, pháp lý thay đổi, phải điều chỉnh dự án cho phù h ợp với điều kiện khí hậu, địa chất …) hoặc do các yếu tố chủ quan (như năng lực, cơ cấu tổ chức quản lý thực hiện dự án, …); c) Đề xuất các biện pháp giải quyết các vấn đề vướng mắc, phát sinh phù hợp với điều kiện thực tế. 2. Đánh giá giữa kỳ: a) Đánh giá sự phù hợp của kết quả thực hiện dự án so với mục tiêu đầu tư; b) Đánh giá mức độ hoàn thành khối lượng công việc đến th ời đi ểm đánh giá so với kế hoạch thực hiện dự án đã được phê duyệt; c) Đề xuất các giải pháp cần thiết, kể cả việc điều ch ỉnh thi ết k ế, m ục tiêu của dự án (nếu cần); d) Các bài học kinh nghiệm rút ra từ việc lập, thẩm định, phê duy ệt d ự án và quản lý thực hiện dự án. 3. Đánh giá kết thúc: a) Đánh giá quá trình chuẩn bị đầu tư dự án; b) Đánh giá quá trình thực hiện dự án: hoạt động quản lý thực hi ện d ự án; kết quả thực hiện các mục tiêu của dự án; các nguồn lực đã huy động cho d ự án; các lợi ích do dự án mang lại cho những người thụ hưởng và những
  6. người tham gia; các tác động của dự án; tính bền vững và các y ếu t ố b ảo đảm tính bền vững của dự án; c) Các bài học rút ra sau quá trình thực hiện dự án và đề xuất các khuyến nghị cần thiết. 4. Đánh giá tác động: a) Đánh giá thực trạng kinh tế - kỹ thuật vận hành của dự án; b) Đánh giá tác động kinh tế - xã hội của dự án. c) Đánh giá tác động môi trường, sinh thái của dự án; d) Đánh giá tính bền vững của dự án; đ) Các bài học thành công và thất bại của các khâu thi ết k ế - th ực hi ện - v ận hành dự án. 5. Đánh giá đột xuất: a) Xác định tình trạng và bản chất những phát sinh ngoài dự kiến; b) Xác định các ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của những phát sinh đến việc thực hiện dự án, khả năng hoàn thành các mục tiêu của dự án; c) Kiến nghị các biện pháp can thiệp, cơ quan thực hiện và th ời h ạn hoàn thành. 3. Các bước tiến hành đánh giá dự án. Mỗi hoạt động đánh giá dự án có thể xem xét như 1 dự án nhỏ, trong đó có các mục tiêu cần phải đạt, các công việc phải thực hiện, phải tiến hành tổ chức triển khai, kiểm tra theo dõi…Qúa trình đánh giá dự án bao gồm nhiều bước công việc, trog đó có 1 số bước chính như sau: Bước 1: ra quyết định đánh giá dự án. Ai quyết định đánh giá d ự án tùy thuộc đó là loại đánh giá nội bộ hay bên ngoài. Quy ết định đánh giá d ự án phải được đưa vào kế hoạch ngay từ khi lập(thiết kế) dự án và ch ỉ rõ s ử dụng phương pháp đánh giá nào(đánh giá giữa kỳ, kết thúc hay đánh giá tác
  7. động). Những nguyên nhân và sự cần thiết của đánh giá dự án ph ải đ ược làm rõ, ví dụ đánh giá để điều chỉnh 1 số quyết định của nhà tài trợ, để giải quyết những khó khăn vướng mắc nảy sinh. Bước 2: chuẩn bị các điều khoản hợp đồng (TOR) cho hoạt động đánh giá dự án. Bản mô tả các điều khoản hợp đồng phải làm rõ m ục đích và phạm vi của đánh giá dự án, mô tả ngắn gọn nội dung c ơ bản c ủa d ự án được đánh giá, những điều khoản về phương pháp tiền hành đánh giá. TOR cần nêu rói những kỹ năng, trình độ chuyên môn và những yêu cầu khác mà các chuyên gia tư vấn đánh giá – các ứng viên cần phải có. TOR cũng c ần đưa ra quy trình thủ tục lựa chọn tư vấn đề đảm bảo vi ệc đánh giá đ ược khách quan, chính xác. Cần lưu ý, việc dự thảo các điều khoản h ợp đ ồng có thể khó khăn do mâu thuẫn lợi ích. Do đó có thể tổ ch ức h ọp kín gi ữa nhóm dự án, nhà tài trợ và đại diện những người hưởng lợi từ dự án…để bàn th ảo luận các điều khoản hợp đồng. Bước 3: lựa chọn và ký hợp đồng với nhóm đánh giá dự án. Việc lựa chọn 1 chuyên gia hay 1 nhóm tư vấn đánh giá đều tiến hành trên cơ s ở những tiêu chuẩn đã xác định rõ trong bản mô tả điều khoản hợp đồng. Những tiêu chuẩn này phải bao gồm đủ những yêu cầu về chuyên môn, kỹ thuật, tiêu chuẩn nhân sự…Đế chọn được những ứng viên phù h ợp nh ất v ới yêu cầu đánh giá dự án, dựa trên tiêu chuẩn của bản điều khoản h ợp đồng, cần đề nghị các ứng viên cung cấp những thông tin cần thi ết v ề năng l ực chuyên môn, kinh nghiệm về lĩnh vực đánh giá dự án. Bước 4: lập kế hoạch và chuẩn bị công việc. Sau khi được lựa chọn, bước tiếp theo mà nhóm đánh giá phải làm là chuẩn bị 1 kế hoạch thời gian cũng như làm việc chi tiết và phân chia nhiệm vụ giữa các thành viên trong nhóm. Đồng thời nhóm cũng sẵn sàng bắt tay ngay vào việc, trước tiên là tiến hành nghiên cứu các tài liệu nếu có thể.
  8. Khi lập kế hoạch đánh giá dự án rất cần thiết phải xây dựng 1 khung logic và đưa ra các tiêu chí đánh gi. Khung logic đánh giá d ự án có k ết c ấu như sau: Bảng 1. Khung logic dùng đánh giá dự án Nội dung Bộ tiêu chí Đo lường Đo lường Công cụ sử như đề nào như cái gì dụng đánh giá 1. mục đích 2. kết quả 3. đầu ra 4. các hoạt động 5. đầu vào Các tiêu chí đánh giá dự án bao gồm các tiêu chí: hiệu suất, hiệu quả, tác động, phù hợp và bền vững ( đối với dự án ODA) Hiệu suất của dự án là việc so sánh mức độ đầu ra với đầu vào của dự án, xem xét khả năng tiết kiệm đầu vào trong khi vẫn đảm bảo được mức độ đầu ra của dự án Hiệu quả: xem xét mức độ đạt được các mục tiêu của dự án so với các yếu tố đầu vào. Đánh giá xem xét dự án có đạt được mục đích đặt ra hay không và liệu có thể giảm được qui mô đầu vào mà không ảnh h ưởng đến mục đích hay không. Tác động: đánh giá mức độ ảnh hưởng của dự án đến các mặt đời sống kinh tế XH. Xem xét xem dự án có ảnh hưởng tiêu cực hay không? Những tác động tích cực là gì và có thể tối đa hóa được hay không? Dự án ảnh hưởng như thế nào đến dài hạn? Tính phù hợp: đánh giá mức độ phù hợp của dự án với mục tiêu phát triển của vùng, ngành và yêu cầu của nhứng người th ụ hưởng. Đánh giá xem xét hoạt động đầu tư của dự án có phù hợp với mục tiêu chi ến l ược c ủa vùng, ngành, có đáp ứng yêu cầu của cơ quan thụ hưởng hay không?
  9. Tính bền vững: đánh giá khả năng tiếp tục hoạt động của dự án sau khi được chuyển giao(thường với dự án ODA). Đánh giá xem liệu cơ quan Việt Nam, những người thụ hưởng dự án có thể tiếp tục được dự án, vận hành độc lập sau khi kết thúc dự án hay không? Bước 5: tiến hành đánh giá dự án. Trong giai đoạn thực thi nhiệm v ụ đánh giá dự án, tất cả các tài liệu quan trọng liên quan đến dự án cần được thu thập, tổng hợp và phân tích. Trong quá trình thu thập thông tin, nhóm đánh giá rất cần sự giúp đỡ, cộng tác tích cực của ban quản lý d ự án nh ư vi ệc s ẵn sàng trả lời phỏng vấn trực tiếp, điền các bộ câu h ỏi c ủa đi ều tra viên, tham dự các buổi báo cáo với các nhân viên đánh giá dự án. Bước 6: chuẩn bị báo cáo, sau khi các tài liệu được tổng h ợp, phân tích nhóm đánh giá cần viết thành 1 bản báo cáo. Báo cáo nêu rõ nh ững k ết lu ận, kiến nghị của nhóm. Đồng thời báo cáo dành 1 số trang nhất định trình bày phương pháp tiến hành đánh giá và nếu có thể, trình bày nh ững khó khăn n ảy sinh và cách khắc phục của nhóm. Bước 7: sửa chữa viết báo cáo cuối cùng và nộp sản phẩm. Báo cáo được đệ trình cho các bên liên quan như nhà tài trợ, ban quản lý dự án, đại diện những người hưởng lợi, đại diện cơ quan chính phủ để xin ý kiến.Có thể tổ chức 1 hội nghị để thảo luận, xin ý kiến đánh giá, nhận xét bản báo cáo của các bên tham gia. Sau đó nhóm đánh giá dự án ti ến hành s ửa ch ữa, b ổ sung, viết báo cáo cuối cùng và giao nộp sản phẩm. 4. Phương pháp thu thập số liệu để đánh giá dự án Lựa chọn phương pháp thu thập số liêu phục vụ việc đánh giá d ự án là vấn đề rất quan trọng đối với mọi cuộc đánh giá. Có nhiều ph ương pháp thu thập số liệu, mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm khác nhau. Lựa ch ọn phương pháp nào để thu thập số liệu cần xuất phát từ nh ững v ấn đ ề nh ư: ai là người sử dụng kết quả đánh giá; loại thông tin nào cần thu th ập; mục đích của đánh giá dự án; thời gian cần thông tin; nguồn thông tin nào là chính…
  10. dưới đây trình bày hai phương pháp chủ yêu để thu thập thông tin; ph ương pháp định tính và phương pháp định lượng. Phương pháp định tính Phương pháp này cho phép chuyên gia đánh giá dựa án nghiên c ứu những tài liệu lựa chọn, các tình huống hoặc sự kiện điển hình 1 cách sâu sắc và chi tiết. phương pháp định tính cung cấp các thông thin cụ th ể thông qua những trích dẫn trực tiếp, những mô tả cẩn thận, tỷ mỉ về 1 tình trạng, s ự kiện, con người….những thông tin này được thể hiện thông qua hệ thống các bảng câu hỏi hoặc những phiếu điều tra, được mô tả như 1 câu chuy ện có kết thúc mở. Tuy nhiên việc phân tích sé gặp khó khăn vì câu trả lời thường không hệ thống hoặc chưa chuẩn hóa. Nguồn số liệu thô cho phân tích định tính gồm: các tình huống nghiên cứu; bảng trả lời câu h ỏi đi ều tra, các mô t ả quán sát, kết quả các cuộc phỏng vấn sâu…. Phương pháp nghiên cứu tình huống: lựa chọn 1 số tình huống điển hình để nghiên cứu. Các tình huống nghiên cứu cho ta nh ững thông tin phong phú để có thể đánh giá sâu đối tượng nghiên cứu. Tuy nhiên, do hạn chế về số lượng đơn vị nghiên cứu nên số liệu không có ý nghĩa nhiều về mặt th ống kê. Phương pháp đánh giá nhanh: phương pháp này được xem là 1 giải pháp quan trọng để thu thập số liệu. Đây là sự kết hợp của nhi ều ph ương pháp khác nhau như phương pháp thu thập số liệu thứ sinh, phỏng v ấn nhóm, quan sát và đo lường. Lợi thế của phương pháp này là cho k ết qu ả nhanh chóng. Tuy nhiên, nó dễ bị sai lệch và đòi hỏi phải có nh ững chuyên gia thu thập số liệu có nhiều kinh nghiệm và trình độ chuyên môn cao. Phương pháp định lượng Một số phương pháp định lượng sử dụng để thu thập số liệu gồm: Điều tra mẫu: một số lớn đơn vị được điều tra theo một bộ câu hỏi xây dựng trước. Do đó, thông tin số liệu thu thập được khá phong phú, chi tiết và là cơ sở để áp dụng các phương pháp phân tích thông kế.
  11. Các tài liệu ghi chép của chuyên gia: tài liệu ghi chép của các chuyên gia đánh giá dự án về các nhóm đối tượng nghiên cứu, cung cấp rất nhi ều s ố liệu cần thiết phục vụ cho công tác đánh giá dự án. Đây là nguồn cung cấp thông tin khả rẻ vì số lượng các cuộc phỏng vấn không nhiều, nh ưng việc chế biến số liệu gặp nhiều khó khăn. Thu thập số liệu thứ sinh: đây là nguồn tài liệu quan trọng, phong phú lại chi phí thấp, rất hữu ích cho việc đánh giá dự án. Tuy nhiên, số li ệu thường không có nguồn gốc rõ ràng và không biết độ tin cậy của số liệu đó đến đâu. Ưu nhược điểm của 1 số phương pháp thu thập số liệu để đánh giá dự án được trình bày trong bảng sau: Phương pháp Ưu điểm Nhược điểm Độ tin cậy của thông tin 1. Nghiên cứu tài liệu Chi phí thấp kém 2. Lập bảng hỏi và điều Cung cấp thông tin định Chi phí cao lượng và đáng tin cậy tra Không cần sự chuẩn bị Kết quả có thể khác kỹ lưỡng. phù hợp với 3. Quan sát trực tiếp nhau vì phụ thuộc người các nghiên cứu ban đầu quan sát và đánh giá giữa kỳ Chi phí không cao dễ thực hiện. cung cấp Có sai số do quan điểm thông tin hữu ích và dữ của người phỏng vấn là 4. Phỏng vấn liệu chứa nhiều thông được phỏng vấn tin. Dữ liệu khó phân tích. Giải thích được các tác động
  12. 5. nội dung cơ bản của báo cáo đánh giá dự án Báo cáo đánh giá dự án là 1 tài liệu ngắn gọn nh ưng r ất quan tr ọng phục vụ việc ra quyêt định của các cấp liên quan đến dự án. Báo cáo không cần dài nhưng phải làm rõ được những nội dung thiết yếu sau đây: 1. Tên dự án 2. Địa điểm 3. Quyết định đầu tư số 4. Thời gian 5. Cơ quan thực hiện và địa chỉ 6. Chủ dự án và địa chỉ 7. Tóm tắt dự án và các mục tiêu - Kết quả chính - Đầu ra dự kiến - Các hoạt động - Các đầu vào 8. Mục đích đánh giá và kế hoạch đánh giá - Ban đầu - Giữa kỳ - Kết thúc. - Tác động 9. Yếu tố đánh giá và các công cụ. - Các chỉ số ( chỉ tiêu) - Đo lường - Các công cụ đánh giá 10. Các phát hiện khi đánh giá dự án. - Tính phù hợp - Hiệu suất - Hiệu quả - Tác động
  13. - Tính bền vững - Bài học kinh nghiệm Phần chính của báo cáo phải làm rõ; tổng quan chung về dự án; các kết quả ứng với từng tiêu chí đánh giá; tóm tắt các bài học kinh nghiệm và khuyến nghị; chứng minh được tính đúng đắn của kế hoạch đánh giá; chứng minh tính đúng đắn của những thay đổi so với thi ết k ế qua quá trình th ực hiện. Báo cáo đánh giá cần đưa ra những ph ụ lục về: khung logic dùng đánh giá, các câu hỏi đánh giá và kết quả phân tích, những dữ liệu thu th ập được từ điều tra, phỏng vấn, quan sát và các tài liệu tham khảo. PHẦN II: THỰC TRẠNG VIỆC ĐÁNH GIÁ CÁC DỰ ÁN ODA Ở VIỆT NAM 1. Lý thuyết chung về ODA 1.1. Khái niệm ODA ODA bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi của các chính phủ, các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc, các tổ chức tài chính quốc tế dành cho các nước đang và chậm phát triển. Các đồng vốn bên ngoài chủ yếu chảy vào các nước đang phát triển và chậm phát triển gồm có: ODA, tín dụng thơng mại từ các ngân hàng, đầu tư trực tiếp nước ngoài( FDI) , viện trợ cho không của các tổ chức phi chính phủ(NGO) và tín dụng tư nhân. Các dòng vốn quốc tế này có những mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Nếu một nước kém phát triển không nhận được vốn ODA đủ mức cần thiết để cải thiện các cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội thì cũng khó có thể thu hút được các nguồn vốn FDI cũng nh vay vốn tín dụng
  14. để mở rộng kinh doanh nhưng nếu chỉ tìm kiếm các nguồn ODA mà không tìm cách thu hút các nguồn vốn FDI và các nguồn tín dụng khác thì không có điều kiện tăng trưởng nhanh sản xuất, dịch vụ và sẽ không có đủ thu nhập để trả nợ vốn vay ODA. 1.2. Đặc điểm của ODA Như đã nêu trong khái niệm ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại hoặc tín dụng ưu đãi. Do vậy, ODA có những đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, Vốn ODA mang tính ưu đãi. Vốn ODA có thời gian cho vay( hoàn trả vốn dài), có thời gian ân hạn dài. Chẳng hạn, vốn ODA của WB, ADB, JBIC có thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian ân hạn là 10 năm. Thông thường, trong ODA có thành tố viện trợ không hoàn lại( cho không), đây cũng chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thơng mại. Thành tố cho không đợc xác định dựa vào thời gian cho vay, thời gian ân hạn và so sánh lãi suất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thơng mại. Sự ưu đãi ở đây là so sánh với tập quán thương mại quốc tế. Sự ưu đãi còn thể hiện ở chỗ vốn ODA chỉ dành riêng cho các nớc đang và chậm phát triển, vì mục tiêu phát triển. Có hai điều kiện cơ bản nhất để các nước đang và chậm phát triển có thể nhận được ODA là: Điều kiện thứ nhất: Tổng sản phẩm quốc nội( GDP) bình quân đầu ngời thấp. Nước có GDP bình quân đầu ngời càng thấp thì thường đợc tỷ lệ viện trợ không hoàn lại của ODA càng lớn và khả năng vay với lãi suất thấp và thời hạn ưu đãi càng lớn. Điều kiện thứ hai: Mục tiêu sử dụng vốn ODA của các nước này phải phù hợp với chính sách và phơng hướng ưu tiên xem xét trong mối quan hệ giữa bên cấp và bên nhận ODA. Thông thường các nước cung cấp ODA đều có những chính sách và ưu tiên riêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng kỹ thuật và t vấn. Đồng thời, đối tượng ưu tiên của các nước cung cấp ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể.
  15. Vì vậy, nắm bắt được xu hớng ưu tiên và tiềm năng của các nước, các tổ chức cung cấp ODA là rất cần thiết. Về thực chất, ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn lại trong những điều kiện nhất định một phần tổng sản phẩm quốc dân từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển. Do vậy, ODA rất nhạy cảm về mặt xã hội và chịu sự điều chỉnh của dư luận xã hội từ phía nước cung cấp cũng như từ phía nớc tiếp nhận ODA. Thứ hai, vốn ODA mang tính ràng buộc. ODA có thể ràng buộc ( hoặc ràng buộc một phần hoặc không ràng buộc) nớc nhận về địa điểm chi tiêu. Ngoài ra mỗi nước cung cấp viện trợ cũng đều có những ràng buộc khác và nhiều khi các ràng buộc này rất chặt chẽ đối với nước nhận. Ví dụ, Nhật Bản quy định vốn ODA của Nhật đều đợc thực hiện bằng đồng Yên Nhật. Vốn ODA mang yếu tố chính trị: Các nớc viện trợ nói chung đều không quên dành đợc lợi ích cho mình vừa gây ảnh hởng chính trị vừa thực hiện xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tư vấn vào nớc tiếp nhận viện trợ. Chẳng hạn, Bỉ, Đức và Đan Mạch yêu cầu khoảng 50% viện trợ phải mua hàng hoá dịch vụ của nớc mình. Canada yêu cầu tới 65%. Nhìn chung 22% viện trợ của DAC phải đợc sử dụng để mua hàng hoá và dịch vụ của các quốc gia viện trợ. Kể từ khi ra đời cho tới nay, viện trợ luôn chứa đựng hai mục tiêu cùng tồn tại song song. Mục tiêu thứ nhất là thúc đẩy tăng tưrởng bền vững và giảm nghèo ở các nước đang phát triển. Động cơ nào đã thúc đẩy các nhà tài trợ đề ra mục tiêu này? Bản thân các nước phát triển nhìn thấy lợi ích của mình trong việc hỗ trợ, giúp đỡ các nước đang phát triển để mở mang thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường đầu tư. Viện trợ thường gắn với các điều kiện kinh tế xét về lâu dài, các nhà tài trợ sẽ có lợi về mặt an ninh, kinh tế, chính trị khi kinh tế các nước nghèo tăng trưởng. Mục tiêu mang tính cá nhân này được kết hợp với tinh thần nhân đạo, tính cộng đồng. Vì một số vấn đề mang tính toàn cầu như sự bùng nổ dân số thế giới, bảo vệ môi trờng sống, bình đẳng giới, phòng chống dịch bệnh, giải quyết các xung đột sắc tộc, tôn giáo v.v đòi hỏi sự hợp tác, nỗ lực của cả cộng đồng quốc tế không
  16. phân biệt nước giàu, nước nghèo. Mục tiêu thứ hai là tăng cường vị thế chính trị của các nước tài trợ. Các nước phát triển sử dụng ODA nh một công cụ chính trị: xác định vị thế và ảnh hưởng của mình tại các nước và khu vực tiếp nhận ODA. Ví dụ, Nhật Bản hiện là nhà tài trợ hàng đầu thế giới và cũng là nhà tài trợ đã sử dụng ODA nh một công cụ đa năng về chính trị và kinh tế. ODA của Nhật không chỉ đa lại lợi ích cho nước nhận mà còn mang lại lợi ích cho chính họ. Trong những năm cuối thập kỷ 90, khi phải đối phó với những suy thoái nặng nề trong khu vực, Nhật Bản đã quyết định trợ giúp tài chính rất lớn cho các nớc Đông nam á là nơi chiếm tỷ trọng tương đối lớn về mậu dịch và đầu t của Nhật Bản, Nhật đã dành 15 tỷ USD tiền mặt cho các nhu cầu vốn ngắn hạn chủ yếu là lãi suất thấp và tính bằng đồng Yên và dành 15 tỷ USD cho mậu dịch và đầu tư có nhân nhợng trong vòng 3 năm. Các khoản cho vay tính bằng đồng Yên và gắn với những dự án có các công ty Nhật tham gia. Viện trợ của các nước phát triển không chỉ đơn thuần là việc trợ giúp hữu nghị mà còn là một công cụ lợi hại để thiết lập và duy trì lợi ích kinh tế và vị thế chính trị cho các nớc tài trợ. Những nước cấp tài trợ đòi hỏi nước tiếp nhận phải thay đổi chính sách phát triển cho phù hợp vơí lợi ích của bên tài trợ. Khi nhận viện trợ các nước nhận cần cân nhắc kỹ lưỡng những điều kiện của các nhà tài trợ không vì lợi ích trớc mắt mà đánh mất những quyền lợi lâu dài. Quan hệ hỗ trợ phát triển phải đảm bảo tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi. Thứ ba, ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ. Khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính ch ất ưu đãi nên gánh nặng nợ thường xuất hiện. Một số nước do không sử dụng hiệu quả ODA có thể tạo nên sự tăng trởng nhất thời nhng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ. Vấn đề là ở chỗ vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ. Do đó, trong khi hoạch định chính
  17. sách sử dụng ODA phải phối hợp với các nguồn vốn để tăng cờng sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu. 1.3. Vai trò của vốn ODA đối với đầu tư phát triển ở Việt Nam 1.3.1. Tầm quan trọng của ODA đối với phát triển kinh tế Việt Nam Xuất phát từ kinh nghiệm của các nước trong khu vực nh: Hàn Quốc, Malayxia và từ tình hình thực tế trong nước, trong những năm gần đây Việt Nam đã và đang thực hiện chiến lược phát triển kinh tế với xu hướng mở rộng và đa dạng hoá các mối quan hệ kinh tế quốc tế. Một trong những mục tiêu chính trong chiến lược này là thu hút ODA cho phát triển kinh tế. Vai trò của ODA được thể hiện ở một số điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, ODA là nguồn bổ sung vốn quan trọng cho đầu tư phát triển. Sự nghiệp CNH, HĐH mà Việt Nam đang thực hiện đòi hỏi một khối lượng vốn đầu tư rất lớn mà nếu chỉ huy động trong nớc thì không thể đáp ứng được. Do đó, ODA trở thành nguồn vốn từ bên ngoài quan trọng để đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển. Trải qua hai cuộc chiến tranh những cơ sở hạ tầng kỹ thuật của chúng ta vốn đã lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề hầu như không còn gì, nhưng cho đến nay hệ thống kết cấu hạ tầng đã được phát triển tương đối hiện đại với mạng lới điện, bưu chính viễn thông được phủ khắp tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước, nhiều tuyến đường giao thông được làm mới, nâng cấp, nhiều cảng biển, cụm cảng hàng không cũng được xây mới, mở rộng và đặc biệt là sự ra đời của các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao đã tạo ra một môi trờng hết sức thuận lợi cho sự hoạt động của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Bên cạnh đầu tư cho phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật một lợng lớn vốn ODA đã đợc sử dụng để đầu tư cho việc phát triển ngành giáo dục, y tế, hỗ trợ phát triển ngành nông nghiệp …
  18. Thứ hai, ODA giúp cho việc tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực. Một trong những yếu tố quan trọng góp phần đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH đất nớc đó là yếu tố khoa học công nghệ và khả năng tiếp thu những thành tựu khoa học tiên tiến của đội ngũ lao động. Thông qua các dự án ODA các nhà tài trợ có những hoạt động nhằm giúp Việt Nam nâng cao trình độ khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực như: cung cấp các tài liệu kỹ thuật, tổ chức các buổi hội thảo với sự tham gia của những chuyên gia nớc ngoài, cử các cán bộ Việt Nam đi học ở nước ngoài, tổ chức các chơng trình tham quan học tập kinh nghiệm ở những nước phát triển, cử trực tiếp chuyên gia sang Việt Nam hỗ trợ dự án và trực tiếp cung cấp những thiết bị kỹ thuật, dây chuyền công nghệ hiện đại cho các chơng trình, dự án. Thông qua những hoạt động này các nhà tài trợ sẽ góp phần đáng kể vào việc nâng cao trình độ khoa học, công nghệ và phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam và đây mới chính là lợi ích căn bản, lâu dài đối với chúng ta. Thứ ba, ODA giúp cho việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế . Các dự án ODA mà các nhà tài trợ dành cho Việt Nam thờng ưu tiên vào phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển cân đối giữa các ngành, các vùng khác nhau trong c ả nước. Bên cạnh đó còn có một số dự án giúp Việt Nam thực hiện cải cách hành chính nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước. Tất cả những điều đó góp phần vào việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế ở Việt Nam. Thứ tư, ODA góp phần tăng khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển. Các nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định bỏ vốn đầu tư vào một nước, trước hết họ quan tâm tới khả năng sinh lợi của vốn đầu tư tại nước đó. Do đó, một cơ sở hạ tầng yếu kém như hệ thống giao thông chưa hoàn chỉnh, phương tiện thông tin liên lạc thiếu thốn và lạc hậu, hệ thống
  19. cung cấp năng lượng không đủ cho nhu cầu sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư vì những phí tổn mà họ phải trả cho việc sử dụng các tiện nghi hạ tầng sẽ lên cao. Một hệ thống ngân hàng lạc hậu cũng là lý do làm cho các nhà đầu tư e ngại, vì những chậm trễ, ách tắc trong hệ thống thanh toán và sự thiếu thốn các dịch vụ ngân hàng hỗ trợ cho đầu tư sẽ làm phí tổn đầu tư gia tăng dẫn tới hiệu quả đầu tư giảm sút. Như vậy, đầu tư của chính phủ vào việc nâng cấp, cải thiện và xây mới các cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng đều hết sức cần thiết nhằm làm cho môi trờng đầu tư trở nên hấp dẫn hơn. Nhưng vốn đầu tư cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng là rất lớn và nếu chỉ dựa vào vốn đầu tư trong nước thì không thể tiến hành được do đó ODA sẽ là nguồn vốn bổ sung hết sức quan trọng cho ngân sách nhà nước. Một khi môi trường đầu tư được cải thiện sẽ làm tăng sức hút dòng vốn FDI. Mặt khác, việc sử dụng vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư vào các công trình sản xuất kinh doanh có khả năng mang lại lợi nhuận. Rõ ràng là ODA ngoài việc bản thân nó là một nguồn vốn bổ sung quan trọng cho phát triển, nó còn có tác dụng nâng cao trình độ khoa học, công nghệ, điều chỉnh cơ cấu kinh tế và làm tăng khả năng thu hút vốn từ nguồn FDI góp phần quan trọng vào việc thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. 1.3.2. Những xu hớng mới của ODA trên thế giới. Trong thời đại ngày nay, dòng vốn ODA đang vận động với nhiều sắc thái mới. Đây cũng chính là một trong những nhân tố tác động tới việc thu hút nguồn vốn ODA. Do đó, nắm bắt được xu hướng vận động mới này là rất cần thiết đối với nớc nhận tài trợ. Những xu hướng đó là: Thứ nhất, Ngày càng có thêm nhiều cam kết quan trọng trong qua hệ hỗ trợ phát triển chính thức như:
  20. - Giảm một nửa tỷ lệ những ngời đang sống trong cảnh nghèo khổ cùng cực vào năm2015. - Phổ cập giáo dục tiểu học ở tất cả các nước vào năm 2015. - Giảm 2/3 tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ em dới 5 tuổi vào năm 2015. - Hoàn thiện hệ thống y tế chăm sóc sức khoẻ ban đầu, đảm bảo sức khoẻ sinh sản không muộn hơn năm 2015. - Thực hiện các chiến lợc quốc gia và toàn cầu hoá vì sự phát triển bền vững của các quốc gia. Thứ hai, Bảo vệ môi trờng sinh thái đang là trọng tâm ưu tiên của các nhà tài trợ. Thứ ba. Vấn đề phụ nữ trong phát triển thường xuyên được đề cập tới trong chính sách ODA của nhiều nhà tài trợ. Phụ nữ đóng một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội đợc hưởng những thành quả của phát triển, đồng thời phụ nữ cũng góp phần đáng kể vào sự phát triển. Vì thế sự tham gia tích cực của phụ nữ và đảm bảo lợi ích của phụ nữ đợc coi là một trong những tiêu chí chính để nhìn nhận việc thực hiện tài trợ là thiết thực và hiệu quả. Thứ tư, Mục tiêu và yêu cầu của các nhà tài trợ ngày càng cụ thể. Tuy nhiên ngày càng có sự nhất trí cao giữa nước tài trợ và nớc nhận viện trợ về một số mục tiêu như: Tạo tiền đề tăng trưởng kinh tế ; Xoá đói giảm nghèo; Bảo vệ môi trờng… Thứ năm, nguồn vốn ODA tăng chậm và cạnh tranh giữa các nước đang phát triển trong việc thu hút vốn ODA đang tăng lên. Vì vậy, Chúng ta cần nắm bắt được những xu thế vận động của dòng vốn ODA để có những biện pháp hữu hiệu thu hút ODA của các nhà tài trợ. ODA luôn được coi là nguồn vốn quan trọng và việc thu hút, sử d ụng một cách hiệu quả nguồn vốn ODA luôn là một trong các hoạt động có tính chiến lược đối với các quốc gia đang phát triển.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2