intTypePromotion=1

Đề tài: Nâng cao chất lượng và giáo dục đạo đức học sinh bằng việc tích hợp kỹ năng sống vào môn học Giáo dục công dân ở bậc THCS

Chia sẻ: Duong Thi Thuy | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:21

0
102
lượt xem
24
download

Đề tài: Nâng cao chất lượng và giáo dục đạo đức học sinh bằng việc tích hợp kỹ năng sống vào môn học Giáo dục công dân ở bậc THCS

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài: Nâng cao chất lượng và giáo dục đạo đức học sinh bằng việc tích hợp kỹ năng sống vào môn học Giáo dục công dân ở bậc THCS được thực hiện nhằm rèn các kỹ năng cần thiết cho học sinh như: Kỹ năng giao tiếp, ứng xử, kỹ năng giải quyết tình huống và mâu thuẫn trong cuộc sống, kỹ năng vận dụng những điều đã học vào thực tiễn cuộc sống để xây dựng mối quan hệ xã hội lành mạnh và tốt đẹp.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Nâng cao chất lượng và giáo dục đạo đức học sinh bằng việc tích hợp kỹ năng sống vào môn học Giáo dục công dân ở bậc THCS

  1. I. ĐẶT VẤN ĐỀ: 1. Lý do chọn đề tài: Nhưng chúng ta đã biết, tình trạng xuống cấp về đạo đức trong học sinh  hiện nay đang là vấn đề gây nhức nhối cho toàn xã hội. Xã hội không khỏi lo   lắng, có gần hoang mang trước ý thức, nhân cách, lối sống và lý tưởng của   thế hệ trẻ. Thời gian gần đây dư luận xã hội đang lên án mạnh mẽ tình trạng   bạo lực học đường, ăn chơi sa đoạ... của một bộ  phận học sinh. Mọi người  không khỏi bàng hoàng khi chứng kiến cảnh từng đôi nam nữ  học sinh bỏ  học, lêu lổng, thậm chí là đưa nahu vào nhà nghỉ mà mậu quả là, có những em  đang là học sinh THPT thậm chí là học sinh THCS phải bỏ dở con đường học   hành vì mang bầu quá lớn, phải làm mẹ  khi còn  ở  tuổi vị  thành niên. Rồi có  những cảnh nữ  học sinh đánh nhau, trong khi có rất nhiều học sinh khác chỉ  đứng   nhìn  mà   không  hề   can  ngăn  hay  trình  báo  với   người   có  chức  trách,  nhiệm vụ. Thậm chí có những học sinh vỗ  tay tán thưởng và cổ  vũ, có học  sinh lại thản nhiên đứng nhìn và dùng máy quay rồi tung lên mạng. Lại có   nhiều trường hợp học sinh cầm dao đoạt mạng sống của bạn chỉ  vì những   xích mích, mâu thuẫn nhỏ... trên thực tế bên cạnh những học sinh có lý tưởng   sống đúng đắn, có thành tích cao trong học tập và rèn luyện, nhiều học sinh  có hoàn cảnh khó khăn biết vượt lên số  phận là những học sinh có lối sống   ích kỷ, hẹp hòi, hưởng thụ, vô trách nhiệm, vô tình, thờ   ơ  trước mọi người   xung quanh, trước nỗi đau, nỗi bất hạnh của người khác. Nhiều học sinh lười  học, ham chơi, vi phạm pháp luật, không làm chủ  bản thân, mắc các tệ  nạn   xã hội... Vì sao lại như  vậy? Trong số  các nguyên nhân dẫn đến các hành vi   sai trái về  đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật của học sinh. Ngoài các   nguyên nhân khách quan như: Gia đình mới chỉ  quan tâm đến việc học kiến  thức của con cái mà chưa thực sự  quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cho   con, chưa quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng của con cái. Nhà trường còn nặng về  dạy  "chữ"  mà chưa quan tâm đến việc dạy  "người" một cách thoả đáng. Xã hội, bên cạnh sự phát triển nhanh chóng và 
  2. mạnh mẽ  về  mọi mặt thì những mặt trái của nó cũng tác động không nhỏ  đến sự  phát triển về  nhân cách của thế  hệ  trẻ. Nhưng nguyên nhân, cơ  bản   nhất, sâu xa nhất là do bản thân các em thiếu kỹ  năng sống, suy nghĩ nông  cạn, thiếu hiểu biết để  giải quyết những vấn đề  trong cuộc sống một cách  đúng đắn và có hiệu quả. Vậy để giải quyết các vấn đề trên thì việc tích hợp  rèn kỹ năng sống vào bộ môn học giáo dục công dân để nâng cao chất lượng   giáo dục đạo đức cho học sinh là việc làm tất yếu. Chính vì vậy tôi đã chọn   đề tài " Nâng cao chất lượng và giáo dục đạo đức học sinh bằng việc tích   hợp kỹ  năng sống vào môn học giáo dục công dân  ở  bậc THCS"  để  góp  phần khắc phục tình trạng trên. 2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đề tài: 2.1 Mục tiêu: ­ Đưa ra những phương pháp để giáo dục đạo đức học sinh có hiệu quả. ­ Lấy ví dụ để chứng minh cho phương pháp đã đặt ra. 2.2 Phạm vi nghiên cứu: ­ Phần đạo đức của môn giáo dục công dân 3. Đối tượng nghiên cứu: ­ Các chuẩn mực đạo đức trong chương trình GDCD cấp THCS. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu: ­ Rèn các kỹ năng cần thiết cho học sinh như: Kỹ năng giao tiếp, ứng xử,   kỹ  năng giải quyết tình huống và mâu thuẫn trong cuộc sống, kỹ  năng vận  dụng những điều đã học vào thực tiễn cuộc sống để  xây dựng mối quan hệ  xã hội lành mạnh và tốt đẹp, đem lại hiệu quả  tốt nhất, tránh gây thiệt hại  cho bản thân và xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống. 5. Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở kinh nghiệm đã đúc kết sau nhiều năm dạy học môn giáo dcụ  công dân  ở  THCS, từ  đó đưa ra những phương pháp cần thiết để  giáo dục  đạo đức học sinh có hiệu quả như: 
  3. ­ Phương pháp nêu gương. ­ Phương pháp nêu tình huống ­ Phương pháp thảo luận nhóm ­ Phương pháp giải quyết vấn đề... II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở lý luận của vấn đề. Trên thế giới hiện nay đã và đang tồn tại nhiều định nghĩa và quan niệm  khác nhau về  kỹ  năng sống. Mỗi định nghĩa được thể  hiện dưới những cách  thức khác nhau. Thông thường kỹ năng sống được hiểu là những ký năng thực  hành mà con người cần để  có được sự  an toàn, cuộc sống khoẻ  mạnh với   chất lượng giao. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý   xã hội và giao tiếp mà mỗi cá nhân có thể  có để  tương tác với người khác   một cách có hiệu quả với giải pháp tích cực hoặc ứng phó với những vấn đề  hay những thách thức của cuộc sống hàng ngày. Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) kỹ năng sống là tập hợp   rất nhiều kỹ năng tâm lý xã hội và giao tiếp cá nhân giúp cho con người đưa   ra những quyết định có cơ  sở, giao tiếp một cách có hiệu quả, phát triển các  kỹ  năng tự  xử  lý và quản lý bản thân nhằm giúp họ  có một cuộc sống lành   mạnh và có hiệu quả. Từ  kỹ  năng sống có thể  thể  hiện thành những hành   động cá nhân và những hành động đó sẽ  tác động đến hành động của những   người khác cũng như  dẫn đến hành động nhằm thay đổi môi trường xung  quanh, giúp nó trở lên lành mạnh. Theo tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên Hợp Quốc (UNESCO),  kỹ năng sống gắn với trụ cột của giáo dục, đó là" Học để biết" gồm các kỹ  năng tư duy như: Kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng  ra quyết   định, kỹ  năng  giải  quyết vấn  đề, kỹ  năng nhận thức   được  hậu 
  4. quả...; "Học để làm" gồm các kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ  như: Kỹ năng đặt mục tiêu, kỹ  năng đảm nhận trách nhiệm, kỹ năng quản lí  thời gian, kỹ  năng tìm kiếm và xử  lý thông tin..."  Học để  tự  khảng định"  gồm các kỹ năng cá nhân như: kĩ năng ứng phó căng thẳng, kỹ năng kiểm soát  cảm xúc, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng thể hiện sự tự tin...; " Học để cùng   chung   sống"  gồm   các   kỹ   năng   xã   hội   như:   Kỹ   năng   giao   tiếp,   kỹ   năng  thương lượng, kỹ năng tự khẳng định, kỹ năng hợp tác, kỹ năng làm việc theo   nhóm, kỹ năng thể hiện sự cảm thông.... Từ  những quan niêm trên đây, có thể  thấy kỹ  năng sống bao gồm một   loạt các kỹ  năng cụ  thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con người.   Bản chất của kỹ năng sống là kỹ năng tự quản lý, bản thân và kỹ năng xã hội  cần thiết để  cá nhân tự  lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả.  Nói cách khác, kỹ năng sống là kỹ năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả  năng ứng xử với người khác và với xã hội, khả  năng ứng phó tích cực trước   các tình huống của cuộc sống. Như vậy, các kỹ năng sống nhằm giúp chúng ta chuyển dịch  " cái chúng   ta biết" thành hành động thực tế " Làm gì và làm bằng cách nào" là tích cực  nhất và hiệu quả nhất. Kỹ năng sống vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội. Tính cá nhân  bởi vì đó là khả  năng của mỗi cá nhân. Tính xã hội là vì trong mỗi giai đoạn   của sự  phát triển xã hội, mỗi cá nhân được yêu cầu để  có sự  phù hợp với  những kỹ  năng sống. Chẳng hạn: Kỹ  năng sống của mỗi cá nhân trong thời   bao cấp khác với kỹ năng sống của các cá nhân trong cơ chế thị trường, trong   giai đoạn hội nhập, kỹ  năng sống của người sống  ở  miền núi khác với kỹ  năng sống của người sống ở vùng biển, kỹ năng sống của người sống ở nông   thôn khác với kỹ năng sống của người sống ở thành phố. Trong điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam nói riêng và bối cảnh toàn   cầu nói chung, càng ngày chúng ra càng nhận ra tầm quan trọng của việc học 
  5. các kỹ năng sống để ứng phó với sự thay đổi, biến động của môi trường kinh  tế, xã hội và tự nhiên. Chính vì vậy việc rèn kỹ năng sống cho học sinh được  xác định là một nội dung cơ  bản của phong trào thi đua "xây dựng trường   học thân thiện, học sinh tích cực". Qua nghiên cứu tài liệu và hoạt động thực tiễn của bản thân. Tôi nhận  thấy những kỹ năng sống cơ bản sau cần tích hợp cho học sinh qua môn học   giáo dục công dân. ­ Kỹ năng giao tiếp ­ Kỹ năng ứng xử ­ Kỹ năng tự nhận thức ­ Kỹ năng kiểm soát cảm xúc ­ Kỹ năng thể hiện sự tự tin ­ Kỹ năng lắng nghe tích cực ­ Kỹ năng thể hiện sự thông cảm ­ Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn ­ Kỹ năng hợp tác ­ Kỹ năng giải quyết vấn đề ­ Kỹ năng tư duy phê phán ­ Kỹ năng quản lý thời gian ­ Kỹ năng tìm kiếm và xử lí thông tin. 2. Thực trạng của vấn đề: Giáo dục kỹ năng sống là một vấn đề  không mới trong dạy học và cũng  không xa lạ trong thực tiễn cuộc sống và nó là lĩnh vực giáo dục liên ngành.   Tuy nhiên, đặc trưng của môn giáo dục công dân là không chỉ  cung cấp cho   học sinh kiến thức của môn học phù hợp với đặc điểm của lứa tuổi mà điều   quan trọng hơn là hình thành và phát triển những kỹ  năng vận dụng, những   kiến thức đã học vào cuộc sống của học sinh, đồng thời hình thành và phát  triển cảm xúc, thái độ đúng đắn trước vấn đề liên quan đến nội dung bài học  
  6. cho các em. Vì vậy môn học này có khả  năng tích hợp  ở nhiều mức độ  khác  nhau với   các  nội   dung giáo  dục  kỹ   năng sống  cần  đảm  bảo  nguyên  tắc:   Không gượng ép, không làm nặng nội dung, không làm biến dạng môn học. Tuy nhiên, trên thực tế  có nhiều giáo viên quan niệm rằng: Tích hợp kỹ  năng sống làm nặng thêm nội dung kiến thức bài học. Bên cạnh đó có một bộ  phận giáo viên dạy chéo môn cho nên ngại tích hợp vì cho rằng chỉ  cần tập  trung vào kiến thức bài học là đủ, không cần tích hợp nội dung khác. 3. Các biện pháp để giải quyết vấn đề. Để  phát huy vai trò giáo dục của bộ  môn giáo dục công dân, giúp học   sinh rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình cộng đồng và  tổ quốc; giúp học sinh có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của  cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người,  sống tích cực, chủ  động, an toàn, hài hoà và lành mạnh. Giáo viên phải là  những người có lòng nhiệt huyết, biết lựa chọn và kết hợp tốt các phương   pháp dạy học và hình thức kiểm tra đánh giá, đẩy mạnh phong trào thi đua   học tập sôi nổi, hiệu quả động viên kịp thời học sinh có những tiến bộ. Trên  cơ sở đó tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục. Thông qua chương trình GDCD ở cấp THCS, giáo viên có thể tuỳ vào nội  dung kiến thức của từng bài, từng mục để  lựa chọn tích hợp các kỹ  năng  sống phù hợp. Qua việc giáo dục kỹ năng sống sẽ làm thay đổi nhận thức của học sinh   về  môn học, gây hứng thú của học sinh và nhận thấy sự  thiết thực của môn   học và đặc biệt sẽ  hình thành những kỹ  năng sống cơ  bản cho học sinh. Cụ  thể như: Trong bài "Sống chan hoà với mọi người" (GDCD 6). Giáo viên có thể  rèn cho học sinh kỹ năng sống hòa hợp, thân thiện với mọi người, biết chia sẻ  suy nghĩ và tình cảm với mọi người xung quanh. Giáo viên có thể  gợi cảm   xúc cho học sinh bằng một số câu hỏi.
  7. Câu hỏi: 1. Em cảm thấy thế nào khi em gặp phải chuyện buồn mà có người bạn  thân đáng tin cậy để em tâm sự và chia sẻ. 2. Em cảm thấy thế nào khi em làm được những việc tốt giúp đỡ  người   khác. 3. Khi em gặp khó khăn, được mọi người xung quanh quan tâm giúp đỡ,   em cảm thấy như thế nào? Giáo viên cũng có thể nêu một số câu chuyện về sống chan hoà với mọi  người để học sinh tự rút ra bài học. Câu chuyện:  Có hai anh em trai  ở  cạnh nhau, người anh sống rất cởi   mở, gần gũi và thân thiện với bà con hàng xóm. Nhà ai có công việc gì, anh   đều nhiệt tình giúp đỡ. Còn người em thì ngược lại, sống khép mình, chẳng   quan hệ với ai. Một hôm nhà của hai anh em bị cháy. Tài sản trong nhà bị lửa   thiêu lụi hết. Lúc đó bà con làng xóm ai cũng quan tâm, động viên an  ủi và   giúp đỡ người anh. Còn người em thì chẳng ai để ý đến. Người em thấy vậy,   buồn phiền than với anh " Tại sao chẳng ai quan tâm đến em nhỉ". Câu hỏi: Qua câu chuyện trên em rút ra được bài học gì cho bản thân? Trong bài"  Lịch sự, tế  nhị"  ­ GDCD 6. Giáo viên có thể  tích hợp kỹ  năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng nhận xét đánh giá hành vi của mọi người xung  quanh, kỹ năng tự đánh giá và điều chỉnh hành vi của mình. Để rèn những kỹ  năng, giáo viên có thể đưa ra các tình huống để học sinh phân tích, đánh giá và   rút ra bài học. Tình huống 1: Khi vào bệnh viện, một bạn gái trẻ đã lê guốc rất mạnhh  và cường nói rất to khi đi qua hàng lang bệnh viện. Một bác bệnh nhân đã nhẹ  nhàng nhắc nhở " Cháu ơi, ở đây có râấtnhiều người bệnh cháu đi nhẹ và   nói khẽ thôi". Cô gái thấy vậy đã quay lại quát " Đây là bệnh viện chứ có   phải nhà bác đâu mà bác nhắc" thấy vậy bác bệnh nhân chỉ lắc đầu. Câu hỏi:
  8. 1. Em nhận xét như thế nào về hành vi của cô gái? 2. Nếu có mặt ở đó, em sẽ xử sự như thế nào? Tình huống 2: Đại và Công rủ  nhau vào rạp chiếu bóng. Công thì ngồi  im, chăm chú xem, còn Đại thì thỉnh thoảng lại nói to lên, cố  làm ra vẻ  hiểu  biết. thấy thế, Công khuyên Đại không nên nói thế trong rạp nhưng Đại vẫn   không nghe và chi rằng đó là quyền của mình. Câu hỏi: 1. Em nhận xét như thế nào về hành vi của Đại 2. Em có thể khuyên Đại như thế nào? Khi nhận xét đánh giá về  hành vi của người khác, học sinh sẽ  biết tự  đánh giá và điều chỉnh hành vi của bản thân/ Trong bài : " Đạo đức và kỷ luật" ­ GDCD 7. Giáo viên có thể tích hợp  kỹ năng thể hiện sự cảm thông, chia sẻ, kỹ năng so sánh, kỹ năng thể hiện sự  tự tin... Để  đi đến khái niệm: " Đạo đức là gì?" Giáo viên có thể  yêu cầu học  sinh lâấymột số  ví dụ  về  những hành vi tuy không vi phạm pháp luật nhưng   lại trái với các chuẩn mực đạo đức xã hội. Ví dụ  1: Trong lớp có bạn bị bệnh nặng, phải nằm viện nhưng một số  bạn không hề hỏi thăm, động viên hay giúp đỡ. Câu hỏi:  1. Em nhận xét như thế nào về các bạn đó? 2. Nếu chúng ta hỏi thăm, động viên hay giúp đỡ thì sẽ giúp  ích được gì cho bạn. Ví dụ 2:  Khi đi xe buýt gặp người tàn tật, thương bệnh binh, người già,   trẻ em, phụ nữ mang thai... một số bạn đã đã không hề nhường ghế ngồi. Câu hỏi:  1. Em có suy nghĩ gì khi các bạn hành động như vậy? 2. Nếu có mặt ở đó, em sẽ hành động như thế nào? vì sao? Và giáo viên cũng có thể đưa ra tình huống sau:
  9. Trên đường đi học về, Hoa phát hiện trên mặt đường có một số hố ga bị  mất nắp. Vừa đi qua, bỗng Hoa chợt nghĩ trên đoạn đường này có nhiều xe   máy, xe đạp qua lại, nếu cứ để như vậy thì thật không an toàn cho người qua   lại, thế nào cũng có người bị ngã. Hoa nói với mấy bạn cùng đi dừng xe lại để tìm cách báo hiệu cho người   đi đường biết, đề  phòng tai nạn. Thế  nhưng một bạn nói đó không phải là   việc của các bạn và không ai dừng lại. Hoa dừng lại và tìm ở ven đường một   cành cây rồi buộc khăn đỏ của mình vào cành cây và dựng ở miệng hố để báo  hiệu cho người đi đường. Xong việc Hoa đạp xe về nhà thấy lòng mình than  thản và tràn gập niềm vui. Câu hỏi: 1. Tại sao Hoa lại thấy vui 2. Em có suy nghĩ gì về  mấy bạn đi cùng mà không hưởng  ứng lời đề  nghị của Hoa. 3. Nếu có mặt ở đó, em sẽ hành động như thế nào? Qua việc phân tích các ví dụ, nhận xét, đánh giá hành vi của các nhân vật,  các em sẽ biết cách ứng xử cho phù hợp với các chuẩn mực xã hội. Trong bài: " yêu thương con người" ­ GDCD 7. Giáo viên có thể  tích  hợp cho học sinh các kỹ năng thể hiện sự cảm thông, chia sẻ, quan tâm, giúp  đỡ người khác khi họ gặp khó khăn. Giáo viên có thể đưa ra một số  câu hỏi để  học sinh thể  hiện quan niệm   của mình về niềm vui, niềm hạnh phúc trong cuộc sống. Câu hỏi: 1. Hãy nêu những việc làm của em hoặc của người khác thể  hiện sự  quan tâm giúp đỡ người khác họ gặp khó khăn. 2. Em hãy nêu những điều làm cho em cảm thấy vui, thấy hạnh phúc.
  10. (VD: Đạt điểm cao, được bố  mẹ  mua cho quần áo mới, được bạn tàng   quà, giúp được bố mẹ một công việc, làm được việc tốt cho bạn khi bạn gặp   khó khăn) Vậy trong những điều làm cho em cảm thấy vui, thấy hạnh phúc, có cả  những điều tốt đẹp em được hưởng do người khác mang lại, có cả  những   điều tốt em mang lại cho người khác. Qua đó em quan niệm như thế  nào về  hạnh phúc? Vậy hạnh phúc là phải biết  sẻ chia, hạnh phúc không chỉ là được hơnửg   những điều tốt đẹp do người khác mang lại mà còn là việc làm được những   điều tốt đẹp cho người khác. Vì vậy muốn có niềm vui, niềm haạnh phúc   trong cuộc sống thì mỗi chúng ta phải biết quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ  làm   những điều tốt đẹp cho người khác. Trong bài  " Tự  tin"  ­ GDCD 7. Giáo viên có thể  rèn cho học sinh kỹ  năng thể hiện sự tự tin trong cuộc sống. Để rèn luyện kỹ năng này học sinh cần phân biệt được tự tin với tự kiêu.  Giáo viên có thể đưa ra các tình huống để học sinh nhận xét đánh giá. Tình huống 1: Sau khi làm bài kiểm tra học kỳ. Minh thấy một số bạn  ngồi cạnh mình có kết quả  khác. Minh cứ  suy nghĩ mãi về  cách giải của   mình, càng suy nghĩ Minh càng khẳng định cách giải của mình là đúng và ba  ngày sau cô trả bài kiểm tra. Minh được điểm 10. Tình huống 2:  Sắp đến ngày nhà trường tổ  chức Hội diễn văn nghệ  chào mừng ngày thành lập Đoàn 26/3. Lớp 7A chuẩn bị tập một số tiết mục   văn nghệ  để  tham gia hội diễn. Thắng nói với lớp trưởng  " nếu tớ  không   tham gia thì lớp sẽ thất bại". Tình huống 3: Đầu năm cô giáo chủ  nhiệm giao cho Toàn làm lớp phó  phụ  trách học tập, vì năm ngoái  ở  lớp 6 Toàn là học sinh giỏi. Toàn từ  chối   không nhận và nói " Thưa cô, em không biết làm lớp phó  ạ. Em không có   khả năng, em không dám làm đâu ạ".
  11. Câu hỏi: Trường hợp nào trên đây thể hiện sự tự tin, tự cao hoặc thiếu  tự tin? Trong bài:"  Tôn trọng lẽ  phải"  ­ GDCD 8. Giáo viên có thể  tích hợp  cho học sinh các kỹ năng nhận biết, phân biệt trái phải, phê pháp những việc   làm sai trái, bảo vệ và tuan theo những điều đúng đắn, giúp cho mối quan hệ  xã hội trở lên lành mạnh và tốt đẹp. Để rèn luyện kỹ năng này giáo viên có thể đưa ra các tình huống. Tình huống 1: Trong các cuộc tranh luận có bạn đưa ra ý kiến nhưng bị  đa số  các bạn khác phản đối. Nếu thấy ý kiến đó đúng thì em sẽ  xử  sự  như  thế nào? Tình huống 2: Nếu biết bạn mình quay cóp trong giờ  kiểm tra, em sẽ  làm gì? Tình huống 3:  Theo em trong các trường hợp  ở  tình huống 1 và tình  huống 2, hành động như thế nào được coi là phụ hợp và đúng đắn. Sau khi học sinh đưa ra ý kiến, giáo viên kết luận: Để  có cách  ứng xử  phù hợp đúng dắn phải có hành vi xử sự tôn trọng sự thật, bảo vệ lẽ phải và   phê phán cái sai trái. Giáo viên có thể cho học sinh làm bài tập sau: Trong các cuộc tranh luận với các bạn cùng lớp em sẽ lựa chọn cách giải   quyết nào sau đây. a. Bảo vệ ý kiến của mình, không cần lắng nghe ý kiến người khác. b. Ý kiến nào được đa số đồng tình thì theo c. Lắng nghe ý kiến của bạn, tự phân tích, đánh giá xem ý kiến nào hợp   lý thì theo. d. Không bao giờ đưa ra ý kiến của mình. * Qua việc phân tích các tình huống, học sinh biết cách ứng xử  phù hợp   với lẽ phải, với những điều đúng đắn.
  12. Trong bài " Tôn trọng người khác" ­ GDCD 8. Giáo viên có thể rèn cho  học sinh kỹ  năng biết thể  hiện thái độ  và có cách  ứng xử  thể  hiện sự  tôn   trọng người khác để xây dựng mối quan hệ thân thiện, lành mạnh. Giáo vieê có thể đưa ra những câu chuyện để học sinh phân tích và rút ra   kết luận vì sao cần phải tôn trọng người khác. Câu chuyện: Mận là cháu họ của cô em tôi ở Bắc Ninh, là chị cả của 6   đưa em. Nhà nghèo, cô bé đồng ý lên nhà tôi giúp việc. Cái nết chăm làm,  ngoan ngoãn của Mận khiến mọi người đều quý mến. Nhưng bực nhất là thói   quen ăn một mình dưới bếp của Mận. Một hôm, thấy khó chịu tôi gắt: ­ Cháu phải ăn cùng cô chú để tiết kiệm thời gian chứ! ­ Nhưng  ở  quê, u con cháu vẫn thường phải ăn dưới bếp, chỉ  có một  mình thầy cháu được ăn mâm trên nhà, ăn cùng cô chú, cháu thấy không quen! ­ Bố cháu phong kiến đến thế kia à! ­ U cháu và những người phụ  nữ  khác  ở  quê khổ  lắm không được như  các cô được ngồi ăn cùng mâm với chồng lại được góp ý kiến.  Ở  quê cháu  phụ  nữ chỉ  biết vâng lời và làm việc vất vả, hễ  tham gia vào việc lớn thì bị  thầy cháu quát, thậm chí đánh đòn? Đây là câu chuyện lieê quan đến tôn trọng phụ  nữ  có thể  còn xảy ra   nhiều nơi ở nông thôn. Em cho đây là vấn đề lớn hay nhỏ? Ngoài việc không  cho vợ, con ăn cùng mâm ở nhà trên, người bố trong câu chuyện còn có điều  gì khác về sự thiếu tôn trọng phụ nữ không? Em phân tích và cho biết ý kiến  của em. Theo em, nên khắc phục như thế nào? Trong bài    " Xây dựng tình bạn trong sáng, lành mạnh"­ GDCD 8.  Giáo viên có thể rèn cho học sinh kỹ năng xây dựng tình bạn trong sáng lành  mạnh để có được cuộc sống ý nghĩa và vui vẻ.
  13. Giáo viên có thể đưa ra câu hỏi khơi gợi cảm xúc của học sinh. 1. Cảm xúc của em khi: ­ Cùng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với bạn bè ­ Cùng bạn bè học tập, vui chơi giải trí ­ Khi gia đình gặp khó khăn, em được bạn bè giúp đỡ. ­ Do đua đòi với bạn xấu em đã vi phạm pháp luật. Nhưng em đã được   bạn bè tốt giúp đỡ nhận ra lỗi lầm và sống tốt hơn. Sau khi học sinh trình bày ý kiến, giáo viên nhận xét bổ sung: Những cảm  xúc suy nghĩ của các em chính là   ý nghĩa của tình bạn đối với mỗi người  chúng ta. TÌnh bạn trong sáng lành mạnh giúp  con người cảm thấy ấm áp, tự  tin, yêu đời, yêu cuộc sống hơn, biết tự hoàn thiện mình để sống tốt hơn. Tuy  nhiên khi xây dựng tình bạn mỗi chúng ta cũng cần biết lựa chọn bạn để  có  được những mối quan hệ bạn bè tốt đẹp, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Giáo viên cũng có thể nêu ra một số tình huống để học sinh thể hiện cách  ứng xử của mình qua đó rèn kỹ năng giao tiếp ứng xử với bạn bè. Tình huống 1: Bạn em bị rủ rê, lôi kéo vào việc làm phi pháp Tình huống 2: Bạn có chuyện vui, buồn, hoặc gặp khó khăn, rủi ro trong  cuộc sống. Câu hỏi: 1. Em sẽ xử sự như thế nào khi gặp các tình huống trên.      2. Em hãy tìm những câu ca dao, tục ngữ, danh ngôn về  tình   bạn Trong bài " Tích cực tham gia các hoạt động chính trị xã hội" ­ GDCD  8. Giáo viên có thể rèn cho học sinh ý thức tự giác, tích cực tham gia các hoạt   động chính trị xã hội bằng việc phân tích để  học sinh thấy được ý nghĩa tích  cực của việc tham gia các hoạt động chính trị, xã hội. Giáo viên có thể đưa ra các câu hỏi: 1. Em cảm thấy thế  nào khi được cùng bạn bè tham gia vào các hoạt   động chung có ích? (vui vẻ, thoải mái, thân thiện hơn với bạn bè).
  14. 2. Khi tham gia các hoạt động tập thể, những kỹ năng nào của em được   rèn luyện và phát triển? (Yêu cầu: Kỹ năng giao tiếp, ứng xử, kỹ năng trình bày, kỹ năng hợp tác,   tự tin hơn trước đám đông.... Khi tham gia các hoạt động chính trị xã hội, mỗi cá nhân có điều kiện để  phát triển nhân cách, nâng lực, thiết lập mối quan hệ xã hội tốt đẹp. Các hoạt   động này còn đem lại cho con người niềm vui, sự  an  ủi về  tinh thần, giảm   bớt những căng thẳng và khó khăn trong cuộc sống. Trong bài: " Phòng chống tệ nạn xã hội" ­ GDCD 8. Giáo viên có thể  rèn cho học sinh kỹ  năng để  phòng tránh các tệ  nạn xã hội, có cuộc sống cá  nhân lành mạnh, giúp ích cho gia đình và xã hội. Để  rèn kỹ  năng này trước hết giáo viên phải cho học sinh phân tích để  thấy được những tác hại của TNXH. Qua đó học sinh chủ  động phòng tránh   cho bản thân và giúp đỡ người thân và bạn bè tránh xa các tệ nạn xã hội. Giáo viên có thể cho học sinh xem những băng hình về tệ nạn xã hội và   tác hại của tệ nạn xã hội. Yêu cầu học sinh quan sát và miêu tả  cuộc sống của gia  đình người  nghiện. Học sinh quan sát và nhận xét Câu hỏi: Qua các băng hình và qua phần miê tả của bạn. Em thấy tệ nạn  xã hội gây ra những tác hại như thế nào? ­ Học sinh trả lời: Giáo viên kết luận cho học sinh những tác hại mà tệ  nạn xã hội đặc biệt là tệ nạn ma tuý gây ra. ­ Đối với bản thân:  + Huỷ hoại sức khoẻ, dẫn đến cái chết. + Sa sút tinh thần + Huỷ hoại phẩm chất đạo đức + Vi phạm pháp luật
  15. ­ Đối với gia đình: + Cạn kiệt kinh tế,  ảnh hưởng  đến đời sống vật   chất và  tinh thần của các thành viên trong gia đình + Gia đình tan vỡ ­ Đối với xã hội: + Làm mất trật tự  an toàn xã hội (cướp của, giết   người) + Suy giảm sức lao động xã hội + Ảnh hưởng kinh tế, xã hội Để củng cố thêm kỹ  năng phòng tránh tệ  nạn xã hội. Giáo viên cho học  sinh làm một số bài tập. Bài tập 1: Hùng thường nói dối mẹ  để chơi điện tử, bi ­ a. Từ chỗ chơi vui, Hùng  chuyển sang cá cược thắng thua. Không còn nói dối mẹ được nữa, Hùng bán  xe đạp. Cuối cùng thì Hùng cũng bị công an bắt vì tội cướp giật. Theo em: ­ Hùng đã vi phạm những tệ nạn gì? ­ Nguyên nhân nào dẫn đến sai lầm của Hùng? Bài tập 2: Tuấn đẹp trai, học giỏi, con nhà khá giả. Bố mẹ bận làm ăn,   không ai chăm sóc. Nghe theo bạn xấu, Tuấn đã nghiện ma tuý. Giờ đây Tuấn  đang ở trại cai nghiện. Theo em:  Tuấn có ân  hận không? Tuấn cần làm gì để sửa chữa lối lầm của mình? Bài tập 3: Thắng và Hoà chơi với nhau từ bé. Mẹ Hoà là người ghi lô đề  nên Hoà đã rủ  Thắng chơi. Trúng đề  được vài lần, Thắng thấy ham và đã  dùng tiền học phí để chơi. khi không có tiền, Thắng lấy đồ  đạc của gia đình  bán lấy tiền chơi đề. Bố mẹ Thắng thấy vậy đã cấm đoán và trách mẹ  Hoà;   đồng thời báo với nhà trường và chính quyền địa phương để  có biện pháp   giáo dục.
  16. Theo em: ­ Hoà và mẹ đã vi phạm như thế nào? ­ Việc làm của bố mẹ Thắng đúng hay sai? ­ Nếu là Thắng, em sẽ xử lí như thế nào? Qua các bài tập, giúp học sinh nhận ra những việc làm sai trái, vi phạm  pháp luật để tự phòng tránh cho mình, có kỹ năng sống lành mạnh, không mắc  vào các tệ nạn xã hội. Trong bài: " Chí công vô tư" ­ GDCD 9. Giáo viên có thể  rèn cho học  sinh các kỹ  năng  ứng xử, kỹ  năng giải quyết tình huống đảm bảo sự  công   bằng, xây dựng mối quan hệ xã hội lành mạnh. Giáo viên có thể đưa ra các tình huống sau: Tình huống 1:  Trong một buổi họp lớp, bạn A đưa ra ý kiến về  hiện   tượng gian lận, quay cóp trong thi cử  đang diễn ra  ở  lớp. Em thấy ý kiến   chống tiêu cực, gian lận trong thi cử của bạn A là rất đúng. Nhưng trong lớp  lại có một số bạn làm ngơ, dè bửu, chỉ tích bạn A. Em sẽ hành động như thế  nào để bảo vệ ý kiến của bạn A? Tình huống 2:  Bạn An chơi với Bảo rất thân. Gần đây Bảo có nhiều   biểu hiện như lười học, gian lận khi làm bài kiểm tra, nói dối thầy cô giáo và  cha mẹ Vì sợ sứt mẻ tình bạn mà An thường xuyên bao che và bỏ qua khuyết  điểm của Bảo. Câu hỏi:  ­ Em nhận xét như thế nào về cách xử sự của bạn A?     ­ Nếu là bạn thân của Bảo thì em sẽ hành động như thế nào? Tình huống 3: Bạn Cúc là một cán bộ  lớp gương mẫu, học giỏi, nhiệt   tình trong các hoạt động phong trào. Bạn được thầy cô giáo, bạn bè tin yêu và  đánh giá cao về  mọi mặt. Bạn hoàn toàn xứng đáng được đi dự  Đại hội đại  biểu học sinh  ưu tú của Quận. Nhưng một nhóm bạn trong lớp lại không  đồng ý cử Cúc đi dự đại hội vì bạn Cúc hay phê bình thẳng thắn khuyết điểm  của một số bạn đó. Nếu em là thành vieê của lớp đó, em sẽ làm gì?
  17. Qua việc phân tích các tình huống học sinh có thể tự rút ra cho mình cách  ứng xử phù hợp, thể hiện là người "chí công vô tư" Giáo viên nêu câu hỏi: 1. Em cần thể hiện thái độ như thế nào đối với người chí công vô tư? 2. Đối với những người vụ  lợi cá nhân, thiên vị, thiếu công bằng trong   giải quyết công việc, em cần có thái độ như thế nào? Trong bài:  " Tự  chủ"  ­  GDCD 9. Giáo viên có thể  tích hợp kỹ  năng  kiểm soát cảm xúc kiểm chế  bản thân, kỹ  năng thể  hiện sự  cảm thông, kỹ  năng giải quyết mâu thuẫn. Khi dạy mục : Đặt vấn đề: giáo viên cho học sinh phân tích truyện đọc  và rút ra ý nghĩa của sự tự chủ. ( Tự chủ giúp con người đứng vững trước khó  khăn, thử thách, cám dỗ để sống tốt hơn). Giáo viên cũng có thể đưa ra các tình huống để  học sinh phân tích và rút   ra bài học cho bản thân. Tình huống 1: Nam và Sơn học chung một lớp lại ngồi chung bàn. Một  hôm Sơn bị mất chiếc bút máy rất đẹp mới mua. Tìm mãi không thấy, Sơn đổ  tội cho Nam lấy cắp. Nam và Sơn to tiếng, tức quá Nam đã cầm thước xông   vào đánh Sơn chảy máu đầu phải khâu 5 mũi. Nam đã bị  nhà trường đình chỉ  học tập một tuần. Câu hỏi:  1. Em nhận xét như thế nào về hành vi của Nam và Sơn? 2. Hành vi của hai bẹn đã gây ra hậu quả như thế nào? 3. Nếu ở trong tình huống đó em sẽ xử sự như thế nào? Vì không có kỹ  năng  ứng xử, giải quyết vấn đề, không kiểm soát được   cảm xúc của bản thân mà hai bạn đã gây ra những hậu quả xấu. Một bạn bị  đau, ảnh hưởng đến sức khoẻ, một bàn thì bị đình chỉ học. Vì vậy trước một   vấn đề  chúng ta cần bình tĩnh lựa chọn cách  ứng xử  phù hợp đem lại hiệu   quả tốt nhất tránh gây thiệt hại cho bản thân và xã hội.
  18. Tình huống 2: Toàn sinh ra trong một gia đình khá giả, bố  mẹ  tạo mọi   điều kiện cho bạn ăn học.  Nhưng Toàn đã nghe bạn bè xấu rủ rê nên từ một   học sinh ngoan, học khá, Toàn thường xuyên trốn học đi chơi đua đòi và sa  vào các tệ nạn xã hội như cờ bạc, ma tuý... Câu hỏi: Vì sao Toàn lại sa ngã vào con đường nghiện ngập và các tệ  nạn xã hội (Yêu cầu: toàn đã không làm chủ được bản thân trước sự lôi kéo,  dụ dỗ của bạn bè. Toàn thiếu kỹ năng phân biệt điều tốt và việc xấu nên dễ  bị lôi kéo, sa ngã). Trong bài: " Bảo vệ hoà bình" ­ GDCD 9. Giáo viên có thể tích hợp cho  học sinh kỹ  năng xây dựng mối quan hệ  hoà bình hoàn thiện với mọi người   xung quanh. Để  tích hợp kỹ  năng này. Giáo viên có thể  cho học sinh chỉ  ra   những điểm đối lập giữa chiến tranh và hoà bình. Hoà Bình Chiến tranh ­  Đem lại cuộc sống bình yên, tự  ­ Gây đau thương chết chóc do ­ Nhân dân được ấm no, hạnh phúc ­   Đói   nghèo,   bệnh   tật,   không   được   học  hành ­ Là khát vọng của loài người ­ thành phố, làng mạc, nhà máy bị tàn phá Là thảm hoạ của loài người Khi thấy được sự  đối lập giữa chiến tranh và hoà bình, học sinh sẽ  ý  thức được giá trị của hoà bình và có  lòng yêu hoà bình, có kỹ năng xây dựng  mối quan hệ hoà bình thân thiện trong cuộc sống hàng ngày. Giáo viên cũng có thể  tổ  chức trò chơi vẽ  cây hoà bình. Giáo viên chia  học sinh thành các nhóm và cùng "vẽ cây hoà bình" theo hướng dẫn sau ­ Các em vẽ một cây có rễ, thân, cành, lá ­ Trên thân cây các em viết chữ Hoà Bình ­ Ở các dễ cây các em viết những hoạt động bảo vệ hoà bình ­ Trên các cành cây các em viết những điều tốt đẹp mà hoà bình đem lại   cho các con người.
  19. Nhóm nào vẽ  được cây có nhiều rễ, cành với nhiều nội dung, nhóm đó  sẽ  thắng cuộc. Sau phần hoạt động của học sinh giáo viên có thể  kết luận.   Để  có được những điều tốt đẹp do hoà bình mang lại thì chúng ta phải có  những hoạt động thiết thực bảo vệ  hoà bình. Trong mối quan hệ  với bạn bè   và mọi người xung quanh cũng vậy. Muốn có mối quan hệ tốt đẹp thì chúng  ta phải có thái độ cởi mở, thân thiện với mọi người.  Trong bài:    " Lý tưởng sống của thanh niên" ­ GDCD 9. Giáo viên có  thể  rèn cho học sinh kỹ  năng nhận thức về  lý tưởng sống đúng đắn? Giáo  viên có thể nêu câu hỏi để học sinh liên hệ thực tế về lý tưởng sống của một   bộ phận học sinh hiện nay. Câu hỏi: Em nhận xét như thế nào về lý tưởng sống của thanh niên học   sinh hiện nay? ­ Yêu cầu: Trên thực tế hiện nay, bên cạnh những bạn học sinh biết vượt   lên số phận, đạt được những thành tích cao trong học tập và rèn luyện thì vẫn  còn một số  bạn thiếu lý tưởng sống đúng đắn như: Có điều kiện học tập   nhưng lại không chịu học hành mà chơi bời, lêu lổng, đua đòi, đàn đúm, ăn  chơi sa đoạ? Câu hỏi: Theo em, tương lai những học sinh đó sẽ ra sao? ­ Họ sẽ gây ra những hậu quả gì cho xã hội? ­ Vậy theo em, lý tưởng sống đúng đắn là gì? Sau khi học sinh trả lời, giáo viên có thể  kết luận: Lý tưởng sống đúng   đắn là lý tưởng sống phù hợp với lý tưởng chung của dân tộc, phấn đấu trở  thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Việc giáo viên đưa ra tình huống, các mâu thuẫn, các trò chơi... giúp giảm   lối học thụ động, sách vở, tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào thực   tế, khuyến khích học sinh tích cực xem xét, thảo luận về một tình huống, một  câu chuyện, nhân vật có thật trong thực tế. Với những tình huống giáo viên  đưa ra, học sinh tiếp nhận lý thuyết bằng cách giải quyết những vấn đề thực  
  20. tế. Từ đó tăng cường khả  năng suy nghĩ độc lập, kiên định khi tiếp cận tình  huống dưới nhiều gốc độ, tăng cường tính sáng tạo để tìm giải pháp cho vấn  đề, kĩ năng đnáh giá các giải pháp đã lựa chọn. Phát triển kĩ năng giao tiếp,  ứng xử, tinh thần tập thể, tính trách nhiệm và tự  khẳng định mình của học   sinh. Nâng cao lòng tin vào khả năng giải quyết vấn đề trong tương lai. Việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống và hướng đến người học, một mặt  đáp  ứng nhu cầu của người học ra những năng lực để  đáp ứng trước những  thử thách của cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân.   Mặt khác việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống vào bộ  môn thông qua những   phương pháp hướng đến học sinh, phương pháp dạy học tương tác, cùng   tham gia, đề cao vai trò chủ động, tự giác của học sinh sẽ có những tác động   tích cực đến mối quan hệ  giữa thầy, cô giáo và học sinh, giữa học sinh với  học sinh. Đồng thời học sinh sẽ cảm thấy mình đwocj tham gia giải quyết các   vấn đề có liên quan đến cuộc sống của bản thân, học sinh sẽ thích thú và tích   cực học tập hơn. Trên cơ sở đó chất lượng giáo dục cũng được nâng lên. Để  việc tham gia rèn luyện kĩ năng sống của học sinh được hiệu quả,  cần hội tụ 4 yếu tố cơ bản: Bản thân các em, gia đình, nhà trường và xã hội.   Học sinh cần có sự  cố  gắng và hợp tác với thầy, cô giáo trong quá trình học  tập. Gia đình phải thương yêu, định hướng, hỗ trợ tạo điều kiện nhưng không  bắt ép các em, cha mẹ cần dành nhiều thời gian lắng nghe con mình hơn. Gia   đình động viên giúp các em tránh xa tệ  nạn xã hội, bố  trí thời gian học tập,  vui chơi phù hợp. gia đình phải là nơi xây dựng cho các em thái độ  yêu thích  môn học, không coi nhẹ môn học. Chính

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản