intTypePromotion=1

Đề tài: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô lai có triển vọng trong vụ Xuân và vụ Thu Đông 2009 tại Thái Nguyên

Chia sẻ: Nguyen Van Vong | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:103

0
412
lượt xem
80
download

Đề tài: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô lai có triển vọng trong vụ Xuân và vụ Thu Đông 2009 tại Thái Nguyên

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cây ngô (Zea mays L) là một trong 3 cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn thế giới. Ở các nước thuộc Trung Mỹ, Nam Á và Châu Phi, người ta sử dụng ngô làm lượng thực chính. Không chỉ cung cấp lượng thực cho con người, ngô còn là nguồn thức ăn cung cấp cho chăn nuôi, là nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến trên toàn thế giới.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô lai có triển vọng trong vụ Xuân và vụ Thu Đông 2009 tại Thái Nguyên

  1. 1 ĐỀ TÀI “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển c ủa một số giống ngô lai có triển vọng trong v ụ Xuân v à vụ T hu Đ ông 2009 t ại Thái N guyên ” G iảng viên hướng dẫn : Sinh viên thực hiện :
  2. 2 Sinh viên thực hiện : ................................................................................. 1 MỞ Đ ẦU....................................................................................................... 4 1. Đ ẶT V ẤN ĐỀ ........................................................................................... 4 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ......................................................................... 5 3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦ A Đ Ề TÀI ............. 5 Chương 1 ....................................................................................................... 6 1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI ........................................................ 6 1.2. VAI TRÒ CỦA CÂY NGÔ TRONG NỀ N KINH TẾ QUỐC DÂN .......... 7 1.3. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ NGHIÊN CỨU NGÔ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM .................................................................................................... 8 1.4. ƯU THẾ LAI ....................................................................................... 20 1.5. KẾT QU Ả NGHIÊN CỨU CHỌ N TẠO GIỐ NG NGÔ ..................... 27 Chương 2 ..................................................................................................... 39 2.1. VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU .................................................................... 39 2.2. Đ ỊA Đ IỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU ............................................. 40 2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU .................................................................. 40 2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................................... 40 2.5. QUY TRÌNH KỸ THUẬT ÁP DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU ............ 46 2.6. THU THẬP SỐ LIỆU KHÍ TƯỢNG ................................ .................... 48 2.7. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU ....................................................... 48 Chương 3 ..................................................................................................... 49 3.1. NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦ A CÁC GIỐNG NGÔ THÍ NGHIỆ M VỤ XUÂN VÀ THU Đ ÔNG 2009 .................. 49 3.2. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CỦA CÁC GIỐNG NGÔ THÍ NGHIỆM VỤ XUÂN VÀ VỤ THU ĐÔNG 2009 ................................................................. 60 3.3 . KHẢ NĂNG CHỐ NG CHỊ U CỦ A CÁC GIỐ NG NGÔ THAM GIA THÍ NGHIỆ M VỤ XUÂN VÀ THU Đ ÔNG 2009 .............................................. 70 3.4. TRẠNG THÁI CÂY, TRẠNG THÁI BẮP, Đ Ộ BAO BẮP CỦA CÁC GIỐNG NGÔ THÍ NGHIỆ M VỤ XUÂN VÀ THU Đ ÔNG 2009 .................. 79
  3. 3 3.5. CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH NĂNG SUẤT VÀ NĂNG SUẤT CỦ A CÁC GIỐNG NGÔ THÍ NGHIỆM VỤ XUÂN VÀ THU ĐÔNG 2009 .......... 82 3.6. KẾT QUẢ MÔ HÌNH TRÌNH DIỄ N GIỐNG NGÔ ƯU TÚ .................. 93 KẾT LUẬN VÀ Đ Ề NGHỊ ......................................................................... 97 1. KẾT LU ẬN ............................................................................................. 97 2. ĐỀ NGHỊ ................................................................................................. 98
  4. 4 MỞ ĐẦU 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Cây ngô (Zea mays L) là một trong 3 cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn thế giới. Ở các nước thuộc Trung Mỹ, Nam Á và Châu Phi, người ta sử dụng ngô làm lượng thực chính. Không chỉ cung cấp lượng thực cho con người, ngô còn là nguồn thức ăn cung cấp cho chăn nuôi, là nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến trên toàn thế giới. H iện nay 66% sản lượng ngô của thế giới được dùng làm thức ăn cho chăn nuôi, trong đó các nước phát triển là 76% và các nước đang phát triển là 57%. Tuy chỉ có 21% sản lượng ngô đ ược dùng làm lượng thực cho con người nhưng nhiều nước vẫn coi ngô là cây lương thực chính, như: Mexico, Ấn Độ, Philipin. Ở Ấn Độ có tới 90% sản lượng ngô, Ở Philipin có 66% sản lượng ngô được dùng làm lương thực cho con người (Dương Văn Sơn và ctv, 1997) [13]. Nhờ những vai trò quan trọng của cây ngô trong nền kinh tế thế giới nên hơn 40 năm gần đây, ngành sản xuất ngô thế giới p hát triển mạnh và giữ vị trí hàng đầu về năng suất, sản lượng trong những cây lương thực chủ yếu. Mặc dù diện tích trồng ngô đứng thứ 3 sau lúa mỳ và lúa nước, nhưng sản lượng ngô chiếm 1/3 sản lượng ngũ cốc trên thế giới và nuôi sống 1/3 dân số toàn cầu. Năm 1961 diện tích trồng ngô chỉ đạt 105,48 triệu ha với tổng sản lượng là 205,00 triệu tấn, nhưng đến năm 2009 diện tích trồng ngô đã đạt 159,53 triệu ha với sản lượng 817,11 triệu tấn (theo thống kê của FAO, 2010) [34]. H iện nay do nhu cầu sử dụng ngô không ngừng tăng, đ ể đáp ứng đủ nhu cầu ngô cho tiêu dùng trong nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã xây dựng chiến lược phát triển sản xuất ngô đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 là phải đạt 5- 6 triệu tấn vào năm 2010 và năm 2020 là 9- 10 triệu tấn. Để đạt được mục tiêu này, hai giải pháp chính được đưa ra là mở rộng diện tích và tăng năng suất. Tuy nhiên việc mở rộng diện tích trồng ngô
  5. 5 rất khó khăn do diện tích sản xuất nông nghiệp còn hạn chế và phải cạnh tranh với nhiều loại cây trồng khác nên tăng năng suất là giải pháp chủ yếu. Trong giải pháp tăng năng suất thì giống đ ược coi là hướng đột phá bởi nó có ý nghĩa quyết định để nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng nông sản. Một giống ngô lai tốt sẽ cho sản lượng cao hơn giống bình thường từ 20 – 25%. T rong qu á t rì nh nghiên c ứu và c họn giống ngô p hù hợp với từng sinh thái, vi ệ c đá nh giá khả năng sinh trưởng, p hát tri ển v à năng su ất của các gi ồng ngô trướ c khi đưa ra sả n xu ất đ ạ i trà là công vi ệ c cầ n p hả i được ti ế n hà nh. X u ất phát từ lợi ích v à nhu c ầu thực tế hiện nay, chúng tôi đ ã ti ến h ành th ực hiện đ ề t ài : “ Nghiên c ứu khả năng sinh t rư ởng, phát triển c ủa một số giống ngô lai có triển vọng trong vụ Xuân v à vụ T hu Đ ông 2 009 tại Thái Nguy ên 2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU - X ác đ ịnh m ột số giống ngô lai có triển vọng để giới thiệu cho s ản x u ất đại trà tại Thái N guyên, làm cơ sở cho quá tr ình ch ọn tạo giống ở các tỉnh Trung du và m iền núi phía Bắc. 3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGH ĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 3.1. Ý nghĩa khoa học - Đ ề tài đánh giá được những đặc điểm nông sinh học chính và năng suất của các giống tham gia thí nghiệm. - K ết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học để xác định được tập đoàn giống ngô phù hợp với những điều kiện sinh thái của từng vùng. 3.2. Ý nghĩa thực tiễn - Lựa chọn ra những giống ngô lai tốt có năng suất cao, khả năng chống chịu tốt cho các tỉnh miền núi phía Bắc.
  6. 6 - Đề tài góp phần làm đa dạng tập đoàn giống ngô phù hợp với điều kiện sinh thái tại Thái Nguyên. Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. C Ơ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI Ở V iệt Nam, nông nghiệp nông thôn có vị trí rất quan trọng. Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn và đã có những chủ trương, chính sách đúng đắn để đẩy nhanh sự phát triển của khu vực này. Trải qua các giai đoạn phát triển, nông dân, nông nghiệp và nông thôn đã có những đóng góp tạo nên những thành tựu lớn trong công cuộc đổi mới. Cho đến nay, nông nghiệp nước ta đã có bước phát triển tương đối toàn diện, tăng trưởng khá, quan hệ sản xuất từng bước đổi mới phù hợp với yêu cầu phát triển của nền nông nghiệp hàng hoá. Những thành tựu đó đã góp phần rất quan trọng vào sự ổn định kinh tế - xã hội, tạo tiền đề đầy nhanh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Đóng góp một phần không nhỏ đối với sự phát triển đó là hệ thống các cây lương thực, trong đó có cây ngô. Tuy hiện nay cây lúa vẫn đang giữ vị trí đứng đầu về sản lượng cũng như tầm quan trọng nhưng với khả năng phát triển trong tương lai, cây ngô đã từng bước tự chứng tỏ được mình. N gô là cây trồng quang hợp theo chu trình C4, có tiềm năng năng suất cao mà không một cây cốc có thể so sánh kịp. Để nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp nói chung và khai thác triệt để vị trí vai trò của cây ngô nói riêng, công tác lai tạo những giống ngô mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, thích ứng rộng là một yêu cầu cấp thiết. Trong đó yếu tố giống có vai trò hết sức quan trọng đối với việc nâng cao năng suất và sản lượng ngô.
  7. 7 Tuy nhiên một giống chỉ được coi là thực sự phát huy hiệu quả khi giống có tiềm năng năng suất cao và thích nghi với điều kiện sinh thái cụ thể. Do đó muốn phát huy hiệu quả của giống cần tiến hành nghiên cứu và khảo nghiệm giống ở các vùng sinh thái khác nhau dựa trên một số đặc điểm nông sinh học và n ăng suất. Đ ể xác định được những giống ngô lai có triển vọng đưa vào sản xuất đại trà, góp phần làm tăng năng suất và sản lượng ngô của tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống ngô lai thí nghiệm trong điều kiện sinh thái của tỉnh. 1.2. VAI TRÒ CỦA CÂY NGÔ TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN 1.2.1. Có giá trị sử dụng trong nhiều ng ành sản xuất. N gô là một loại cây lương thực có giá trị sử dụng rộng rãi, không những trong nông nghiệp mà còn trong các ngành sản xuất khác: - H ạt ngô dùng làm lương thực cho người và thức ăn cho chăn nuôi, ngoài ra còn dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến như sử dụng tinh bột trong công nghiệp chế biến đường glucose, doxtrox, deptrin, maldons, công nghiệp chế biến thực phẩm. - Bẹ ngô dùng làm thảm hoặc chế biến giấy cuộn thuốc lá. - Thân ngô được dùng làm chất đốt hoặc nguyên liệu giấy, thân ngô non dùng làm thức ăn gia súc. - Cùi ngô làm chất đốt hoặc chế tạo chất dẻo, nylon. - Râu ngô được dùng làm dược liệu. Hiện nay ở nước ta, cây ngô vẫn được dùng chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất thức ăn chăn nuôi, còn các ngành sản xuất khác mới chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, cần đ ược mở rộng trong thời gian tới. 1.2.2. Là một loại cây xoá đói giảm nghèo
  8. 8 Mục đích cơ b ản của các chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn là phát triển kinh tế đất nước, nâng cao đời sống cho nông dân. N hiều nghiên cứu khẳng định ngô là cây trồng cần được phát triển trong tương lai. V ới giá trị sử dụng và giá trị kinh tế khá cao, cùng với các khả năng nâng cao năng suất, cây ngô sẽ nâng cao mức thu nhập cho người nông dân, từ đó đáp ứng được mục tiêu xã hội quan trọng là xóa đói giảm nghèo. 1.2.3. Sử dụng đất đai có hiệu quả, phá thế độc canh của cây lúa. V ới một nền nông nghiệp lúa nước trước kia, cây ngô thường được coi là loại cây lương thực bổ sung. Nhưng hiện nay, với yêu cầu chuyển đổi, đa dạng hóa cây trồng, việc phát triển cây ngô là phù hợp. Đi đôi với việc tăng năng suất, chất lượng của cây ngô là việc chuyển đổi những vùng đất không thích hợp đối với trồng lúa sang cây trồng có hiệu quả hơn là ngô. 1.2.4. Tiết kiệm được ngoại tệ. Cây ngô được phát triển sẽ làm giảm lượng ngô nhập khẩu, tiết kiệm được ngoại tệ cho ngân sách Nhà nước. Đây là một chỉ tiêu cần thiết trong điều kiện nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn phát triển, rất cần tiết kiệm nguồn vốn cho đầu tư phát triển các vấn đề khác cấp thiết hơn. H iện nay, nhu cầu tiêu dùng ngô trong nước cao hơn khả năng cung ứng nên hàng năm nước ta vẫn phải nhập từ 300 - 6 00 nghìn tấn ngô với lượng chi ngoại tệ từ 25 - 50 triệu USD. Do vậy, việc tăng sản lượng ngô là việc cần thiết và cấp bách hiện nay. 1.3. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ NGHIÊN C ỨU NGÔ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 1.3.1.Tình hình sản xuất ngô trên thế giới N gô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Do có nền di truyền rộng và thích ứng với nhiều vùng sinh thái khác nhau nên cây ngô được trồng ở hầu hết các nước trên thế giới. Hiện nay trên thế giới có khoảng
  9. 9 140 nước trồng ngô, trong đó có 38 nước là các nước p hát triển còn lại là các nước đang phát triển (Báo cáo tổng kết 29 của ISAAA) [1]. Tổng diện tích trồng năm 2009 lên đến 159,53 triệu ha, năng suất 5,12 tấn/ha và sản lượng 817,11 triệu tấn một năm (FAOSTAT, 2 010) [34 ]. N gô được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực như: làm lương thực, thực phẩm, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến... H iện nay ngô còn là nguồn nguyên liệu quan trọng trong sản xuất năng lượng sinh học (ethanol), đây được coi là giải pháp cho sự thiếu hụt năng lượng trong tương lai. Ở Mỹ, trên 90% ethanol được sản xuất từ ngô với hơn 2680 nhà máy. Trung Quốc cũng đang tập trung đầu tư xây dựng nhiều cở sở nghiên cứu về nguồn năng lượng sinh học này với mục tiêu ethanol nhiên liệu sẽ tăng lên 2 tỷ lít vào năm 2010 và 10 tỷ lít vào năm 2020 (Ngô Sơn, 2007) [12]. Đ ể cung cấp nguyên liệu cho sản xuất ethanol, các nhà khoa học thuộc Đ ại học bang Michigan (Mỹ) đã tạo ra một số giống ngô mới chuyên sản xuất ethanol. Giống ngô mới này cho phép tạo ra sản phẩm ethanol hiệu quả hơn và mang lại nhiều lợi nhuận hơn b ởi hiện phần lớn nhiên liệu ethanol của Mỹ được sản xuất từ bắp ngô. N hờ những tiến bộ trong nghiên cứu và sản xuất mà năng suất, sản lượng và diện tích ngô trên thế giới tăng lên liên tục từ đầu thế kỷ 20 đến nay. K ết quả được thể hiện qua bảng 1.1. Bảng 1.1. Tình hình sản xuất ngô thế giới từ năm 1961 - 2009. C hỉ tiêu Diện tích Sản lượng Năng suất (triệu ha) (tấn/ha) (triệu tấn) Năm 1961 105,55 1,92 205,03 2005 147,47 4,84 713,43 2006 148,83 4,75 706,69 2007 159,05 4,96 789,48
  10. 10 2008 161,10 5,13 826,22 2009 159,53 5,12 817,11 (Nguồn: FAOSTAT, 2010 ) [34] Q ua bảng 1.1 cho thấy, sản xuất ngô trên thế giới tăng lên không ngừng cả về diện tích và năng suất. Năm 1961 năng suất ngô trung bình thế giới mới chỉ đạt 1,92 tấn/ha, diện tích 105,55 triệu ha. Nhưng đến năm 2009 năng suất ngô đạt 5,12 tấn/ha, gấp 3 lần và sản lượng đạt 817,11 triệu tấn, gấp 4 lần so với năm 1961, trong khi diện tích ngô tăng không nhiều (1,5 lần). Trong công tác cải tạo giống cây trồng trên cơ sở ưu thế lai, ngô lai là một thành công kỳ diệu của nhân loại. Nhờ sử dụng giống ngô lai và kỹ thuật trồng trọt tiên tiến mà năng suất ngô trên thế giới đ ã tăng 1,83 lần trong vòng 30 năm (1960 -1990), nhất là các nước có điều kiện thâm canh như Mỹ, Trung Q uốc, Brazil. Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới được trình bày ở bảng 1.2. Bảng 1 .2. Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới năm 2009 Diện tích Sản lượng Năng suất Nước (triệu ha) (tấn/ha) ( triệu tấn) Mỹ 31,83 9,66 307,38 Trung Quốc 30,48 5,35 163,12 Brazil 13,79 3,71 51,23 Mex ico 7,20 2,80 20,20 Ấn Độ 8,40 2,06 17,30 Italia 0,91 8,60 7,88 Đức 0,52 9,75 4,53 H y Lạp 0,82 8,14 6,80 Israel 0,005 16,23 0,08
  11. 11 (Nguồn FAOSTAT, 2010) [34 ] Mỹ là một nước phát triển có năng suất ngô tăng từ 2-3 lần trong thời kỳ trên. H iện nay Mỹ là nước sản xuất ngô lớn nhất thế giới, chiếm hơn 40% tổng sản lượng ngô thế giới. Theo Rinke.E (1979) [35 ] việc sử dụng các giống ngô lai ở Mỹ bắt đầu từ năm 1930. Hiện nay 100% diện tích ngô của Mỹ là trồng các giống ngô lai trong đó hơn 90% là giống ngô lai đơn (Ngô Hữu Tình và cộng sự, 2009 ) [20]. Nhiều thí nghiệm ở Mỹ về các giống ngô lai đơn đã cho năng suất đạt 25 tấn/ha/vụ. Người ta đã tính được mức độ tăng năng suất ngô ở Mỹ trong giai đoạn 1930 -1986 là 103 kg/ha/năm, trong đó sự đóng góp do cải tiến nền di truyền là 63 kg/ha/năm (Duvick D.N, 1990) [30 ], vào cuối thế kỷ 19, Mỹ đã có 770 giống ngô cải lượng. Trong thời gian gần đây, nếu như phần lớn các nước phát triển năng suất ngô tăng không đáng kể, thì năng suất ngô ở Mỹ lại có sự tăng đột biến. K ết quả đó có được là nhờ ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất. Theo Ming Tang Chang và cộng sự (Minh-Tang Chang et al, 2005) [33] cho biết: Ở Mỹ chỉ còn 48% giống ngô đ ược sử dụng được chọn tạo theo công nghệ truyền thống, 52% là bằng công nghệ sinh học. N ăng suất ngô ở Mỹ đã tăng từ 1,5 tấn/ha vào năm 1930 đến 7 tấn/ha vào những năm 1990 (SK.Vasal et al, 1990) [36]. Năm 2009 tổng sản lượng ngô của Mỹ là 307,38 triệu tấn/ha, trên diện tích là 31,83 triệu ha. Trung Quốc là nước đứng thứ 2 trên thế giới về diện tích trồng ngô, Theo dự báo, sản lượng ngô năm 2010-2011 của Trung Quốc sẽ tăng 7,1% so với năm 2009, và vượt kỷ lục 163,12 triệu tấn năm 2009, tuy nhiên diện tích ngô tăng không nhiều (tăng 1%). Do có trình độ khoa học kỹ thuật và thâm canh cao nên Israel là nước đứng đầu về năng suất là Israel với 16,23 tấn/ha, năng suất ngô thấp nhất là Ấn Độ (2,06 tấn/ha).
  12. 12 Trong sản xuất hiện nay có sự khác biệt rõ ràng về năng suất giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển. N ăng suất ngô trung bình của các nước phát triển là 7,8 tấn/ha, các nước đang phát triển là 2,7 tấn/ha. H ai nguyên nhân chính dẫn đến sự chênh lệch này là: - Tỷ lệ sử dụng giống ngô lai khác nhau trong sản xuất. Ở các nước phát triển 90-100% diện tích ngô được trồng bằng các giống lai có ưu thế lai cao, trong khi đó c ác nước đ ang p hát triển diện tích trồng giống ngô lai rất thấp (37% d iện tích) chủ yếu là trồng các giống thụ phấn tự do (63% diện tích) (CIMMYT, 1991 -1992) [29 ]. - K hả năng đầu tư và trình độ thâm canh của người sản xuất. Theo d ự báo của Viện nghiên cứu chương trình Lương thực Thế giới (IPRI, 2003) [32], vào năm 2020 tổng nhu cầu ngô thế giới là 852 triệu tấn, trong đó 15% dùng làm lương thực, 69% dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16% dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp. Ở các nước phát triển chỉ d ùng 5% ngô làm lương thực nhưng ở các nước đang phát triển tỷ lệ này là 22%, dự báo nhu cầu ngô trên thế giới năm 2020 được trình bày ở bảng 1.3 Bảng 1.3: Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020 Năm 1997 Năm 2020 Vùng % thay đổi (triệu tấn) (triệu tấn) Thế giới 586 852 45 Các nước đang phát triển 295 508 72 Đông Á 136 252 85 Nam Á 14 19 36 Cận Sahara - Châu Phi 29 52 79 Mỹ Latinh 75 118 57 Tây và Bắc Phi 18 28 56
  13. 13 (Nguồn: IPRI 2003) [32] N hư vậy đến năm 2020, nhu cầu ngô thế giới tăng 45% so với nhu cầu năm 1997, chủ yếu tăng cao ở các nước đang phát triển (72%), riêng Đông Á nhu cầu tăng 85% so với năm 1997. 1.3.2.Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam Cây ngô được đưa vào Việt Nam cách đây khoảng 300 năm (Ngô Hữu Tình, 1997) [18]. Ngô là một trong những cây màu chính, thích ứng rộng, chịu thâm canh, năng suất cao, vì vậy cây ngô được trồng ở hầu hết các vùng trong cả nước. Tình hình sản xuất ngô lai trong nước giai đoạn từ năm 1961 đến 2009 đ ược trình bày qua bảng 4.1. Bảng 1.4. Sản xuất ngô Việt Nam năm 1961 – 2009 D iện tích Sản lượng Năng suất (nghìn ha) (tấn/ha) (nghìn tấn) 229,2 1 ,14 260,1 1961 280,6 229,2 1 ,05 1975 432,0 1990 1 ,55 671,0 534,6 2 ,14 1 .143,9 1994 730,2 2 ,51 2 .005,9 2000 1.052,6 3 ,60 3 .787,1 2005 2007 1.072,8 3 ,96 4 .250,9 1.140,2 4 ,01 4 .573,1 2008 1.086,8 4 ,03 4 .381,8 2009 (Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ NN & PTNT 2010) [21] Sản xuất ngô ở V iệt Nam trải qua nhiều bước thăng trầm, đến nay đã đạt được những thành tựu to lớn, được chia làm 3 giai đoạn chính:
  14. 14 G iai đoạn 1: Trước năm 1975 do điều kiện còn khó khăn nên cây ngô chưa được chú trọng, vì vậy diện tích ngô chỉ đạt 209 ngìn ha, năng suất 1,07 tấn/ha, với sản lượng bình quân 224 nghìn tấn/năm. G iai đoạn 2: Từ năm 1975-1994 diện tích trồng ngô tăng chậm từ 229,2 nghìn ha (năm 1975) lên 534,6 nghìn ha (năm 1992). Đầu những năm 1990 ngành sản xuất ngô Việt Nam thực sự có một b ước tiến nhảy vọt, gắn liền với việc sử dụng giống ngô lai ra sản xuất, đây là bước chuyển tiếp quan trọng trong chương trình phát triển ngô lai ở Việt Nam - từ giống thụ phấn tự do sang giống ngô lai quy ước. Hàng loạt các giống ngô lai Việt Nam đã được mở rộng ra sản xuất: LVN10, LVN4, LVN5, LVN9, LVN12, LVN17... Do được chọn tạo trong nước nên các giống ngô được tạo ra có khả năng thích ứng với điều kiện sinh thái và tập quán canh tác của n gười dân, giá th ành giống chỉ bằng 50 -70% so với các giống nước ngo ài cùng loại. G iai đo ạn 3: Từ năm 1994 đ ến nay, diện tích trồng ngô tăng nhanh, đồ ng thời với việc tăng không ngừng về năng suất. Năm 2008 và 2009 năng suất và sản lượng ngô cao nhất từ trước đến nay, năng suất đạt từ 4,01- 4,03 tấn/ha, sản lượng 4381,8 - 4573,1 nghìn tấn trên diện tích 1086,8 - 1140,2 nghìn ha. So với năm 1990, khi chưa sử dụng giống ngô lai trong sản xuất thì diện tích tăng trên 2,5 lần, còn sản lượng tăng trên 6,5 lần. Có thể nói việc phát triển và sử dụng các giống ngô lai trong sản xuất ở V iệt Nam là thành tựu nổ i bật không thể phủ nhận. Trước đ ây năng suất ngô của nước ta rất thấp so với năng suất ngô thế giới, do sử dụng giố ng địa phương và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế. Tuy nhiên chỉ trong 10 năm áp dụng sản xuất ngô lai tại Việt Nam diện tích ngô lai đã tăng từ 0 % năm 1990 lên 60% năm 2000 với tố c độ tăng kỷ lục 6%/năm, đ ến năm 2009 tỷ lệ giống ngô lai trong sản xuất là 95%.
  15. 15 Trong thời gian gần đây, việc tiêu thụ ngô hàng hoá trong nước chủ yếu do các công ty chế biến thức ăn chăn nuôi, thông qua các đại lý hoặc các tư thương thu mua gom lại, sấy khô rồi cung ứng cho các nhà máy. Hiện nay, tại một số tỉnh như Sơn La, Hà Tây, Hòa Bình... đã hình thành các cụm sấy ngô hạt do các tư nhân tự đầu tư và thu mua ngô của dân, rồi cung cấp cho các cơ sở chế biến thức ăn chăn nuôi. Theo báo cáo của Viện Quy hoạch và Thống kê nông nghiệp, dự kiến đến năm 2010, tổng nhu cầu sử dụng ngô trong cả nước là 4,8 triệu tấn và năm 2010 là 6 triệu tấn. Trong đó sử dụng cho chế biến thức ăn chăn nuôi là 2,3 triệu tấn (2005) và 3,5 triệu tấn (2010). D ự đoán trong thời gian tới diện tích ngô lai sẽ tiếp tục tăng cao do nhu c ầu trong chăn nuôi tăng. * Cơ hội và thách thức đối với sản xuất ngô ở Việt Nam - Cơ hội trong sản xuất ngô ở Việt Nam + Sản xuất ngô trong nước đã nhận được sự quan tâm sâu sắc của các cơ quan hữu quan. + Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của nước ta thuận lợi cho phép chúng ta có thể mở rộng diện tích gieo trồng. Đặc biệt từ năm 1993 trở lại đ ây, cây ngô được phát triển mạnh ở vùng Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, đã và đang hình thành các vùng sản xuất ngô thương phẩm. Khả năng tăng diện tích gieo trồng ở nước ta còn lớn, hiện nay trong số 140 nghìn ha diện tích đất 1 vụ ở miền núi mới chỉ khai thác được khoảng 15 - 2 0% để trồng ngô, đậu, lạc. Trong 180 nghìn ha ngô ở các tỉnh miền núi và cao nguyên thì mới có khoảng 37% diện tích ngô được trồng 2 vụ. Diện tích ngô vụ đông trên đất 2 vụ lúa ở Đồng bằng và Trung du phía Bắc có thể trồng ngô lên tới 300 nghìn ha. + Nước ta đã có nhiều thành công trong việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về công nghệ sản xuất các loại hạt giống lai và các giống thụ phấn tự
  16. 16 do, nhiều giống ngô lai có năng suất cao đã và đ ang được áp dụng phổ biến trong sản xuất. Chương trình phát triển ngô lai của Việt Nam từ năm 1991 tới nay phát triển nhanh, có tới gần 60% diện tích ngô lai được trồ ng bằng các giống trong nước, số còn lại là các giống của một số công ty nước ngoài. + Thu hồi vốn nhanh: Trồng ngô, nhất là ngô lai có thời gian gieo trồng ngắn, vốn đầu tư không nhiều, dễ làm nên mang lại hiệu quả kinh tế cao. + Công tác khuyến nông và hệ thống thông tin phát triển đ ã giúp cho người dân tiếp thu nhanh về giống mới và kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất ngô đại trà. + Phần lớn các tỉnh đều có chính sách trợ giá về giống và bảo hiểm giá ngô thương phẩm cho người sản xuất ngô lai. + H iện nay nhu cầu về ngô sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước lớn hơn khả năng cung cấp nên ít khi có tình trạng d ư thừa. - Thách thức trong sản xuất ngô ở Việt Nam Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, nhưng sản xuất ngô nước ta vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra: + Năng suất có sự tăng trưởng đáng kể nhưng so với thế giới năng suất ngô của Việt Nam vẫn còn thấp, năm 2009 năng suất ngô trong nước bằng 78,71% so với trung b ình thế giới, 41,72% so với năng suất trung bình của Mỹ (FAOSTAT, 2010) [34 ]. + G iá thành ngô cao, do giá giống và vật tư cao. Trừ 3 vùng ngô hàng hóa lớn là Sơn La, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ có giá thành ngô tương đối thấp, các vùng còn lại có giá thành tương đối cao. Điều đó làm cho giá ngô trong nước luôn cao hơn so với giá ngô thế giới từ 30-40%. + Mặc dù sản xuất ngô trong nước phát triển mạnh song do nhu cầu nguyên liệu để chế biến thức ăn gia súc ngày càng tăng nên hàng năm nước ta vẫn phải nhập một khối lượng đáng kể ngô làm nguyên liệu cho các nhà máy
  17. 17 chế biến thức ăn gia súc. Trong những năm gần đây nước ta phải nhập 500 - 700 nghìn tấn ngô hạt để làm thức ăn chăn nuôi. + Sản phẩm từ ngô còn đơn điệu. + C ông nghệ sau thu hoạch ch ưa được quan tâm đúng mức. Tuy nhiên nếu nhập thiết bị phục vụ cho công tác n ày thì ít nhất cũng cần có hàng chục triệu USD. + N ăng suất và hiệu quả kinh tế trong sản xuất ngô còn có sự chênh lệch khá lớn giữa các vùng. + Bộ giống ngắn ngày, chịu hạn, ít sâu bệnh, năng suất cao chất lượng tốt vẫn còn thiếu, đặc biệt là ở các tỉnh phía Nam. + Ngô ở Việt Nam chưa chuyển sang sản xuất hàng hóa, 75% sản luợng ngô được dùng để sản xuất thức ăn gia súc. Với việc tăng đầu gia súc thì nhu cầu về ngô có thể vượt quá khả năng cung ứng. Nhu cầu đố i với giống ngô ngọt, ngô nếp và ngô rau tăng nhưng hiện nay chỉ có 10% diện tích trồng những giống ngô này. + Một số biện pháp kỹ thuật canh tác vẫn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống. Quy trình canh tác giống mới vẫn còn chưa cụ thể cho từng giống, từng vùng, từng thời vụ. + N hiều vấn đề đặt ra cho ngành sản xuất ngô thế giới nói chung và nước ta nói riêng: Khí hậu toàn cầu đang biến đổi phức tạp, đặc biệt là hạn hán, lũ lụt ngày càng nặng nề hơn, nhiều sâu bệnh hại mới xuất hiện. Sản xuất ngô ở nhiều nơi đang rơi vào tình trạng xói mòn, rửa trôi đất, cạnh tranh giữa ngô và các cây trồng khác. + H iện nay khi gia nhập WTO, nước ta sẽ phải nới lỏng việc hạn chế nhập khẩu dẫn đến sự cạnh tranh về giá thành ngô trong nước với các nước khác và có thể dẫn đến sự sụt giảm về diện tích trồng ngô trong tương lai.
  18. 18 + V iệc mở rộng diện tích và khai thác không bền vững ở một số địa phương có thể dẫn đến làm cạn kiệt nguồn tài nguyên đất, nước và môi trường sinh sống. N hững thách thức trên đặt ra cho các nhà lãnh đ ạo và nghiên cứu, phát triển ngô phải tìm ra hướng đi cụ thể nhằm phát triển cây ngô ở Việt Nam, cụ thể trên các mặt: - Thứ nhất phải nhanh chóng tạo ra được những giống ngô lai có năng suất cao, chất lượng tốt và quan trọng là phù hợp với điều kiện sinh thái Việt N am. Đây là vấn đề khó, đòi hỏi đầu tư nhiều công sức, tiền của, thời gian và muốn thành công phải áp dụng những yếu tố công nghệ cao. - Thứ hai là phải có được hệ thống sản xuất hạt giống chất lượng tốt. - Thứ ba là cần có hệ thống làm khô, chế biến, đóng gói công nghiệp để đảm bảo chất lượng ngang tầm hạt giống của các công ty nước ngoài. - Bốn là phải có chiến lược để giành lại thị trường dựa vào tiêu chí về chất lượng cao, giá thành hạ. * Mục tiêu cụ thể từ năm 2006 - 2010 và các giải pháp phát triển sản x uất ngô trong nước Nghị quyết 09/2000/NĐ -CP ngày 15/6/2000 xác định ngô là loại cây trồng quan trọng trong hệ thống cây lương thực và có định hướng: - Phát triển sản xuất theo hướng sản xuất hàng hoá lớn tại những vùng tập trung thâm canh nhằm đảm bảo cung cấp đủ nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi, đưa ngành chăn nuôi phát triển lên trình độ cao hơn. Đồng thời phục vụ nhu cầu làm lương thực tại các vùng sử dụng ngô theo tập quán. - Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phá thế độc canh. Đây là một mục tiêu quan trọng đối với công tác xoá đói giảm nghèo, tạo việc làm cho người dân.
  19. 19 - G iảm giá thành sản xuất để từng bước cạnh tranh với các sản phẩm của các nước trong khu vực và trên thế giới. - Tăng tỷ lệ cơ giới hoá trong sản xuất ngô. Những mục tiêu trên nhằm đáp ứng đủ cho nhu cầu sử dụng ngô trong nước, giảm nhập khẩu và tiến tới xuất khẩu thu ngoại tệ. Tuy nhiên, để đạt đ ược mục tiêu đó cần đưa ra các giải pháp lớn mang tính đột phá của các cấp q uản lý N hà nước. 1.3 .3. Tình hình sản xuất ngô ở Thái Nguyên Tỉnh thái nguyên là tỉnh thuộc vùng Đ ông Bắc của Việt Nam, là cửa ngõ giao lưu kinh tế xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tỉnh có 354.110 ha diện tích đất tự nhiên, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 94.563 ha. Đ ể đảm bảo an ninh lương thực và phát triển chăn nuôi, cây ngô được coi là m ột trong những cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Cây ngô được trồng 3 vụ trong năm (vụ Đông Xuân, vụ Xuân, vụ Thu Đ ông) trên tất cả các loại đất: đất rẫy, gò đ ồi, đất phù sa ven sông... Những năm gần đây Thái Nguyên đã chuyển đổi cơ cấu giống, sử dụng các giống ngô lai năng suất cao như: LVN10, LVN11, LVN12... và một số giống ngô nhập nội như: Bioseed, 9607, DK999, NK4300 vào sản xuất. Các thành tựu khoa học kỹ thuật mới được nông dân ứng dụng mạnh mẽ vào sản xuất ngô nên diện tích, năng suất và sản lượng ngô ở Thái N guyên tăng nhanh trong những năm gần đây. Tình hình sản xuất ngô tại Thái Nguyên được trình bày qua bảng 1.6. Bảng 1.6. Tình hình sản xuất ngô tại Thái Nguyên Diện tích Sản lượng Năm Năng suất 2002 11,6 3,28 38 2003 13,4 3,26 43,7
  20. 20 2004 15,9 3,43 54,6 2005 15,9 3,47 55,1 2006 15,3 3,52 53,8 2007 17,8 4,21 74,9 2008 20,6 4,11 84,6 2009 17,4 3,86 67,2 (Nguồn: Tổng cục thống kê, Bộ NN&PTNT, 2010 ) [22] Tình hình sản xuất ngô ở Thái Nguyên đ ã có sự thay đổi rất lớn trong thời gian qua. Năm 2002 diện tích trồng ngô của Thái Nguyên là 11,6 nghìn ha với năng suất 3,28 tấn/ha và sản lượng đạt 38 nghìn tấn. Đến năm 2008 diện tích trồng ngô của Thái Nguyên được mở rộng và tăng lên đến 20,6 nghìn ha, v ới năng suất 4,11 tấn/ha và sản lượng đạt 84,6 nghìn tấn. N ăm 2009 do ảnh hưởng của thiên tai nên diện tích, năng suất và sản lượng giảm, tương đương với năm 2007. Điều đó chứng tỏ điều kiện tự nhiên chi phối lớn đến sản xuất nông nghiệp. Mặc dù vậy, tỉnh Thái Nguyên luôn quan tâm chú trọng đẩy mạnh sản x uất ngô. 1.4. ƯU THẾ LAI 1.4.1. Khái niệm ưu thế lai Ư u thế lai là hiện tượng cây lai có sức sống khỏe hơn, tính chống chịu cao hơn, năng suất cao và phẩm chất tốt hơn so với bố mẹ. H iện tượng cây lai có những đặc điểm tốt hơn bố mẹ qua quá trình nghiên cứu được nhiều tác giả ghi nhận và gọi bằng nhiều tên như: "Heterozygosis - tính dị hợp tử" (East và Haye, 1912); "Stimutation due to hybridily - kích thích do tính chất lai"; "Luxurisance - sự phát triển mạnh các tính trạng ở cây lai" (Dobzhansky, 1950). Thuật ngữ được dùng thông dụng nhất là "Heterosis - ưu thế lai" (Shull, 1910) (Ngô Hữu Tình, 2003) [19]. 1.4.2. Các loại ưu thế lai

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản