Đề tài: Thực trạng về dịch vụ bảo lãnh của Ngân hàng thương mại Việt nam

Chia sẻ: Ngo Thanh Binh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:33

0
708
lượt xem
327
download

Đề tài: Thực trạng về dịch vụ bảo lãnh của Ngân hàng thương mại Việt nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung đề tài: Thực trạng về dịch vụ bảo lãnh của Ngân hàng thương mại Việt nam gồm 2 phần. Phần 1 giới thiệu Một số vấn đề cơ bản về dịch vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại. Phần 2 trình bày Thực trạng về dịch vụ bảo lãnh của ngân hàng thương mại Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài: Thực trạng về dịch vụ bảo lãnh của Ngân hàng thương mại Việt nam

  1. LỜI NÓI ĐẦU Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng là một quan hệ gắn bó mật thiết, có tác động qua lại và h ỗ trợ cho nhau trong quá trình phát triển. Hoạt động ngân hàng với rất nhiều dịch vụ đã ph ần nào đáp ứng được nhu cầu của xã hội cũng như của khách hàng. Tuy nhiên, còn rất nhiều dịch vụ chưa được ngân hàng khai thác hết. Mặt khác, các ngân hàng th ương mại ở nước ta hiện nay đang trong quá trình thực hiện chiến lược nâng cao khả năng cạnh tranh trước yêu cầu mở của thị trường dịch vụ tài chính, hội nhập quốc tế, chuẩn bị thực hiện các cam kết trong khuôn khổ WTO. Trọng tâm của chiến lược này là hi ện đ ại hoá công nghệ, phát triển dịch vụ, nâng cao trình độ quản trị đi ều hành theo chu ẩn mực quốc tế… Bởi vậy, phát triển và đa dạng hoá d ịch vụ ngân hàng trở thành v ấn đề tất yếu khách quan, là vấn đề cấp bách đối với tất cả các ngân hàng thương mại trong nước. Trong các dịch vụ đó thì bảo lãnh ngân hàng là một dạng d ịch v ụ ngân hàng hiện đại. Bảo lãnh xuất hiện vào giữa những năm 60 ở một thị trường nội địa nước Mỹ. Sau đó, vào đầu những năm 70, bảo lãnh bắt đầu được sử dụng trong các giao dịch thương mại quốc tế. Và kể từ đó đến nay, với khả năng ứng dụng rộng rãi trong các loại giao dịch (tài chính lẫn phi tài chính, thương mại lẫn phi th ương mại), vị trí của bảo lãnh ngân hàng ngày càng được củng cố một cách chắc chắn. Bảo lãnh ngân hàng là một trong các hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng. Nh ưng khác các hình thức cấp tín dụng khác như cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính; khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh, tổ chức tín dụng không phải cung ứng vốn cho khách hàng mà chỉ dùng uy tín và khả năng tài chính của mình để bảo đảm thực hi ện nghĩa v ụ cho khách hàng. Như vậy, về bản chất thì bảo lãnh ngân hàng là một bi ện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, nó mang tính phái sinh (phát sinh từ nghĩa vụ chính được giao kết giữa khách hàng với bên thứ ba). Nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng đem l ại rất nhi ều tiện ích cho khách hàng. Do được bảo lãnh mà trong nhiều trường h ợp, khách hàng không phải xuất quỹ, được thu hồi vốn nhanh, được kéo dài thời gian thanh toán hàng hoá, dịch vụ, nghĩa vụ nộp thuế… Chính vì vậy, bảo lãnh ngân hàng ngày càng phát triển và đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế. Hoạt đ ộng này không chỉ đem lại nguồn thu ngày càng lớn cho các tổ chức tín dụng, mà quan trọng hơn nó đem lại sự tin tưởng của các chủ thể khi giao kết hợp đồng. Nó chính là chất xúc tác thúc đẩy các hoạt động thương mại, dân sự trong nước và quốc tế ngày càng phát triển. Như vậy, thông qua nghiên cứu hoạt động bảo lãnh ngân hàng, chúng ta có th ể tìm ra những yếu kém còn tồn tại, từ đó đưa ra các giải pháp phát tri ển và hoàn thi ện 1
  2. hơn nữa các hoạt động của ngân hàng, tạo tiền đề quan trọng, vững chắc trong vi ệc gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO. Ngoài lời nói đầu và kết luận, đề tài được kết cấu thành hai phần: Phần 1: Một số vấn đ ề cơ bản về dịch vụ bảo lãnh c ủa ngân hàng th ương mại Phần 2: Thực trạng về dịch vụ bảo lãnh c ủa ngân hàng th ương m ại Vi ệt Nam 2
  3. DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT Thuật ngữ đầy đủ Thuật ngữ viết tắt 1. Ngân hàng thương mại NHTM 2. Ngân hàng Trung ương NHTW 3. Ngân hàng Nhà nước NHNN 4. Bảo lãnh ngân hàng BLNH 5. Dịch vụ ngân hàng DVNH 6. Tổ chức tín dụng TCTD 7. D ịch vụ bảo lãnh DVBL 3
  4. PHẦN 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng thương mại Lịch sử hình thành và phát triển của NHTM gắn liền v ới l ịch s ử phát tri ển c ủa nền sản xuất hàng hoá. Nghề ngân hàng bắt đầu với nghiệp vụ đổi ti ền hoặc đúc tiền của các thợ vàng, của những kẻ cho vay nặng lãi. Các ngân hàng này cho vay với cá nhân, chủ yếu là những người giaù như quan lại, địa chủ, vua chúa… nhằm mục đích phục vụ tiêu dùng, tài trợ một phần nhu cầu chi tiêu cho chiến tranh. Hình th ức cho vay chủ yếu là thấu chi. Do lợi nhuận từ cho vay rất cao, nhiều chủ ngân hàng đã lạm dụng ưu thế của chứng chỉ tiền gửi, phát hành chứng chỉ tiền gửi khống để cho vay. Thực trạng này đã đẩy nhiều ngân hàng đến chỗ mất khả năng thanh toán và phá sản. Sự sụp đổ của ngân hàng gây khó khăn cho hoạt đ ộng thanh toán, ảnh h ưởng xấu tới hoạt động buôn bán. Hơn nữa, lãi suất cao nên những nhà buôn không th ể sử dụng nguồn này. Trước tình hình đó, nhiều nhà buôn tự thành lập ngân hàng, g ọi là NHTM. Như vậy, NHTM được hình thành xuất phát từ vận động của tư bản thương nghiệp, và gắn liền với quá trình luân chuyển của tư bản thương nghiệp. NHTM cũng thực hiện các nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng như huy động ti ền gửi, thanh toán hộ, cất giữ hộ và cho vay. Để đảm bảo an toàn, NHTM ban đầu không cho vay đối với người tiêu dùng, không cho vay trung và dài h ạn, không cho vay đ ối v ới Nhà nước. Cùng với sự phát triển kinh tế và công nghệ, hoạt đ ộng ngân hàng đã có nh ững bước tiến rất nhanh. Trước hết là sự đa dạng hoá các loại hình ngân hàng và các hoạt động ngân hàng. NHTM từ chỗ chỉ cho vay ngắn hạn đã mở rộng cho vay trung và dài hạn, cho vay để đầu tư vào bất động sản. Bên cạnh các hình thức huy động tiền gửi, các ngân hàng đã mở rộng hình thức vay như vay NHTW, vay các ngân hàng khác. Công nghệ ngân hàng đang góp phần làm thay đổi các hoạt động cơ bản c ủa ngân hàng. Thanh toán điện tử đang thay thế dần thanh toán thủ công, các loại th ẻ đang 4
  5. thay thế dần tiền giấy và dịch vụ ngân hàng 24h, dịch vụ ngân hàng tại nhà tạo ra các tiện ích ngày càng lớn cho dân chúng. Như vậy, ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế. Có nhiều cách định nghĩa về ngân hàng. Nhưng khi xem xét trên phương di ện các loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp thì Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán, và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với b ất kì m ột t ổ ch ức kinh doanh nào trong nền kinh tế. 1.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại 1.1.2.1. Trung gian tài chính Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động ch ủ y ếu là chuy ển tiết kiệm thành đầu tư, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại các nhân và tổ chức trong nền kinh tế: (1) các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập và vì thế họ là những người cần bổ sung vốn; và (2) các cá nhân và tổ chức thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hoá, dịch vụ và do v ậy h ọ có ti ền đ ể ti ết ki ệm. S ự tồn tại của hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với ngân hàng. Điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ (1) sang nhóm thứ (2) nếu cả hai cùng có lợi. Như vậy thu nhập gia tăng là động lực tạo ra mối quan hệ tài chính giữa hai nhóm. Quan hệ tín dụng trực tiếp đã có từ rất lâu và tồn tại cho đ ến ngày nay. Tuy nhiên, sự không phù hợp về quy mô, thời gian, không gian… đã cản trở quan h ệ trực tiếp phát triển và là điều kiện nảy sinh trung gian tài chính. Do chuyên môn hoá, trung gian tài chính có thể làm giảm chi phí giao dịch, làm tăng thu nh ập cho ng ười ti ết kiệm, từ đó mà khuyến khích tiết kiệm; đồng thời giảm phí tổn tín d ụng cho ng ười đầu tư (tăng thu nhập cho người đầu tư), từ đó mà khuyến khích đầu tư. Trung gian tài chính đã tập hợp các người tiết kiệm và đầu tư, vì v ậy mà gi ải quy ết đ ược mâu thuẫn của tín dụng trực tiếp. Cơ chế hoạt động của trung gian sẽ có hiệu quả khi nó gánh chịu rủi ro và sử dụng các kĩ thuật nghiệp vụ đ ể h ạn chế, phân tán r ủi ro và giảm chi phí giao dịch. 1.1.2.2. Tạo phương tiện thanh toán Tiền – vàng có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán. Các ngân hàng đã không tạo được tiền kim loại. Các ngân hàng thợ vàng tạo phương tiện thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ với khách hàng. Giấy nhận nợ do ngân hàng phát hành với ưu điểm nhất định đã trở thành phương tiện thanh toán r ộng rãi đ ược nhiều người chấp nhận. Dần dần giấy nợ của ngân hàng đã thay thế ti ền kim loại làm phương tiện lưu thông và phương tiện cất trữ; nó trở thành tiền giấy. Việc in 5
  6. tiền mang lại lợi nhuận rất lớn, đồng thời với nhu cầu có đồng tiền qu ốc gia duy nhất đã dẫn đến việc Nhà nước tập trung quyền lực phát hành (in) tiền giấy vào một tổ chức hoặc là Bộ tài chính hoặc là NHTW. Từ đó chấm dứt việc các NHTM tạo ra các giấy bạc của riêng mình. Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, các khách hàng nhận thấy nếu họ có số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, họ có thể chi trả để có được hàng hoá và dịch vụ theo yêu cầu. Theo quan điểm hiện đại, đại l ượng ti ền t ệ bao g ồm nhiều bộ phận. Thứ nhất là tiền giấy trong lưu thông (MO), thứ hai là số dư tài khoản tiền gửi giao dịch của các khách hàng tại các ngân hàng, thứ ba là ti ền g ửi trên các tài khoản tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kì hạn… Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tăng lên, khách hàng có th ể dùng đ ể mua hàng hoá và dịch vụ. Do đó, bằng việc cho vay (hay tạo ra tín d ụng) các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán (tham gia tạo ra M1). Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo ra phương tiện thanh toán khi các khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo nên khoản thu (tức làm tăng số dư tiền gửi) của một khách hàng khác tại một ngân hàng khác, từ đó tạo ra các khoản cho vay mới. Trong khi không một ngân hàng riêng lẻ nào có thể cho vay lớn hơn dự trữ dư thừa, toàn bộ hệ thống ngân hàng có thể tạo ra khối lượng tiền gửi (tạo phương tiện thanh toán) gấp bội thông qua hoạt động cho vay. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra lượng tiền gửi mà hệ thống ngân hàng tạo ra chịu tác động trực tiếp của các nhân tố như: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt qua ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi không phải là tiền gửi thanh toán… 1.1.2.3. Trung gian thanh toán Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hi ện nay ở hầu h ết các qu ốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch v ụ. Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí; ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như: thanh toán bằng séc, uỷ nhi ệm chi, các loại thẻ… cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bừ trừ với nhau thông qua NHTW hoặc thông qua các trung tâm thanh toán. Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiêụ quả cao khi quy mô sử dụng công nghệ đó càng đ ược mở rộng. Vì vậy, công nghệ thanh toán hiện đại qua ngân hàng thường được các nhà quản lý tìm cách áp dụng rộng rãi. Nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới. Các trung tâm thanh toán qu ốc tế được thiết lập đã làm tăng hiệu quả của thanh toán qua ngân hàng, bi ến ngân hàng 6
  7. trở thành trung tâm thanh toán quan trọng và có hiệu quả, phục vụ đắc l ực cho nền kinh tế toàn cầu. 1.1.3. Các dịch vụ của ngân hàng thương mại Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dich vụ cho công chúng và doanh nghiệp. Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác đ ịnh các d ịch v ụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch vụ đó một cách có hiệu qu ả. Các d ịch vụ của ngân hàng bao gồm: 1.1.3.1. Mua bán ngoại tệ Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hi ện là trao đ ổi (mua bán) ngoại tệ - một ngân hàng đứng ra mua bán một loại ti ền này l ấy m ột lo ại ti ền khác và hưởng phí dịch vụ. Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại t ệ thường chỉ do các ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao. 1.1.3.2. Nhận tiền gửi Cho vay được coi là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng đã tìm mọi cách để huy động được tiền. Một trong những nguồn quan trọng là các khoản ti ền gửi (thanh toán và tiết kiệm của khách hàng). Ngân hàng mở dịch vụ nhận ti ền gửi đ ể bảo quản hộ người có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn. Trong cuộc cạnh tranh để tìm và giành được các khoản tiền gửi, các ngân hàng đã trả lãi cho ti ền g ửi nh ư là phần thưởng cho khách hàng về việc sẵn sàng hy sinh nhu cầu tiêu dùng trước mắt và cho phép ngân hàng sử dụng tạm thời để kinh doanh. 1.1.3.3. Cho vay Gồm có: cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, tài trợ cho dự án. Thời kỳ đ ầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu, cho vay đối với những người bán. Sau đó là bước chuyển tiếp từ thương phiếu sang cho vay trực tiếp đối với các khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh. Trong giai đoạn đầu, hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình. Sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự c ạnh tranh trong cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng tiềm năng. Bên cạnh cho vay truyền thống là cho vay ngắn h ạn, các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho xây dựng nhà máy mới đặc bi ệt là trong các ngành công nghệ cao. Mặc dù rủi ro trong loại hình tín dụng này nói chung là cao song lãi lại lớn. Một số ngân hàng còn cho vay để đầu tư vào đất. 1.1.3.4. Bảo quản vật có giá 7
  8. Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản, đồng thời giao cho khách hàng tờ biên nhận. Do khả năng chi trả bất cứ lúc nào cho giấy chứng nhận, nên giấy chứng nhận đã được sử dụng như tiền – dùng để thanh toán các khoản nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng phát hành. Đây là hình thức đầu tiên của giấy bạc ngân hàng. Ngày nay, vật có giá đ ược tách khỏi tiền gửi và khách hàng phải trả phí bảo quản. 1.1.3.5. Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán Khi các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng, họ nhận th ấy ngân hàng không ch ỉ bảo quản mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng c ủa họ. Thanh toán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi ti ền không cần phải đến ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách (còn được gọi là séc), khách hàng mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được ti ền. Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác, ti ết kiệm chi phí) đã góp phần rút ngắn thời gian kinh doanh và nâng cao thu nhập cho các doanh nhân. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, nhiều th ể th ức thanh toán được phát triển như: uỷ nhiệm chi, nhờ thu, L/C, thanh toán bằng điện, thẻ… 1.1.3.6. Quản lý ngân quỹ Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền cho các doanh nghi ệp và cá nhân nên ngân hàng thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách hàng. Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ. 1.1.3.7. Tài trợ các hoạt động của Chính phủ Do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấp bách trong khi thu không đủ, Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của ngân hàng. Trong điều kiện các ngân hàng tư nhân không muốn tài trợ cho Chính phủ vì rủi ro cao, Chính ph ủ thường dùng một số đặc quyền trao đổi lấy các khoản vay của những ngân hàng lớn. Ngày nay, Chính phủ giành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát các ngân hàng. Các ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của Chính phủ và tài trợ cho Chính phủ. 1.1.3.8. Bảo lãnh Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng r ất l ớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của các khách hàng, nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh cho khách hàng. Trong những năm gần đây, nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và phát triển mạnh. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hoá và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của TCTD khác. 8
  9. 1.1.3.9. Cho thuê thiết bị trung và dài hạn (Leasing) Nhiều ngân hàng tích cực cho khách hàng kinh doanh quy ền l ựa ch ọn thuê các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Hợp đồng cho thuê thường phải đ ảm bảo yêu c ầu khách hàng phải trả tới hơn 2/3 giá trị của tài sản cho thuê. Do vậy, cho thuê của ngân hàng cũng có nhiều điểm giống như cho vay, được xếp vào tín dụng trung và dài hạn. 1.1.3.10. Cung cấp dịch vụ uỷ thác và tư vấn Do hoạt động trong lĩnh vực tài chính, các ngân hàng có r ất nhi ều chuyên gia v ề quản lý tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ uỷ thác phát triển sang cả uỷ thác vay hộ, uỷ thác phát hành, uỷ thác đầu tư… Thậm chí, các ngân hàng còn đóng vai trò là người được uỷ thác trong di chúc. Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp cho khách hàng. 1.1.3.11. Cung cấp dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch v ụ tài chính cho phép khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu. Đây là một trong những lý do chính khiến các ngân hàng bắt đầu bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ h ội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán. Trong một vài trường hợp, các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán. 1.1.3.12. Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm Từ nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo hi ểm cho khách hàng, đi ều đó b ảo đảm việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng bị chết, bị tàn phế hay gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán. 1.1.3.13. Cung cấp các dịch vụ đại lý Nhiều ngân hàng trong quá trình hoạt động không th ể thiết l ập chi nhánh hoặc văn phòng khắp mọi nơi. Nhiều ngân hàng (thường ngân hàng lớn) cung cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như: thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ… 1.2. DỊCH VỤ BẢO LÃNH CỦA NHTM (BLNH) 1.2.1. Khái niệm, bản chất và vai trò của BLNH 1.2.1.1. Khái niệm Quy chế BLNH ban hành kèm theo Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/6/2006 của Ngân hàng Nhà nước (gọi là quy chế mới) quy định vi ệc th ực hi ện 9
  10. nghiệp vụ bảo lãnh của các TCTD đối với khách hàng. Khoản 1 trong Đi ều 2 của Quy chế mới quy định: BLNH là cam kết bằng văn bản của TCTD (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghiã vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả nợ cho TCTD số tiền đã được trả thay. Như vậy, quan hệ BLNH ít nhất bao gồm 3 chủ thể: bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh. TCTD thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh (hay bên b ảo lãnh) là các TCTD được thành lập, hoạt động theo Luật các TCTD; trong trường hợp bên nhận bảo lãnh là các tổ chức và cá nhân nước ngoài thì chỉ các ngân hàng đ ược NHNN cho phép hoạt động thanh toán quốc tế mới được thực hi ện nghiệp vụ bảo lãnh. Khách hàng được TCTD bảo lãnh (hay bên được bảo lãnh) là các tổ chức và cá nhân trong nước và nước ngoài, trừ những người quản lý, điều hành của TCTD, những người thân thích của những người này và các cán bộ, nhân viên thực hiện thẩm định, quyết định bảo lãnh. Người thụ hưởng bảo lãnh (hay bên nhận bảo lãnh) là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có quyền thụ hưởng bảo lãnh của TCTD. Vai trò của BLNH: - BLNH thúc đẩy quá trình chu chuyển vốn, hàng hoá trong cũng như ngoài nước, khuyến khích tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhập nguyên li ệu, máy móc… từ đó sẽ duy trì và mở rộng sản xuất, tạo ra nhiều sản phẩm, tạo công ăn vi ệc làm… góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. - BLNH tạo điều kiện thúc đẩy và là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế mũi nhọn và các ngành kinh tế kém phát triển. Ngân hàng có thể khuyến khích các ngành kinh tế mũi nhọn bằng việc tăng cường ưu tiên bảo lãnh để cho họ có v ốn đ ể tăng cường sản xuất. Đối với các ngành kinh tế mũi nhọn, ngân hàng có thể dùng chính sách ưu đãi về giảm tỷ lệ phí bảo lãnh để tạo điều kiện cho các ngành này thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hoá, vay nợ… để phát triển sản xuất kinh doanh. - BLNH giúp cho các doanh nghiệp tăng cường sự tin cậy khi ký kết các h ợp đồng, hạn chế được các rủi ro. - BLNH tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thu hút v ốn thông qua vi ệc phát hành chứng khoán có sự bảo lãnh của ngân hàng. Đồng thời tạo ra công cụ hoạt động và phát triển thị truờng chứng khoán, các doanh nghiệp có được một khoản vay thuận lợi cho việc sử dụng với chi phí thấp hơn so với việc vay vốn của các NHTM nước ngoài. 1.2.1.2. Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng Bảo lãnh ngân hàng có các đặc điểm sau: 10
  11. - Là mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc l ẫn nhau: Trong một nghi ệp v ụ BLNH thường có sự kết hợp giữa 3 hợp đồng độc lập: Hợp đồng giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh, hợp đồng giữa bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh, hợp đồng giữa bên nhận bảo lãnh và bên bảo lãnh. + Bên bảo lãnh: là người phát hành bảo lãnh như các NHTM, ngân hàng đầu tư phát triển, ngân hàng chính sách, các TCTD khác thành lập và hoạt động theo Luật các TCTD. + Bên được bảo lãnh: là các khách hàng phải thực hiện các nghĩa v ụ chi tr ả, gồm: Doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính tr ị - xã h ội, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại một nước, doanh nghi ệp tư nhân, hộ kinh doanh cá thể. + Bên nhận bảo lãnh: là các tổ chức, cá nhân, trong và ngoài n ước có quy ền hưởng thụ các cam kết bảo lãnh của TCTD. - BLNH có tính độc lập tương đối so với hợp đồng: Mặc dù mục đích c ủa BLNH là bồi hoàn cho nguời thụ hưởng những thiệt hại từ việc không thực hiện hợp đồng của người được bảo lãnh trong quan hệ hợp đồng, nhưng việc thanh toán một bảo lãnh chỉ hoàn toàn căn cứ vào các điều khoản và điêù ki ện đ ược quy đ ịnh trong bảo lãnh. - Tính phù hợp của bảo lãnh: Khi người thụ hưởng bảo lãnh đến yêu cầu TCTD thanh toán thì TCTD có trách nhiệm kiểm tra các chứng từ do ngưòi thụ hưởng xuất trình. TCTD bảo lãnh có quyền từ chối thanh toán nếu như chứng từ có d ấu hi ệu không hợp lệ hay những điều kiện của bảo lãnh không được đáp ứng. 1.2.1.3. Bản chất và ý nghĩa của BLNH - BLNH được dùng như một công cụ bảo đảm Chức năng quan trọng nhất của bảo lãnh là cung cấp một sự đảm bảo cho người hưởng bảo lãnh vì nó cung cấp cho họ một khoản bồi hoàn tài chính cho những thi ệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng của người yêu cầu bảo lãnh gây ra. - BLNH được dùng như một công cụ tài trợ Hầu hết các hợp đồng thi công và thậm chí một s ố hợp đ ồng buôn bán l ớn đòi hỏi phải có một khoảng thời gian dài mới thực hiện xong. Điều này đặt ra nhu cầu tài trợ cho dự án. Người thi công sẽ rất gặp khó khăn về tài chính và chịu nhi ều r ủi ro nếu như phải hoàn tất công trình hay từng hạn mục công trình thì mới nhận đ ược thanh toán của chủ công trình. Vì vậy, công ty xây dựng sẽ thương lượng với chủ công trình về một khoản tiền tài trợ cho mình. Ngân hàng của công ty xây d ựng s ẽ phát hành bảo lãnh hoàn trả tiến ứng trước như một công cụ tài trợ để công ty nhận được khoản tiền ứng trước từ phía nhà đầu tư. Như vậy, bảo lãnh là hình thức tài trợ 11
  12. thông qua uy tín. Ngân hàng không phải xuất tiền ngay khi bảo lãnh, và bảo lãnh được coi như tài sản ngoại bảng. Tuy nhiên khi khách hàng không thực hiện được cam kết, ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ chi trả cho bên thứ ba. Khoản chi tr ả này đ ược xếp vào loại tài sản “xấu” trong nội bảng, cấu thành nợ quá hạn. Vì vậy, b ảo lãnh cũng chứa đựng các rủi ro như một khoản cho vay và đòi hỏi ngân hàng ph ải phân tích khách hàng như khi cho vay. - BLNH được dùng như công cụ đôn đốc hoàn thành hợp đồng Việc thanh toán bảo lãnh dựa trên vi phạm hợp đ ồng c ủa người yêu c ầu b ảo lãnh. Trong suốt thời hạn hiệu lực của bảo lãnh phát hành, người hưởng bảo lãnh có quyền yêu cầu ngân hàng phát hành thanh toán bảo lãnh khi người yêu cầu bảo lãnh vi phạm hợp đồng (bất kể ở mức độ nào và gây thiệt hại cho người hưởng bảo lãnh bao nhiêu). Như vậy, người yêu cầu bảo lãnh luôn phải chịu một áp lực của việc bồi hoàn bảo lãnh nên hết sức cố gắng hoàn thành tốt hợp đồng mà hai bên đã ký. Như vậy, BLNH tạo mối liên kết trách nhiệm tài chính và san s ẻ r ủi ro. Trách nhiệm tài chính trước hết thuộc về khách hàng, trách nhiệm của ngân hàng là thứ cấp khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ với bên thứ ba. Do mối liên h ệ gi ữa ngân hàng với khách hàng có khả năng ràng buộc khách hàng ph ải th ực hi ện các cam k ết. Bảo lãnh góp phần giảm bớt thiệt hại tài chính cho bên thứ ba khi tổn th ất x ảy ra. Đồng thời cũng góp phần mở rộng các dịch vụ khác như: kinh doanh ngoại tệ, t ư vấn,… 1.2.2. Phân loại bảo lãnh ngân hàng Có nhiều tiêu thức để phân loại bảo lãnh, sau đây là một số tiêu thức cơ bản: 1.2.2.1. Căn cứ vào bản chất của bảo lãnh 1.2.2.1.1. Bảo lãnh đồng nghĩa vụ (hay bảo lãnh bổ sung): Bảo lãnh đồng nghĩa vụ: là loại bảo lãnh trong đó ngân hàng và người đ ược bảo lãnh được xem là có cùng nghĩa vụ. Tuy nhiên, nghĩa vụ của người được bảo lãnh là nghĩa vụ đầu tiên, nghĩa vụ của ngân hàng chỉ là nghĩa vụ bổ sung, nghĩa vụ bổ sung chỉ được thực hiện khi có bằng cứ xác nhận rằng nghĩa vụ đầu tiên bị vi phạm. Bảo lãnh đồng nghĩa vụ đòi hỏi ngân hàng bảo lãnh phải can thi ệp khá sâu vào giao dịch hợp đồng giữa người được bảo lãnh và người hưởng thụ bảo lãnh. Do vậy, nó chủ yếu được sử dụng trong phạm vi nội địa mà ít được sử dụng trong quan hệ quốc tế. 1.2.2.1.2. Bảo lãnh độc lập Bảo lãnh độc lập: là loại bảo lãnh hiện đại, trong đó nghĩa v ụ của ngân hàng và của người được bảo lãnh hoàn toàn tách rời nhau. Việc th ực hiện thanh toán ch ỉ căn cứ vào những điều kiện, điều khoản quy định trong văn bản bảo lãnh được thoả mãn 12
  13. mà thôi. Tuy nhiên tính độc lập cuả loại bảo lãnh này không hoàn toàn tuy ệt đ ối mà phụ thuộc vào các điều kiện thanh toán đã được quy định trong văn bản bảo lãnh giữa ngân hàng người thụ hưởng bảo lãnh. Bảo lãnh độc lập đem lại sự thuận lợi l ớn cho người th ụ h ưởng và cả ngân hàng bảo lãnh, do vậy nó được sử dụng rất phổ biến trong thương mại quốc tế. Hiện nay, hầu hết các quy định về bảo lãnh trong lĩnh vực quốc tế đều chỉ quan tâm đến loại bảo lãnh này. 1.2.2.2. Căn cứ vào phương thức phát hành bảo lãnh 1.2.2.2.1. Bảo lãnh trực tiếp Bảo lãnh trực tiếp: là loại bảo lãnh trong đó, ngân hàng phát hành b ảo lãnh ch ịu trách nhiệm trực tiếp cho bên được bảo lãnh, người được bảo lãnh chịu trách nhiệm bồi hoàn trực tiếp cho ngân hàng phát hành bảo lãnh . Bảo lãnh trực tiếp thông thường có ba bên tham gia: Ngân hàng phát hành b ảo lãnh, người được bảo lãnh và người hưởng bảo lãnh. 1.2.2.2.2. Bảo lãnh gián tiếp Bảo lãnh gián tiếp: là loại bảo lãnh mà trong đó ngân hàng bảo lãnh đã phát hành bảo lãnh theo chỉ thị của một ngân hành trung gian phục vụ cho người được bảo lãnh dựa trên một bảo lãnh khác gọi là bảo lãnh đối ứng. Người được bảo lãnh không phải bồi hoàn trực tiếp cho ngân hàng phát hành bảo lãnh mà chính ngân hàng trung gian chịu trách nhiệm bồi hoàn. Như vậy, trong bảo lãnh gián tiếp có ít nhất bốn bên tham gia: ngân hàng phát hành bảo lãnh, ngân hàng trung gian, người được bảo lãnh và người hưởng bảo lãnh. Bảo lãnh gián tiếp được sử dụng chủ yếu trong trường hợp người hưởng th ụ bảo lãnh là người nước ngoài và ngân hàng phát hành ở ngay tại quốc gia c ủa ng ười th ụ hưởng, do vậy quyền lợi của ngưòi thụ hưởng được bảo vệ chắc chắn hơn. 1.2.2.3. Căn cứ vào mục đích của bảo lãnh 1.2.2.3.1. Bảo lãnh vay vốn Bảo lãnh vay vốn: là một BLNH do ngân hàng phát hành cho bên nhận bảo lãnh, về việc cam kết trả nợ thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không tr ả nợ hoặc không trả nợ đầy đủ, đúng hạn. Bảo lãnh vay vốn gồm: Bảo lãnh vay vốn trong nước và bảo lãnh vay vốn nước ngoài (chủ yếu dưới hình thức bảo lãnh mở L/C trả chậm). 1.2.2.3.2. Bảo lãnh thanh toán 13
  14. Bảo lãnh thanh toán: là một BLNH do ngân hàng phát hành cho bên nh ận bảo lãnh cam kết sẽ thanh toán thay cho khách hàng trong trường hợp khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình khi đến hạn. 1.2.2.3.3. Bảo lãnh dự thầu Bảo lãnh dự thầu: là một BLNH do ngân hàng phát hành cho bên m ời th ầu đ ể đảm bảo nghĩa vụ tham gia dự thầu của khách hàng. Trường hợp khách hàng bị phạt do vi phạm quy định dự thầu mà không nộp hoặc nộp không đ ủ tiền ph ạt cho bên mời thầu thì ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết. Trong hoạt động kinh tế, rất nhiều hoạt động đ ược thực hi ện thông qua đ ấu thầu như đâú thầu cung cấp thiết bị, xây dựng. Để tìm kiếm được các nhà thầu có đủ năng lực và hạn chế những rủi ro khi nhà thầu vi phạm các điều khoản tham gia d ự thầu như: trúng thầu xong không thực hiện hợp đồng, không kê khai đúng các yêu cầu của chủ đầu tư… chủ đầu tư thường yêu cầu bên dự thầu phải kí quĩ (đ ặt c ọc) dự thầu. Nếu vi phạm, bên dự thầu sẽ bi mất tiền kí quĩ. Do kí quĩ gây ra nhi ều th ủ t ục phiền phức cho cả hai bên, đặc biệt làm đọng vốn của bên tham gia d ự th ầu, nhi ều chủ thầu yêu cầu thay thế tiền kí quĩ bằng bảo lãnh của ngân hàng. 1.2.2.3.4. Bảo lãnh thực hiện hợp đồng Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là một BLNH do ngân hàng phát hành cho bên nhận bảo lãnh bảo đảm việc thực hiện đúng nghĩa vụ của khách hàng với bên nhận bảo lãnh theo hợp đồng đã ký kết. Trường hợp khách hàng không thực hiện đúng và đủ các nghĩa vụ trong hợp đồng, ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết. Các hợp đồng được bảo lãnh như: hợp đồng cung cấp hàng hoá, xây dựng, thiết kế… Việc khách hàng vi phạm hợp đồng như cung cấp không đúng hạn, không đúng chất lượng cam kết… đều có thể gây tổn thất cho bên thứ ba. BLNH một mặt bù đắp một phần tổn thất cho bên thứ ba, mặt khác thúc đẩy khách hàng nghiêm chỉnh th ực hiện hợp đồng. 1.2.2.3.5. Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm: là một BLNH do ngân hàng phát hành cho bên nhận bảo lãnh bảo đảm khách hàng thực hiện đúng các thoả thuận v ề ch ất lượng của sản phẩm theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trường h ợp khách hàng bị phạt tiền do không thực hiện đúng các thoả thuận trong hợp đ ồng v ề chất lượng sản phẩm với bên nhận bảo lãnh mà không nộp hoặc nộp không đủ tiền phạt cho bên nhận bảo lãnh, ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đã cam kết. 1.2.2.3.6. Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước: Là một BLNH do ngân hàng phát hành cho bên 14
  15. nhận bảo lãnh về việc bảo đảm nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước của khách hàng theo hợp đồng đã ký kết với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi phạm các cam kết với bên nhận bảo lãnh và phải hoàn trả tiền ứng trước nhưng không hoàn trả hoặc hoàn trả không đủ số tiền ứng trước cho bên nhận bảo lãnh thì ngân hàng s ẽ hoàn trả số tiền ứng trước cho bên nhận bảo lãnh. 1.2.2.3.7. Các loại bảo lãnh khác - Bảo lãnh đối ứng: là bảo lãnh do một ngân hàng (bên phát hành b ảo lãnh đ ối ứng) phát hành cho một ngân hàng khác (bên bảo lãnh) về việc đề nghị bên bảo lãnh thực hiện bảo lãnh cho các nghĩa vụ của khách hàng của bên phát hành bảo lãnh đ ối ứng với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp khách hàng vi phạm các cam kết với bên nhận bảo lãnh, bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì bên phát hành bảo lãnh đối ứng phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối ứng cho bên bảo lãnh. - Xác nhận bảo lãnh: là một BLNH do ngân hàng (bên xác nh ận b ảo lãnh) phát hành cho bên nhận bảo lãnh về việc bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của ngân hàng được xác nhận bảo lãnh (bên được xác nhận bảo lãnh) đối với khách hàng. Trường hợp bên được xác nhận bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hi ện không đầy đủ nghĩa vụ của mình đã cam kết với bên nhận bảo lãnh thì bên xác nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được xác nhận bảo lãnh. - Đồng bảo lãnh: là việc nhiều ngân hàng cùng bảo lãnh cho một nghĩa v ụ c ủa khách hàng thông qua một ngân hàng làm đầu mối. Trong một số trường hợp, để giảm thiểu rủi ro các ngân hàng có thể thực hiện đồng bảo lãnh. Trường hợp này một ngân hàng đứng ra đóng vai trò là ngân hàng đầu mối phát hành bảo lãnh nhưng có s ự tham gia của các ngân hàng thành viên khác. Nếu phải chi trả cho người th ụ hưởng theo bảo lãnh đã lập, ngân hàng đầu mối có thể đòi bồi hoàn từ các thành viên theo tỷ lệ tham gia của họ, dựa trên các bảo lãnh đối ứng do các ngân hàng này phát hành. Đến lượt mình, các ngân hàng này lại tiến hành truy đòi từ người được bảo lãnh. Ngoài các loại bảo lãnh được quy định tại Quy chế, TCTD còn đ ược th ực hi ện các loại bảo lãnh khác pháp luật không cấm và phù hợp với thông lệ quốc tế. Đây là một quy định mở để các TCTD có thể phát hành các loại bảo lãnh mà pháp lu ật ch ưa dự liệu được khi thực hiện bảo lãnh trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hi ện nay ở nứơc ta. 1.2.3. Phạm vi và giới hạn bảo lãnh Khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh, TCTD có thể cam kết bảo lãnh một ph ần hoặc toàn bộ các nghĩa vụ sau đây: - Nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi vay và các chi phí khác có liên quan đén khoản vay 15
  16. - Nghĩa vụ thanh toán tiền mua vật tư, hàng hoá, máy móc, thiết bị và các kho ản chi phí để khách hàng thực hiện các dự án hoặc phương án đầu tư, ph ương án s ản xuất, kinh doanh hoặc dịch vụ đời sống. - Nghĩa vụ thanh toán các khoản thuế, các nghĩa vụ tài chính khác đ ối v ới Nhà nước. - Nghiã vụ của khách hàng khi tham gia dự thầu. - Nghĩa vụ của khách hàng khi tham gia quan h ệ hợp đồng v ới bên nh ận bảo lãnh, như: thực hiện hợp đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm, hoàn trả tiền ứng trước… - Các nghĩa vụ hợp pháp khác do các bên thoả thuận. 1.2.4. Điều kiện và quy trình bảo lãnh 1.2.4.1. Điêù kiện bảo lãnh Khách hàng được bảo lãnh phải có đủ các điều kiện sau đây: - Có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân s ự và ch ịu trách nhiệm dân sự theo quy đinh của pháp luật. - Mục đích đề nghị ngân hàng bảo lãnh là hợp pháp và thu ộc các d ự án đ ầu t ư hoặc phương án sản xuất kinh doanh khả thi, hiệu quả. - Có bảo đảm hợp pháp cho nghĩa vụ được bảo lãnh (Trường h ợp ký quỹ 100% số tiền bào lãnh và các khoản phí liên quan không cần thiết điều kiện này). Các hình thức bảo đảm cho bảo lãnh bao gồm: + Ký quỹ, cầm cố tài sản, thế chấp tài sản + Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba + Bảo lãnh đối ứng của các TCTD + Các biện pháp bảo đảm hợp pháp khác theo yêu cầu của ngân hàng bảo lãnh và phù hợp với quy định của pháp luật. Việc dùng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm cho bảo lãnh vay vốn, việc áp dụng hay không áp dụng các biện pháp bảo đảm bằng tài s ản cho vi ệc thực hi ện nghĩa vụ bảo lãnh phải thực hiện theo Nghị định của Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các TCTD và các văn bản hướng dẫn của Thống đốc NHTW, của TCTD bảo lãnh. - Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ được bảo lãnh trong thời hạn cam kết. - Có tín nhiệm trong quan hệ tín dụng và giao d ịch ti ền g ửi, thanh toán v ới h ệ thống ngân hàng, không có nợ quá hạn khó đòi (trừ nợ khoanh), không có dư n ợ do trả thay bảo lãnh (Trường hợp ký quỹ 100% số tiền bảo lãnh và các khoản phí liên quan không cần thiết điều kiện này). 16
  17. - Trường hợp bảo lãnh hối phiếu, lệnh phiếu khách hàng phải bảo đảm các điều kiện theo quy định của pháp luật về thương phiếu. - Có trụ sở làm việc (đối với pháp nhân) hoặc hộ kh ẩu th ường trú (đ ối v ới cá nhân, hộ kinh doanh cá thể) cùng địa bàn tỉnh, thành phố nơi các chi nhánh ngân hàng đóng trụ sở (Trường hợp ký quỹ 100% số tiền bảo lãnh và các khoản phí liên quan không cần thiết điều kiện này). - Trường hợp khách hàng đề nghị được bảo lãnh là đơn vị hạch toán kinh doanh kinh tế phụ thuộc của pháp nhân là doanh nghiệp nhà nước, ngoài các điều kiện trên phải đáp ứng được thêm các điều kiện sau: + Đơn vị phụ thuộc phải có giấy uỷ quyền đề nghị đ ược bảo lãnh và cam kết được bảo lãnh của các đơn vị chính. Nội dung ủy quyền và cam kết bảo lãnh ph ải thể hiện rõ mức được bảo lãnh cao nhất, dự án, phương án sản xuất kinh doanh liên quan đến bảo lãnh, thời hạn bảo lãnh và cam kết trả nợ khi ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh mà đơn vị phụ thuộc không trả được nợ cho ngân hàng. + Đơn vị chính có quan hệ tiền gửi, tín dụng trong hệ thống ngân hàng, chi nhánh ngân hàng giao dịch với đơn vị chính phải có văn bản xác nhận về: số dư thực tế tiền gửi, tiền vay, bảo lãnh, các biện pháp bảo đảm tiền vay, bảo lãnh của đơn vị chính. - Trường hợp bảo lãnh có liên quan đến yếu tố nước ngoài (bên nhận bảo lãnh và bên được bảo lãnh là tổ chức, cá nhân nước ngoài), ngoài các điều kiện trên, khách hàng còn phải thực hiện đúng các quy định về quản lý vay và trả nợ nước ngoài, cho vay và thu hồi nợ nước ngoài, quy định về quản lý ngoại hối và các quy định khác của pháp luật. 1.2.4.2. Quy trình bảo lãnh Trình tự và thủ tục bảo lãnh trong một nghiệp vụ bảo lãnh cũng có nhi ều đi ểm tương tự như trong nghiệp vụ cho vay, như tiếp nhận hồ sơ, thẩm đ ịnh khách hàng; ký hợp đồng; xử ký nợ quá hạn phát sinh khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. 1.2.4.2.1. Khách hàng lập hồ sơ và đề nghị bảo lãnh Trong hồ sơ gồm có: Hồ sơ pháp lý; Giấy đề nghị bảo lãnh; Báo cáo tài chính, báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanh và các thông tin khác; Hồ s ơ tài s ản bảo đảm nghĩa vụ bảo lãnh theo quy định. 1.2.4.2.2. Ngân hàng thẩm định hồ sơ và ra quyết định bảo lãnh Nhận được hồ sơ xin bảo lãnh của khách hàng, ngân hàng tiến hành th ẩm đ ịnh hồ sơ đó, chủ yếu là thẩm định các điều kiện bảo lãnh của khách hàng (đã hội tụ đầy đủ và thoả mãn quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh chưa, tài sản bảo đảm nghĩa v ụ bảo lãnh đã đủ tiêu chuẩn chưa). Sau khi thẩm định hồ sơ, ngân hàng đưa ra quyết đ ịnh bảo lãnh hay không bảo lãnh (nếu không bảo lãnh, ngân hàng phải trả l ời bằng văn 17
  18. bản cho khách hàng và nói rõ lý do). Khi ra quyết định chấp thuận bảo lãnh, ngân hàng phải cân nhắc lựa chọn hình thức và nội dung bảo lãnh thích hợp nhất v ới yêu c ầu của khách hàng và khả năng, kinh nghiệm nghiệp vụ của ngân hàng. 1.2.4.2.3. Ngân hàng ký hợp đồng bảo lãnh với khách hàng, phát hành thư b ảo lãnh Khi thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh cho khách hàng, ngân hàng phải phát hành cam kết bảo lãnh. Khách hàng nhận bản cam kết bảo lãnh do ngân hàng phát hành. Ngân hàng kiểm tra theo dõi chặt chẽ tiến trình bảo lãnh nhằm phòng vệ rủi ro, đôn đ ốc khách hàng thực hiện các nghĩa vụ được bảo lãnh. Cam kết bảo lãnh là văn bản bảo lãnh của TCTD, bao gồm thư bảo lãnh và hợp đồng bảo lãnh. Thư bảo lãnh là cam kết đơn phương bằng văn bản của TCTD về việc TCTD sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Hợp đồng bảo lãnh là thoả thuận bằng văn bản giữa TCTD và bên nh ận b ảo lãnh hoặc giữa TCTD, bên nhận bảo lãnh, khách hàng và các bên liên quan (nếu có) về việc TCTD sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho ngân hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Ngoài hai hình thức trên, theo quy định tại Khoản 1, Điều 11 c ủa Quy ch ế m ới thì TCTD còn có thể phát hành cam kết bảo lãnh bằng các hình th ức khác pháp lu ật không cấm và phù hợp với thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, theo quy định này thì dù TCTD phát hành cam kết bảo lãnh bằng hình thức nào thì đ ều ph ải đ ược th ể hi ện bằng văn bản. So với Quy chế cũ thì quy định trên đã có một thay đ ổi khá quan tr ọng v ề m ặt khái niệm. Theo Quy chế cũ, hợp đồng bảo lãnh được hiểu là văn bản tho ả thu ận giữa TCTD với khách hàng về quỳên lợi và nghĩa vụ của các bên trong việc bảo lãnh và hoàn trả. Theo Quy chế mới, văn bản thoả thuận này được gọi là hợp đ ồng c ấp bảo lãnh. Hợp đồng cấp bảo lãnh do bên bảo lãnh, khách hàng và các bên có liên quan (nếu có) thoả thuận các nội dung về số tiền, thời hạn bảo lãnh và phí bảo lãnh, m ục đích bảo lãnh, điều kiện thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, việc hoàn trả c ủa khách hàng sau khi TCTD thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh… TCTD và khách hàng cũng có th ể tho ả thuận áp dụng hoặc không áp dụng các biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ hoàn trả cuả khách hàng đối với TCTD bảo lãnh thông qua các biện pháp như: ký qu ỹ,cầm c ố tài sản, thế chấp tài sản; bảo lãnh của bên thứ ba và các bi ện pháp bảo đ ảm khác theo quy định của pháp luật. 18
  19. Nội dung bảo lãnh là các nội dung được thể hi ện trong cam k ết bảo lãnh, bao gồm: ngày phát hành bảo lãnh, số tiền bảo lãnh, hình thức và các điều kiện thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, thời hạn bảo lãnh… Thực hiện cam kết bảo lãnh ngân hàng: Trong thời hạn bảo lãnh, nếu khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa v ụ v ới bên nh ận bảo lãnh thì TCTD có trách nhiệm thực hiện đúng cam kết bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh. Khi cam kết bảo lãnh được thực hiện thì số tiền bảo lãnh trở thành một khoản vay thực sự, TCTD mặc nhiên trở thành chủ nợ và có quyền đòi bồi hoàn t ừ phía khách hàng. Khách hàng có nghĩa vụ hoàn trả ngay số tiền TCTD đã trả thay. Trong trường hợp chưa hoàn trả được cho TCTD, khách hàng phải chịu lãi suất phạt đối với khoản nợ TCTD đã trả thay, tối đa bằng 150% lãi suất trong hợp đồng vay v ốn giữa khách hàng và bên nhận bảo lãnh (trường hợp bảo lãnh vay v ốn) hoặc lãi su ất cho vay thông thường mà TCTD đang áp dụng, kể từ ngày TCTD thực hiện trả thay. 1.2.4.2.4. Khách hàng thanh toán phí bảo lãnh và các khoản khác (n ếu có) theo thoả thuận trong hợp đồng bảo lãnh Phí bảo lãnh được tính cho mỗi khoản bảo lãnh theo công thức: Phí bảo lãnh = Số dư bảo lãnh * Mức phí bảo lãnh * Thời gian bảo lãnh Trong đó : + Số dư bảo lãnh: là số tiền đang còn được bảo lãnh + Thời gian bảo lãnh: là thời gian ngân hàng chịu trách nhiệm bảo lãnh về số dư bảo lãnh và có nghĩa vụ thanh toán theo bảo lãnh đã cấp. + Mức phí bảo lãnh: Theo Quy ch ế cũ thì m ức phí b ảo lãnh do TCTD và khách hàng thoả thuận nhưng không vượt qúa 2%/năm tính trên số tiền còn đang được bảo lãnh ( mức phí này chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng). Ngoài ra, khách hàng còn phải thanh toán cho TCTD các chi phí hợp lý khác phát sinh liên quan đ ến giao dịch bảo lãnh khi các bên có thoả thuận bằng văn bản. Để th ực hi ện tự do hoá các quan hệ kinh tế, dân sự, Quy chế mới không quy định mức tối đa của phí bảo lãnh mà để TCTD và khách hàng thoả thuận trên cơ sở TCTD tự cân nhắc chi phí và mức độ rủi ro khi thực hiện bảo lãnh để đưa ra mức phí bảo lãnh và đ ược khách hàng ch ấp nhận thanh toán. 1.2.4.2.5. Tất toán bảo lãnh Theo quy định tại Điều 20 của Quy chế mới, nghĩa vụ bảo lãnh của TCTD chấm dứt trong các trường hợp: - Khách hàng đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với bên nhận bảo lãnh. - TCTD đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo cam kết bảo lãnh. - Việc bảo lãnh được huỷ bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp bảo đảm khác. - Thời hạn của bảo lãnh đã hết. 19
  20. - Bên nhận bảo lãnh đồng ý miễn thực hiện nghiã vụ bảo lãnh cho bên bảo lãnh hoặc nghĩa vụ bảo lãnh chấm dứt theo quy định của pháp luật. - Chấm dứt theo thoả thuận của các bên. Sau khi thư bảo lãnh hết thời hạn hiệu lực hoặc không có thông báo ho ặc xác nhận của bên nhận bảo lãnh về việc hoàn thành nghĩa vụ liên quan đến bảo lãnh, ngân hàng tiến hành tất toán bảo lãnh. Trường hợp bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ đã đựơc bảo lãnh, bên bảo lãnh phải trả thay và tự động h ạch toán nợ vay bắt buộc đối với số tiền trả nợ thay theo lãi suất nợ quá hạn của bên đ ược bảo lãnh đối với bên bảo lãnh và áp dụng các biện pháp cần thiết để thu hồi nợ như: phát m ại tài sản bảo đảm, trích tài khoản của bên được bảo lãnh (nếu có thoả thuận), khởi ki ện ra cơ quan pháp luật và các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm khác theo quy đ ịnh của pháp luât. Bên được bảo lãnh có trách nhiệm phối hợp thực hi ện và chấp hành các bi ện pháp xử lý của tổ chức tín dụng bảo lãnh, thực hiện bồi hoàn cho TCTD trong trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ được bảo lãnh. 1.3. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN DỊCH VỤ BẢO LÃNH CỦA NHTM 1.3.1. Uy tín của ngân hàng Bảo lãnh từ một ngân hàng có uy tín giúp tăng độ tin cậy của khách hàng với đối tác của mình qua đó làm cho triển vọng thành công của giao dịch mua bán , vay vốn… trở nên chắc chắn hơn. Các ngân hàng lớn thường có uy tín hơn trong nghiệp vụ bảo lãnh, chẳng hạn bảo lãnh vay vốn thường được sử dụng trong các giao dịch vay vốn mà quy mô khoản vay lớn, thời hạn vay dài và vay cùa nước ngoài; bảo lãnh dự th ầu sẽ giúp cho khách hàng có đủ điều kiện tham gia vào một giao dịch đấu thầu mà vi ệc phải có bảo lãnh của ngân hàng là bắt buộc theo yêu cầu của chủ thầu. Các ngân hàng có uy tín sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu được bảo lãnh của khách hàng. Các ngân hàng này có thể linh hoạt trong việc thương lượng về điều kiện bảo lãnh sao cho phù hợp với nhu cầu của khách hàng (bao gồm cả phí d ịch v ụ). Do đó, khách hàng có thể yêu cầu gia hạn, sửa đổi nội dung hoặc huỷ bảo lãnh khi có nhu cầu. Các ngân hàng này thường có đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm, s ẵn sàng hướng dẫn khách hàng lựa chọn DVBL cũng như hoàn tất thủ tục với khách hàng. Trường hợp khách hàng bị phạt do không thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ trong hợp đồng, các ngân hàng lớn có uy tín sẽ thực hiện nghĩa v ụ b ảo lãnh đã cam kết và được đối tác tin tưởng hơn. 1.3.2. Tài sản đảm bảo của khách hàng Trong nhiều trường hợp, ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có tài sản đảm bảo khi nhận tín dụng. Lý do là khách hàng luôn phải đối đầu với những rủi ro trong kinh 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản