Đề tài triết học: Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt

Chia sẻ: Hgfch Hgfch | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:29

0
476
lượt xem
250
download

Đề tài triết học: Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài triết học: Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt trình bày tổng quan về Phật giáo và tư tưởng triết học của Phật giáo, sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt, ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡng; phong tục, tập quán và lễ hội.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đề tài triết học: Tư tưởng triết học của Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC TÊN ĐỀ TÀI: TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHẬT GIÁO VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT Họ và tên sinh viên : Phạm Thu Hiền Khóa : K19 Lớp : Đêm 1 Giáo viên hướng dẫn : TS. Bùi Văn Mưa TP.Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2010
  2. MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 1 PHẦN A: TỔNG QUAN VỀ PHẬT GIÁO VÀ CÁC TƯ TƯ ỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHẬT GIÁO ...................................................................................................2 I. Khái quát về Phật giáo ............................................................................................ 2 1. Phật giáo là gì ...................................................................................................2 2. Nguồn gốc ra đời của Phật giáo .......................................................................3 II. Các tư tưởng triết học cơ bản của Phật giáo.......................................................... 3 1. Thế giới quan Phật giáo ................................................................................... 3 2. Nhân sinh quan Phật giáo................................................................................. 5 III. Sự hình thành và phát triển của Phật giáo vào Việt Nam ...................................7 PHẦN B: ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT..........................................................................9 I. Ảnh hưởng của Phật giáo đến tư tưởng, nhận thức và quan niệm sống của người Việt Nam .................................................................................................................... 9 1. Về mặt tư tưởng, nhận thức.............................................................................9 2. Về quan niệm sống ........................................................................................ 11 II. Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đến văn học, nghệ thuật .............................. 13 1. Về văn học......................................................................................................13 2. Về nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc.................................................................18 3. Về nghệ thuật sân khấu .................................................................................. 20 III. Ảnh hưởng của Phật giáo đến tín ngưỡng; phong tục, tập quán và lễ hội .........21 1. Về tín ngưỡng.................................................................................................21 2. Về phong tục, tập quán và lễ hội....................................................................23 PHẦN C: KẾT LUẬN ........................................................................................... 25 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
  3. MỞ ĐẦU Phật giáo xuất hiện cách đây hơn 20 thế kỷ, trải qua bao cuộc thăng trầm biến thiên của lịch sử, Phật giáo vẫn mãi là ánh sáng, vẫn mãi là tiếng nói trong trẻo, tươi mát, trẻ trung, khả ái của tình thương và độ lượng. Qua mọi xứ sở và thời đại, Đạo Phật đã khéo léo dùng mọi phương tiện để có thể tùy nghi thích ứng với từng nền văn hóa khác nhau trong t ừng dân tộc. Càng tiến hóa bao nhiêu, nhân loại càng nhận ra được giá trị long lanh mầu nhiệm trong từng lời dạy của Đức Phật. Bởi lẽ, giáo lý của Đạo Phật đã mang đến cho con người niềm vui và hạnh phúc. Nó không vì mục đích giải thoát tự thân mà vì an vui hạnh phúc cho tha nhân và m ọi loài. Ngay từ khi được truyền vào, Đạo Phật đã nhanh chóng thích nghi v ới lối sống của người dân Việt và trong quá trình hình thành và phát tri ển trên đất nước này, Đạo Phật đã không gặp một trở ngại nào trong việc hòa nhập vào mọi giai tầng của xã hội. Tư tưởng, đạo lý của Phật giáo cũng đã ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ của người dân Việt và trở thành những giá trị tinh thần vô giá cho người dân. Trong bài viết này, người viết không nhằm mục đích trình bày toàn bộ hệ thống tư tưởng của Phật giáo một cách chi tiết toàn mỹ, mà chỉ đưa ra những khái quát chung về những khía cạnh căn bản. Qua đó muốn cho người đọc thấy được những ảnh hưởng sâu sắc nhất của tư tưởng Phật giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần người Việt. Với khuynh hướng trên, bài viết này sẽ được trình bày qua hai phần: Phần A: Tổng quan về Phật giáo và các tư tưởng triết học của Phật giáo Phần B: Ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Mong rằng qua bài viết này sẽ giúp cho độc giả nắm bắt được những nét đại cương về Phật giáo Việt Nam và tầm ảnh hưởng của nó trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt. Dù hết sức cố gắng , nhưng với kiến thức còn hạn chế và thời lượng cho phép nên vẫn không sao tránh khỏi những sai sót trong quá trình tìm hi ểu, nghiên cứu, kính mong Quí Bậc Giáo Thọ Sư, Giáo sư hướng dẫn chỉ giáo. 1
  4. PHẦN A: TỔNG QUAN VỀ PHẬT GIÁO VÀ CÁC TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA PHẬT GIÁO I. Khái quát về Phật giáo 1. Phật giáo là gì: Phật giáo được sáng lập trên căn bản trí tuệ, lấy trí tuệ làm nền tảng để giải thoát con người. Phật giáo chủ trương công bằng, con người có quy luật nhân quả (Dhamma niyama) tức là con người là chủ nhân của chính mình. Phật giáo không phải là một tôn giáo vì Phật giáo không phải là một tín ngưỡng có hệ thống, lấy đức tin và tôn sùng lễ bái làm cứu cánh. Hơn nữa, Phật giáo không trung thành với một thần linh hay siêu nhiên nào. Phật giáo khuyên con người tự phát triển khả năng và trí tuệ của chính mình. Phật giáo không phải là một triết lý, vì triết lý có tính chất mơ hồ. Có nhà hoạt động chính trị nổi tiếng từng nói: “Phật học là mẹ của triết học, nghiên cứu Phật học có thể bổ khuyết cho khoa học”. Phật học không những thích hợp với khoa học mà còn bổ sung những khiếm khuyết của khoa học. Vì vậy, Phật giáo không đòi hỏi nơi người Phật tử một đức tin mù quáng. Phật giáo khuyến khích và chủ trương tự do bình đẳng, phù hợp với lý trí và thời đại. Phật giáo là một nền giáo dục trí tuệ, nhân bản vô lượng vô biên, căn cứ vào nguyên lý và hiện tượng của vũ trụ. Nền giáo dục mà đức Phật dẫn dắt và chỉ dạy cho chúng sinh hài hòa âm d ương, sống khiêm tốn và suy nghĩ linh hoạt. Khuyên con người làm những điều phúc đức, tốt lành trong xã hội và trong đời sống cá nhân hàng ngày từ những việc nhỏ nhất cho đến việc lớn nhất, vĩ đại nhất, dựa trên phương diện thời gian, không gian và bao hàm c ả quá khứ - hiện tại - và tương lai. Tóm lại, có nhiều cách định nghĩa Phật giáo, nhưng định nghĩa cách nào cũng nên nhớ câu: “Tất cả vì Phật pháp, tất cả vì chúng sinh!”. Và những điều này đã được các nhà hiền triết và các nhà tri thức đều phải công nhận đó là chân lý. Nói một cách khác Phật giáo là một chân lý trường tồn không gì có thể đổi thay được. 2
  5. 2. Nguồn gốc ra đời của Phật giáo: Đạo Phật hình thành ở Ấn Độ vào khoảng thế kỉ VI trước công nguyên, người sáng lập ra Phật giáo là thái tử Siddhartha Gautama, con vua Suddhodana, thu ộc bộ tộc Thích ca (Shakya) của nước Capilavaxtu – một nước nhỏ ở miền Đông – Bắc Ấn Độ. Ông sinh năm 563 trước Công nguyên, vào lúc ở Ấn Độ đạo Bàlamôn (Brahmanism) đang th ống trị với sự phân chia đẳng cấp sâu sắc trong xã hội. Nỗi bất bình của thái tử về sự phân chia đẳng cấp, kì thị màu da và đồng cảm với nỗi khổ của muôn dân là những nguyên nhân dẫn đến sự hình thành một tôn giáo mới. Siddhartha rời nhà năm 29 tuổi, được gọi là Sakia Muni (Thích ca M ầu Ni - hiền nhân dòng dọ Thích Ca). Sakia Muni tìm g ặp những người tu hành lâu năm để học hỏi, nhưng những điều thu được không làm ông thỏa mãn. Ông rủ 5 người bạn đến vùng Uruvela (gần thị trấn Gaya – sau này các sách thường ghi là ông đến núi Tuyết Sơn), tu khổ hạnh suốt 6 năm ròng mà chẳng ích lợi gì. Thấy mình đã tu sai đường, ngài liền ăn uống cho lại sức rồi tìm đến một gốc cây pipal lớn, lấy cỏ làm nệm ngồi tập trung suy nghĩ. Sau một thời gian (tương truyền là 49 ngày đêm), tư tư ởng ngài liền trở nên sáng rõ, ngài đã hiểu ra quy luật của cuộc đời, nỗi khổ của chúng sinh, thấy được điều mà bấy lâu nay tìm kiếm. Ngài liền đi tìm 5 người bạn đã từng tu khổ hạnh trước đây để giác ngộ cho họ, rồi cùng với họ trong suốt 40 năm còn lại của cuộc đời đi khắp vùng lưu vực sông Hằng để truyền bá những tư tưởng của mình. Từ đó, người đời gọi Ngài là Buddha Cây pipal, nơi Ngài đã ngồi tu luyện, được gọi là cây bodhi (bồ đề) và trở thành biểu tượng cho sự giác ngộ. Đức Phật qua đời năm 483 trước Công Nguyên, thọ 80 tuổi. II. Các tư tưởng triết học cơ bản của Phật giáo 1. Thế giới quan của Phật giáo: Thế giới quan của Phật giáo nguyên thủy được phản ánh trong thuyết duyên khởi và được làm sáng tỏ qua phạm trù vô ngã và vô thường [1]. + Duyên Khởi là tư tưởng, giáo lý cơ bản nhất của Phật giáo, thể hiện quan điểm của Phật giáo đối với đời người, với tồn tại và sinh mệnh, là cơ sở triết học của giáo 3
  6. thuyết cụ thể và tư tưởng quan trọng của Phật giáo như nhân quả, trung đạo, bình đẳng, từ bi, giải thoát. Duyên khởi là nói tắt câu:”Chư pháp do nhân duyên nhi kh ởi” có nghĩa là các pháp đều do nhân duyên mà có. Pháp là tất cả mọi sự vật, bao gồm vật chất và tinh thần, kể cả giáo lý. Nhân là năng lực phát sinh, còn duyên là lực hỗ trợ cho nhân phát sinh. Tất cả các pháp đều sinh, diệt, tồn tại trong sự liên hệ mật thiết với nhau, không một pháp nào có thể tồn tại độc lập tuyệt đối. Sự vật chỉ “có” một cách giả tạo, một cách vô thường. - Nhân duyên hội họp thì sự vật là “có” - Nhân duyên tan rã thì sự vật là “không” Người thế gian không tu dưỡng, lầm sự vật, vạn pháp là thực có, là vĩnh viễn nên bám giữ vào các pháp, vào sự vật (sinh mệnh, danh vọng, tiền tài). Nhưng thực ra các pháp là vô thường, là chuyển biến và khi tan rã thì người thế gian đau khổ. Lý nhân duyên cho thấy sự vật hình thành do nhân duyên hòa h ợp, sự vật là hư giả, là giả hợp không có tính tồn tại. Như vậy con người làm chủ cuộc đời mình, vận mệnh mình. + Vô ngã là không có một thực thể tối thượng tồn tại vĩnh hằng nào. Vạn vật trong vũ trụ vốn không có tính thường hằng, nó chỉ là sự “giả hợp” do sự hội đủ nhân duyên nên thành ra tồn tại. Ngay bản thân sự tồn tại của thực tế con người chẳng qua cũng là do “ngũ uẩn” hội hợp lại: sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (ấn tượng), hành (suy lý) và thức (ý thức).Theo cách phân loại khác-“lục tại”: địa (chất khoáng), thủy (chất nước), hỏa (nhiệt năng), phong (hơi thở), không (khoảng trống) và thức (ý thức). Nói tổng quát thì vạn vật chỉ là sự “hội hợp” của hai loại yếu tố vật chất “sắc’ và tinh thần “danh”. Như vậy thì không có cái gọi là tôi (vô ngã) + Vô thường là không có cái gì trường tồn và vĩnh cửu cả. Luật vô thường chi phối vũ trụ, vạn vật, thân và tâm ta. Sự vật luôn luôn biến đổi, không có gì là thường trụ, bất biến. Nó chuyển biến không ngừng và sự chuyển biến ấy diễn ra dưới hai hình thức: 4
  7. - Một là Sátna (Kshana) vô thường: là sự chuyển biến rất nhanh, trong một thời gian hết sức ngắn, ngắn hơn cả một nháy mắt, một hơi thở, một sự chuyển biến vừa khởi lên đã chấm dứt. - Hai là nhất kỳ vô thường: là sự chuyển biến trong từng giai đoạn. Sự vô thường thứ nhất là trạng thái chuyển biến nhanh chóng, liên tiếp, ngắn ngủi, là kết quả gây ra sự vô thường thứ hai. Nhất kỳ vô thường là trạng thái chuyển biến rõ rệt, kết thúc một trạng thái cũ, chuyển sang một trạng thái mới. Vạn vật luôn nằm trong chu trình sinh-trụ-dị-diệt, chúng bị lôi cuốn vào dòng biến hóa hư ảo vô cùng theo luật nhân quả. Nhân nhờ duyên mới sinh ra quả, quả nhờ duyên mà thành nhân mới, nhân mới lại nhờ duyên mà thành quả mới…, cứ như thế vạn vật biến đổi, hợp - tan, tan – hợp mà không có nguyên nhân đ ầu tiên và kết quả cuối cùng nào cả. 2. Nhân sinh quan Phật giáo: Nhân sinh quan Phật giáo là phần trọng tâm của triết học này. Cũng như nhiều trường phái khác của triết học Ấn Độ cổ đại, Phật giáo đặt vấn đề tìm kiếm mục tiêu cứu cánh nhân sinh ở sự “giải thoát” (Moska) khỏi vòng luân hồi, nghiệp báo để đạt đến trạng thái tồn tại Niết bàn (Nirvana). Tính quần chúng của luận điểm nhân sinh Phật giáo thể hiện ở chỗ nâng cao tinh thần “bình đẳng giác ngộ”, tức là quyền thực hiện sự giải thoát là cho tất cả mọi người và cao hơn nữa là của mọi “chúng sinh”. Điều này mang tính nhân bản sâu sắc, vượt qua giới hạn đẳng cấp khắc nghiệt vốn là một truyền thống chính trị Ấn Độ cổ đại. Nó nói lên khát vọng “tự do cho tất cả mọi người”, không thể là độc quyền cho một đẳng cấp nào, dù đó là đẳng cấp quý tộc, bình dân hay tiện nô. Nhưng đó không ph ải kêu gọi gián tiếp cho quyền bình đẳng về mặt chính trị mà là bình đẳng trong sự mưu cầu cứu cánh giác ngộ. Nội dung triết học nhân sinh của Phật giáo tập trung ở bốn luận điểm (gọi là “tứ diện đế”). Bốn luận điểm này được Phật giáo coi là bốn chân lý vĩ đại về cuộc sống nhân sinh cho bất cứ cuộc sống nhân sinh nào thuộc đẳng cấp nào. 5
  8. + Khổ đế: Sự thật nơi cuộc sống nhân sinh không có gì ngoài s ự đau khổ, rằng buộc hệ lụy, không có tự do. Đó là tám nỗi khổ trầm lâm bất tận mà bất cứ ai cũng phải gánh chịu; Sinh, Lão, Bệnh, Tử, Thụ, Biệt và Ly (yêu thương chia l ìa), Oán tăng hội (oán ghét nhau mà phải sống với nhau), Sở cầu bất đắc (cái mong muốn mà không đạt được), và Ngũ thụ uẩn (năm yếu tố vô thường nung nấu làm khổ) + Nhân đế: là luận điểm giải thích những nguyên nhân sự thật đau khổ nơi cuộc sống nhân sinh. Đó là 12 nguyên nhân (t hập nhị nhân duyên): 1. Vô minh, 2. Hành, 3. Thức, 4. Danh sắc, 5. Lục nhập, 6. Xúc, 7. Thụ, 8. Ái, 9. Thủ, 10. Hữu, 11. Sinh và 12. Lão tử. Trong 12 nhân duyên ấy thì “Vô minh” là nguyên nhân thâu tóm t ất cả. Bởi vậy diệt trừ vô minh là diệt trừ tận gốc rễ sự đau khổ nhân sinh. + Diệt đế: Là luận điểm về khả năng có thể tiêu diệt được sự khổ nơi cuộc sống nhân sinh, đạt tới trạng thái Niết bàn, cứu cánh của hành động tự do. Luận điểm này cũng bộc lộ tinh thần lạc quan tôn giáo của Phật giáo; cũng thể hiện khát vọng nhân bản của nó muốn hướng con người đến niềm hạnh phúc “tuyệt đối”, khát vọng của con người tới Chân – Thiện – Mỹ. + Đạo đế: là luận điểm về con đường thể hiện sự diệt khổ, đạt tới giải thoát. Đó không phải là con đường sử dụng bạo lực mà là con đường “tu đạo”, thực chất của con đường này là hoàn thiện đạo đức cá nhân. Sự giải phóng mang ý nghĩa của sự thực hiện cá nhân, không mang ý nghĩa của những phong trào cách mạng hay cải cách xã hội. Đây là nét đặc biệt của “tinh thần giải phóng nhân sinh” của Phật giáo. Con đường giải thoát, diệt khổ thực chất là tiêu diệt vô minh (sự tăm tối, không sáng suốt), gồm tám con đường (Bát chính đạo). Đó là: - Chính kiến: Phải nhận thức đúng, phân biệt đ ược phải trái - Chính tư duy: Suy nghĩ phải, phải chính, phải đúng đắn. - Chính nghiệp: Hành động phải chân chính, phải đúng đắn. - Chính ngữ: Nói phải đúng, không gian dối, không vu oan cho người khác. - Chính mệnh: Sống trung thực, không tham lam, vụ lợi, gian t à - Chính tịnh tiến: Phải siêng năng học tập, có ý thức vươn lên để đạt tới chân lý. 6
  9. - Chính niệm: Phải luôn luôn hướng về đạo lý chân chính . - Chính định: Kiên định tập trung tư tưởng vào con đường chính, không bị thoái chí, lay chuyển trước mọi cám dỗ. Theo Bát chính đạo, con người có thể diệt trừ vô minh, giải thoát, nhập vào cõi Niết bàn - Nirvana. Niết Bàn là trạng thái yên tĩnh, sáng suốt, chấm dứt sinh tử, luân hồi. Như vậy Phật giáo có tư tưởng biện chứng, mang tính duy tâm chủ quan. III. Sự hình thành và phát triển của Phật giáo vào Việt Nam Ngày nay, căn cứ vào các tài liệu và các lập luận khoa học, giới nghiên cứu hầu hết đồng ý rằng Đạo Phật đã truyền vào Việt Nam rất sớm, nhất là từ cuối thế kỷ thứ II đến đầu thế kỷ thứ III Tây Lịch [2]. Trung tâm văn hóa Luy Lâu chính là nơi các vị sư Ấn Độ đến truyền đạo. Trung tâm Phật giáo Luy Lâu là trụ sở của Giao Chỉ, nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng Việt Nam (Hà Bắc). Từ đây có những tuyến đường thủy bộ nối với Bành Thành và Lạc Dương. Các nhà buôn ngư ời Ấn Độ và người Trung Á đến buôn bán ở đây rất sớm và theo sau họ các nhà sư đến hành đạo. “Theo sách Lĩnh Nam Chích Quái viết vào thời Trần có chuyện Chử Đồng Tử, chàng trai nghèo ở đầm Dạ Trạch (Hưng Yên), kết duyên với công chúa Tiên Dung con gái vua Hùng. Sau đó, Ch ử Đồng Tử trên đường đi buôn, chàng đã gặp một nhà sư Ấn Độ ở trong một túp lều trên đảo Quỳnh Viên. Nhà sư giảng đạo cho Đồng Tử, Đồng Tử đã giác ngộ đạo Phật được nhà sư Ấn Độ cho một chiếc gậy và một nón lá để có thể chống gậy úp nón lên làm phép cầu mưa cầu nắng. Khi trở về Chử Đồng Tử đã truyền Phật pháp cho công chúa Tiên Dung và nhi ều người khác” [3,4]. Câu chuyện trên phần nào cũng đã phản ảnh Phật giáo du nhập vào đồng bằng Bắc bộ khá sớm trước khi tiếp nhận văn hóa Trung Hoa. Vì Phật giáo trực tiếp với người Ấn Độ nên thời ấy dân Việt Nam gọi Phật là ông Bụt bởi từ chữ Buddha mà ra, về sau khi Phật giáo đã qua Trung Hoa thì Buddha đựơc phiên âm qua tiếng Hán là Phật Đà và để lại tiếng Phật được phổ biến sử dụng. Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm. Đến đời nhà Lý, nhà Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất cả mọi vấn 7
  10. đề trong cuộc sống. Đến thế kỷ 20, mặc dù ảnh hưởng mạnh của quá trình Âu hóa, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ, khởi đầu từ các đô thị miền Nam với các đóng góp quan trọng của các nhà sư Khánh Hòa và Thiện Chiếu. Bốn giai đoạn lịch sử của Phật giáo Việt Nam Từ đầu công nguyên đến hết thời kỳ Bắc thuộc là giai đoạn hình thành và phát triển rộng khắp Thời Đại Việt là giai đoạn cực thịnh Từ đời Hậu Lê đến cuối thế kỷ 19 là giai đoạn suy thoái Từ đầu thế kỷ 20 đến nay là giai đoạn phục hưng. Đại thừa có ba tông phái được truyền vào Việt Nam [7]: + Thiền tông: là một tông phái Phật giáo do nhà sư Ấn Độ Bồ Đề Đạt Ma sáng lập ra ở Trung Quốc vào đầu thế kỷ thứ 6. Thiền là cách gọi tắt của Thiền na (Dhyana), có nghĩa là "Tĩnh tâm", chủ trương tập trung trí tuệ để quán định (thiền) nhằm đạt đến chân lý giác ngộ của đạo Phật. + Tịnh độ tông: là một tông phái Phật giáo, chủ trương tu dựa trên tha lực của Phật A Di Đà. Trong Tịnh Độ tông, có tồn tại một cõi Phật cụ thể, gọi là Thế Giới Cực Lạc do đức Phật A Di làm giáo chủ. Việc tu hành được mở rộng ra những hành động đơn giản như đi thăm chùa, tụng danh Phật A Di Đà. Nhờ vậy mà Tịnh Độ tông là tông phái phổ biến khắp cõi Việt Nam. + Mật tông là một tông phái Phật giáo chủ trương sử dụng những phép tu tụng niệm các mật chú để đạt đến chân lý giác ngộ. Mật tông là sự hợp nhất giới luật của thuyết nhất thiết hữu bộ (Sarvastivada) và nghi thức tác pháp của Kim Cương thừa. Đạo Phật hội nhập vào văn minh Việt Nam là cả một quá trình lâu dài mãi cho đến ngày nay và vẫn tiếp tục, đó là sự hòa mình của đạo Phật, với tư thế là một luồng văn hóa ngoại lai vào nền văn hóa của dân tộc Việt Nam. Có thể nói đó là quá trình đạo Phật dần dần được bản địa hóa, Việt Nam hóa, biến thành một phần cơ thể của nền văn minh Việt Nam. 8
  11. PHẦN B: ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT Đạo lý truyền thống của người Việt Nam đã hình thành trong hàng nghìn n ăm, qua đấu tranh trường kỳ của dân tộc để tạo dựng và gìn giữ một đất nước có chủ quyền, có văn hoá cũng như tiếp thu các hệ tư tưởng từ các nền văn minh khác, đặc biệt là Phật giáo, Nho giáo. Những tư tưởng ấy được người dân mang theo và vận dụng vào cuộc sống ngay từ những ngày đầu. Với vai trò, chức năng và những giá trị nhân văn sâu sắc của mình, Phật giáo đã trở thành chỗ dựa trong đời sống văn hóa tinh thần của một bộ phận quần chúng, ảnh hưởng khá lớn đến tư duy, quan niệm sống, chuẩn mực đạo đức cũng như phong tục tập quán, lễ hội của người dân. I. Ảnh hưởng của Phật giáo đến tư tưởng, nhận thức và quan niệm sống của người Việt Trong cuộc sống tinh thần của con người chồng xếp những mâu thuẫn xã hội: sinh và tử, thiện và ác, lý tưởng và hiện thực, cảm tính và lý trí... Sự lựa chọn của con người là tìm kiếm một mệnh sống trường thọ, là phản đối cái ác, xấu mà mong muốn cái thiện - cái mỹ, là muốn thoát cảnh khổ đau, cầu mong hạnh phúc. Tuy nhiên, giữa hiện thực mênh mông mà con ngư ời lại nhỏ bé, tất cả mong muốn dường như chỉ là ảo tưởng. Trong bối cảnh này, Phật giáo lại tạo cho con người một hy vọng, đó là tin vào bản thân, xã hội có thể cứu được khổ đau, thoát khỏi tai nạn và có mệnh sống lâu dài. 1. Về mặt tư tưởng, nhận thức: Trong cuộc sống và hoạt động của mình, con người có hai chỗ dựa về tinh thần, đó là tri thức và giá trị [8]. Tri thức và giá trị có liên quan chặt chẽ với nhau, song thực chất lại khác nhau. Tri thức hướng tới hiểu biết tường tận về các sự vật, hiện tượng trong hiện thực, còn giá trị là biểu hiện lý tưởng tất cả những gì quý giá đối với con người. Nhận thức hướng ngoại cố gắng làm cho nội dung tri thức phản ảnh 9
  12. chân xác khách thể, còn giá trị lại hướng nội nhằm vươn tới sự hoàn thiện nhân cách và tìm kiếm ý nghĩa của cuộc sống trong sự hòa hợp với những khởi nguyên trong sáng muôn đời. Cần tiếp cận tôn giáo như một thành tựu văn hóa lớn thuộc lĩnh vực giá trị học ta mới hiểu được thực chất, mới thấy được vai trò không thể thiếu vắng, mới lý giải được tính phổ biến và lâu bền của tôn giáo. Từ khi xã hội Việt Nam bị phân chia giai cấp, cộng đồng con người phân hóa ra kẻ bóc lột và người bị bóc lột, kẻ áp bức và người bị áp bức, kẻ giàu, người nghèo. Khi bất công xã hội ngự trị, khi lối sống, tâm lý, ý thức xuất hiện cái tham lam, giả dối, độc ác, thấp hèn, thì đồng thời, từ trong quần chúng thống khổ đông đảo cũng nảy sinh ước nguyện về một xã hội công bằng, về sự vươn đến lý tưởng, về sự bình đẳng cho mọi người, về một cuộc sống hạnh phúc hợp với bản tính người, nảy nở hy vọng và niềm tin về thắng lợi cuối cùng của cái chân, cái thiện, cái mỹ. Những ước nguyện, hy vọng và niềm tin đó được phản ảnh trong Phật giáo. Trong giáo lý Phật, ở phần giới luật, giới thứ nhất là giới sát. Giới sát có nghĩa là giới bất tàn sát, giáo lý Phật căn cứ vào tâm ý để phân biệt thiện ác mà không căn cứ vào hành động. Nếu ta giết người với mục đích để diệt trừ quân xâm lăng hung ác, để bảo vệ dân nước thì việc làm đó là việc thiện vì hành động của ta xuất phát từ một ý niệm thiện. Chiến tranh giải phóng dân tộc của các nước chống xâm lược để mang lại hoà bình, hạnh phúc cho nhân dân, mang l ại độc lập, tự do cho dân tộc là một cuộc phóng sinh vĩ đại, là một việc thiện, một việc chính nghĩa. Trái lại, nếu chúng ta giết người để thỏa lòng tham ác, để mưu lợi cho bản thân thì việc chém giết ấy là một việc ác, hành động ấy xuất phát từ một ý niệm ác. Chiến tranh xâm lược do đế quốc tiến hành chống các nước yếu hơn, phá hoại độc lập, hoà bình, an ninh của các dân tộc, hủy diệt môi trường sống là một tội ác. Vấn đề căn cứ vào tâm, niệm để phân biệt thiện, ác là rất quan trọng. Lịch sử Việt Nam đã chứng minh những điều nói trên bằng các gương người thực việc thực. Dân tộc Việt Nam đã liên tiếp tiến hành hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Thấm nhuần giáo lý Phật nói chung và luật giới sát nói riêng, Phật tử xuất 10
  13. gia ở 2 miền Nam - Bắc đã tham gia trực tiếp chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu chống giặc một cách anh dũng. Các đệ tử Phật đã nhận thức được đâu là chiến tranh xâm lược, đâu là chiến tranh vệ quốc và đã kiên quyết đứng về phía nhân dân. Đó chính là một việc thiện, một cuộc phóng sinh vĩ đại. Triết lý Phật giáo cũng thể hiện sâu sắc lòng tin tưởng vào con người. Xã hội xáo động, con người bị tha hóa, bao nhiêu ngư ời bị tước đoạt hoặc tự đánh mất một phần bản chất người của mình và do đó bị hạ thấp phẩm giá, nhân cách. Nhưng đ ức Phật tin tưởng rằng cái phần bản chất tốt đẹp nơi mỗi con người mà Ngài gọi là Phật tánh, cho dù bị tha hóa vẫn không mất hẳn. “Tất cả chúng sanh đều có tánh của Phật” (Diệu Pháp Liên Hoa kinh). “Ngươi là k ẻ đang thành Phật còn Ta là kẻ đã thành Phật”. Và do tin tưởng bản chất tốt đẹp có trong mỗi con người nên đức Phật đề ra mục đích học thuyết của Ngài là “giải thoát” Triết lý Phật giáo vẫn là thể hiện lòng tin tưởng ở con người, nhấn mạnh để giải thoát, hãy dựa vào sức mình là chính. Mỗi con người có trách nhiệm trước hết đối với bản thân. Nghiệp báo là cái do mình đã gây ra và do đó tự mình có thể thay đổi nếu muốn. “Các ngươi phải tự thắp đuốc lên mà đi!”. Lời căn dặn của đức Phật vang lên như câu châm ngôn tin tư ởng ở con người, khích lệ con người hãy tự thắp lên ngọn đuốc trí tuệ soi đường, mạnh dạn kiên trì bước đi trên con đường tự hoàn thiện đạo đức, nhân cách để đến với những giá trị, nơi chứa đựng ý nghĩa đích thực cuộc đời. 2. Về quan niệm sống Từ ngàn xưa cho đến nay, giáo lý nhân quả đã có những ảnh hưởng rất sâu sắc và rộng lớn trong quan niệm sống của con người Việt Nam. Nó đã dẫn dắt bao thế hệ con người biết soi sáng tâm trí mình vào lý nhân qu ả mà hành động sao cho tốt đẹp trong một cộng đồng xã hội. Luật nhân quả cần được quan sát và áp dụng theo nguyên tắc duyên sinh mới có thể gọi là luật nhân quả của Đạo Phật. Theo đạo lý duyên sinh, một nhân đơn độc không bao giờ có khả năng sinh ra quả, và một nhân bao giờ cũng đóng vai trò quả cho một nhân khác [9]. Giáo lý nghiệp báo hay nghiệp nhân quả báo của Đạo Phật đã được truyền vào nước ta rất sớm. Nghiệp mà 11
  14. con người lựa chọn được phân biệt là thiện và ác. Thiện nghiệp sẽ đưa đến thiện quả, ác nghiệp nhất định đưa tới ác quả. Nhận thức về nhân quả báo ứng, nhân dân ta thường nói: gieo gió thì gặp bão, đời cha ăn mặn đời con khát nước... Triết lý nhân quả ấy của Đạo Phật rất phù hợp với nếp sống, với quan niệm nhân sanh và vũ trụ xưa nay của dân tộc. Thậm chí trẻ con mười tuổi cũng tự nhiên biết câu: "ác giả ác báo". Chúng phát biểu câu rất đúng với hoàn cảnh sự việc xảy ra cho đối phương. Mặt khác cần hiểu rằng nghiệp nhân không phải là định nghiệp mà có thể làm thay đổi, do đó phải tự biết sửa chữa, tu tập cải ác tùng thiện. Sống ở đời, đột nhiên những tai họa, biến cố xảy ra thì ta nghĩ rằng kiếp trước mình vụng đường tu nên mới gặp khổ nạn này. Không than trời trách đất, cam chịu và tự cố gắng tu tỉnh để chuyển hóa dần ác nghiệp kia. Nguyễn Du đã thể hiện ý này trong truyện Kiều rằng: “Cho hay muôn sự tại trời Trời kia đã bắt làm người có thân Bắt phong trần phải phong trần Cho thanh cao mới được phần thanh cao” Phật giáo còn dạy muốn suy nghĩ thật khách quan cần phải có cái tâm bình tĩnh, tỉnh táo. Tâm nhảy nhót như khỉ vượn, bị thiêu đốt bởi tham lam, hận thù, si mê, tâm đứng ở nhị kiến, thích và không thích, yêu và ghét, thì nh ận thức không thể nào khách quan được. Tâm như vậy giống như mặt nước hồ qua trận cuồng phong làm nổi sóng, vẩn đục và không thể nào thấy được những viên cuội dưới đáy sông [10]. Trong làm ăn kinh tế, một số người vì sự lôi cuốn của đồng tiền, muốn làm ít hưởng nhiều, muốn làm giàu nhanh chóng, đ ã bất chấp thủ đoạn, coi thường pháp luật, chà đạp nghiêm trọng tới đạo đức, lối sống truyền thống. Với quan niệm tiêu dùng của cải vật chất hợp lý, không quá coi trọng tài sản đến mức trở thành nô lệ của nó, không ăn của người, cuộc sống an vui giải thoát chỉ đạt được khi con người đạt được chân, thiện, mỹ, hạnh phúc của người này có được không phải bằng cách giẫm đạp lên hạnh phúc của người khác, phải đem an vui đến cho mọi người, Phật giáo đã phần nào tác động tốt tới nhân cách, lối sống các tín đồ. 12
  15. Đạo lý từ bi, tinh thần hiếu hòa, hiếu sinh của Phật giáo cũng đã ảnh hưởng và thấm nhuần sâu sắc trong tâm hồn của người Việt. "Từ là làm cho người ta lạc quan và bi là làm cho người ta thoát khỏi đau khổ". Từ bi kết hợp với nhau tạo thành nguyên tắc vì lợi ích chúng sinh mà hành đ ộng. Các nhà triết học gọi đó là chủ nghĩa vị tha. Đạo Phật hướng người Việt tới việc suy nghĩ về làm những điều thiện, làm lành lánh giữ với phương châm: "Dù xây chín bậc phù đồ, Không bằng làm phước cứu cho một người". Tinh thần thương người như thể thương thân cũng biến thành ca dao tục ngữ rất phổ biến trong quần chúng Việt Nam như "lá lành đùm lá rách", hay “Nhiễu điều phủ lấy giá gương Người trong một nước phải thương nhau cùng” Đó là những câu ca dao, tục ngữ mà bất cứ người Việt Nam nào cũng điều thấm nhuần, nói lên lòng nhân ái vị tha của dân tộc Việt Nam. Ngoài đạo lý Từ Bi, người Việt còn chịu ảnh hưởng sâu sắc một đạo lý khác của đạo Phật là đạo lý Tứ Ân, gồm ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia và ân chúng sanh. Đạo lý này được xây dựng theo một trình tự phù hợp với bước phát triển của tâm lý về tình cảm của dân tộc Việt. Tình thương ở mọi người bắt đầu từ thân đến xa, từ tình thương cha mẹ, họ hàng lan dần đến tình thương trong các mối quan hệ xã hội với thầy bạn, đồng bào, quê hương đất nước. Đặc biệt trong đạo lý Tứ Ân, ta thấy ân cha mẹ là nổi bật và ảnh hưởng rất sâu đậm trong tình cảm và đạo lý của người Việt. Vào những ngày rằm, mồng một, những ngày lễ tết, hay những ngày đại lễ Phật Đản, Vu Lan, đông đảo khách thập phương với đủ mọi thành phần đã quy tụ về chùa. Thông qua các đại lễ, họ cảm thấy gắn bó với nhau hơn, tình yêu quê hương đất nước được khơi dậy, nhớ ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã có công nuôi lớn, dưỡng dục mình. II. Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo đến văn học, nghệ thuật 1. Về văn học: 13
  16. Trong ca dao, tục ngữ: Phật giáo đã đến với cuộc đời, đã là nhịp thở của cuộc sống nên đã tô bồi cho đất nước một nền văn hóa có thể nói là sinh động hơn. Trong đó ca dao t ục ngữ cũng mang chất vị của Phật giáo. Ca dao tục ngữ là một loại hình tư duy mang tính triết học của nhân dân, thể hiện lối sống, phong tục tập quán của người dân đã lâu đời, chứa đựng những nội dung triết lý sâu sắc trong cuộc sống. Quy luật nhân quả luân hồi còn là bài học giáo dục có giá trị sâu sắc cho đời, không chỉ trong một thế hệ mà trải qua nhiều thế hệ tiếp nối. Điều đó được đúc kết qua ca dao tục ngữ: “Anh ơi! Hãy ở cho lành Kiếp này chẳng gặp để dành kiếp sau” Hay: “Bởi chưng kiếp trước vụng tu, Kiếp này tu để đền bù kiếp sau. Cây khô tưới nước cũng khô, Kiếp nghèo đi đến nơi mô cũng nghèo. Kiếp này trả nợ cho xong, Làm chi để nợ một chồng kiếp sau.” Đạo Phật cũng rất chú trọng đến hiếu hạnh, và Đức Phật đã thuyết giảng đề tài này trong nhiều kinh khác nhau như Kinh Báo Ph ụ Mẫu Ân, kinh Thai Cốt, kinh Hiếu Tử, kinh Đại Tập, kinh Nhẫn Nhục, kinh Vu Lan. Nhắc đến công lao dưỡng dục của cha mẹ, Phật dạy: "muôn việc ở thế gian, không gì hơn công ơn nuôi dưỡng lớn lao của cha mẹ" (Kinh Thai Cốt), hay kinh Nhẫn Nhục dạy: "cùng tốt điều thiện không gì hơn hiếu, cùng tốt điều ác không gì hơn bất hiếu". Lời dạy của Phật về việc nhớ ơn và báo ơn cha mẹ là những cảm giác suy tư in đậm trong lòng của người Việt, và đã thể hiện linh động và triền miên qua ca dao dân ca: “Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha 14
  17. Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con” Hay:”Núi cao biển rộng mênh mông Cù lao chín giữa ghi lòng con ơi” Hay:“Đêm đêm khấn nguyện phật trời Cầu cho cha mẹ sống đời với con” Có thể nói, càng đi sâu vào tìm hiểu kho tàng ca dao, tục ngữ dân gian Việt Nam chúng ta càng bắt gặp và khám phá thêm biết bao điều mới lạ. Với những câu nói tuy bình dị đời thường nhưng nội dung bên trong lại chứa đựng những triết lý, những bài học giáo dục làm người thật sâu sắc dưới ảnh hưởng của giáo lý nhân quả. Chỉ chừng đó thôi đủ thấy rằng giáo lý của Đạo Phật đã thật sự ăn sâu và thấm thấm nhuần vào tận gốc rễ đời sống tinh thần người dân thông qua những câu ca dao tục ngữ dân gian Việt nam. Trong văn thơ chữ Hán Nôm: Thơ văn Việt Nam chịu ảnh hưởng rất nhiều từ những tư tưởng của Phật giáo. Kết hợp từ những quan niệm bình dân cùng tín ngưỡng của dân tộc, các nhà văn, nhà thơ đã khéo léo trao chuốt nên những tác phẩm có giá trị để đời như: tác phẩm Quan Âm Thị Kính, tác phẩm Cung Oán Ngâm khúc c ủa Ôn Như Hầu, đặc biệt tác phẩm Kiều của Nguyễn Du. Tác phẩm chữ Nôm nổi tiếng trong thế kỷ 18 là Cung Oán Ngâm-tác phẩm đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc việt đã sử dụng lối biểu diễn bằng cảm giác mà trong đó tư tưởng triết lý đạo Phật đóng vai trò chủ đạo [5]. “Thà mượn thú tiêu dao cửa Phật Mối thất tình quyết dứt cho xong, Đa mang chi nữa đèo bồng, Vui vì thế sự mà mong nhân tình. Thoát trần một gót thiên nhiên Cái thân ngoại vật là tiên trong đời” 15
  18. Qua thế kỷ 19, với thi hào Nguyễn Du ta có được một án văn bất hủ là Truyện Kiều. Đây là một truyện thơ chịu nhiều ảnh hưởng của Phật Giáo, trong đó ta thấy nổi bật nhất là thuyết về Khổ Đế, một phần quan trọng của giáo lý Tứ Diệu Đế, kế đó là tinh thần về hiếu đạo và thuyết về nhân quả và nghiệp báo. Qua triết lý nhân quả nghiệp báo của Đạo Phật, Nguyễn Du đã lấy đó để làm câu kết cho tác phẩm của mình như một sự khẳng định, đề cao trách nhiệm con người. “Đã mang lấy nghiệp vào thân, Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa. Thiện căn ở tại lòng ta, Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.” Thuyết nhân quả nghiệp báo của Đạo Phật không chỉ được phản ánh qua tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du mà nó còn được phản ánh sâu sắc qua truyện Quan Âm Thị Kính. Nhằm ca ngợi đức tính nhẫn nhục, kiên trì, hy sinh và nhất là tấm lòng từ bi của nhân vật. Qua lời đối đáp giữa hai thầy trò, nhân vật Kỉnh Tâm phần nào hiểu rõ tính công bằng, bình đẳng ở đời “Làm lành gặp lành”. Do vậy, Kỉnh Tâm đã không ngần ngại những tiếng thị phi, dèm pha qua lại mà hành động cứu lấy mạng người. “Bạch rằng muôn đội thầy thương, Xưa nay thầy dạy muôn đường nhỏ to. Dầu xây chín cấp phù đổ, Sao bằng làm phúc cứu cho một người. Vậy nên con phải vâng lời, Mạng người không lấy làm chơi mà liều”. Qua đầu thế kỷ 20, chúng ta có một nhà thơ, tuy không phải là tín đồ Phật Giáo, nhưng thỉnh thoảng văn thơ của ông cũng đã ảnh hưởng ít nhiều từ ngôn ngữ, tư tưởng nhà Phật, đó là thi sĩ Hàn Mạc Tử, xin đơn cử một bài thơ của ông: “Thơ tôi thơm huyền dịu Mọc lên Đạo Từ Bi 16
  19. Khi xưa ta là chim Phư ợng Hoàng Vỗ cánh bay chín tầng trời cao ngất Bay từ Đao Lợi, đến trời Đâu Suất Họp tinh khí muôn năm thành Chánh qu ả Lời nguyện gẫm xanh như màu huyền diệu Não nề lòng viễn khách giữa lúc mơ Trời từ bi cảm động ứa sương mờ Sao gió lại bay hồn trong kẻ lá” Điểm qua một số thơ văn Việt nam có những ảnh hưởng của Phật Giáo như trên ta thấy tư tưởng, triết học Phật Giáo đã để lại dấu ấn của mình sâu đậm trên diễn đàn tư tưởng của Việt Nam. Trong kho tàng truyện kể dân gian và cổ tích: Mục đích ra đời của Đạo Phật là hướng con người đến một đời sống hiền hòa lương thiện, lấy chất liệu của tình thương làm lẽ sống. Giáo lý của Đạo Phật nhằm vào một mục đích duy nhất là khuyên răn con người xa lìa các điều ác, thực hành các việc thiện. Trong kho tàng truyện kể dân gian cổ tích Việt nam ta thấy hầu như phần lớn nội dung các cốt truyện đều mang tính chất chung ấy. Nội dung chủ đạo của các cốt truyện chỉ rõ cho con người thấy được quy luật tất yếu trong cuộc sống “Ở hiền gặp lành” hay “Gieo gió gặp bão”. Hình thức và nội dung cốt truyện lại vô cùng hấp dẫn, dễ hiểu và phong phú. Do vậy, nó đã được mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi đón nhận một cách dễ dàng. Tính triết lý nhân quả được cụ thể hóa qua những mẫu truyện như: Tấm Cám, Thạch Sanh Lý Thông, Hét ăn Giun… Trong truyện Tấm Cám, Tấm là một cô gái hiền lành, thật thà, chất phác và lại rất xinh đẹp. Cha mất sớm, Tấm phải sống với người dì ghẻ độc ác. Hàng ngày Tấm phải làm lụng vất vả đầu tắt mặt tối. Đã vậy, Tấm lại còn luôn bị hành hạ đánh đập bởi những trận đòn roi tàn nhẫn của người dì ghẻ. Ngược lại, Cám là người em cùng cha khác mẹ, nhưng tánh tình thì xấu xa ích kỷ. Với bản chất ghanh tỵ, Cám luôn bày mưu tính kế để hãm hại chị mình. Thế rồi cái gì đến cũng sẽ đến “Ở hiền 17
  20. thì gặp lành, gieo gió thì gặp bão”. Số phận của Tấm cuối cùng cũng được đền bù xứng đáng. Tấm được một vị hoàng tử khôi ngô, tuấn tú chọn làm vợ, sống một cuộc sống hạnh phúc. Còn nhân vật Cám và người dì ghẻ độc ác phải chịu một kết cục bi thảm. Tương tự, truyện “Hét ăn Giun” trong “Truyện Cổ Tích Việt Nam” của Nguyễn Văn Ngọc cũng thấm nhuần tinh thần triết lý Phật Giáo. Xuất phát từ nội dung của truyện kể trên, ông bà ta có câu tục ngữ: “Muốn ăn hét phải đào giun” để nói lên cái định luật oan oan tương báo. Nhưng m ột khi lấy oán để báo oán thì oán nào được tiêu trừ. Thật như trong lời kinh pháp cú Đức Phật đã dạy: “Lấy oán báo oán, oán mãi không thôi, Lấy ân báo oán, oán liền tiêu diệt” Hay:“Hận thù diệt hận thù Đời này không thể có Từ bi diệt hận thù Là định luật ngàn xưa.” Ngoài ra, để lên quả báo của những kẻ vong ơn bội nghĩa, sống thiếu thủy chung thì có truyện “Sự Tích Con Muỗi”. Hay để ca ngợi những tấm gương chịu thương chịu khó, cần mẫn siêng năng trong công vi ệc, lấy sự thông minh cảm hóa con người thì có truyện: Chú Bé Tí Hon, Cây Tre Trăm Đ ốt, Chàng Sọ Dừa . . . Điểm qua một số nhân vật chính trong những truyện kể trên, ta nhận ra một điểm chung trong nội dung của những cốt truyện là người nào làm lành làm thiện, tức gieo trồng nhân tốt thì sẽ gặp được kết quả tốt lành. Ngược lại, người nào gây tạo những nhân xấu, trái với luân thường đạo lý của dân tộc thì sẽ gặp phải những kết cục khổ đau. Nét đặc biệt ở đây là thông qua những tác phẩm văn thơ Hán Nôm, những mẩu chuyện dân gian cổ tích Việt nam, những câu ca dao tục ngữ phần lớn nội dung bên trong phản ánh một cách thiết thực về triết lý nhân quả của Đạo Phật. 2. Về nghệ thưật kiến trúc, điêu khắc: 18

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản