Gian lận và sai sót trong kiểm toán - Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh

Chia sẻ: Vothi Oanh | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:31

6
2.361
lượt xem
1.003
download

Gian lận và sai sót trong kiểm toán - Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong quá trình kiểm toán luôn tìm ẩn những gian lận và sai sót không phát hiện được và làm lệch báo cáo tài chính. Tài liệu gồm 3 phần, phần 1: Gian lận và sai sót trong kiểm toán, phần 2: Thực trạng gian lận và sai sót trong kiểm toán hiện nay, phần 3: Những giải pháp nhằm hạn chế các hành vi sai phạm trong kiểm toán. Cùng tham khảo tài liệu để có thêm các kiến thức tổng hợp về lĩnh vực kế toán.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Gian lận và sai sót trong kiểm toán - Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh

  1. Gian lận và sai sót trong kiểm toán GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................2 NỘI DUNG Phần I. Gian lận và sai sót với vấn đề kiểm toán................................ 4 I/ Khái niệm .................................................................................4 1. Gian lận ..................................................................................4 2. Sai sót ..................................................................................5 3. So sánh gian lận và sai sót .............................................................6 II/ Các hình thức biểu hiện .............................................................7 1. Hình thức biểu hiện của gian lận...................................................... 7 2. Hình thức biểu hiện của sai sót ........................................................7 III/ Các nhân tố ảnh hưởng đến gian lận và sai sót.............................. 7 IV/ Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận và sai sót......... 9 Phần II. Thực trạng gian lận và sai sót trong kiểm toán hiện nay....... 13 I/ Các hành vi gian lận và sai sót trong kiểm toán tài chính ..................13 II/ Các hành vi gian lận và sai sót trong kiểm toán hoạt động.............15 III/ Các hành vi gian lận và sai sót trong kiểm toán tuân thủ................19 IV/ Các hành vi gian lận và sai sót của các công ty kiểm toán.............20 Phần III. Những giải pháp nhằm hạn chế các hành vi sai phạm.........23 trong kiểm toán. LỜI KẾT ...............................................................................................28 SVTH: Võ Thị Thu Oanh Trang 1
  2. Gian lận và sai sót trong kiểm toán GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh TÀI KIỆU THAM KHẢO......................................................................29 Trong quá trình kiểm toán luôn tìm ẩn những gian lận và sai sót không phát hiện được và làm sai lệch báo cáo tài chính. Để giảm rủi ro không phát hiện được gian lận gây ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính và đưa ra ý kiến đúng đắn về báo cáo tài chính, kiểm toán viên cần quan tâm nghiên cứu vấn đề gian lận và khả năng xảy ra gian lận trong quá trình kiểm toán. Trong thực tế luôn tồn tại sự khác biệt giữa kỳ vọng của người sử dụng báo cáo tài chính mong chờ ở kiểm toán viên và những gì kiểm toán viên có thể đáp ứng được vì người sử dụng cho rằng kiểm toán viên đảm bảo được báo cáo tài chính trung thực và hợp lý một cách tuyệt đối nhưng kiểm toán viên không thể làm được. Để thu hẹp sự cách biệt này thì kiểm toán viên ngoài việc phải giải thích cho người sử dụng báo cáo tài chính hiểu được phạm vi và hạn chế của ngành kiểm toán thì phải không ngừng nâng cao năng lực cá nhân chuyên môn nhằm phát hiện ra được những gian lận và sai sót gây sai lệch trọng yếu đến báo cáo tài chính. Trong giai đoạn Việt Nam vừa mới gia nhập WTO - Tổ chức Thương mại Thế giới thì nền kinh tế nước ta đang đứng trước một thách thức mới và ngành kiểm toán Việt Nam cũng bước vào giai đoạn SVTH: Võ Thị Thu Oanh Trang 2
  3. Gian lận và sai sót trong kiểm toán GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh phát triển vượt bậc với nhiều khó khăn và cơ hội mới. Các doanh nghiệp kiểm toán được thành lập cạnh tranh khốc liệt. Thế nên các doanh nghiệp có xu hướng gian lận nhằm phục vụ những mục đích của cá nhân doanh nghiệp làm tổn hại đến lợi ích của cộng đồng. Hơn nữa trong tình hình gần đây, có nhiều vụ kiện mà kiểm toán viên trực tiếp bị ảnh hưởng bởi lẽ báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn chứa đựng gian lận tổn hại nghiêm trọng đến lợi ích của người sử dụng mà kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán không phát hiện được. Điều này đã làm giảm sút nghiêm trọng uy tín và hình tượng nghề nghiệp kiểm toán. Chính vì tất cả những điều đó nên chúng ta không ngừng tìm hiểu về gian lận và sai sót trong kế toán và kiểm toán .Để hiểu rõ hơn về những gian lận và sai sót đó tôi xin trình bày về đề tài : “ GIAN LẬN VÀ SAI SÓT VỚI VẤN ĐỀ KIỂM TOÁN” SVTH: Võ Thị Thu Oanh Trang 3
  4. Gian lận và sai sót trong kiểm toán GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh PHẦN I: GIAN LẬN VÀ SAI SÓT VỚI VẤN ĐỀ KIỂM TOÁN: I. Khái niệm : 1) Gian lận : Gian lận là những hành vi cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế, tài chính do một hay nhiều người trong đơn vị hoặc bên thứ ba thực hiện, làm ảnh hưởng đến đối tượng kiểm toán. Trong lĩnh vực tài chính kế toán, gian lận có thể đơn thuần là hành vi cố ý xâm phạm tài sản, biển thủ công quỹ, tham ô, tham nhũng ...Song xâm phạm tài sản thường gắn với xuyên tạc về thông tin kế toán như ghi chép các nghiệp vụ không đúng sự thật,giả mạo hoặc sửa chữa chứng từ, dấu diếm hồ sơ tài liệu, bịt đầu mối thông tin... Ví dụ : Khi đang kiểm tra việc cắt giảm doanh số bán hàng ở một khách hàng, trong số các nghiệp vụ đã được chọn lựa, kiểm toán viên đã bắt gặp một nghiệp vụ liên quan đến doanh số từ một khách hàng mà dựa vào việc đánh giá tình hình kinh doanh ở các phần hành kiểm toán khác, kiểm toán viên nhận ra khách hàng này là một người mua chính. Nghiệp vụ này xảy ra không thường xuyên, và được đánh giá là trọng SVTH: Võ Thị Thu Oanh Trang 4
  5. Gian lận và sai sót trong kiểm toán GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh yếu.Những tài liệu có liên quan đến nghiệp vụ này được thu thập. Những tài liệu này bao gồm những bằng chứng liên quan đến việc chi trả của các khoản phải thu sau ngày kết thúc Báo cáo tài chính năm. Tuy nhiên tài liệu liên quan đến việc giao hàng bẳng đường thuỷ đã không được cung cấp. Quá trình phân tích đã chỉ ra rằng không hề có việc ghi chép quá trình vận chuyển. Mặc dù có bằng chứng của việc chi trả, nhưng không hề có bằng chứng chứng minh rằng hàng hóa đã được giao.Việc phân tích thêm nữa được mở rộng, hoá đơn của công ty được kiểm toán viên yêu cầu. Kiểm toán viên chứng minh được vài hoá đơn “dịch vụ đặc biệt” đã được giao cho khách hàng khi công ty được chi trả. Những hoá đơn này ít chi tiết hơn hẳn những hoá đơn khác trong tập hồ sơ và không được được làm sáng tỏ hơn qua các đơn đặt hàng hay là các giấy tờ phải thu. Tổng số hoá đơn đặc biệt này đã chứng minh được rằng nghiệp vụ bán hàng đó hoàn toàn đáng nghi vấn.Việc phát hiện này được trao đổi với Giám đốc tài chính, người sẽ đưa ra lời giải thích thiếu chính xác. Sau khi tiếp xúc với ban quản trị, kiểm toán viên gặp lại Giám đốc tài chính và báo rằng việc điều tra đang được xem xét. Giám đốc tài chính đã thông đồng với Giám đốc điều hành xây dựng kế hoạch để tăng doanh số nhằm đạt được mục tiêu doanh thu. Khi muốn hợp thức hoá, Giám đốc tài chính đã chọn một khách hàng chính, để thực hiện kế hoạch này. Vị giám đốc tài chính sẽ từng kỳ trực tiếp hướng dẫn khách hàng ghi hoá đơn và trả trong vòng 30 ngày. Sau đó, Giám đốc tài chính này sẽ phối hợp và “tạo ra” doanh số ảo đến công ty của người mua với số tiền tương đương. Trong vòng 30 ngày chi trả doanh số ảo này, khách hàng sẽ trì hoãn việc chi trả. Vào cuối kỳ kế toán, kế hoạch này đã khiến khoản bán hàng không trung thực này được ghi nhận vào doanh thu. Điều này cho phép họ đạt được mục tiêu doanh số. SVTH: Võ Thị Thu Oanh Trang 5
  6. Gian lận và sai sót trong kiểm toán GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh 2) Sai sót : Sai sót là những lỗi không cố ý có ảnh hưởng đến đối tượng kiểm toán. Sai sót có thể là nhầm lẫn hoặc bỏ sót không cố ý các thông tin, tài sản tạo thông tin sai lệch về thông tin hoặc về tài sản .Tất nhiên sai sót cũng có thể nghiêm trọng như: Vi phạm quy định về tài chính kế toán, sai sót lặp đi lặp lại hoặc có qui mô lớn....song đều không cố ý. 3) So sánh gian lận và sai sót :  Giống nhau: Đều là sai phạm, làm lệch lạc thông tin, phản ánh sai thực tế.  Khác nhau: Các mặt Gian lận Sai sót so sánh - Hành vi có tính toán, - Hành vi không có chủ có chủ ý nhằm mục ý,chỉ là vô tình bỏ sót, đích vụ lợi. hoặc do năng lực hạn chế, Về mặt thiếu thận trọng trong hình thức công việc,...gây ra sai phạm. - Do gian lận là hành - Do sai sót là hành vi vi có chủ ý nên mức không có chủ ý nên mức độ tinh vi cao hơn sai độ tinh vi thấp, dễ phát Về mức sót.Khi thực hiện gian hiện. độ tinh vi lận, người thực hiện thường có sự chuẩn bị, tính toán kỹ lưỡng SVTH: Võ Thị Thu Oanh Trang 6
  7. Gian lận và sai sót trong kiểm toán GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh nên khó phát hiện hơn sai sót. -Gian lận luôn được -Sai sót thì tuỳ thuộc vào Về tính coi là sai phạm trọng qui mô và tính hệ trộng trọng yếu yếu. của nó. II. Các hình thức biểu hiện : 1) Hình thức biểu hiện của gian lận: • Xuyên tạc, làm giả chứng từ, tài liệu; • Sửa đổi chứng từ, tài liệu kế toán; • Biển thủ tài sản; • Che dấu hoặc cố ý bỏ sót các thông tin, tài liệu hoặc nghiệp vụ kinh tế • Ghi chép các nghiệp vụ kinh tế không đúng sự thật • Cố ý áp dụng không sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế kế toán, chính sách tài chính; • Cố ý tính toán sai về số học. 2) Hình thức biểu hiện của sai sót :  Lỗi về tính toán số học hoặc ghi chép sai  Bỏ sót hoặc hiểu sai, làm sai các nghiệp vụ kinh tế  Áp dụng sai các chuẩn mực, nguyên tắc, phương pháp và chế độ kế toán, chính sách tài chính không cố ý. III. Các nhân tố ảnh hưởng đến gian lận và sai sót:  Những hạn chế trong thiết kế và thực hiện hệ thống kiểm soát nội bộ. SVTH: Võ Thị Thu Oanh Trang 7
  8. Gian lận và sai sót trong kiểm toán GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh  Những hạn chế vốn có của hoạt động kiểm toán.  Các vấn đề liên quan đến tính chính trực hoặc năng lực của ban giám đốc, như:  Công tác quản lý bị một người hay một nhóm người dộc quyền nắm giữ, thiếu sự giám sát có hiệu lựccủa ban giám đốc hoặc hội đồng quản trị.  Cơ cấu tổ chức của đơn vị được kiểm toán phức tạp một cách cố ý.  Sự bất lực trong việc sửa chữa những yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ trong khi những yếu kém này hoàn toàn có thể khắc phục được.  Thay đổi thường xuyên kế toán trưởng hoặc người có trách nhiệm của bộ phận kế toán và tài chính.  Thiếu nhiều nhân viên kế toán trong một thời gian dài.  Bố trí người làm kế toán không đúng chuyên môn hoặc bị pháp luật nghiêm cấm.  Thay đổi thương xuyên chuyên gia tư vấn pháp luật hoặc kiểm toán viên.  Các sức ép bất thường trong đơn vị hoặc từ bên ngoài vào đơn vị, như: o Ngành nghề kinh doanh gặp khó khăn. o Thiếu vốn kinh doanh do lỗ hoặc mở rộng qui mô doanh nghiệp SVTH: Võ Thị Thu Oanh Trang 8
  9. Gian lận và sai sót trong kiểm toán GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh quá nhanh o Mức thu nhập giảm sút. o Doanh nghiệp cố ý hoạch toán tăng lợi nhuận nhằm khuếch trương hoạt động. o Đầu tư qua nhanh vào ngành nghề mới hoặc loại sản phẩm mới làm mất cân đối tài chính. o Doanh nghiệp bị lệ thuộc vào một số sản phẩm hoặc một số khách hàng. o Sức ép về tài chính từ những nhà đầu tư hoặc các cấp quản lí của đơn vị. o Sức ép đối với nhân viên phải hoàn tất công việ trong thời gian ngắn. o Các nghiệp vụ và sự kiện kinh tế không bình thường, như các nghiệp vụ xảy ra vào cuối niên độ kế toán có tác động đến doanh thu, chi phí và kết quả. o Các nghiệp vụ hoặc phương pháp xử lý kế toán phức tạp. o Các nghiệp vụ với các bên hữu quan o Các khoản chi phi quá cao so với những dịch vụ được cung cấp. SVTH: Võ Thị Thu Oanh Trang 9
  10. Gian lận và sai sót trong kiểm toán GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh • Những khó khăn liên quan đến thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp : + Tài liệu kế toán không đầy đủ hoặc không được cung cấp kịp thời. + Lưu trữ tài liệu không đầy đủ về các sự kiện và nghiệp vụ kinh tế . + Có chênh lệch lớn giữa sổ kế toán của đơn vị với xác nhận của bên thứ ba, mâu thuẫn giữa các bằng chứng kiểm toán, không giải thích được sự thay dổi của các chỉ số hoạt động. + Ban giám đốc từ chối cung cấp giải trình hoặc giải trình không thoả mãn yêu cầu của kiểm toán viên.  Những nhân tố từ môi trường tin học liên quan đén các tình huống và sự kiện nêu trên,như: - Không lấy được thông tin từ máy tính. - Có thay đổi trong chương trình vi tính nhưng không lưu tài liệu, không được phê duyệt và không được kiểm tra. - Thông tin, tài liệu in từ máy tính không phù hợpvới báo cáo tài chính. - Các thông tin in ra máy tính mỗi lần lại khác nhau. IV. Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận và sai sót: Trách nhiệm của kiểm toán viên đối với các sai phạm của đơn vị xuất phát từ mục tiêu của báo cáo tài chính.Kiểm toán viên không phải chịu trách nhiệm về việc phát hiện và ngăn ngừa các sai phạm ở đơn vị. Trách nhiệm của kiểm toán viên chủ yếu liên quan đến việc diễn đạt ý kiến của minh trên báo cáo kiểm toán và để đưa ra ý kiến đó, kiểm toán viên cần thiết kế và thực hiện một cuộc kiểm toán để bảo đảm hợp lí rằng báo cáo tài chính không sai lệch trọng yếu.Đối với gian lận và sai sót, trách nhiệm chủ yếu của kiểm toán là xem xét rủi ro có các sai lệch SVTH: Võ Thị Thu Oanh Trang 10
  11. Gian lận và sai sót trong kiểm toán GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh trọng yếu trong báo cáo tài chính do những gian lận và sai sót gây ra.Trách nhiệm này được cụ thể hoá thông qua những thủ tục kiểm toán sau: Trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá rủi ro có những hành vi gian lận và sai sót có thể gây ra sai lệch trọng yếu trên báo cáo tài chính và phải phỏng vấn người quản lý về bất kỳ gian lận và sai sót quan trọng nào đã được phát hiện. Để làm được điều này, kiểm toán viên cần phải nghiên cứu về thiết kế và vận hành của kiểm toán nội bộ, đồng thời xem xét những điều kiện hay sự kiện làm tăng rủi ro có gian lận và sai sót. Ví dụ, sự thông đồng giữa doanh nghiệp và người thứ ba có thể dẫn đến xuyên tạc tài liệu có thể đánh lừa kiểm toán viên.Do đó,thông thường kiểm toán viên không thực thi các biện pháp đặc biệt đối với những phần đã phát hiện ra sai sót nhưng chỉ tập trung suy nghĩ để làm sáng tỏ các nghi ngờ về gian lận. Dựa trên việc đánh giá rủi ro, kiểm toán viên phải thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán để có thể bảo đảm thủ tục hợp lý rằng sẽ phát hiện được các sai lệch do gian lận và sai sót gây ra có thể tạo ảnh hưởng trọng yếu đến toàn bộ báo cáo tài chính. Nói cách khác, dù rằng cuộc kiểm toán có những hạn chế tiềm tàn như đã nêu, nhưng kiểm toán viên vẫn luôn phải có thái độ hoài nghi nghề nghiệp. Khi các thủ tục kiểm toán trên cung cấp bằng chứng cho thấy khả năng có những gian lận và sai sót, kiểm toán viên phải đánh giá ảnh hưởng của chúng đến báo cáo tài chính. Nếu nhận thấy rằng chúng có thể ảnh hưởng trọng yếu, kiểm toán viên phải thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung. Sau khi đã thực hiện các thủ tục bổ sung, thế nhưng vẫn còn nghi vấn về khả năg có gian lận và sai sót kiểm toán viên cần phải: SVTH: Võ Thị Thu Oanh Trang 11
  12. Gian lận và sai sót trong kiểm toán GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh + Trao đổi với người quản lí về các vấn đề cần phải điều chỉnh hay công bố trên báo cáo tài chính. + Xem xét ảnh hưởng của sự kiện đến báo cáo tài và báo cáo kiểm toán. + Riêng đối với các sai sót quan trọng và các hành vi gian lận, kiểm toán viên cần xem xét ảnh hưởng của chúng đến khía cạnh khác của cuộc kiểm toán, nhất là độ tin cậy vào các giải trình của giám đốc. Kiểm toán viên cũng thường phải thông báo cho người quản lý khi nghi ngờ rằng gian lận là có thực dù rằng nó có thể chưa ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính.Kiểm toán viên cũng phải thông báo về các sai sót quan trọng hoặc những hành vi gian lận thực sự xảy ra. Trừ khi mọi việc quá rõ ràng, còn nhìn chung kiểm toán viên không được quan niệm rằng các sai sót và gian lận xảy ra là đơn chiếc và biệt lập.Vì bản chất những sai sót là thường phát hiện theo dây chuyền nên kiểm toán viên phải thận trọng trong phát hiện sai sót, mối tương quan của những sai sót này với sai sót kia có thể dẫn tới sai lầm nghiêm trọng của báo cáo tài chính. Khi kiểm toán viên gặp phải những trường hợp nghi ngờ các nhà quản lý doanh nghiệp có liên quan đến những vấn đề gian lận, kiểm toán viên cần cân nhắc kỹ các ưu, nhược điểm của đương sự cũng như cần cân nhắc nên trao đổi phát giác với ai là tốt hơn.Kiểm toán viên cấn phải luôn luôn ghi nhớ là hệ thống kiểm soát nội bộ có thể trở nên hoàn toàn vô hiệu đối với gian lận của các nhà quản lý doanh nghiệp và các nhà quản lý doanh nghiệp có thể :  Bất chất mọi sự kiểm tra, ngược lại họ còn có quyền ra lệnh ngăn chặn sự kiểm tra của cấp dưới. SVTH: Võ Thị Thu Oanh Trang 12
  13. Gian lận và sai sót trong kiểm toán GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh  Ra lệnh cho cấp dưới ghi chép các nghệp vụ thiếu trung thực hoặc là bưng bít họ.  Giấu diếm các thông tin liên quan đến nghiệp vụ. Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên không nhất thiết phải chỉ ra sự thiếu trung thực của các nhà quản lý, nhưng phải đề phòng khả năng xảy ra các trường hợp tương tự: - Thông tin được cung cấp một cách miễn cưỡng hoặc chỉ cung cấp sau khi đã trì hoãn một cách vô lý. - Các nhà quản lý doanh nghiệp hạn chế phạm vi kiểm toán. Kiểm toán viên phát hiện ra các vấn đề quan trọng mà trước đó không được thể hiện qua kiểm toán. Nếu kiểm toán viên nghi ngờ có thành viên nào đó trong ban lãnh đạo doanh nghiệp gian lận thì phải thực hiện các biện pháp đẻ xác minh hoặc xoá bỏ các nghi vấn.Khi đã tin chắc là có gian lận hoặc không thể xoá bỏ được nghi ngờ về gian lận của lãnh đạo doanh nghiệp thì phải tìm các đại diện khác để thay thế hoặc tìm các bằng chứng kiểm toán khác.Khi cấp lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp bị nghi ngờ, kiểm toán viên sẽ gặp khó khăn trong việc lựa chọn đại diện thay thế và trong việc thu thập các bằng chứng kiểm toán.Trong trường hợp đó, kiểm toán viên không thể hoàn tất công việc kiểm toán của mình và cần phải xin ý kiến tư vấn pháp lý để có các hành động phù hợp với thực tế. Cuối cùng, nếu đơn vị không có những giải pháp thích hợp đối với các hành vi gian lận, kiểm toán viên còn phải xem xét đến khả năng rút khỏi hợp đồng kiểm toán. SVTH: Võ Thị Thu Oanh Trang 13
  14. Gian lận và sai sót trong kiểm toán GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh PHẦN II: THỰC TRẠNG GIAN LẬN VÀ SAI SÓT TRONG KIỂM TOÁN HIỆN NAY: I. Các hành vi gian lận và sai sót trong kiểm toán tài chính: Kiểm toán tài chính là việc thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán của kiểm toán viên để nhằm xác định tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính. Kiểm toán tài chính là loại hình kiểm toán để kiểm tra, đánh giá, xác nhận, tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính.Nhưng khi đánh giá một báo cáo tài chính là trung thực và hợp lý thì điều đó không có nghĩa đơn vị có báo cáo tài chính tốt đẹp.Sau đây là một số sai sót và gian lận trong kiểm toán tài chính:  Khi kiểm toán viên tiến hành kiểm toán thì họ làm đúng theo qui định của chuẩn mực kiểm toán khi xác định tính chính xác và trung thực của các nghiệp vụ kiểm toán, họ chỉ kiểm toán trên hồ sơ giấy tờ mà không thực hiện xem xét trên thực tế. Vì vậy mà kiểm toán viên không thể phát hiện ra được những sai phạm của các công ty được kiểm toán,bởi họ cố ý làm sai lệch thông tin kinh tế tài chính. Chẳng hạn như hành vi xuyên tạc, làm giả chứng từ liên quan đến kiểm toán báo cáo tài chính, hoặc ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh không đúng ,không đủ...  Báo cáo tài chính là hệ thống báo cáo được lập theo các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành phản ánh các thông tin kinh tế tài chính chủ yếu của đơn vị,là đối tượng giành được sự quan tâm trực tiếp của tất cả các tổ chức ,cá nhân bên trong lẫn bên ngoài đơn vị.Tất cả các đối tượng này đều mong muốn có được một báo cáo tài chính phản ánh trung thực tình hình tài chính của đơn vị trong một thời kì,một thời điểm nhất định nào đó.Khi kiểm toán viên tiến hành kiểm toán báo cáo SVTH: Võ Thị Thu Oanh Trang 14
  15. Gian lận và sai sót trong kiểm toán GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh tài chính thì họ sẽ đưa ra các ý kiến loại trừ và một sai sót xảy ra là các ý kiến loại trừ của kiểm toán viên trong báo cáo kiểm toán đối với công ty kiểm toán có thông tin không đầy đủ, gây hiểu nhầm cho các nhà đầu tư.  Hiện nay, số lượng doanh nghiệp kiểm toán rất khiêm tốn so với nhu cầu thực tế. Với số lượng công ty kiểm toán ít như vậy thì dễ gây ra sự độc quyền và sự gian lận do thiếu cơ hội cho khách hàng lựa chọn vì công ty kiểm toán không nhiều. Hơn nữa, trên thị trường chứng khoán cũng có nhiều công ty nhỏ, công ty mới niêm yết, việc thuê kiểm toán báo cáo tài chính rất khó vì các công ty kiểm toán đã có nhiều khách hàng lớn, khách hàng truyền thống. Lượng doanh nghiệp được chấp thuận kiểm toán cho các doanh nghiệp tăng không cao , số lượng kiểm toán viên có chứng chỉ hành nghề ít và trình độ còn thấp nên có nhiều sai sót trong thu thập thông tin và đánh giá báo cáo kiểm toán. Hầu hết các công ty thường chỉ chú trọng đến dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính nhưng khả năng doanh nghiệp kiểm toán đáp ứng nhu cầu của khách hàng thấp và có nhiều sai sót.  Khi kiểm toán báo cáo tài chính kiểm toán viên không giữ được thái độ hoài nghi nghề nghiệp: Đó là vì cách thức diễn giải thông tin thường bị chi phối bởi các ý tưởng chủ quan, ngay cả khi các công ty kiểm toán viên mong muốn đưa ra những lập luận thật sự khách quan. Công ty kiểm toán thường bỏ qua những thông tin không có lợi cho việc đưa ra kết luận cuối cùng và thường tiếp nhận một cách dễ dàng, không cần phê phán, những thông tin có lợi cho việc đưa ra kết luận đó. Chính vì vậy,mà kiểm toán viên thường không nhận ra những sai lầm mà họ đã mắc phải trong quá trình xử lí thông tin và có thể tưởng lầm rằng quá trình đó không có gì sai sót.Trên thực tế, các kiểm toán viên có thể có SVTH: Võ Thị Thu Oanh Trang 15
  16. Gian lận và sai sót trong kiểm toán GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh quan hệ thân thiện với doanh nghiệp được kiểm toán, do đó họ không muốn đưa ra những kết luận bất lợi cho doanh nghiệp. Nếu trong tài liệu kế toán của doanh nghiệp có những sai sót, rất có thể kiểm toán viên, với tinh thần ủng hộ doanh nghiệp, cũng không phát hiện ra những sai sót đó và tán thành những kết luận đã nêu trong tài liệu đó.  Trong qúa trình kiểm toán,kiểm toán viên phát hiện những sai sót và gian lận trong báo cáo tài chính nhưng lại không thông báo kịp thời cho các cơ quan có thẩm quyền chức năng khi phát hiện công ty được kiểm toán có những sai phạm trọng yếu, đặc biệt là không thông báo cho ủy ban chứng khoán biết đối với những sai phạm này của công ty có niêm yết trên thị trường chứng khoán.  Nhìn chung, các doanh nghiệp kiểm toán được chấp thuận đã đáp ứng được những nhu cầu về kiểm toán của các công ty phát hành, niêm yết và kinh doanh chứng khoán. Tuy nhiên, yêu cầu của các doanh nghiệp kiểm toán chứng khoán bị “quá tải” trước đòi hỏi kiểm toán của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán.Nhưng khi kiểm toán đối với một số nghiệp vụ kế toán quan trọng của doanh nghiệp niêm yết, nhiều doanh nghiệp kiểm toán chưa phản ánh được đầy đủ do thiếu các chuẩn mực kế toán và kiểm toán phù hợp trong quy định chế độ kế toán hiện hành như việc tăng vốn điều lệ, cổ phiếu quỹ... Thậm chí, nhiều doanh nghiệp kiểm toán còn bỏ qua sai sót rõ ràng của doanh nghiệp niêm yết. Hơn nữa, một số báo cáo tài chính của công ty phát hành và niêm yết được kiểm toán phần thuyết minh còn sơ sài, gây khó khăn cho ủy ban chứng khoán nhà nước, cũng như các nhà đầu tư trong việc theo dõi và đánh giá tình hình hoạt động của các công ty này trên thị trường chứng khoán. Đặc biệt, là những chỉ tiêu có biến động lớn trong báo cáo chính. SVTH: Võ Thị Thu Oanh Trang 16
  17. Gian lận và sai sót trong kiểm toán GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh II. Các hành vi gian lận và sai sót trong kiểm toán hoạt động : Kiểm toán hoạt động là loại hình kiểm toán nhằm đánh giá và nâng cao 3E của các hoạt động, nghiệp vụ cụ thể ở đơn vị được kiểm toán.Kiểm toán hoạt động thường hướng tới giải quyết hai vấn đề :  Xác định tính trung thực của thông tin tài chính cùng với xác nhận mức an toàn của các nghiệp vụ tài chính và chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ.  Hướng vào những thành tích và hiệu quả trong đó cần xem xét việc thiết lập hệ thống thông tin và quản lý cũng như việc điều hành hướng tới tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực.Trong tổ chức, quy trình cũng như kết quả kiểm toán của kiểm toán hoạt động không dễ dàng xác định thành những tiêu chuẩn ,những biểu mẫu như kiểm toán tài chính .Vì 3E trong quá trình hoạt động rất khó đánh giá một cách khách quan, chính xác do các đơn vị, các doanh nghiệp có qui mô, có lĩnh vực hoạt động kinh doanh khác nhau thì 3E của chúng cũng khác nhau.Vì vậy mà kiểm toán hoạt động trong quá trình kiểm toán cũng xảy ra không ít gian lận và sai sót. • Sau đây là một số gian lận và sai sót trong kiểm toán hoạt động :  Trong kiểm toán công tác lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư có những gian lận và sai sót là : - Công tác lập báo cáo đầu tư: (có được lập trên cơ sở có nhu cầu thiết yếu về trụ sở làm việc, nhà công vụ, các công trình sửa chữa đã thực sự hư hỏng cần phải sửa chữa, công trình hiện tại đã được khấu hao hết...). - Thẩm định, phê duyệt dự án không đúng về trình tự, thẩm quyền và thời gian SVTH: Võ Thị Thu Oanh Trang 17
  18. Gian lận và sai sót trong kiểm toán GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh - Những công việc tư vấn chưa có quy định về định mức chi phí nhưng không lập, duyệt dự toán hoặc lập, duyệt với đơn giá cao... - Xác định tổng mức đầu tư không chính xác và không đủ cơ sở.  Trong kiểm toán công tác thực hiện dự án đầu tư có những gian lận và sai sót : - Hồ sơ khảo sát không đầy đủ, chưa đủ căn cứ để thiết kế. - Nội dung hồ sơ thiết kế kỹ thuật và thiết kế thi công không đầy đủ theo quy định, sai lệch về quy mô, cấp công trình, vốn, diện tích đất sử dụng so với quyết định đầu tư. - Công tác dự toán: Tổng dự toán vượt tổng mức đầu tư, dự toán chi tiết vượt tổng dự toán; vận dụng sai định mức, đơn giá, xác định giá đối với những công việc chưa có quy định về giá thiếu căn cứ (Trong hướng dẫn sử dụng bộ Đơn giá địa phương có nêu rõ: Đối với các loại vật tư không có trong thông báo giá của địa phương, phải có xác nhận của liên sở Tài chính-Xây dựng về giá và phải được sự chấp thuận của Chủ đầu tư). - Công tác đấu thầu: Hồ sơ mời thầu không đầy đủ, rõ ràng, chi tiết; phê duyệt. Hồ sơ mời thầu và Hồ sơ đấu thầu nội dung không khớp nhau, phê duyệt kế hoạch đấu thầu không đúng thẩm quyền, không đủ số lượng nhà thầu tham dự tối thiểu, không chấp hành quy định về thời gian; mở thầu không đủ thành phần; xét thầu không công bằng, thiếu cơ sở… SVTH: Võ Thị Thu Oanh Trang 18
  19. Gian lận và sai sót trong kiểm toán GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh - Hợp đồng thi công không chặt chẽ, nội dung không đầy đủ, không đúng quy định, khi một trong các bên vi phạm quy định trong hợp đồng không tiến hành xử lý các vi phạm. - Khối lượng phát sinh không được cấp thẩm quyền duyệt bổ sung sửa đổi thiết kế, dự toán trước khi thực hiện. - Thi công sai thiết kế được duyệt. - Không chấp hành đúng quy định về giám sát thi công, giám sát quyền tác giả của tư vấn thiết kế. - Hồ sơ nghiệm thu không đầy đủ: Thiếu biên bản nghiệm thu từng phần, các tài liệu kết quả thí nghiệm vật liệu, bê tông, kết cấu không có. - Nhật ký công trình ghi sơ sài, không cập nhật, không đầy đủ diễn biến phát sinh và sự cố trong quá trình thi công hoặc thiếu chữ ký của cán bộ kỹ thuật, cán bộ giám sát.  Trong kiểm toán công tác nghiệm thu, quyết toán, đưa công trình vào khai thác, sử dụng có những gian lận và sai sót : - Hồ sơ hoàn công không đầy đủ, không đúng với thực tế. - Báo cáo quyết toán vốn đầu tư công trình hoàn thành chưa lập hoặc lập không đầy đủ, không đúng quy định. - Hồ sơ nghiệm thu tổng thể không đầy đủ, hồ sơ nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào sử dụng nhưng thực tế chưa thi công xong công trình hoặc đã đưa công trình vào sử dụng nhưng chưa nghiệm thu, bàn giao, chưa tạm nhập tài sản để khấu hao… - Các biên bản nghiệm thu lập không đúng mẫu biểu, đúng thành phần quy định, nội dung trong biên bản nghiệm thu không đầy đủ, rõ ràng. SVTH: Võ Thị Thu Oanh Trang 19
  20. Gian lận và sai sót trong kiểm toán GVHD: Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh Báo cáo quyết toán không được lập đầy đủ và đúng mẫu, đúng thời gian quy định, các nguồn vốn sử dụng cho dự án không được lập riêng, … - Căn cứ vào sổ nhật ký công trình kiểm toán viên xác định ngày đơn vị nghiệm thu và bàn giao đưa công trình vào sử dụng không đúng quy định.  Trong kiểm toán việc chấp hành chế độ tài chính kế toán của Nhà nước có những gian lận và sai sót : - Công tác tạm ứng vốn, cho các đơn vị tham gia thi công và tỷ lệ tiền bảo hành công trình chưa đúng quy định. - Hạch toán các khoản lãi tiền gửi chưa kịp thời, đầy đủ. - Công tác theo dõi công nợ, giấy xác nhận nợ đối với những khoản thanh toán trong XDCB chưa đầy đủ. - Chứng từ chi tiêu của Ban quản lý chưa hợp pháp, hợp lệ hoặc chi những khoản không có trong quy định. - Không hạch toán đầy đủ đối với các nguồn thu như: Thu tiền bán thanh lý tài sản, thu bán phế liệu khi phá dỡ công trình cũ, thu bán hồ sơ mời thầu và một số khoản thu khác. - Một số đơn vị đựơc kiểm toán chủ đầu tư thanh toán tạm ứng khối lượng cho nhà thầu vượt quy định (khối lượng nghiệm thu thấp hơn giá trị tạm ứng) - Hầu hết chứng từ chi tiêu của Ban Quản lý chủ yếu viết tay Kiểm toán viên cần đối chiếu với quy định, tài sản của Ban Quản lý không theo dõi đầy đủ, cuối năm không kiểm kê, báo cáo. - Một số khoản thu như thu bán Hồ sơ mời thầu, thu bán phế liệu khi giải phóng mặt bằng... không hạch toán vào nguồn thu. III. Các hành vi gian lận và sai sót trong kiểm toán tuân thủ : SVTH: Võ Thị Thu Oanh Trang 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản