intTypePromotion=1

Giáo trình Tài chính doanh nghiệp (Giáo trình đào tạo từ xa): Phần 1

Chia sẻ: Lê Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:53

0
45
lượt xem
10
download

Giáo trình Tài chính doanh nghiệp (Giáo trình đào tạo từ xa): Phần 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giáo trình “Tài chính doanh nghiệp” nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản nhất về tài chính doanh doanh nghiệp. Do vậy, giáo trình được biên soạn hết sức cơ bản xuyên suốt từ vai trò của nhà quản lý tài chính, các công cụ tài chính như báo cáo tài chính, giá trị thời gian của tiền, lãi suất, rủi ro đến các quyết định tài chính như quyết định đầu tư vốn, quyết định tài trợ vốn, quyết định phân phối kết quả để thuận tiện trong việc giảng dạy và nghiên cứu. Giáo trình gồm 2 phần, sau đây là phần 1.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Tài chính doanh nghiệp (Giáo trình đào tạo từ xa): Phần 1

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA VÀ QUAN HỆ DOANH NGHIỆP Ths ĐẶNG THÀNH CƯƠNG (CHỦ BIÊN) – ĐOÀN THỊ NGỌC HÂN Tài chính Doanh nghiệp Vinh, 2011 1
  2. Phân công biên soạn: - Ths ĐẶNG THÀNH CƯƠNG (CHỦ BIÊN) - biên soạn chương 1; chương 4. - ĐOÀN THỊ NGỌC HÂN - Biên so ạn chương 2; chương 3. 2
  3. LỜI NÓI ĐẦU Giáo trình “Tài chính doanh nghiệp” nhằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản nhất về tài chính doanh Doanh nghiệp. Do vậy, giáo trình được biên soạn hết sức cơ bản xuyên suốt từ vai trò của nhà quản lý tài chính, các công cụ tài chính như báo cáo tài chính, giá trị thời gian của tiền, lãi suất, rủi ro đến các quyết định tài chính như quyết định đầu tư vốn, quyết định tài trợ vốn, quyết định phân phối kết quả. Để thuận tiện trong việc giảng dạy và nghiên cứu, cuốn giáo trình được chia thành 4 chương: Chương I: Tổng quan về tài chính Doanh nghiệp Chương II: Vốn kinh doanh của Doanh nghiệp. Chương III: Chi phí, doanh thu và lợi nhuận của Doanh nghiệp. Chương IV: Đầu tư dài hạn của Doanh nghiệp. Với cách tiếp cận như vậy, tác giả hy vọng rằng cuốn giáo trình này sẽ giúp cho giáo viên, nghiên cứu viên, sinh viên…gặp thuận lợi trong quá trình giảng dạy, nghiên cứu và học tập. Giáo trình Tài chính Doanh nghiệp là công trình tập thể do các giảng viên của Bộ môn Tài chính Doanh nghiệp thuộc khoa Kinh tế - Đại học Vinh tham gia biên soạn và được phân công như sau: - Thạc sĩ Đặng Thành Cương, chủ biên và viết các chương 1, 4. - Cử nhân Đoàn Thị Ngọc Hân viết các chương 2, 3. Tác giả xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học, cùng tập thể giảng viên của Bộ môn Tài chính Doanh nghiệp, Khoa Kinh tế - Đại học Vinh đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu, góp phần nâng cao chất lượng cuốn giáo trình này. Tác giả 3
  4. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1. VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1.1. Khái niệm và phân loại doanh nghiệp 1.1.1.1. Khái niệm Theo Luật doanh nghiệp thì doanh nghiệp được định nghĩa như sau: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm thực hiện các hoạt động kinh doanh - Tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng các dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. 1.1.1.2. Phân loại doanh nghiệp Theo quy định tại khoản 1, khoản 2, Điều 171 Luật Doanh nghiệp năm 2005, kể từ ngày 1 tháng 7 năm 2006, Luật Doanh nghiệp sẽ có hiệu lực thi hành. Luật này thay thế Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 166 của Luật này, các quy định về tổ chức quản lý và hoạt động của Doanh nghiệp tại Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung 1 số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000. Theo quy định của Luật này, những doanh nghiệp nhà nước được thành lập trước khi Luật này có hiệu lực cần phải được chuyển đổi sang hình thức Công ty cổ phần hoặc Công ty Trách nhiệm hữu hạn, thời hạn chuyển đổi trong vòng 4 năm (bắt đầu từ 1/7/2006 đến 1/7/2010). Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được lựa chọn và đăng ký lại, thời hạn đăng ký trong vòng 2 năm (Theo Luật trước đây chỉ được đăng ký dưới hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn, không có hình thức công ty cổ phần. Theo Luật Doanh nghiệp 2005 thì có cả 2). Công ty Trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Doanh nghiệp tư nhân và Công ty hợp danh đã thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp 1999 không phải làm thủ tục đăng ký kinh doanh lại. Như vậy, ở nước ta hiện nay nếu căn cứ theo tính chất pháp lý bao gồm có các doanh nghiệp sau: * Công ty cổ phần Là một công ty trong đó các thành viên cùng góp vốn dưới hình thức cổ phần để hoạt động. Số vốn điều lệ được chia ra làm nhiều phần bằng nhau được gọi là cổ phần. Hoạt động của công ty cổ phần có các đặc điểm sau: Là một thực thể có tư cách pháp nhân, các thành viên góp vốn vào công ty dưới hình thức mua cổ phiếu. Trong quá trình hoạt động công ty có quyền phát hành thêm cổ phiếu mới để huy động thêm vốn. Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, tối thiểu là 3, tối đa không giới hạn. 4
  5. Các chủ sở hữu có quyền tự do chuyển nhượng những cổ phần của mình cho người khác và quyền lợi hợp pháp được pháp luật thừa nhận (Như quyền được biểu quyết, quyền được hưởng lợi tức…) Chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên vốn mà đã góp vào công ty. Có 3 loại hình: Công ty cổ phần nội bộ: loại công ty mà cổ phiếu của nó chỉ được phát hành cho các sáng lập viên, công nhân và những người quen thuộc với công ty. Công ty cổ phần đại chúng: loại công ty mà cổ phiếu của nó được phát hành rộng rãi ra công chúng (cổ phiếu lưu hành thông qua thị trường phi chính thức OTC). Công ty cổ phần đại chúng đã niêm yết Chú ý: - Điều kiện phát hành cổ phiếu lần đầu: Vốn điều lệ tại thời điểm đăng ký phát hành cổ phiếu phải lớn hơn hoặc bằng 5 tỷ đồng, hoạt động kinh doanh năm liền trước năm đăng ký phải có lãi, có phương án khả thi từ việc sử dụng số vốn đã huy động được… - Điều kiện niêm yết cổ phiếu: Vốn điều lệ từ 5 tỷ trở lên, tình hình tài chính lành mạnh, hoạt động kinh doanh 2 năm liên tục liền trước đó phải có lãi. - Điều kiện phát hành trái phiếu ra công chúng theo NĐ 144/2003/NĐ- CP: Công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp nhà nước có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký phát hành tối thiểu là 10 tỷ đồng… Ưu điểm: Cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn. Thời gian hoạt động không bị giới hạn bởi tuổi thọ của chủ sở hữu Dễ dàng chuyển nhượng quyền sở hữu. Nhược điểm: Việc thành lập đòi hỏi nhiều thủ tục và báo cáo phức tạp hơn so với DNTN và công ty hợp danh. Bị đánh thuế 2 lần (Trả cổ tức bị đánh thuế 1 lần và lợi nhuận sau thuế) Những nhà sáng lập có nguy cơ mất khả năng kiểm soát công ty. * Doanh nghiệp tư nhân Là một đơn vị kinh doanh do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ số tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Trong khuôn khổ của pháp luật chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tự do kinh doanh và chủ động trong mọi hoạt động kinh doanh. Có thể huy động thêm vốn từ bên ngoài dưới hình thức đi vay nhưng doanh nghiệp không được phép phát hành bất cứ loại chứng khoán nào ra thị trường để tăng thêm vốn. Phần thu nhập sau thuế thuộc quyền sở hữu và sử dụng của chủ doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình tức là phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của doanh nghiệp. Đây cũng chính là điều bất lợi của doanh nghiệp này. Ưu điểm: Thủ tục thành lập đơn giản, dễ dàng. Không đòi hỏi nhiều vốn khi thành lập, lệ thuộc số ít các quy định điều tiết của chính phủ. Chủ doanh nghiệp nhận toàn bộ lợi nhuận kiếm được và có toàn quyền quyết định kinh doanh. Nhược điểm: 5
  6. Chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm cá nhân vô hạn. Hạn chế về kỹ năng và chuyên môn quản lý. Quy mô của loại hình doanh nghiệp này thường nhỏ (phụ thuộc vào khả năng tài chính và vay mượn của chủ doanh nghiệp). Không liên tục hoạt động khi chủ doanh nghiệp qua đời (Đời sống của doanh nghiệp phụ thuộc vào cuộc đời của chủ doanh nghiệp). * Công ty hợp danh Là doanh nghiệp trong đó có ít nhất 2 thành viên hợp danh, ngoài ra còn có thể có thành viên góp vốn. Các thành viên hợp danh là các cá nhân có trình độ chuyên môn, uy tín nghề nghiệp và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Các thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ của công ty. Thành viên hợp danh có quyền quản lý công ty, nhân danh công ty tiến hành các hoạt động kinh doanh, liên đới chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của công ty, các thành viên góp vốn không được tham gia quản lý công ty song có quyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp vào công ty. Công ty hợp danh không được quyền phát hành bất kỳ chứng khoán nào để huy động vốn. Ưu điểm: Dễ thành lập, chi phí thấp. Có thể thu hút các thành viên có kỹ năng chuyên môn và quản lý cao. Nhược điểm: Chịu trách nhiệm vô hạn. Khó khăn trong việc huy động vốn lớn và chuyển nhượng quyền sở hữu Chứa đựng nhiều mâu thuẫn tiềm tàng về quyền lực giữa các thành viên. Khó giải quyết khi có mâu thuẫn lợi ích giữa các thành viên. * Công ty trách nhiệm hữu hạn Là một loại công ty do thành viên góp vốn để thành lập và họ cũng chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên phần vốn góp đã góp vào công ty. Đây cũng là ưu thế của công ty trách nhiệm hữu hạn so với loại hình tư nhân. Thành viên có thể là cá nhân, tổ chức số lượng không vượt quá 50 người. Vốn điều lệ của công ty do các thành viên đóng góp, có thể bằng tiền, bằng tài sản hoặc bằng sở hữu công nghiệp và các phần vốn góp có thể không bằng nhau và trong quá trình hoạt động công ty có thể thực hiện tăng vốn bằng cách kết nạp thêm thành viên mới. Ngoài vốn góp của các thành viên công ty có thể sử dụng các hình thức để huy động vốn từ bên ngoài như vay, phát hành trái phiếu nhưng không được quyền phát hành cổ phiếu. Việc chuyển nhượng vốn góp giữa các thành viên được thực hiện tự do, còn việc chuyển nhượng phần vốn góp của cho người không phải là thành viên của công ty phải được sự nhất trí của của nhóm thành viên đại diện cho ít nhất 3/4 số vốn điều lệ công ty. Việc phân phối lợi nhuận sau thuế do các thành viên quyết định. Việc phân chia lợi nhuận cho các thành viên tuỳ thuộc vào số vốn đóng góp của các thành viên đó. Chú ý: Công ty chịu trách nhiệm hữu hạn thì được phép phát hành chứng khoán để huy động vốn (Công ty trách nhiệm hữu hạn được phát hành trái phiếu nhưng cổ phiếu thì không). Công ty chịu trách nhiệm vô hạn thì không được phép phát hành chứng khoán. 6
  7. * Doanh nghiệp nhà nước ( Là doanh nghiệp trong đó Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ) Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối. Được tổ chức dưới hình thức công ty Nhà nước, công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao. Doanh nghiệp nhà nước được ngân sách nhà nước đầu tư vốn toàn bộ, ngoài số vốn đầu tư doanh nghiệp có thể huy động vốn dưới hình thức khác, nhưng không được thay đổi hình thức sở hữu của doanh nghiệp. Việc phân phối lợi nhuận sau thuế được thực hiện theo quy định của chính phủ. Vậy đã có sự thay đổi về quan niệm về bản chất của doanh nghiệp nhà nước đó là: Trước đây doanh nghiệp nhà nước là 1 tổ chức kinh tế mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công cộng. Hiện nay, doanh nghiệp nhà nước có thể sở hữu 100% vốn hoặc chỉ chiếm vốn cổ phần hoặc vốn góp chi phối. Hình thức tổ chức có thể là công ty Nhà nước, công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiêm hữu hạn. Doanh nghiệp nhà nước có các loại hình sau: + Công ty Nhà nước: là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, Nhà nước thành lập, tổ chức quản lý và đăng ký hoạt động theo luật doanh nghiệp. + Công ty cổ phần Nhà nước: là công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là các công ty Nhà nước hoặc tổ chức được Nhà nước ủy quyền góp vốn, hoạt động theo luật doanh nghiệp. + Công ty trách nhiêm hữu hạn Nhà nước 1 thành viên là công ty trách nhiêm hữu hạn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, được tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước hình thành do một số tổ chức, doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước lập nên (Ví dụ: bộ đội có các sở sản xuất, trường học có nhà trẻ..), hoạt động và hạch toán phụ thuộc, được gọi là công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên. + Công ty trách nhiệm hữu hạn có 2 thành viên trở lên là công ty trách nhiệm hữu hạn trong đó tất cả các thành viên đều là công ty Nhà nước hoặc có thành viên là công ty Nhà nước và các thành viên khác là tổ chức được Nhà nước ủy quyền góp vốn; hoạt động theo luật doanh nghiệp. + Doanh nghiệp có cổ phần hoặc vốn góp chi phối của Nhà nước là doanh nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50% vốn điều lệ, hoạt động theo luật doanh nghiệp. + Công ty Nhà nước giữ quyền chi phối doanh nghiệp khác là công ty sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chiếm >50% vốn điều lệ của doanh nghiệp khác. Ưu điểm: Được sự quan tâm và đầu tư của Nhà nước. Có điều kiện để thực hiện kế hoạch hóa kinh doanh theo định hướng của Nhà nước. Là nền tảng kinh tế để Nhà nước thực hiện các mục tiêu kinh tế - chính trị mang tính chiến lược. Nhược điểm: Hoạt động chưa thực sự đặt trên nền tảng các nguyên tắc của cơ chế thị trường. Không có tính cạnh tranh cao. Không có động lực đầu tư chiều sâu để hoạt động hiệu quả và rất nhiều doanh nghiệp đang là gánh nặng của Nhà nước. 7
  8. 1.1.2. Tài chính doanh nghiệp Xét về hình thức, tài chính doanh nghiệp phản ánh sự vận động và chuyển hóa các nguồn lực tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Xét về bản chất, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh. Hình thức biểu hiện và bản chất của tài chính doanh nghiệp Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào như nhà xưởng, thiết bị, nguyên vật liệu…và sức lao động để tạo ra yếu tố đầu ra là hàng hóa và tiêu thụ hàng hóa đó để thu lợi nhuận. Trong nền kinh tế thị trường để có các yếu tố đầu vào đòi hỏi doanh nghiệp phải có lượng vốn tiền tệ nhất định. Với từng loại hình pháp lý tổ chức, doanh nghiệp có phương thức thích hợp tạo lập số vốn tiền tệ ban đầu, từ số vốn tiền tệ đó doanh nghiệp mua sắm máy móc thiết bị, nguyên vật liệu…Sau khi sản xuất xong, doanh nghiệp thực hiện bán hàng hóa và thu được tiền bán hàng. Với số tiền bán hàng, doanh nghiệp sử dụng để bù đắp các khoản chi phí vật chất đã tiêu hao, trả tiền công cho người lao động, các khoản chi phí khác, nộp thuế cho Nhà nước và phần còn lại là lợi nhuận sau thuế, doanh nghiệp tiếp tục phân phối số lợi nhuận này. Như vậy, quá trình hoạt động của doanh nghiệp cũng là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ hợp thành hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Trong quá trình đó, làm phát sinh, tạo ra sự vận động của các dòng tiền bao hàm dòng tiền vào, dòng tiền ra gắn liền với hoạt động đầu tư và hoạt động kinh doanh thường xuyên hàng ngày của doanh nghiệp. Căn cứ vào phạm vi hoạt động bao gồm các mối quan hệ : + Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước: Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước, khi nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp. + Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: Quan hệ này được thực hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ. Trên thị trường này doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn. Và các doanh nghiệp phải trả lãi vay vốn cho các nhà tài trợ. Doanh nghiệp có thể đầu tư vốn vào ngân hàng, đầu tư mua chứng khoán bằng số tiền tạm thời chưa dùng đến. + Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác và các tổ chức xã hội. Như quan hệ về mặt thanh toán và thưởng phạt vật chất trong việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ; quan hệ vay hoặc cho vay vốn; quan hệ thanh toán trong việc doanh nghiệp đầu tư vốn vào doanh nghiệp hoặc các tổ chức khác; doanh nghiệp ủng hộ người nghèo hoặc tài trợ cho các tổ chức xã hội. + Mối quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Được thể hiện qua việc thanh toán tiền lương, tiền công và thực hiện các khoản tiền thưởng, tiền phạt với công nhân viên của doanh nghiệp, quan hệ thanh toán giữa 8
  9. các bộ phận trong doanh nghiệp, trong việc phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp, phân chia lợi tức cho cổ đông, việc hình thành quỹ của doanh nghiệp … Căn cứ vào nội dung kinh tế: + Các mối quan hệ nảy sinh trong lĩnh vực khai thác, thu hút vốn: Vay các ngân hàng thương mại, nhận góp vốn liên doanh liên kết, phát hành cổ phiếu, trái phiếu.. + Các mối quan hệ nảy sinh trong lĩnh vực đầu tư và sử dụng vốn: Đầu tư bên trong doanh nghiệp: Hình thành cơ cấu vốn lưu động, vốn cố định. Đầu tư vốn bên ngoài: góp vốn liên doanh liên kết, mua chứng khoán. 1.1.3. Vai trò của tài chính doanh nghiệp Tài chính luôn luôn giữ một vị trí trọng yếu trong hoạt động quản lý của doanh nghiệp, nó quyết định tính độc lập, sự thành bại của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh. Đặc biệt trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, trong điều kiện cạnh tranh đang diễn ra khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới, hoạt động quản trị tài chính trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Bất kỳ ai liên kết, hợp tác với doanh nghiệp cũng sẽ được hưởng lợi nếu như quản trị tài chính của doanh nghiệp có hiệu quả, ngược lại, họ sẽ bị thua thiệt khi quản trị tài chính kém hiệu quả. Quản trị tài chính là sự tác động của nhà quản lý tới các hoạt động tài chính của doanh nghiệp, Nó được thực hiện thông qua một cơ chế. Đó là cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp. Cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp được hiểu là một tổng thể các phương pháp, các hình thức và công cụ được vận dụng để quản lý các hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Nội dung chủ yếu của cơ chế quản trị tài chính doanh nghiệp bao gồm: quản lý tài sản, quản lý huy động vốn, quản lý doanh thu, chi phí và lợi nhuận, kiểm soát tài chính của doanh nghiệp. Trong các quyết định của doanh nghiệp, vấn đề cần được quan tâm giải quyết không chỉ là lợi ích của cổ đông và các nhà quản lý mà còn cả lợi ích của người làm công, khách hàng, nhà cung cấp và Nhà nước. Đó là nhóm người có nhu cầu, tiềm năng về các dòng tiền của doanh nghiệp. Giải quyết vấn đề này liên quan tới các quyết định đối với bộ phận trong doanh nghiệp và các quyết định giữa doanh nghiệp với các đối tác ngoài doanh nghiệp. Do vậy, nhà quản trị tài chính, mặc dù có trách nhiệm nặng nề về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp vẫn phải lưu ý đến sự nhìn nhận, đánh giá của người ngoài doanh nghiệp như cổ đông, nhà cho vay, nhà đầu tư, khách hàng, nhà cung cấp, Nhà nước… Do quản trị tài chính có thể được nhìn nhận trên giác độ của nhà quản trị bên ngoài đối với doanh nghiệp và trên giác độ của nhà quản trị trong doanh nghiệp nên có hai cách tiếp cận về cơ chế quản trị tài chính doanh nghiệp: cơ chế quản trị tài chính doanh nghiệp và cơ chế quản trị tài chính trong doanh nghiệp. Quản trị tài chính là một hoạt động có mối liên hệ chặt chẽ với mọi hoạt động khác của doanh nghiệp. Quản trị tài chính tốt có thể khắc phục được những khiếm khuyết trong các lĩnh vực khác. Một quyết định tài chính không được cân nhắc, hoạch định kỹ lưỡng có thể gây nên tổn thất không lường cho doanh nghiệp và cho nền kinh tế. Hơn nữa, do doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường nhất định nên các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, Bởi vậy, quản trị tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả quản trị tài chính quốc gia. 9
  10. Vì vậy, tài chính doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp và được thể hiện ở những điểm chủ yếu sau: a. Huy động và bảo đảm đầy đủ, kịp thời vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường vốn là yếu tố hàng đầu ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Ảnh hưởng tới khả năng kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận vừa là mục tiêu số 1 của các doanh nghiệp, lợi nhuận trở thành động lực thu hút thúc đẩy doanh nghiệp tăng cường đầu tư, đổi mới máy móc thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm… Chính tình hình trên đã làm gia tăng nhu cầu vốn cho kinh doanh và trở thành một trong những yếu tố quyết định tới sự sống còn của doanh nghiệp. b. Tổ chức sử dụng vốn tiết kiệm và hiệu quả Xuất phát từ yêu cầu của hạch toán kinh tế trong nền kinh tế thị trường là lấy thu bù chi và có lãi. Mục tiêu số một trong hoạt động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận. Mục tiêu kinh doanh phù hợp với yêu cầu hoạch toán kinh tế đòi hỏi doanh nghiệp phải đề ra được những biện pháp để sử dụng vốn tiết kiệm nâng cao hiệu quả trong kinh doanh Xét về việc sử dụng vốn tiết kiệm thể hiện: - Mọi chi phí sản sản xuất kinh doanh phải sử dụng đúng định mức và đúng tiêu chuẩn - Cùng một lượng vốn ban đầu nhưng có thể tạo ra được sản phẩm sản xuất nhiều hơn trước đó - Vốn có thể tăng nhưng tốc độ tăng của vốn thấp hơn tốc độ tăng của khối lượng sản phẩm sản xuất. Sử dụng vốn có hiệu quả thể hiện: - Vòng quay vốn tăng hơn trước đó - Trong đồng doanh thu vốn chiếm tỷ lệ ít hơn - Tỷ suất lợi nhuận trên vốn, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu tăng - Chi phí sử dụng vốn thấp hơn c. Tài chính doanh nghiệp là công cụ quan trọng để kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Trong điều kiện kinh tế hiện nay, vấn đề kiểm tra kiểm soát đối với hoạt động tài chính nói riêng và hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung là hết sức quan trọng để phát hiện ra những điều bất hợp lý của doanh nghiệp để điều chỉnh kịp thời các hoạt động của doanh nghiệp. Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình tài chính và thực hiện các chỉ tiêu tài chính, lãnh đạo và các nhà quản lý kinh doanh có thể đánh giá tổng hợp và kiểm soát được các mặt hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện kịp thời những tồn tại, khó khăn vướng mắc trong kinh doanh, từ đó có thể đưa ra các quyết định để điều chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh. Để phân tích doanh nghiệp có 4 nhóm chỉ tiêu tài chính chủ yếu: - Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán - Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư - Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động - Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời 10
  11. 1.2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.2.1. Hình thức pháp lý của tổ chức doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp tồn tại dưới một hình thức pháp lý nhất định về tổ chức doanh nghiệp, từ đó tác động đến việc tổ chức tài chính doanh nghiệp cũng khác nhau, ảnh hưởng đến: - Cách thức tạo lập và huy động vốn. - Quyền chuyển nhượng hay rút vốn khỏi doanh nghiệp. - Trách nhiệm của chủ sở hữu đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính khác của doanh nghiệp. - Việc phân chia lợi nhuận sau thuế 1.2.2. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành có ảnh hưởng rất lớn tới tổ chức quản lý tài chính doanh nghiệp. Mỗi ngành kinh doanh có những đặc điểm về mặt kinh tế và kỹ thuật khác nhau. Những ảnh hưởng đó thể hiện: - Ảnh hưởng của tính chất ngành kinh doanh: Tính chất ngành kinh doanh chi phối trực tiếp đến từng phần vốn kinh doanh, cơ cấu vốn kinh doanh, tốc độ luân chuyển vốn, phương thức tài trợ và đến vấn đề quản lý chi phí. Ngành công nghiệp nhiệm vụ chính là sản xuất sản phẩm nên tỷ lệ vốn cố định cao, vốn lưu động thấp. Ngành thương mại thì ngược lại: vận chuyển kinh doanh, hàng hoá dịch vụ nên vốn lưu động cao, vốn cố định thấp. Ngành xây dựng sản xuất theo đơn đặt hàng. Vì thế trong lĩnh vực công nghiệp thì nghiêng về vốn dài hạn còn trong hoạt động thương mại nghiêng về nguồn vốn ngắn hạn. - Tính chất thời vụ trong kinh doanh: Những doanh nghiệp kinh doanh có tính chất thời vụ thì nhu cầu vốn giữa các thời kỳ trong năm cũng không đều nhau và những doanh nghiệp này thu chi bằng tiền thường có sự không ăn khớp nhau về mặt thời gian. Ví dụ trong sản xuất nông nghiệp thì thời kỳ nuôi trồng yêu cầu chi phí lớn và doanh thu không có. Thời kỳ thu hoạch thì chi phí ít mà doanh thu lại lớn do đó tài chính phải cân đối không được để ứ đọng vốn - Chu kỳ kinh doanh: những doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài thì nhu cầu vốn kinh doanh, tốc độ luân chuyển vốn chậm và thời gian thu hồi vốn dài. Trong cơ cấu nguồn vốn thì thường nghiêng về huy động vốn dài hạn là chủ yếu. 1.2.3. Môi trường kinh doanh Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong một môi trường kinh doanh nhất định. 11
  12. Môi trường kinh doanh bao gồm tất cả các điều kiện bên ngoài ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp, môi trường kinh doanh có tác động mạnh mẽ tới mọi hoạt động của doanh nhiệp bao gồm: Môi trường kinh tế: Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp luôn diễn ra trong một môi trường kinh tế cụ thể nhất định như: tốc độ tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế, mức độ ổn định của đồng tiền, lãi suất vay vốn, tỷ suất đầu tư… mỗi sự thay đổi của các yếu tố trên đều có tác động tích cực hay tiêu cực đến hoạt động kinh doanh và theo đó là tình hình tài chính của doanh nghiệp. Vì vậy, nhà quản lý phải biết phân tích và dự báo xu hướng phát triển các yếu tố đó để tổ chức hoạt động tài chính của doanh nghiệp cho phù hợp. - Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế: nếu cơ sở hạ tầng phát triển (hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước…) thì sẽ giảm bớt được nhu cầu vốn đầu tư của doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí trong kinh doanh. - Tình trạng của nền kinh tế: một nền kinh tế đang trong quá trình tăng trưởng thì có nhiều cơ hội cho doanh nghiệp đầu tư phát triển, từ đó đòi hỏi doanh nghiệp phải tích cực áp dụng các biện pháp huy động vốn để đáp ứng yêu cầu đầu tư. Ngược lại, nền kinh tế đang trong tình trạng suy thoái thì doanh nghiệp khó có thể tìm được cơ hội tốt để đầu tư. - Lãi suất thị trường: lãi suất thị trường là yếu tố tác động rất lớn đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Lãi suất thị trường ảnh hưởng đến cơ hội đầu tư, đến chi phí sử dụng vốn và cơ hội huy động vốn của doanh nghiệp. Mặt khác, lãi suất thị trường còn ảnh hưởng gián tiếp đến tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khi lãi suất thị trường tăng cao, người ta có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn tiêu dung, điều đó làm hạn chế việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. - Lạm phát: khi nền kinh tế có lạm phát ở mức độ cao thì việc tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp gặp khó khăn khiến cho tình trạng tài chính của doanh nghiệp căng thẳng. Nếu doanh nghiệp không áp dụng các biện pháp tích cực thì có thể còn bị thất thoát vốn kinh doanh. Lạm phát cũng làm cho nhu cầu vốn kinh doanh tăng lên và tình hình tài chính doanh nghiệp không ổn định. - Chính sách kinh tế và tài chính của Nhà nước đối với doanh nghiệp: như các chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách thuế, chính sách xuất khẩu, chính sách nhập khẩu, chế độ khấu hao tài sản cố định…đây là yếu tố tác động lớn đến các vấn đề tài chính của doanh nghiệp. + Chính sách thuế: Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp phải nộp thuế cho Nhà nước, điều đó có ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Hầu hết các quyết định tài chính đều trực tiếp hoặc gián tiếp có ảnh hưởng đến thuế thu nhập doanh nghiệp, do đó có ảnh hưởng đến mục tiêu của doanh nghiệp. Thuế thu nhập doanh nghiệp công ty phải nộp hàng năm nhiều hay ít tùy thuộc vào thu nhập chịu thuế và thuế suất. Thuế suất thay đổi tùy lĩnh vực đầu tư, thời gian đầu tư, địa điểm đầu tư, mức thu nhập chịu thuế… + Khấu hao tài sản cố định: Khấu hao là hình thức phân bổ có hệ thống chi phí mua sắm xây dựng tài sản cố định vào giá thành sản phẩm theo từng thời kỳ nhằm mục đích thu hồi vốn đầu tư vào tài sản cố định. Khấu hao được xem như là khoản chi phí được tính vào thu nhập chịu thuế, vì vậy nó là một yếu tố giúp cty tiết kiệm thuế. Có nhiều cách tính khấu hao khác nhau, mỗi cách tính cho một mức khấu hao khác nhau nên kết quả thu nhập chịu thuế cũng khác nhau và do đó số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp cũng khác nhau. 12
  13. + Lãi vay: Về nguyên tắc, các doanh nghiệp chỉ vay khi hoạt động có hiệu quả cao, số lãi đạt được do sử dụng vốn vay phải lớn hơn lãi tiền vay phải trả. Tuy nhiên, theo quy định các nước, Nhà nước cho phép doanh nghiệp tính khấu trừ lãi vay vào thu nhập chịu thuế làm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. Như vậy, lãi vay được xem như là chi phí chịu thuế nên nó là yếu tố giúp doanh nghiệp tiết kiệm thuế. Trong những thời kỳ khác nhau, Nhà nước Việt Nam quy định mức khống chế lãi vay được tính vào chi phí. Nếu vượt quá mức này doanh nghiệp phải lấy lợi nhuận sau thuế để bù đắp. - Mức độ cạnh tranh: nếu doanh nghiệp hoạt động trong những ngành nghề, lĩnh vực có mức độ cạnh tranh cao đòi hỏi doanh nghiệp phải đầu tư nhiều hơn cho việc đổi mới thiết bị, công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm, cho quảng cáo, tiếp thị và tiêu thụ sản phẩm… - Thị trường tài chính và hệ thống các trung gian tài chính: Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp có lúc tạm thời thặng dư, có lúc tạm thời thiếu hụt vốn. Khi tạm thời thặng dư vốn, doanh nghiệp cần tìm nơi đầu tư để vốn sinh lời, tăng hiệu quả sử dụng vốn. Khi tạm thời thiếu hụt vốn doanh nghiệp cần tìm nguồn tài trợ để bù đắp đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp được liên tục và hiệu quả. Hoạt động đầu tư hay tìm nguồn tài trợ được thực hiện thông qua hệ thống tài chính, gồm thị trường tài chính, các tổ chức tài chính và các công cụ tài chính. Các giám đốc phải lựa chọn đầu tư vốn tạm thời thặng dư hoặc huy động vốn trên thị trường tài chính hay từ các tổ chức tài chính, đồng thời học phải quyết định nên tiến hành giao dịch loại công cụ tài chính nào cho phù hợp. Hoạt động của doanh nghiệp gắn liền với thị trường tài chính, nơi mà doanh nghiệp có thể huy động gia tăng vốn, đồng thời có thể đầu tư các khoản tài chính tạm thời nhàn rỗi để tăng thêm mức sinh lời của vốn hoặc có thể dễ dàng hơn thực hiện đầu tư dài hạn gián tiếp. Sự phát triển của thị trường làm đa dạng hóa các công cụ và các hình thức huy động vốn cho doanh nghiệp, chẳng hạn như sự xuất hiện và phát triển các hình thức thuê tài chính, sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán… Hoạt động của các trung gian tài chính cũng làm ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Sự phát triển lớn mạnh của các Trung gian tài chính sẽ cung cấp các dịch vụ tài chính ngày càng phong phú, đa dạng hơn cho các doanh nghiệp, như sự phát triển của các ngân hàng thương mại đã làm đa dạng hóa các hình thức thanh toán như thanh toán qua chuyển khoản, thẻ tín dụng và chuyển tiền điện tử…Sự cạnh tranh lành mạnh giữa các trung tâm tài chính tạo điều kiện tốt hơn cho doanh nghiệp tiếp cận, sử dụng nguồn vốn tín dụng với chi phí thấp hơn. Khi xem xét tác động của môi trường kinh tế - tài chính không chỉ xem xét ở phạm vi trong nước mà còn cần phải xem xét đánh giá môi trường kinh tế tài chính trong khu vực và trên thế giới. Hiện nay, quả trình toàn cầu hóa nền kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ, những biến động lớn về nền kinh tế, tài chính trong khu vực và trên thế giới ảnh hưởng mau lẹ đến nền kinh tế và hoạt động kinh doanh của một Quốc gia. Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý là tổng hoà các quy định pháp luật có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Hoạt động của doanh nghiệp vừa chịu sự chi phối điều chỉnh bởi các quy chế luật pháp chung cho mọi loại hình doanh nghiệp và chịu sự chi phối, điều chỉnh bởi các quy chế luật pháp riêng cho từng thành phần kinh tế, từng ngành kinh tế, lĩnh vực kinh tế đặc thù. Một môi trường pháp luật bình đẳng, thông thoáng, ổn định đồng bộ vừa tạo điều kiện kinh doanh thuận lợi vừa đòi hỏi cao đối với các hoạt động tài chính của 13
  14. doanh nghiệp. Ngược lại, sẽ gây khó khăn thậm chí làm cho doanh nghiệp suy thoái phá sản. Môi trường kỹ thuật công nghệ, môi trường thông tin: Doanh nghiệp nào nắm bắt được và ứng dụng kịp thời các thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật sẽ có điều kiện thuận lợi trong cạnh tranh mà để đầu tư vào công nghệ cao ấy đòi hỏi phải có vốn lớn để đầu tư, điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có các phương thức huy động vốn đầu tư phù hợp. Trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm bắt, tiếp cận và xử lý các thông tin trong kinh doanh kịp thời. Điều này cũng đòi hỏi tổ chức hoạt động tài chính của doanh nghiệp phải tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp có thể tiếp cận, khai thác và xử lý thông tin về thị trường, về giá cả sản xuất về khả năng nắm bắt các cơ hội kinh doanh trên thị trường Môi trường hợp tác, hội nhập quốc tế Hội nhập là tất yếu trong nền kinh tế ngày nay. Việc doanh nghiệp trong nước liên doanh với các nhà đầu tư nước ngoài hay đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức đầu tư trực tiếp hay gián tiếp đã làm thay đổi và đa dạng hoá quan hệ tài chính, điều đó đòi hỏi công tác tổ chức hoạt động tài chính doanh nghiệp cần phải sửa đổi, hoàn thiện cho phù hợp. 1.3. CÁC NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.3.1. Nguyên tắc đánh đổi rủi ro và lợi nhuận Quản lý tài chính phải được dựa trên quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận. Nhà đầu tư có thể lựa chọn những đầu tư khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro mà họ chấp nhận và lợi nhuận mong muốn. Khi họ bỏ tiền vào những sự án có mức độ rủi ro cao họ hy vọng dự án đem lại lợi nhuận kỳ vọng cao. 1.3.2. Nguyên tắc giá trị thời gian của tiền Trong quản lý tài chính doanh nghiệp cần sử dụng khái niệm giá trị thời gian của tiền do tiền ở các thời điểm khác nhau có giá trị không bằng nhau, tức là đưa lợi ích và chi phí của dự án về cùng một thời điểm thường là thời điểm hiện tại. Theo quan điểm của các nhà đầu tư thì dự án được chấp nhận khi lợi ích lớn hơn chi phí 1.3.3. Nguyên tắc chi trả Trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần bảo đảm mức ngân quỹ tối thiểu để thực hiện việc chi trả. Vì vậy điều quan tâm ở đây là các dòng tiền chứ không phải là lợi nhuận kế toán. Dòng tiền ra và dòng tiền vào được tái đầu tư phản ánh tính chất thời gian của lợi nhuận và chi phí. 14
  15. 1.3.4. Nguyên tắc sinh lợi Đây là nguyên tắc quan trọng trong quản lý tài chính doanh nghiệp không chỉ là đánh giá các dòng tiền của dự án đem lại mà còn là tạo ra các dòng tiền tức là tìm kiếm các dự án sinh lợi. Trong môi trường cạnh tranh, các nhà đầu tư khó có thể kiếm được nhiều lợi nhuận trong một thời gian dài, khó có thể tìm kiếm nhiều dự án tốt muốn làm được điều đó thì phải tạo ra được những sản phẩm khác biệt với sản phẩm cạnh tranh và đảm bảo mức chi phí thấp hơn mức chi phí cạnh tranh. 1.3.5. Nguyên tắc thị trường có hiệu quả Thị trường có hiệu quả là thị trường mà ở đó giá trị của các tài sản tại bất kỳ một thời điểm nào đều phản ánh đầy đủ các thông tin một cách công khai. Trong thị trường có hiệu quả, giá cả được xác định chính xác. Thị giá cổ phiếu phản ánh tất cả những thông tin sẵn có và công khai về giá trị của một doanh nghiệp. 1.3.6. Gắn kết lợi ích của người quản lý với lợi ích của cổ đông Nhà quản lý tài chính chịu trách nhiệm phân tích, kế hoạch hoá tài chính, quản lý ngân quỹ, chi tiêu cho đầu tư và kiểm soát. Chịu trách nhiệm điều hành hoạt động tài chính và đưa ra các quyết định tài chinh. Các quyết định và hoạt động của nhà quản lý tài chính đều nhằm vào mục tiêu của doanh nghiệp đó là: sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, tránh được sự căng thẳng về tài chính và phá sản, có khả năng cạnh tranh và chiếm được thị phần tối đa trên thương trường, tối thiểu hoá chi phí, tăng thu nhập của chủ sở hữu một cách vững chắc. Nhà quản lý tài chính đưa ra các quyết định vì lợi ích của các cổ đông doanh nghiệp. Theo quan điểm của các cổ đông , một quyết định tài chính tốt là gì? Nếu giả sử cổ đông mua cổ phiếu để kiếm tìm lợi ích tài chính thì câu trả lời là hiển nhiên: Quyết định tốt là quyết định làm tăng giá trị thj trường của cổ phiếu, còn quyết định yếu kém là quyết định quyết định làm giảm giá trị thị trường của cổ phiếu công ty. Mục tiêu của nhà quản lý tài chính của công ty là tối đa hoá giá trị hiện hành trên một cổ phiếu, là tăng giá trị của doanh nghiệp. 1.4. CÁC NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP Hoạt động tài chính doanh nghiệp cùng với hoạt động sản xuất kinh doanh đóng một vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nhằm thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp. Hoạt động tài chính doanh nghiệp phải trả lời các câu hỏi sau: - Doanh nghiệp nên đầu tư vào đâu, thời điểm nào, dài hạn hay ngắn hạn, lợi nhuận có xứng đáng ko, có phù hợp với hình thức kinh doanh đã chọn, nhằm đạt tới mục tiêu của doanh nghiệp? 15
  16. - Nguồn vốn tài trợ được huy động ở đâu, thời điểm nào để đạt được cơ cấu vốn tối ưu với chi phí vốn thấp nhất? - Lợi nhuận của doanh nghiệp được sử dụng như thế nào? - Quá trình phân tích, đánh giá, kiểm tra các hoạt động tài chính diễn ra như thếnào để thường xuyên đảm bảo trạng thái cân bằng tài chính? - Quá trình quản lý các hoạt động tài chính ngắn hạn diễn ra như thế nào để ra các quyết định thu - chi hợp lý? Về mặt sổ sách, hoạt động tài chính doanh nghiệp được phản ánh trên các báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Muốn sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải mua sắm các yếu tố đầu vào, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu dự trữ… Nghĩa là doanh nghiệp phải đầu tư vào tài sản. Tại những thời điểm nhất định, tài sản của doanh nghiệp được phản ánh vào bên trái của bảng cân đối kế toán, gồm tài sản cố định và tài sản lưu động. Việc sắp xếp các chỉ tiêu của bảng cân đối kế toán theo những trình tự nhất định tùy thuộc vào chế độ kế toán của mỗi nước, ở mỗi thời kỳ nhất định. Muốn đầu tư vào tài sản, doanh nghiệp phải có các nguồn tài trợ, nghĩa là phải có tiền. Các nguồn tài trợ của doanh nghiệp được phản ánh bên phải của bảng cân đối kế toán, gồm nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Như vậy, tại những thời điểm nhất định, các dự trữ tài chính được phản ánh trong bảng cân đối kế toán. Khi đã có nguồn tài trợ đầu tư vào tài sản, doanh nghiệp tiến hành quá trình sản xuất kinh doanh. Trong quá trình này doanh nghiệp tiến hành xác định các thu nhập, chi phí, thuế, lãi của doanh nghiệp, quá trình này được phản ánh trong báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Như vậy, các dòng tài chính được thể hiện và phản ánh trong các báo cáo này. Các dòng tài chính tiếp tục chuyển hóa và tại những thời điểm nhất định ta lập được bảng cân đối kế toán. Mối quan hệ giữa các khái niệm “dòng” và “dự trữ” được thể hiện và phản ánh rõ nét trong mối quan hệ giữa các báo cáo tài chính. Ví dụ: Vốn bằng tiền đầu kỳ được phản ánh trong bảng cân đối kế toán đầu kỳ, qua một kỳ kinh doanh ta có thể tính toán được thu chi bằng tiền và cân đối ngân quỹ, từ đó xác định vốn bằng tiền cuối kỳ trong bảng cân đối kế toán cuối kỳ. Ví dụ: Dự trữ, hàng tồn kho đầu kỳ kết hợp với số tiêu thụ trong kỳ thông qua báo cáo kết quả kinh doanh, ta xác định được dự trữ, tồn kho cuối kỳ trên bảng cân đối kế toán. Ta có thể khái quát hoạt động tài chính doanh nghiệp qua sơ đồ sau: Kết - Thu Báo quả nhập cáo kết kinh - Chi phí quả doanh - Thuế kinh Bảng Bảng - Lãi doanh cân cân đối kế đối kế toán toán đầu cuối kỳ kỳ Báo Kết cáo lưu quả - Thu chuyển bằng - Chi - Cân đối tiền tệ tiền 16
  17. TÓM TẮT CHƯƠNG 1 Chương I trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về mục tiêu và vai trò của tài chính, tiếp cận các nguyên lý cơ bản của tài chính như giá trị thời gian của tiền, rủi ro và tỷ suất sinh lời… Đây là các nguyên lý sẽ được ứng dụng xuyên suốt trong việc ra các quyết định của nhà quản trị Tài chính Doanh nghiệp. HỆ THỐNG CÂU HỎI CHƯƠNG 1 1. Vị trí của Tài chính Doanh nghiệp trong hệ thống tài chính? 2. Khái niệm, mục tiêu và các quan hệ tài chính Doanh nghiệp cơ bản? 3. Nội dung cơ bản về công tác quản lý Tài chính Doanh nghiệp? 4. Nhận xét về cơ chế quản lý tài chính đối với các Doanh nghiệp Việt Nam hiện nay? 5. Nguyên tắc quản lý Tài chính Doanh nghiệp? Liên hệ thực hiễn Việt Nam? 17
  18. CHƯƠNG II: QUẢN LÝ VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 2.1. VỐN KINH DOANH 2.1.1. Khái niệm Để tiến hành sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần có Tư liệu sản xuất: Tư liệu lao động và đối tượng lao động. Tư liệu lao động đó là máy móc thiết bị công cụ dụng cụ. Đối tượng lao động đó là nguyên nhiên, vật liệu nhằm tiến hành sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp cần có tiền mua các yếu tố trên đó chính là vốn kinh doanh Vốn kinh doanh là một lượng giá trị mà doanh nghiệp phải ứng trước để luân chuyển cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn kinh doanh của doanh nghiệp luôn vận động và không ngừng thay đổi hình thái tạo thành quá trình luân chuyển vốn. Trong các doanh nghiệp sản xuất quá trình luân chuyển vốn trải qua 3 giai đoạn: - Giai đoạn dự trữ sản xuất: Trong giai đoạn này, doanh nghiệp ứng ra vốn tiền tệ để mua sắm các yếu tố sản xuất như tài sản cố định, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ… Trong giai đoạn này T chuyển thành H (T – H). - Giai đoạn sản xuất: Trong giai đoạn này các yếu tố sản xuất được kết hợp với nhau để tạo ra sản phẩm mới. Trong quá trình sản xuất, vốn tồn tại dưới hình thái chi phí sản xuất (gồm những sản phẩm đang chế tạo và chi phí chờ phân bổ) (H … sx … H’). - Giai đoạn lưu thông: Doanh nghiệp bán sản phẩm thu tiền về (tiền mặt, chuyển khoản, tiền Việt Nam, ngoại tệ..) cũng có thể là bán chịu hình thành khoản phải thu. Vốn từ hình thái hàng chuyển trở lại hình thái tiền tệ ban đầu (H’ - T’). Đến đây là kết thúc 1 vòng luân chuyển vốn. Trong các doanh nghiệp thương mại, quá trình luân chuyển vốn trải qua 2 giai đoạn: - Giai đoạn mua hàng: Trong giai đoạn này doanh nghiệp ứng ra vốn tiền tệ để mua sắm các tư liệu lao động và đối tượng lao động như tài sản cố định, nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, hàng hóa. Trong giai đoạn này T chuyển thành H (T – H). - Giai đoạn bán hàng: doanh nghiệp bán hàng hóa thu tiền ngay hoặc hình thành khoản phải thu sau đó thu tiền về (tiền mặt, tiền chuyển khoản, tiền Việt Nam, ngoại tệ). Vốn từ hình thái hàng chuyển trở lại hình thái tiền tệ ban đầu (H – T’). Đến đây kết thúc 1 vòng luân chuyển vốn Vốn kinh doanh mang những đặc điểm: + Là điều kiện tiên quyết, quyết định tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. + Vốn kinh doanh có trước khi tiến hành sản xuất kinh doanh. + Vốn kinh doanh luôn hướng tới mục tiêu sinh lời + Vốn kinh doanh luôn thay đổi hình thái vật chất nhưng kết thúc vòng tuần hoàn quay lại hình thái ban đầu đó là tiền tệ. 2.1.2. Phân loại vốn kinh doanh Xét từ nguồn hình thành: Vốn chủ sở hữu: Vốn góp ban đầu, lợi nhuận để lại Vốn vay: Ngân hàng, các tổ chức tài chính trung gian, các bạn hàng 18
  19. Đặc điểm luân chuyển vốn: Vốn cố định Vốn lưu động Căn cứ vào phạm vi đầu tư: Vốn đầu tư bên trong Vốn đầu tư bên ngoài 2.2. VỐN CỐ ĐỊNH 2.2.1. Tài sản cố định Phương thức sản xuất bao gồm có quan hệ sản xuất và tư liệu sản xuất. Tư liệu sản xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động. Khác với đối tượng lao động (nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang bán thành phẩm…), các tư liệu lao động (máy móc thiết bị, nhà xưởng phương tiện vận tải…) Là những phương tiện vật chất mà con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động, biến đổi nó theo mục đích của mình. Tư liệu lao động có đặc điểm sau: Tham gia nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh Giá trị được dịch chuyển dần dần từng phần vào trong giá thành sản phẩm Không thay đổi hình thái vật chất ban đầu Tư liệu lao động được chia làm 2 nhóm tư liệu lao động chủ yếu: Đó chính là tài sản cố định và tư liệu lao động khác đó là công cụ dụng cụ và bộ phận quan trọng nhất trong các tư liệu lao động sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp là tài sản cố định. Đó là những tư liệu lao động chủ yếu được sử dụng một cách trực tiếp hay gián tiếp trong quá trình sản xuất kinh doanh như: máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, nhà xưởng, các công trình kiến trúc, các khoản chi phí đầu tư mua sắm các tài sản cố định vô hình… Thông thường một tư liệu lao động được coi là một tài sản cố định xét trên giác độ tài chính phải đồng thời thoả mãn hai tiêu chuẩn sau: Một là, phải có thời gian sử dụng tối thiểu, thường là 1 năm trở lên Hai là, phải đạt giá trị tối thiểu ở một mức quy định Ngoài 2 tiêu chuẩn trên còn đưa ra những tiêu chuẩn cụ thể để xác định tư liệu lao động là tài sản cố định. Tiêu chuẩn này được quy định riêng đối với từng nước và có thể được điều chỉnh cho phù hợp với mức giá cả chung cho từng thời kỳ. Ở nước ta theo quyết định 206/2003/QĐ-BTC. Thì những tư liệu lao động thoả mãn cả 4 điều kiện dưới đây thì được coi là tài sản cố định: + Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó. + Nguyên giá phải được xác định một cách tin cậy + Có thời hạn sử dụng từ 1 năm trở lên + Có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên. Việt Nam trước năm 1981, giá trị tối thiểu của tài sản cố định là 150 đồng, từ 1986 - 1989, là 10.000 đồng, còn từ năm 2004 cho đến nay, giá trị tối thiểu của tư liệu lao động để được xếp vào tài sản cố định là 10 triệu đồng. Trên cơ sở phân tích trên ta có thể rút ra đặc điểm chung của các tài sản cố định: Tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh với vai trò là tư liệu lao động. 19
  20. Hình thái vật chất không thay đổi từ chu kỳ sản xuất đầu tiên cho đến khi bị sa thải khỏi quá trình sản xuất kinh doanh. Giá trị của nó được chuyển dịch dần dần từng phần vào giá trị sản xuất ra sản phẩm, bộ phận chuyển dịch này cấu thành một yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và được bù đắp mỗi khi sản phẩm được tiêu thụ. Chú ý: - Trên thực tế cần xem xét công dụng của tài sản để xem có phải là tài sản cố định không? - Một số tài sản nếu xét riêng lẻ từng bộ phận nó không đủ tiêu chuẩn về giá trị tuy nhiên khi tập hợp thành hệ thống thì tổng hợp tài sản đó được coi là tài sản cố định của doanh nghiệp. 2.2.2. Phân loại tài sản cố định Phân loại tài sản cố định là việc phân chia tài sản cố định của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau nhằm phục vụ yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. Thông thường có những cách phân loại chủ yếu sau: 2.2.2.1 Phân loại tài sản cố định theo hình thái biểu hiện Tài sản cố định vô hình : Là những tài sản không có hình thái vật chất cụ thể, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thoả mãn tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh. Như chi phí để mua bằng phát minh sáng chế, bản quyền tác giả, nhãn hiệu thương mại… Tài sản cố định hữu hình: Là những tư liệu lao động chủ yếu được biểu hiện bằng các hình thức vật chất cụ thể như: nhà xưởng máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải vật kiến trúc… những tài sản cố định này có thể là từng đơn vị tài sản có kết cấu độc lập hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản liên kết với nhau để thực hiện một hay một số chức năng nhất định trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tác dụng của tiêu thức phân loại giúp doanh nghiệp thấy được cơ cấu đầu tư vào tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình. Từ đó lựa chọn các quyết định đầu tư hoặc điều chỉnh cơ cấu đầu tư sao cho phù hợp và có hiệu quả. 2.2.2.2. Phân loại tài sản cố định theo mục đích sử dụng Tài sản cố định phục vụ cho mục đích kinh doanh là những tài sản cố định dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh cơ bản và hoạt động sản xuất kinh doanh phụ của doanh nghiệp. Tài sản cố định phục vụ cho mục đích phúc lợi, sự nghiệp, an ninh quốc phòng là các tài sản cố định do doanh nghiệp quản lý và sử dụng cho các hoạt động phúc lợi, sự nghiệp đảm bảo cho an ninh quốc phòng của doanh nghiệp doanh nghiệp. Tài sản cố định bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ nhà nước là những tài sản cố định doanh nghiệp bảo quản hộ, giữ hộ cho đơn vị khác hoặc cho nhà nước theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tác dụng của tiêu thức phân loại là giúp doanh nghiệp thấy được kết cấu tài sản cố định, nắm được mức độ trang bị kỹ thuật cho khu vực kinh doanh trực tiếp hay 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản