BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO LỢI NHUẬN TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN THÉP VÀ VẬT TƢ CÔNG NGHIỆP
SINH VIÊN THỰC HIỆN
: NGUYỄN QUÝ KHÁNH
MÃ SINH VIÊN
: A18787
CHUYÊN NGÀNH
: TÀI CHÍNH
HÀ NỘI – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
---o0o---
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
GIẢI PHÁP NÂNG CAO LỢI NHUẬN TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN THÉP VÀ VẬT TƢ CÔNG NGHIỆP
Giáo viên hƣớng dẫn
: PGS.TS Nguyễn Thị Bất
Sinh viên thực hiện
: Nguyễn Quý Khánh
Mã sinh viên
: A18787
Chuyên ngành
: Tài chính
HÀ NỘI – 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được
rất nhiều sự giúp đỡ, tận tình hướng dẫn và góp ý nhiệt tình từ nhiều phía.
Trước hết, em xin chân thành cảm ơn sự chỉ bảo tận tình của PGS.TS Nguyễn
Thị Bất, cô là người đã giúp đỡ, chỉ bảo và động viên em trong cả quá trình thực hiện khóa luận này. Nhờ có cô mà với kiến thức cũng như kinh nghiệm còn ít ỏi em đã hoàn thành được khóa luận tốt nghiệp này.
Nhân đây, em cũng gửi lời cảm ơn chân thành với Ban lãnh đạo trường Đại Học Thăng Long, các thầy cô giảng dạy trong trường đã tạo điều kiện học tập tốt nhất, truyền cho em nhiều cảm hứng đam mê trong học tập, xây dựng một môi trường học
tập lành mạnh, giúp em có được nền tảng về chuyên ngành học như hiện nay để có thể hoàn thành đề tài nghiên cứu này.
Để hoàn thành khóa luận này, em cũng không quên cảm ơn đến Ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Thép và Vật tư công nghiệp. Công ty đã tạo điều kiện thuận lợi giúp em có những tư liệu thực tế để nghiên cứu, áp dụng được lý thuyết vào thực tiễn để đúc rút nhiều kinh nghiệm cho bản thân.
Cuối cùng, em xin được kính chúc các Thầy, Cô cùng PGS.TS Nguyễn Thị Bất có được sức khỏe tốt để tiếp tục công tác và thành công hơn trong sự nghiệp to lớn của mình. Đồng kính gửi các Bác, các Cô, các Chú, các Anh, các Chị trong Công ty Cổ phần Thép và Vật tư công nghiệp dồi dào sức khỏe, hạnh phúc và đạt được nhiều thành công trong sự nghiệp và cuộc sống.
Em xin chân thành cảm ơn!
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là do tự bản thân thực hiện có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn và không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác. Các dữ liệu thông tin thứ cấp sử dụng trong Khóa luận là có nguồn gốc và được
trích dẫn rõ ràng.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này!
Sinh viên
Nguyễn Quý Khánh
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN 1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP ... 1
1.1. Khái niệm và nội dung cơ bản của lợi nhuận ................................................ 1
1.1.1. Khái niệm lợi nhuận .......................................................................................... 1
1.1.2. Kết cấu lợi nhuận ............................................................................................... 2
1.1.3. Ý nghĩa của lợi nhuận ....................................................................................... 3
1.1.3.1. Đối với bản thân doanh nghiệp ....................................................................... 3
1.1.3.2. Đối với xã hội .................................................................................................. 3
1.2. Phƣơng pháp xác định lợi nhuận và các chỉ tiêu lợi nhuận trong doanh
nghiệp ............................................................................................................................. 4
1.2.1. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh ................................................. 4
1.2.2. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính ..................................................................... 8
1.2.3. Lợi nhuận khác .................................................................................................. 9
1.2.4. Các chỉ tiêu về lợi nhuận ................................................................................. 10
1.2.4.1. Tỷ suất lợi nhuận thuần trên doanh thu (ROS) ............................................. 11
1.2.4.2. Tỷ suất lợi nhuận thuần trên tổng tài sản (ROA) .......................................... 11
1.2.4.3. Tỷ suất lợi nhuận thuần trên vốn chủ sở hữu (ROE) .................................... 12
1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp ........................... 14
1.3.1. Nhân tố khách quan ......................................................................................... 14
1.3.1.1. Chính sách kinh tế của Nhà nước .................................................................. 14
1.3.1.2. Ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ .................................................. 15
1.3.1.3. Quan hệ cung cầu và sự cạnh tranh ............................................................... 15
1.3.1.4. Sự biến động của thị trường tiền tệ và lãi suất .............................................. 16
1.3.1.5. Nhà cung cấp ................................................................................................. 16
1.3.2. Nhân tố chủ quan ............................................................................................. 17
1.3.2.1. Quy mô của doanh nghiệp ............................................................................. 17
1.3.2.2. Trình độ nguồn nhân lực ............................................................................... 17
1.3.2.3. Tính chất sản phẩm và tình hình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp ........ 18
1.3.2.4. Giá thành toàn bộ ........................................................................................... 19
1.3.2.5. Mối quan hệ và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường .............................. 20
PHẦN 2. THỰC TRẠNG LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THÉP VÀ
VẬT TƢ CÔNG NGHIỆP ........................................................................................... 21
2.1. Giới thiệu về công ty CP thép và vật tƣ công nghiệp .................................. 21
2.1.1. Khái quát chung về công ty ............................................................................. 21
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của công ty ............................................ 21
2.1.3. Cơ cấu bộ máy tổ chức và chức năng nhiệm vụ từng ban ............................ 22
2.1.4. Khái quát ngành nghề kinh doanh của công ty ............................................. 25
Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty CP Thép và Vật tƣ công 2.2. nghiệp qua một số năm................................................................................................. 26
2.2.1. Khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của công ty ................................... 26
2.2.2. Khái quát tình hình tài sản – nguồn vốn của công ty ................................... 30
2.2.3. Một số chỉ tiêu tài chính của công ty .............................................................. 34
2.2.3.1. Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán .......................................................... 35
2.2.3.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản ................................................... 37
Thực trạng lợi nhuận của công ty CP Thép và Vật tƣ công nghiệp giai 2.3. đoạn 2011-2013 .............................................................................................................. 38
2.3.1. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh ............................................... 38
2.3.2. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính ................................................................... 42
2.3.3. Lợi nhuận từ hoạt động khác .......................................................................... 43
2.3.4. Tổng hợp lợi nhuận của công ty ..................................................................... 44
2.3.5. Các chỉ tiêu về lợi nhuận ................................................................................. 46
Đánh giá các nhân tố ảnh hƣởng đến lợi nhuận của công ty CP Thép và 2.4. Vật tƣ công nghiệp ........................................................................................................ 49
2.4.1. Các nhân tố làm tăng lợi nhuận của công ty ................................................. 49
2.4.1.1. Chính sách bán hàng của công ty .................................................................. 49
2.4.1.2. Nhà cung cấp và mạng lưới tiêu thụ của công ty .......................................... 51
2.4.1.3. Kết cấu mặt hàng kinh doanh ........................................................................ 51
2.4.1.4. Nguồn nhân lực .............................................................................................. 52
2.4.2. Các nhân tố làm giảm lợi nhuận của công ty ................................................ 53
2.4.2.1. Nhân tố lãi vay ............................................................................................... 53
2.4.2.2. Ảnh hưởng nền kinh tế và các chính sách của Nhà nước ............................. 54
2.4.2.3. Đối thủ cạnh tranh ......................................................................................... 54
2.4.2.4. Biến động tỷ giá và giá nguyên liệu tăng cao ............................................... 55
PHẦN 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
THÉP VÀ VẬT TƢ CÔNG NGHIỆP ........................................................................ 56
3.1. Định hƣớng phát triển của công ty CP Thép và Vật tƣ công nghiệp ........ 56
3.1.1. Khái quát môi trường kinh doanh của công ty CP Thép và Vật tư công nghiệp ........................................................................................................................... 56
3.1.1.1. Thuận lợi ........................................................................................................ 56
3.1.1.2. Khó khăn ........................................................................................................ 56
3.1.2. Định hướng phát triển của công ty CP Thép và Vật tư công nghiệp ........... 57
3.1.2.1. Tầm nhìn ........................................................................................................ 57
3.1.2.2. Mục tiêu chiến lược ....................................................................................... 57
3.2. Một số giải phát tăng lợi nhuận của công ty CP Thép và Vật tƣ công nghiệp ........................................................................................................................... 59
3.2.1. Giải phải tăng doanh thu ................................................................................. 59
3.2.1.1. Lựa chọn và sử dụng hiệu quả vốn ................................................................ 59
3.2.1.2. Tìm kiếm thị trường mới, đẩy mạnh công tác tiêu thụ ................................. 61
3.2.1.3. Đa dạng hoá hình thức quảng cáo sản phẩm ................................................. 62
3.2.1.4. Quản lý và dự trữ hàng tồn kho ..................................................................... 62
3.2.2. Giải pháp giảm chi phí ..................................................................................... 63
3.2.2.1. Quản lý các khoản phải thu khách hàng........................................................ 63
3.2.2.2. Quản lý tốt nguyên liệu đầu vào .................................................................... 65
3.2.2.3. Quản lý tiền lương nhân viên ........................................................................ 66
3.2.2.4. Tiết kiệm chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp ........................... 66
3.2.3. Giải pháp khác ................................................................................................. 66
3.2.3.1. Đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ cho nhân viên ..................................... 66
3.2.3.2. Tăng cường áp dụng khoa học kĩ thuật trong quản lý .................................. 67
3.3. Kiến nghị .......................................................................................................... 68
3.3.1. Kiến nghị với Nhà nước ................................................................................... 68
3.3.2. Kiến nghị với bộ, ban ngành chức năng liên quan ....................................... 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................ 73
KẾT LUẬN
DANH MỤC VIẾT TẮT
Tên đầy đủ Ký hiệu viết tắt
Báo cáo kết quả kinh doanh BCKQKD
Cổ phần CP
Giá trị gia tăng GTGT
Thu nhập doanh nghiệp TNDN
Trách nhiễm hữu hạn TNHH
Tài sản cố định TSCĐ
Tài sản lưu động TSLĐ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty giai đoạn 2011-2013 .................... 27
Bảng 2.2: Bảng Cân đối kế toán của Công ty giai đoạn 2011-2013 .............................. 30
Bảng 2.3: Tỷ trọng cơ cấu tài sản của Công ty giai đoạn 2011-2013 ............................ 31
Bảng 2.4: Tỷ trọng nguồn vốn Công ty giai đoạn 2011-2013 ....................................... 33
Bảng 2.5: Khả năng thanh toán của Công ty giai đoạn 2011-2013 ............................... 35
Bảng 2.6: Hiệu suất sử dụng tài sản của Công ty giai đoạn 2011-2013 ........................ 37
Bảng 2.7: Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty giai đoạn 2011- 2013 ................................................................................................................................. 38
Bảng 2.8: Lợi nhuận từ hoạt động tài chính của Công ty giai đoạn 2011-2013............ 42
Bảng 2.9: Lợi nhuận từ hoạt động khác của Công ty giai đoạn 2011-2013 .................. 43
Bảng 2.10: Tổng hợp lợi nhuận của Công ty giai đoạn 2011-2013 ............................... 44
Bảng 2.11: Các chỉ tiêu về lợi nhuận của Công ty giai đoạn 2011-2013 ...................... 46
Bảng 2.12: Chỉ tiêu ROA theo Dupont của Công ty giai đoạn 2011-2013 ................... 47
Bảng 2.13: Chỉ tiêu ROE theo Dupont của Công ty giai đoạn 2011-2013.................... 48
Bảng 2.14: Các nhà sản xuất cung cấp hàng của Công ty giai đoạn 2011-2013 ........... 51
Bảng 2.15: Kết cấu mặt hàng kinh doanh thép của Công ty giai đoạn 2011-2013 ....... 52
Bảng 2.16: Cơ cấu và chi phí lãi vay của Công ty giai đoạn 2011-2013 ...................... 53
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức và quản lý của Công ty ...................................................... 23
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng doanh thu của Công ty giai đoạn 2011-2013 ....................... 26
Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng lợi nhuận sau thuế Công ty giai đoạn 2011-2013 ................. 29
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu và tăng trưởng tài sản của Công ty giai đoạn 2011-2013 ............. 31
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu và tỷ trọng Nguồn vốn Công ty giai đoạn 2011-2013 .................. 33
Biểu đồ 2.5: Khả năng thanh toán tại Công ty giai đoạn 2011-2013............................. 36
Biểu đồ 2.6: Lợi nhuận từ các hoạt động của Công ty giai đoạn 2011-2013 ................ 45
Biểu đồ 2.7: Tốc độ tăng các chỉ tiêu lợi nhuận của Công ty giai đoạn 2011-2013 ........ 49
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong nền kinh tế thị trường khi tiến hành bất cứ một hoạt động kinh doanh nào, mỗi doanh nghiệp đều phải tính toán đến lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể thu từ hoạt động đó. Bởi dưới tác động mạnh mẽ bởi các yếu tố kinh tế - xã hội, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải lấy hiệu quả kinh tế làm mục tiêu hàng đầu. Chính vì
vậy lợi nhuận được coi là tiêu chí quan trọng, là mục tiêu cuối cùng của mỗi doanh nghiệp đều phải hướng tới.
Chỉ khi nào doanh nghiệp có lợi nhuận thì mới có điều kiện tích lũy để tái đầu tư mở sản xuất mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện các vấn đề phúc lợi đối với công nhân viên và đối với xã hội. Từ đó nâng cao uy tín và vị thế của doanh nghiệp trên thương trường cũng như không ngừng đáp ứng nhu cầu ngày càng
cao của xã hội. Biết được tầm quan trọng của lợi nhuận, song làm thế nào để mang lại lợi nhuận và lợi nhuận đạt mức cao lại là một bài toán khó. Do vậy, các biện pháp để nâng cao lợi nhuận là yêu cầu thiết yếu có tầm quan trọng đặc biệt đối với các doanh nghiệp.
Công ty Cổ phần Thép và Vật tư công nghiệp cũng không nằm ngoài xu thế đó. Trong quá trình hình thành và phát triển của mình Công ty đã có nhiều bước tiến mạnh
mẽ, không ngừng đổi mới và lớn mạnh đạt được vị thế vững chắc trên thị trường kinh doanh. Tuy nhiên, bên cạnh đó Công ty còn tồn tại một số vấn đề cần được khắc phục đòi hỏi cần có những biện pháp cần thiết để cải thiện trong thời gian tới nhằm nâng hiệu quả kinh doanh, cuối cùng là nâng cao được lợi nhuận của Công ty.
Nhận thức được tầm quan trọng của lợi nhuận đối với sự lớn mạnh của doanh nghiệp, trên cơ sở lý luận kết hợp với thực tiễn qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ
phần Thép và Vật tư công nghiệp, em đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao lợi nhuận tại Công ty Cổ phần Thép và Vật tƣ công nghiệp” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu
Phân tích, đánh giá thực trạng lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó đề xuất một số
giải pháp làm tăng lợi nhuận của công ty Cổ phần Thép và Vật tư Công nghiệp.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tình hình lợi nhuận tại công ty Cổ phần Thép và Vật tư
Công nghiệp.
Phạm vi nghiên cứu: Đưa ra tổng quan chung của lợi nhuận và các giải pháp
nhằm nâng cao lợi nhuận tại doanh nghiệp.
Thời gian nghiên cứu: số liệu trong 3 năm 2011, 2012, 2013.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong luận văn chủ yếu là phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hoá dựa trên cơ sở các số liệu được cung cấp và tình hình thực tế của Công ty.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba
phần:
PHẦN 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP
PHẦN 2: THỰC TRẠNG VỀ LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THÉP
VÀ VẬT TƯ CÔNG NGHIỆP
PHẦN 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
THÉP VÀ VẬT TƯ CÔNG NGHIỆP
PHẦN 1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm và nội dung cơ bản của lợi nhuận
1.1.1. Khái niệm lợi nhuận
Lịch sử đã ghi nhận rất nhiều những quan điểm của các nhà kinh tế học về lợi nhuận, các lý luận đó đã chỉ ra được những khái niệm cơ bản và tổng quát của lợi nhuận. Kế thừa những quan điểm, lý luận từ những nhà kinh tế học cổ điển kết hợp với
việc nghiên cứu, tìm hiểu về nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác là người đầu tiên chỉ rõ được quan điểm và nguồn gốc của lợi nhuận một các khoa học, sâu sắc, hơn thế nữa nó còn có ý nghĩa cả về kinh tế và chính trị. Theo ông thì: “Giá trị thặng dư hay cái phần trội lên trong toàn bộ giá trị của hàng hóa, trong đó lao động thặng dư hay lao động không được trả công của công nhân đã được vật hóa thì gọi là lợi nhuận.”
C.Mác đã chỉ ra rằng lợi nhuận là hình thái chuyển hoá của giá trị thặng dư, lợi
nhuận và giá trị thặng dư có sự giống nhau về lượng và khác nhau về chất. Về lượng, nếu giá cả hàng hoá bằng giá trị của nó thì lượng lợi nhuận bằng lượng giá trị thặng dư, nếu giá cả hàng hoá không đồng nhất với giá trị của nó thì mỗi tư bản cá biệt có thể thu được lượng lợi nhuận lớn hơn hoặc nhỏ hơn giá trị thặng dư, nhưng trong toàn xã hội thì tổng số lợi nhuận luôn bằng tổng số giá trị thặng dư. Về chất, giá trị thặng dư là nội dung bên trong được tạo ra trong lĩnh vực sản xuất, là khoản dôi ra ngoài giá
trị tư bản khả biến và do sức lao động được mua từ tư bản khả biến tạo ra. Còn lợi nhuận là hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị thặng dư thông qua trao đổi, phạm trù lợi nhuận đã xuyên tạc, che đậy được nguồn gốc quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa.
Nhà kinh tế học hiện đại P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus thì định nghĩa rằng: “Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra bằng tổng số thu trừ đi tổng số đã chi” hoặc cụ thể hơn là “Lợi nhuận được định nghĩa như là khoản chênh lệch giữa tổng thu nhập
của một công ty và tổng chi phí”.
Tóm lại: Lợi nhuận của doanh nghiệp là số tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được doanh thu đó. Lợi nhuận được xem là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận được xem là mục đích kinh doanh của doanh nghiệp và là một chỉ tiêu chất lượng để đánh giá hiệu quả kinh tế của
các hoạt động doanh nghiệp.
Công thức tổng quát để xác định lợi nhuận:
Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí
Trong đó: Tổng doanh thu là toàn bộ số tiền sẽ thu được do tiêu thụ sản phẩm,
cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh nghiệp.
1
Tổng chi chí: là số tiền phải trả để thực hiện các hoạt động kinh tế như sản xuất,
giao dịch, ... nhằm mua được các loại hàng hóa, dịch vụ cần thiết cho quá trình sản xuất và kinh doanh.
1.1.2. Kết cấu lợi nhuận
Trong nền kinh tế thị trường thực tế cho thấy các doanh nghiệp rất năng động trong việc đầu tư sao cho đồng vốn của doanh nghiệp được sử dụng một các hiệu quả
nhất. Hoạt động của doanh nghiệp trong một kì kinh doanh không chỉ đơn thuần là các hoạt động kinh doanh theo đúng như đăng ký ngành nghề kinh doanh với cơ quan pháp luật, mà còn bao gồm nhiều hoạt động khác có tính chất thường xuyên hoặc không thường xuyên. Do đó lợi nhuận của doanh nghiệp thu được cũng phong phú và đa dạng theo phương thức đầu tư của mỗi danh nghiệp. Cụ thể, lợi nhuận của doanh nghiệp được chia thành ba bộ phận:
+ Lợi nhuận khác
Lợi nhuận của doanh nghiệp + Lợi nhuận từ hoạt động tài chính
= Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh: là khoản chênh lệch giữa doanh thu tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ và chi phí đã bỏ ra của khối lượng sản phẩm hàng hoá dịch vụ. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm tỷ trọng chính trong tổng
lợi nhuận của doanh nghiệp, nó thể hiện hoạt động đầu tư chủ yếu của doanh nghiệp.
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: là khoản chênh lệch giữa các khoản thu và chi có tính chất nghiệp vụ tài chính hoặc kinh doanh về vốn đem lại. Các hoạt động nghiệp vụ tài chính gồm các hoạt động cho thuê tài chính, hoạt động mua bán chứng khoán, mua bán ngoại tệ, lãi tiền gửi ngân hàng thuộc vốn kinh doanh của doanh nghiệp, lãi cho vay vốn, lợi tức cổ phần và hoàn nhập số dư khoản dự phòng giảm giá
đầu tư chứng khoán và lợi nhuận thu được từ việc phân chia kết quả hoạt động liên doanh, liên kết của doanh nghiệp với đơn vị khác.
Lợi nhuận khác: là khoản chênh lệch giữa thu nhập và chi phí của các hoạt động khác ngoài các hoạt động nêu trên. Lợi nhuận khác là khoản lợi nhuận mà doanh nghiệp không dự tính trước hoặc có dự tính đến nhưng ít có khả năng thực hiện hay là những khoản lợi nhuận này không mang tính chất thường xuyên.
Việc xem xét cấu của lợi nhuận có ý nghĩa quan trọng trong việc cho ta thấy được các hoạt động tạo ra lợi nhuận. Từ đó, đánh giá kết quả của từng hoạt động, tìm ra các mặt tích cực cũng như tồn tại trong từng hoạt động, đề ra các giải pháp kinh doanh tập trung vốn một cách hợp lý và tối ưu nhằm khai thác triệt để tiềm năng của hoạt động kinh doanh. Từ những đánh giá, phân tích doanh nghiệp có quyết định đầu tư tối ưu cho các hoạt động nhằm mang lại tổng lợi nhuận cao nhất có thể đạt được.
2
1.1.3. Ý nghĩa của lợi nhuận
1.1.3.1. Đối với bản thân doanh nghiệp
Lợi nhuận của doanh nghiệp có ý nghĩa rất lớn đối với toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, vì lợi nhuận có tác động đến mọi hoạt động và có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Khi nhìn nhận đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp chỉ tiêu đầu tiên cần phải quan tâm đó là lợi nhuận, lợi nhuận cao
chứng tỏ doanh nghiệp đó hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả tốt và ngược lại. Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh được thể hiện qua các yếu tố chính là mức nộp ngân sách nhà nước, đời sống cán bộ nhân viên và mở rộng sản xuất kinh doanh.
Mục đích sau cùng của doanh nghiệp là tăng lợi nhuận và giảm chi phí, mục đích của người lao động là có thu nhập cao. Mà thu nhập của người lao động, công nhân viên lại là chi phí của doanh nghiệp. Điều này không hoàn toàn là mâu thuẫn bởi khi
doanh nghiệp bỏ tiền ra thuê sức lao động là thực hiện đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Chi phí thuê lao động sẽ được bù đắp ở kết quả lao động, năng suất lao động được cải thiện là điều kiện để doanh nghiệp tăng lợi nhuận. Khi doanh nghiệp có lợi nhuận, nó sẽ là nguồn tích lũy quan trọng để doanh nghiệp bổ xung vốn cố định và vốn lưu động, tạo điều kiện để mở rộng sản xuất kinh doanh và bù đắp những thiệt hại trong kinh doanh. Sử dụng các nguồn vốn do lợi nhuận để lại
giúp doanh nghiệp mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới quy trình công nghệ và cũng chính từ nguồn vốn này mà doanh nghiệp không ngừng nâng cao đời sống cán bộ nhân viên về mọi mặt, là đòn bẩy kích thích người lao động đóng góp cho doanh nghiệp, từ đó thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
Không những thế, lợi nhuận khẳng định vị trí của doanh nghiệp trên thương trường. Doanh nghiệp có lợi nhuận cao chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả,
sử dụng vốn kinh doanh hợp lý, trình độ quản lý tốt, kỹ năng, tay nghề của nhân viên có trình độ cao, đưa ra thị trường ngày càng nhiều sản phẩm chất lượng cao, giá cả hợp lý. Nhờ vậy mà uy tín, thế lực của doanh nghiệp ngày càng tăng cao và được khách hàng, đối tác tín nhiệm, từ đó hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng thuận lợi, hàng hóa tiêu thụ nhanh hơn và doanh nghiệp sẽ dễ dàng huy động vốn bằng cách sử dụng các công cụ tài chính nhằm mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.1.3.2. Đối với xã hội
Lợi nhuận của doanh nghiệp của doanh nghiệp không chỉ là một bộ phận của thu nhập thuần túy của doanh nghiệp mà đồng thời là nguồn thu quan trọng của ngân sách cho Nhà nước thông qua việc thu thuế thu nhập doanh nghiệp nhờ vậy mà nhà nước có nguồn vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo dựng môi trường kinh doanh tốt hơn cho doanh nghiệp và góp phần hoàn thành những chỉ tiêu kinh tế – xã hội của đất nước.
3
Trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, lợi nhuận là nguồn tích lũy cơ bản
để tái sản xuất nền kinh tế xã hội. Mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế, thực hiện tái sản xuất mở rộng nhờ vốn tích lũy được từ lợi nhuận, với lợi nhuận cao lượng tích lũy sẽ lớn và tái sản xuất mở rộng sẽ được thực hiện một cách dễ dàng, từ đó làm cho nền kinh tế ngày càng phát triển. Phần lợi nhuận mà doanh nghiệp đóng cho nhà nước sẽ được dùng để xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các công trình phúc
lợi xã hội, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động nhằm nâng cao đời sống cho nhân dân, xây dựng xã hội ngày càng phát triển, văn minh.
Thông qua việc thu thuế từ lợi nhuận mà doanh nghiệp tạo ra, việc sử dụng những khoản thu đó là một trong những thước đo phản ánh tính hiệu quả của các chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước. Các chính sách vĩ mô đúng đắn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hoạt động tốt hơn, do đó sẽ
cho phép doanh nghiệp nâng cao được lợi nhuận từ các hoạt động của mình. Ngược lại, nếu chính sách vĩ mô không phù hợp, tác động tiêu cực tới hoạt động của doanh nghiệp sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp, gây thua lỗ hay ảnh hưởng không tốt tới lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được.
1.2. Phƣơng pháp xác định lợi nhuận và các chỉ tiêu lợi nhuận trong doanh nghiệp
1.2.1. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Công thức xác định lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh:
-
Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh = Doanh thu thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh Chi phí từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong đó doanh thu thuần hoạt động sản xuất kinh doanh được xác định:
- Thuế phải nộp
Doanh thu thuần = Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ - Các khoản giảm trừ doanh thu (nếu có)
Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, doanh thu bán hàng cũng như trị giá nguyên vật liệu mua vào để sản xuất ra thành phẩm đem bán đều được hạch toán không bao gồm thuế GTGT. Phần thuế GTGT này dùng để khấu trừ với số thuế GTGT đầu ra của trị giá nguyên vật liệu mà doanh nghiệp đã mua vào dùng để sản xuất. Nếu thuế suất thuế GTGT ghi trên hoá đơn mua vào cao hơn thuế suất đã được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT thì khấu trừ thuế đầu vào
theo thuế suất quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT.
Với doanh nghiệp hạch toán thuế GTGT trực tiếp, thuế phải nộp theo phương pháp trực tiếp không phải thuế gián thu, số thuế phải nộp sẽ trừ vào doanh thu thuần cuối kỳ để xác định kết quả kinh doanh. Thuế phải nộp theo phương pháp khấu trừ được theo dõi riêng nên không ảnh hưởng đến doanh thu thuần cuối kỳ vì thế tính thuế
4
theo phương pháp trực tiếp sẽ có hiện tượng đánh trùng thuế. Tính thuế GTGT theo
phương pháp trực tiếp thường được áp dụng đối với những cơ sở kinh doanh không có tư cách pháp nhân, những cơ sở kinh doanh hộ gia đình,….và sử dụng hóa đơn bán hàng thông thường (không tính thuế) để hạch toán.
Cách xác định cụ thể các khoản mục:
Doanh thu thuần: là chênh lệch giữa tổng doanh thu với các khoản giảm trừ
doanh thu và thuế phải nộp (nếu có).
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được xác định dựa theo giá trị hợp lý
của các khoản đã thu được bằng tiền hoặc sẽ thu được tiền từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh như như bán sản phẩm, hàng hóa, bất động sản đầu tư, cung cấp dịch vụ.
Các khoản giảm trừ doanh thu gồm:
Chiết khấu thương mại: Là các khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết
sản phẩm, dịch vụ cho khách hàng mua hàng với số lượng lớn.
Giảm giá hàng bán: Là số tiền giảm trừ cho khách hàng ngoài hóa đơn hay hợp
đồng cung cấp dịch vụ do các nguyên nhân đặc biệt như hàng kém chất lượng, không đúng quy cách… Ngoài ra sản phẩm, dịch vụ được giảm giá do ưu tiên cho khách hàng có quan hệ lâu năm với doanh nghiệp mua số lượng lớn hoặc đang trong dịp khuyến mại.
Hàng bán bị trả lại: là giá trị của số sản phẩm, hàng hoá bị khách hàng trả lại
do các nguyên nhân như vi phạm cam kết, vi phạm hợp đồng kinh tế, hàng bị kém, mất phẩm chất, không đúng chủng loại, quy cách mẫu mã.
Các khoản thuế phải nộp (nếu có): thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu,
thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp được tính trên doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thực tế mà doanh nghiệp đã thực hiện trong một kỳ kế toán,.
Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh được xác định:
lý + Chi phí bán hàng
Chi phí sản xuất kinh doanh = Giá vốn hàng bán + Chi phí quản doanh nghiệp
Cụ thể:
Giá vốn hàng bán: là trị giá vốn của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, bất động sản
đầu tư; giá thành sản xuất của sản phẩm bán trong kỳ. Ngoài ra, trong giá vốn hàng bán còn bao gồm tất cả các khoản chênh lệch giữa dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập ở cuối niên độ kế toán năm nay lớn hơn so với năm trước, các khoản hao hụt,
mất mát của hàng tồn kho sau khi đã trừ phần bồi thường do các tác nhân gây ra và chi phí sản xuất chung phân bổ được ghi nhận là chi phí sản xuất kinh doanh trong kì.
5
Trường hợp khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho được lập ở cuối niên dộ kế toán
năm nay nhỏ hơn năm trước thì chênh lệch lớn hơn phải được ghi vào khoản giảm giá vốn hàng bán.
Giá vốn hàng bán đối với doanh nghiệp sản xuất: là giá thành sản xuất sản phẩm,
lao vụ, tiêu thụ trong kỳ bao gồm:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Chi phí nhân công trực tiếp.
Chi phí tiêu hao hoạt lực, máy móc.
Chi phí sản xuất chung.
Giá vốn hàng bán với doanh nghiệp thương mại: là chi phí mua hàng hóa từ nhà
sản xuất để tiêu thụ trong kỳ bao gồm:
Giá mua hàng hóa từ nhà cung cấp tiêu thụ trong kì.
Chi phí phát sinh trong quá trình mua hàng như: chi phí vận chuyển, bốc dỡ,
đóng gói bao bì… phân bổ cho hàng hóa tiêu thụ trong kì.
Chi phí quản lý doanh nghiệp: là chi phí biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao
phí có liên quan đến việc tổ chức, quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý hành chính của doanh nghiệp. Trong điều kiện bình thường, những khoản chi phí này tương đối ổn định qua các kỳ kinh doanh. Tuy nhiên, chi phí này cũng được phân bổ tương xứng với lượng hàng hóa tiêu thụ trong kỳ. Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm:
Chi phí nhân viên quản lý: gồm các khoản tiền lương, tiền công phải trả trực
tiếp cho nhân viên quản lý và các khoản trích theo lương theo quy định.
Chi phí vật liệu quản lý: chi phí vật liệu xuất dùng cho công tác quản lý
doanh nghiệp như văn phòng phẩm,… vật liệu sử dụng cho việc sửa chữa cho bộ phận quản lý.
Chí phí đồ dùng văn phòng: chi phí dụng cụ, đồ dùng văn phòng dùng cho
công tác quản lý.
Chi phí khấu hao TSCĐ: Phản ánh chi phí khấu hao TSCĐ dùng chung cho doanh nghiệp như nhà cửa làm việc của các phòng ban, kho tàng, vật kiến
trúc, phương tiện vận tải truyền dẫn, máy móc thiết bị quản lý dùng trên văn phòng, ...
Thuế phí và lệ phí: chi phí về thuế, phí và lệ phí như: thuế môn bài, tiền thuê
đất,... và các khoản phí, lệ phí khác.
6
Chi phí dự phòng: Phản ánh các khoản dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng
phải trả tính vào chi phí sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Chi phí dịch vụ mua ngoài: các chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ cho công
tác quản lý doanh nghiệp; các khoản chi mua và sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế,... (Không đủ tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ) được tính
theo phương pháp phân bổ dần vào chi phí quản lý doanh nghiệp; tiền thuê TSCĐ, chi phí trả cho nhà thầu phụ.
Chi phí bằng tiền khác: các chi phí khác thuộc quản lý chung của doanh
nghiệp, ngoài các chi phí đã kể trên, như: Chi phí hội nghị, tiếp khách, công tác phí, tàu xe, khoản chi cho lao động nữ.
Chi phí bán hàng: là chi phí biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí phát
sinh trong quá trình bán sản phẩm hàng hóa, cung cấp dịch vụ và các chi phí cần thiết khác trong kỳ của doanh nghiệp. Chi phí bán hàng bao gồm:
Chi phí nhân viên: là các khoản phải trả cho nhân viên bán hàng, nhân viên
đóng gói, vận chuyển, bảo quản sản phẩm, hàng hoá,... bao gồm tiền lương, tiền ăn giữa ca, tiền công và các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn,...
Chi phí vật liệu, bao bì: các chi phí vật liệu, bao bì xuất dùng cho việc giữ gìn, tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, như chi phí vật liệu đóng gói sản
phẩm, hàng hoá, chi phí vật liệu, nhiên liệu dùng cho bảo quản, vận chuyển sản phẩm, hàng hoá trong quá trình tiêu thụ, vật liệu dùng cho sửa chữa, bảo quản TSCĐ,... dùng cho bộ phận bán hàng.
Chí phí dụng cụ, đồ dùng: chi phí về công cụ, dụng cụ phục vụ cho quá trình
tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá như dụng cụ đo lường, phương tiện tính toán, phương tiện làm việc.
Chi phí khấu hao TSCĐ: chi phí khấu hao TSCĐ ở bộ phận bảo quản, bán
hàng, như nhà kho, cửa hàng, bến bãi, phương tiện bốc dỡ, vận chuyển, phương tiện tính toán, đo lường, kiểm nghiệm chất lượng.
Chi phí bảo hành: các khoản chi phí bảo hành sản phẩm, hàng hoá đã cam
kết trong hợp đồng như cho phí sửa chữa, thay thế linh kiện hư hỏng.
Chi phí dịch vụ mua ngoài: Phản ánh các chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ
cho bán hàng như chi phí thuê ngoài sửa chữa TSCĐ phục vụ trực tiếp cho khâu bán hàng, tiền thuê kho, thuê bãi, vận chuyển sản phẩm, tiền trả hoa
hồng cho đại lý bán hàng, cho đơn vị nhận uỷ thác xuất khẩu.
7
Chi phí bằng tiền khác: các chi phí bằng tiền khác phát sinh trong khâu bán
hàng ngoài các chi phí đã kể trên như chi phí tiếp khách ở bộ phận bán hàng, chi phí giới thiệu sản phẩm, hàng hoá, quảng cáo, chào hàng, chi phí hội
nghị khách hàng.
Về bản chất, chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng không làm tăng thêm giá trị sử dụng của hàng hóa. Nó là những chi phí phục vụ gián tiếp cho sản xuất kinh doanh không được tiến hành một cách liên tục. Hai loại chi phí này được xem là chi phí thời kỳ, chi phí làm giảm trực tiếp lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp.
1.2.2. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính
Ngoài lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp còn tham gia vào hoạt động tài chính nhằm mục đích sử dụng hiệu quả đồng vốn, tăng thu nhập và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận hoạt động tài chính được xác định theo công thức sau:
= Doanh thu hoạt động - Chi phí hoạt động
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính tài chính tài chính
Doanh thu hoạt động tài chính bao gồm các khoản sau:
Tiền lãi: Lãi cho vay, lãi tiền gửi Ngân hàng, lãi bán hàng trả chậm, trả góp,
lãi đầu tư trái phiếu, tín phiếu, cổ tức lợi nhuận được chia.
Thu nhập về hoạt động đầu tư mua, bán chứng khoán ngắn hạn, dài hạn.
Thu nhập về thu hồi hoặc thanh lý các khoản vốn góp liên doanh, đầu tư vào
công ty liên kết, đầu tư vào công ty con, đầu tư vốn khác.
Thu cho thuê tài chính tài sản cố định.
Thu nhập về các hoạt động đầu tư khác.
Lãi tỷ giá hối đoái.
Chênh lệch lãi do bán ngoại tệ.
Chênh lệch lãi chuyển nhượng vốn.
Các khoản doanh thu hoạt động tài chính khác.
Chi phí hoạt động tài chính bao gồm các khoản sau:
Chi phí lãi tiền vay, lãi mua hàng trả chậm, lãi thuê tài sản thuê tài chính.
Chi phí góp vốn liên doanh, liên kết.
Lỗ bán ngoại tệ.
Chiết khấu thanh toán cho người mua.
Các khoản lỗ do thanh lý, nhượng bán các khoản đầu tư.
8
Lỗ tỷ giá hối đoái phát sinh trong kỳ của hoạt động kinh doanh.
Lỗ tỷ giá hối đoái do đánh giá lại cuối năm tài chính các khoản mục tiền tệ
có gốc ngoại tệ của hoạt động kinh doanh.
Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán.
Trong các doanh nghiệp thì hầu như lợi nhuận từ hoạt động tài chính không chiếm tỉ lệ cao trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp nhưng nó cũng đóng vai trò khá quan trọng góp phần nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp trong mỗi kì kinh doanh.
Doanh nghiệp luôn tìm mọi cách để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp bằng rất nhiều hình thức đầu tư. Do đó hoạt động đầu tư tài chính được các nhà quản trị rất quan tâm, nếu thực sự quản lý tốt và đầu tư tài chính có hiệu quả thì lợi nhuận mang lại từ hoạt động tài chính sẽ chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.2.3. Lợi nhuận khác
Lợi nhuận khác thường là những khoản lãi phát sinh không thường xuyên, doanh nghiệp không dự kiến trước nhưng ít có khả năng thực hiện được. Những khoản lợi nhuận khác có thể do chủ quan hoặc khách quan mang đến. Lợi nhuận khác được xác định theo công thức:
Lợi nhuận khác = Thu nhập khác - Chi phí khác
Thu nhập khác của doanh nghiệp bao gồm:
Thu nhập từ nhượng bán, thanh lý TSCĐ.
Chênh lệch lãi do đánh giá lại vật tư, hàng hoá, tài sản cố định đưa đi góp
vốn liên doanh, đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư dài hạn khác.
Thu nhập từ nghiệp vụ bán và thuê lại tài sản.
Thu tiền được phạt do khách hàng vi phạm hợp đồng.
Thu các khoản nợ khó đòi đã xử lý xoá sổ.
Các khoản thuế được ngân sách nhà nước hoàn lại.
Thu các khoản nợ phải trả không xác định được chủ.
Các khoản tiền thưởng của khách hàng liên quan đến tiêu thụ hàng hoá, sản
phẩm, dịch vụ không tính trong doanh thu.
Thu nhập quà biếu, quà tặng bằng tiền, hiện vật của các tổ chức, cá nhân
tặng cho doanh nghiệp.
Các khoản thu nhập khác ngoài các khoản nêu trên.
9
Chi phí khác của doanh nghiệp bao gồm:
Chi phí thanh lý, nhượng bán TSCĐ và giá trị còn lại của TSCĐ thanh lý và
nhượng bán TSCĐ.
Chênh lệch lỗ do đánh giá lại vậu tư, hàng hoá, TSCĐ đưa đi góp vốn liên
doanh, đầu tư vào công ty liên kết, đầu tư dài hạn khác.
Tiền phạt do vi phạm hợp đồng kinh tế.
Bị phạt thuế, truy nộp thuế.
Chi cho việc thu hồi các khoản nợ thu khó đòi đã xóa sổ kế toán.
Các khoản chi phí do kế toán ghi nhầm hay bỏ sót khi vào sổ.
Các khoản chi phí khác.
Lợi nhuận khác thường chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp. Lợi nhuận hoạt động này thường rất khó dự báo trước do vậy việc nâng cao lợi nhuận này không phải mục tiêu hàng đầu trong doanh nghiệp. Để nâng cao lợi nhuận khác các doanh nghiệp thường có xu hướng tìm cách giảm các khoản chi phí khác hơn là làm tăng thu nhập khác.
Như vậy, tổng hợp lại ta có lợi nhuận trước thuế thuế thu nhập doanh nghiệp và
được tính như sau:
Lợi nhuận trƣớc thuế TNDN = Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh + Lợi
nhuận từ hoạt động tài chính + Lợi nhuận khác
Sau đó ta có thế xác định lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp trong kỳ như sau:
Thuế TNDN = Tổng lợi nhuận tính thuế x Thuế suất thuế TNDN
Lợi nhuận sau thuế TNDN = Lợi nhuận trƣớc thuế TNDN – Thuế TNDN
1.2.4. Các chỉ tiêu về lợi nhuận
Lợi nhuận là mục tiêu của doanh nghiệp và đồng thời cũng là hệ quả của các quyết định quản trị, thể hiện hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các tỷ suất lợi
nhuận đo lường mối quan hệ giữa lợi nhuận ròng đói với doanh thu thuần, tổng tài sản có và vốn riêng của doanh nghiệp.
Để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần xác định tỷ lệ sinh lợi hay tỷ suất lợi nhuận. Đây là nhóm chỉ tiêu phản ánh tổng hợp nhất hiệu quả sản xuất kinh doanh và hiệu năng quản lý của doanh nghiệp. Tỷ suất lợi nhuận cao cho thấy cho ta thấy hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả và ngược lại. Hơn nữa, tỷ
suất lợi nhuận cho thấy rõ hai mặt của doanh nghiệp, một mặt là tổng số lợi nhuận tạo được do các hoạt động mang lại cao hay thấp. Hai là số lợi nhuận tạo ra do các tác động của chi phí cao hay thấp.
10
Do yêu cầu nghiên cứu phân tích và đánh giá khác nhau của từng loại doanh
nghiệp mà có phương pháp tính tỷ suất lợi nhuận khác nhau. Tuy nhiên, nhóm chỉ tiêu này của doanh nghiệp bao gồm 3 chỉ số cơ bản chung là: Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS).
1.2.4.1. Tỷ suất lợi nhuận thuần trên doanh thu (ROS)
Tỷ suất này phản ánh cứ một đồng doanh thu thuần thì có bao đồng lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được trong đó. Có thể sử dụng nó để so sánh với tỷ số của các năm trước hay so sánh với các doanh nghiệp khác. Đây là chỉ tiêu tương đối phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế với doanh thu thuần của doanh nghiệp đạt được trong kỳ. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu được xác định bằng cách:
Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS) = Doanh thu thuần
Sự biến động của tỷ số này phản ảnh sự thay đổi về hiệu quả hay ảnh hưởng của các chiến lược tiêu thụ, nâng cao chất lượng sản phẩm. Tỷ suất này cao, hiệu quả sản
xuất kinh doanh càng cao. Nếu một doanh nghiệp có tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu cao hơn năm trước thì lợi nhuận của doanh nghiệp tăng với tốc độ lớn hơn doanh thu, điều đó chứng tỏ các chiến lược kinh doanh tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp này đạt kết quả tốt hơn và ngược lại.
Khi so sánh tỷ suất này của doanh nghiệp với chung toàn ngành, mà tỷ suất lợi nhuận lại thấp hơn chứng tỏ doanh nghiệp bán hàng với giá thấp hơn hoặc chi phí sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp cao hơn so với các doanh nghiệp khác cùng ngành khiến cho lợi nhuận bị giảm xuống, đòi hỏi doanh nghiệp phải phân tích và tìm biện pháp giảm các khoản chi phí để nâng cao tỷ lệ lợi nhuận.
1.2.4.2. Tỷ suất lợi nhuận thuần trên tổng tài sản (ROA)
Tỷ suất này cho biết cứ một đồng tài sản mà doanh nghiệp dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Công thức xác định tỷ suất
lợi nhuận trên tổng tài sản như sau:
Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) = Tổng tài sản
Đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất để dùng để đánh giá khả năng sinh lời của một đồng vốn đầu tư của doanh nghiệp. Nó thể hiện việc quản lý tài sản, phân phối và sản xuất có hiệu quả hay không. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản
tốt, đó là nhân tố giúp nhà quản trị đầu tư theo chiều rộng như xây dựng nhà xưởng, mua thêm máy móc thiết bị. Hệ số ROA thường có chênh lệch giữa các ngành. Những
11
ngành sản xuất, chế tạo, xây dựng, vận tải,… thường có ROA nhỏ hơn so với cách
ngành không phải đầu tư vào tài sản như ngành dịch vụ, thương mại, quảng cáo…
Ngoài ra ROA cũng được xác định bằng công thức sau:
Lợi nhuận trƣớc thuế + Lãi vay ROA = Tổng tài sản
Chỉ tiêu ROA theo công thức trên được xác định bằng cách chia lợi nhuận trước
thuế và lãi vay (EBIT) cho tổng tài sản. Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên tài sản dựa theo công thức trên phản ánh cứ một đồng tài sản dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ tạo ra mấy đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Tùy vào tính hình cụ thể của doanh nghiệp mà chọn lợi nhuận sau thuế hay lợi nhuận trước thuế và lãi vay chia cho tổng tài sản để phân tích.
Phân tích chỉ tiêu ROA theo phương pháp phân tích Dupont
Tỷ suất lợi nhuận của tài sản biểu hiện mối quan hệ mật thiết giữa tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần (ROS) và vòng quay của tổng tài sản. Thực vậy, từ công thức tính tỷ suất lợi nhuận của tổng tài sản có thể suy ra mối quan hệ đó bằng công thức khai triển dưới đây:
Lợi nhuận sau thuế Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần ROA = = x Tổng tài sản Doanh thu thuần Tổng tài sản
ROA = Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần (ROS) x Số vòng quay tài sản
Từ công thức khai triển trên có thể thấy được các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của tài sản. Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu càng cao thì lợi nhuận trên
tài sản càng tăng. Để có thể tăng được ROS thì doanh nghiệp cần nghiên cứu những biện pháp nhằm tăng doanh thu và quan trọng hơn là giảm chi phí để tăng lợi nhuận đạt được. Số vòng quay tài sản cũng là nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lời trên tài sản. Cụ thể, nếu doanh thu thuần lớn và tổng tài sản nhỏ thì số vòng quay lớn. Trong thực tế, hai chỉ tiêu này thường có mối quan hệ cùng chiều, khi tổng tài sản tăng thì doanh thu thuần cũng tăng, ví dụ như khi doanh nghiệp nới lỏng chính sách tín dụng
thương mại giúp doanh nghiệp bán được nhiều hàng hơn dẫn đến khoản phải thu khách hàng tăng từ đó tăng doanh thu thuần. Muốn tăng số vòng quay tài sản doanh nghiệp cần phân tích các nhân tố liên quan để đưa ra được những mặt lợi và hại nhằm nâng cao số vòng quay của tài sản thích hợp.
1.2.4.3. Tỷ suất lợi nhuận thuần trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Tỷ suất này cho biết cứ một đồng vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp bỏ ra trong
kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ suất này cũng cho biết mức độ hiệu quả
12
của doanh nghiệp trong việc tạo ra thu nhập cho những cổ đông của họ. Công thức xác
định tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu như sau:
Lợi nhuận sau thuế Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) = Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ việc sử dụng vốn chủ sở hữu đạt hiệu quả, có nghĩa là doanh nghiệp đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông, lợi nhuận để lại và phần vốn vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình huy động vốn để mở rộng doanh nghiệp. Phân tích chỉ tiêu ROE góp phần nâng cao khả năng đầu tư của doanh nghiệp, giúp nhà quản trị có quyết định đúng đắn để tăng vốn
chủ sở hữu phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh. Trên hết, đây là hệ số quan trọng nhất đối với các cổ đông nắm giữ các cổ phần thường, nó cho thấy khả năng sinh lợi trên vốn đầu tư của họ trong công ty. Nếu ROE của doanh nghiệp cao sẽ giúp thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia góp vốn, giá mỗi cổ phiếu sẽ lên cao. Ngược lại, ROE của doanh nghiệp thấp và giảm qua các năm thì sẽ khó có thể thu hút vốn đầu tư, doanh nghiệp sẽ khó khăn hơn trong việc mở rộng kinh doanh.
Phân tích chỉ tiêu ROE theo phương pháp phân tích Dupont
Tỷ suất sinh lợi của vốn chủ sở hữu phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa tỷ suất sinh lợi của trên doanh thu thuần với vòng quay tài sản và hệ số tài sản trên vốn chủ sở hữu. Ta có thể thấy rõ mối quan hệ này thông qua công thức sau đây:
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần Tổng tài sản ROE = x x Doanh thu thuần Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu
ROE = ROS x Số vòng quay tài sản x Hệ số Tài sản/ Vốn chủ sở hữu
Muốn thay đổi giá trị của ROE ta phải tìm cách thay đổi giá trị của các tỷ số thành phần. Hay nói một cách rõ ràng hơn để tăng ROE, doanh nghiệp có 3 sự lựa
chọn cơ bản để tăng chỉ tiêu ROE. Một là, doanh nghiệp có thể gia tăng khả năng cạnh tranh, nhằm nâng cao doanh thu và đồng thời tiết giảm chi phí, nhằm gia tăng lợi nhuận. Hai là, doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách sử dụng tốt hơn các tài sản sẵn có của mình, nhằm nâng cao vòng quay tài sản. Ba là doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách vay nợ thêm vốn để đầu tư và giảm bớt vốn chủ sở hữu cho phù hợp với năng lực hoạt động hay nói cách khác là sự
dụng hiệu quả đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp. Như vậy, trên cơ sở nhận diện các nhân tố sẽ giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác định và tìm biện pháp khai thác các yếu tố tiềm năng để tăng tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu, góp phần làm tăng hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp.
13
1.3. Các nhân tố ảnh hƣởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp
Lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp do vậy nó chịu sự tác động của rất nhiều nhân tố, ngoài các nhân tố bên trong có thể thấy rõ là doanh thu và chi phí tác động đến lợi nhuận mà còn có những nhân tố bên ngoài không thuộc tầm kiểm soát của doanh nghiệp. Tất cả những nhân tố đó có thể tác động có lợi hoặc bất lợi đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc nhận thức được tính chất, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh là bản chất của vấn đề phân tích kinh tế và chỉ trên cơ sở đó ta mới có căn cứ khoa học để đánh giá chính xác, cụ thể công tác của doanh nghiệp. Từ đó các nhà quản lý sẽ đưa ra được những quyết định thích hợp để tăng cường, khai thác các nhân tố làm tăng, thúc đẩy sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao và làm giảm, loại bỏ tác động nhân tố làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Thông thường người ta thường
chia các nhân tố ảnh hưởng tới lợi nhuận thành hai nhóm: nhóm nhân tố khách quan và nhóm nhân tố chủ quan.
1.3.1. Nhân tố khách quan
1.3.1.1. Chính sách kinh tế của Nhà nước
Vai trò chủ đạo của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường được thể hiện thông qua việc điều tiết các chính sách hoạt động kinh tế vĩ mô. Nhà nước định hướng,
khuyến khích hay hạn chế hoạt động của các tổ chức kinh tế nói chung và doanh nghiệp nói riêng bằng các chính sách luật lệ và các công cụ tài chính. Trong đó thuế là công cụ giúp cho Nhà nước thực hiện tốt công việc điều tiết vĩ mô của mình. Thuế và các chính sách kinh tế khác như lãi suất, quy chế quản lý và bảo hộ của Nhà nước đều ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề đầu tư, tiêu dùng xã hội, giá cả hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Vì vậy nó tác động rất lớn đến mọi hoạt động của doanh nghiệp và ảnh hưởng
đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
Yếu tố lạm phát cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc hoạch định chiến lược và sách lược kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu lạm phát gia tăng sẽ làm tăng giá cả và yếu tố đầu vào, kết quả dẫn tới sẽ làm tăng giá thành và tăng giá bán. Nhưng tăng giá bán lại khó cạnh tranh với cái doanh nghiệp khác trên thị trường. Mặt khác, khi có yếu tố lạm phát tăng cao, thì thu nhập thực tế của người dân lại giảm đáng kể và điều này lại dẫn
tới làm giảm sức mua và nhu cầu thực tế của người tiêu dùng. Nói cách khác khi có yếu tố lạm phát tăng cao thì thường khó bán được hàng hóa dẫn tới thiếu hụt tài chính cho sản xuất kinh doanh, việc tổ chức thực hiện chiến lược kinh doanh khó thực thi được. Vì vậy việc dự đoán chính xác yếu tố lạm phát là rất quan trọng trong điều kiện nước ta hiện nay. Nhà nước cần có phải có những chính sách để điều hành, kiềm chế lạm phát tới mức tối thiểu để yếu tố này không làm ảnh hưởng tới nền kinh tế xã hội.
14
Khi Nhà nước ban hành các chính sách thuế, tín dụng, bình ổn lạm phát đơn giản
thủ tục hành chính…giúp khuyến khích đầu tư tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh một cách thuận lợi hơn. Một chính sách hợp lý của chính phủ vừa thúc đẩy đầu tư trong nền kinh tế vừa giúp cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định. Ngược lại nếu chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước bất hợp lý, không hiệu quả không những kìm hãm các doanh nghiệp phát triển mà còn làm toàn bộ nền kinh tế
lâm vào tình trạng khó khăn.
1.3.1.2. Ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ
Nhờ có sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, với việc áp dụng mau lẹ những thành tựu về khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh cho phép các doanh nghiệp hạ giá thành sản phẩm, nâng cao lợi nhuận và thành công trong kinh doanh. Nhất là trong điều kiện hiện nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển hết sức
mạnh mẽ, các máy móc thiết bị được dùng vào sản xuất hết sức hiện đại thay thế nhiều lao động nặng nhọc của con người. Ngày nay, thế giới đang đi vào cuộc cách mạng công nghệ mới (như vi tính điện tử, tin học, sinh học, vật liệu mới) đã làm thay đổi nhiều điều kiện cơ bản của sản xuất như việc tiêu tốn nguyên vật liệu để sản xuất ra sản phẩm ngày càng ít, nhiều loại vật liệu mới ra đời, lượng lao động dùng vào sản xuất cũng giảm bớt do áp dụng tự động hoá và công nghệ mới. Khi doanh nghiệp chú
trọng vào việc đầu tư thiết bị máy móc công nghệ cao, hiện đại vào sản xuất và quản lý sẽ làm tăng hiệu quả của quá trình sản xuất, giảm chi phí, hạ giá thành, tăng sản lượng... làm cho doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp tăng theo.
1.3.1.3. Quan hệ cung cầu và sự cạnh tranh
Quan hệ cung cầu ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng hàng hóa bán ra của doanh nghiệp. Nếu cung lớn hơn cầu chứng tỏ nhu cầu về mặt hàng kinh doanh đã được đáp
ứng tương đối đầy đủ, người tiêu dùng không còn mặn mà tiêu dùng mặt hàng đó nữa cho dù doanh nghiệp có biện pháp khuyến khích mua hàng. Lúc này việc tăng khối lượng hàng hóa bán ra rất khó khăn và dẫn đến lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ giảm. Ngược lại trong trường hợp cung nhỏ hơn cầu chứng tỏ mặt hàng của doanh nghiệp đang được thị trường quan tâm và yêu thích hay doanh nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu của khác hàng trên thị trường. Lúc này, doanh nghiệp nên tăng lượng hàng hóa,
dịch vụ bán ra sẽ thu được lợi nhuận một cách dễ dàng hơn.
Kinh doanh trên thị trường là sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp với nhau nhất là các đối thủ trong cùng ngành. Nếu doanh nghiệp có đối thủ cạnh tranh mạnh thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Bởi vì doanh nghiệp lúc này chỉ có thể nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm để đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ, tăng doanh thu, yêu
15
cầu doanh nghiệp phải tổ chức lại bộ máy hoạt động phù hợp tối ưu hơn, hiệu quả hơn
để tạo cho doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh về giá cả, chất lượng, chủ loại, mẫu mã... Như vậy đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp đồng thời tạo ra sự tiến bộ trong kinh doanh, tạo ra động lực phát triển của doanh nghiệp. Việc xuất hiện càng nhiều đối thủ cạnh tranh thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sẽ càng khó khăn và lợi nhuận của
doanh nghiệp sẽ bị giảm một cách tương đối.
1.3.1.4. Sự biến động của thị trường tiền tệ và lãi suất
Sự biến động giá trị tiền tệ cũng là nhân tố khách quan ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi giá trị tiền trong nước thay đổi thì tỷ giá hối đoái giữa ngoại tệ với đồng nội tệ sẽ biến động tăng hoặc giảm, và điểu đó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu. Tỷ giá hối
đoái tăng thì lợi nhuận của nhà xuất khẩu tăng nhưng lợi nhuận của nhà nhập khẩu lại giảm và ngược lại. Đa số các doanh nghiệp có mối quan hệ trên thương trường quốc tế, nếu không là đầu tư với nước ngoài thì cũng phải mua nguyên vật liệu, hàng hóa hoặc máy móc từ nước ngoài. Tỷ giá hối đoái chiếm vị trí trung tâm trong những tác động lên các hoạt động này và nhất là nó ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành và giá bán sản phẩm của doanh nghiệp. Vì thế, việc dự báo tỷ giá hối đoái là rất quan trọng trong
việc hoạch định và tổ chức thực hiện các hoạt động quản trị kinh doanh nói chung và các chiến lược cùng sách lược quản trị kinh doanh nói riêng.
Lãi suất cũng là một tác nhân trực tiếp làm tăng chi phí tài chính tác động đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Khi lãi suất cho vay tăng làm chi phí kinh doanh, sản xuất tăng làm cho doanh nghiệp buộc phải tăng giá bán hàng hóa, dịch vụ, lượng tiêu thụ sẽ giảm từ đó lợi nhuận cũng sẽ giảm. Lãi suất cũng là một yếu tố thúc đẩy kinh doanh có
hiệu quả của các doanh nghiệp, bù đắp chi phí và đem lại cho lợi nhuận cho người cho vay. Doanh nghiệp vay vốn của cá nhân hay ngân hàng phải hoàn trả đúng kì hạn cả vốn lẫn lãi. Vì vậy, muốn đảm bảo có nguồn vốn trả nợ, doanh nghiệp phải cố gắng kinh doanh tốt, tạo doanh thu và lợi nhuận đảm bảo khả năng trả nợ đúng hạn.
1.3.1.5. Nhà cung cấp
Nhà cung cấp là người cung cấp cho doanh nghiệp các nguyên vật liệu, sản phẩm
tới doanh nghiệp sản xuất và nhà phân phối. Từ đó, doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ tới khách hàng. Vì thế nó tác động đến giá thành sản phẩm, tính liên tục và hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh. Nếu thị trường các yếu tố đầu vào có sự tham gia của nhiều nhà cung cấp, doanh nghiệp có thể chủ động được nguyên liệu đầu vào, không bị phụ thuộc vào một nhà cung cấp nào. Đồng thời tại một thị trường có sự cạnh tranh thì mức giá bán mà các nhà cung cấp đưa ra sẽ là mức giá thị trường. Nếu
16
chỉ có một nhà cung cấp trên thị trường thì doanh nghiệp sẽ không chủ động được
nguồn hàng và phải phụ thuộc vào nhà cung cấp, do đó nhà cung cấp có thể sẽ tự ý đẩy giá lên cao làm tăng chi phí của doanh nghiệp, đồng thời do độc quyền về sản phẩm, nhà cung cấp hàng không đúng thời gian làm gián đoạn quá trình sản xuất sản phẩm, từ đó phát sinh thêm nhiều chi phí khác dẫn tới lợi nhuận của doanh nghiệp giảm.
1.3.2. Nhân tố chủ quan
1.3.2.1. Quy mô của doanh nghiệp
Các doanh nghiệp cùng loại, nếu quy mô vốn, sản xuất khác nhau thì lợi nhuận thu được cũng khác nhau. Ở những doanh nghiệp lớn hơn nếu công tác quản lý kém nhưng lợi nhuận thu được vẫn có thể lớn hơn những doanh nghiệp có quy mô nhỏ và công tác quản lý tốt hơn. Bởi doanh nghiệp lớn có rất nhiều ưu thế. Trước hết, doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ có ưu thế về mặt tài chính, do đó phần dự trữ của doanh
nghiệp cho những rủi ro không cần phải tăng tỷ lệ với doanh thu, vì với một số dự án đầu tư sản xuất tăng, có nhiều khả năng giảm bớt thiệt hại. Một khía cạnh khác của việc giảm bớt rủi ro kèm theo tăng quy mô sản xuất là các doanh nghiệp lớn có đủ sức đương đầu với những rủi ro lớn hơn, do đó khả năng đạt được lợi nhuận cao hơn. Hơn nữa nếu doanh nghiệp muốn có nguồn tài chính lớn thì quy mô của nó cho phép việc thâm nhập trực tiếp vào thị trường vốn và với quy mô lớn nhà đầu tư sẽ tin tưởng khi
họ quyết định đầu tư vào công ty.
Quy mô của doanh nghiệp còn biểu hiện về tình hình trang bị tài sản cố định của doanh nghiệp. Ở hầu hết các doanh nghiệp sản xuất thuộc mọi thành phần kinh tế, doanh nghiệp đều có quyền tự chủ trong việc mua sắm, đổi mới tài sản cố định bằng các nguồn vốn như nguồn vốn pháp định, nguồn vốn tự bổ sung, nguồn vốn liên doanh, liên kết và các nguồn vốn tín dụng khác. Nếu doanh nghiệp có quy mô lớn thì
có thể dễ dàng trong việc huy động nguồn vốn lớn để mua sắm, hiện đại hoá trang thiết bị, công nghệ sản xuất… nhằm góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, trên hết là thu lợi nhuận về cho doanh nghiệp.
1.3.2.2. Trình độ nguồn nhân lực
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khi các doanh nghiệp phải cạnh tranh nhau một cách gay gắt thì yếu tố con người đóng vai trò chủ đạo và càng khẳng định được là
yếu tố quyết định tạo ra lợi nhuận. Việc tổ chức lao động khoa học sẽ tạo ra sự kết hợp các yếu tố sản xuất một cách hợp lý loại trừ được tình trạng lãng phí lao động, lãng phí giờ máy và nguyên vật liệu có tác dụng lớn thúc đẩy việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Nhà quản lý doanh nghiệp phải biết sử dụng yếu tố “con người”, biết khơi dậy tiềm năng trong mỗi con người, bồi dưỡng trình độ cho cán bộ công nhân viên, quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần, điều kiện làm việc của mỗi người
17
trong doanh nghiệp. Với đội ngũ cán bộ nhân công nhân viên có trình độ cao thích ứng
với yêu cầu thị trường, doanh nghiệp có thể nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tạo ra lợi nhuận cao cho doanh nghiệp.
1.3.2.3. Tính chất sản phẩm và tình hình tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Sau khi dịch vụ, hàng hóa được doanh nghiệp sản xuất ra thì vấn đề tiếp theo của quá trình kinh doanh là tổ chức tiêu thụ sản phẩm nhằm thu lợi nhuận để tiếp tục quá
trình tái sản xuất và mở rộng. Các vấn đề về tính chất sản phẩm và tình hình tiêu thụ sản phẩm là nhân tố ảnh hưởng rõ nhất đến doanh thu, tác động trực tiếp đến lợi nhuận của mỗi doanh nghiệp. Doanh thu của một doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố rõ nét như khối lượng hàng hóa tiêu thụ, giá bán hàng hóa, quy mô mặt hàng kinh doanh và chất lượng hàng hóa, dịch vụ.
Nhân tố khối lượng hàng hóa tiêu thụ: trong điều kiện các nhân tố khác không
thay đổi, khi sản lượng tiêu thụ tăng lên hoặc giảm đi bao nhiêu lần thì lợi nhuận cũng tăng lên giảm đi bấy nhiêu lần. Việc tăng giảm khối lượng sản phẩm tiêu thụ phản ánh kết quả của sản xuất kinh doanh cả về khối lượng, chất lượng, chủng loại sản phẩm, và thời hạn cũng như phản ánh kết quả công tác bán hàng của doanh nghiệp. Để tiêu thụ hàng hóa tốt, doanh nghiệp phải lập phương án kinh doanh, đánh giá nhu cầu thị trường và khả năng sản xuất thích hợp từ đó đưa ra những chính sách tín dụng thích
hợp để bán hàng. Doanh nghiệp cũng phải chuẩn bị đủ khả năng tài chính, nhân lực, kỹ thuật để kinh doanh mặt hàng mà doanh nghiệp định nhắm tới.
Giá bán hàng hóa: Giá bán vừa tác động đến khối lượng hàng bán ra, vừa tác động trực tiếp đến doanh thu. Theo quy tắc cung cầu khi giá giảm thì mức tiêu thụ hàng hóa tăng và ngược lại. Vì vậy, giá bán tăng vừa có thể làm cho doanh thu tăng hoặc giảm. Khi xác định giá bán doanh nghiệp cần phải đảm bảo hai yếu tố, một là giá
bán phải được thị trường chấp nhận mua hàng với giá đó. Đây là yếu tố sống còn đối với doanh nghiệp, vì doanh nghiệp có tồn tại hay không phụ thuộc vào việc tiêu thụ hàng hóa. Hai là, giá bán phải bù đắp được giá thành kết cấu của toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh và mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Chi phí giá thành có nghĩa quan trọng đối với việc xác định giá bán hàng hóa. Do đó, doanh nghiệp phải xây dựng kế hoạch chính sách giá cả hợp lý, đúng đắn là một điều kiện quan trọng cho việc tăng
tốc độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của các doanh nghiệp.
Kết cấu mặt hàng kinh doanh: kết cấu tiêu thụ thay đổi có thể làm tăng hoặc giảm tổng số lợi nhuận. Trong thực tế nếu tăng tỷ trọng bán ra những mặt hàng có mức lợi nhuận cao và giảm tỷ trọng bán ra những mặt hàng có mức lợi nhuận thấp hơn thì mặc dù lợi nhuận cá biệt của từng mặt hàng hoá không thay đổi nhưng tổng số lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng lên. Ngược lại, nếu giảm tỷ trọng bán ra những mặt
18
hàng có mức lợi nhuận cao và tăng tỷ trọng bán ra những mặt hàng có mức lợi nhuận
thấp thì tổng số lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được sẽ bị giảm. Việc thay đổi kết cấu tiêu thụ trước hết là do tác động của nhu cầu thị trường, tức là tác động của nhân tố khách quan. Mặt khác, để đáp ứng cho nhu cầu thị trường thường xuyên biến động, các doanh nghiệp bán ra cái thị trường cần, chứ không phải bán cái doanh nghiệp có. Bản thân mỗi doanh nghiệp phải tìm cách tự điều chỉnh từ khâu sản xuất cho đến khâu
tiêu thụ sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu thị trường, vừa mang lại được lợi ích cho bản thân doanh nghiệp.
Chất lượng hàng hóa, dịch vụ: Khi nói đến chất lượng sản phẩm hàng hóa là nói đến những đặc tính nội tại của sản phẩm được xác định bằng những thông số có thể đo được hoặc so sánh được phù hợp với điều kiện hiện tại và thoả mãn được những nhu cầu hiện tại nhất định của xã hội. Người tiêu dùng khi mua hàng trước hết nghĩ tới khả
năng hàng hóa thoả mãn nhu cầu của họ, tới chất lượng mà nó có. Trong điều kiện hiện tại chất lượng là yếu tố quan trọng bậc nhất mà các doanh nghiệp lớn thường sử dụng trong cạnh tranh vì nó đem lại khả năng chiến thắng của một doanh nghiệp. Bất kỳ một sản phẩm hàng hóa nào được chào bán trên thị trường đều chứa đựng một giá trị sử dụng nhất định, các sản phẩm đồng loại nhưng được sản xuất từ các doanh nghiệp khác nhau sẽ có chất lượng khác nhau và sản phẩm của doanh nghiệp nào có
chất lượng cao hơn sẽ thu hút được nhiều khách hàng về mình. Điều đó cho thấy doanh nghiệp không chỉ bán được hàng, duy trì được thị trường truyền thống mà còn mở rộng được thị trường mới, củng cố thêm vị trí của doanh nghiệp trên thị trường. Mục tiêu cao nhất của doanh nghiệp là mục tiêu lợi nhuận nhưng để đạt được lợi nhuận thì doanh nghiệp phải tiêu thụ được hàng hóa và thu tiền về tức là được khách hàng chấp nhận. Muốn vậy ngoài các yếu tố khác doanh nghiệp phải chú trọng tới yếu
tố chất lượng, chính chất lượng sản phẩm có thể tạo nên vị thế cững chắc của sản phẩm, dịch vụ trên thị trường. Đồng thời chất lượng sẽ thu hút khách hàng lâu dài, bền vững và làm cho khách hàng trung thành với sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp, từ đó tạo mức lợi nhuận tăng trưởng và ổn định hơn.
1.3.2.4. Giá thành toàn bộ
Giá thành toàn bộ = Giá thành sản xuất + Chi phí quản lý doanh nghiệp + Chi phí
bán hàng
Giá thành sản xuất cao hay thấp, tăng hay giảm là tuỳ thuộc vào kết quả của việc quản lý và sử dụng lao động, vật tư trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Nếu tổ chức quản lý tốt sản xuất và tài chính thì đây sẽ là nhân tố tác động mạnh mẽ đến việc hạ giá thành sản phẩn, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trước hết, tổ chức quản lý sản xuất đạt trình độ cao có thể giúp doanh nghiệp xác định được mức sản xuất tối ưu,
phương án sản xuất tối ưu làm cho giá thành sản phẩm hạ xuống. Nhờ vào việc bố trí
19
các khâu sản xuất hợp lý có thể hạn chế sự lãng phí nguyên vật liệu, giảm thấp tỷ lệ
phế phẩm, những chi phí về ngừng sản xuất… Bên cạnh đó thì công tác tổ chức sử dụng vốn hợp lý, đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu cho việc mua sắm vật tư tránh được những tổn thất cho sản xuất khi máy móc phải ngừng làm việc do thiếu vật tư. Đồng thời thông qua việc tổ chức sản xuất, kiểm tra được tình hình dự trữ vật tư, tồn kho sản phẩm, từ đó phát hiện ngăn ngừa kịp thời tình trạng ứ đọng, mất mát hao hụt vật tư,
sản phẩm. Nếu tổ chức tốt công tác này sẽ làm giảm bớt chi phí sản xuất góp phần tích cực hạ giá thành sản phẩm nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Hai nhân tố chi phí quản lý doanh nghiệp và chi phí bán hàng cũng ảnh hưởng ngược chiều đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Trong quá trình vận hành và quản lý doanh nghiệp, việc tổ chức, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng làm ảnh hưởng đến lợi nhuận sau này. Sau khi hàng hóa và dịch vụ được
sản xuất ra thì vấn đề tiếp theo của quá trình kinh doanh là phải tổ chức bán hàng hóa và dịch vụ ra thị trường nhằm tạo lợi nhuận để tiếp tục quá trình tái sản xuất và mở rộng. Việc tổ chức tốt công tác quản lý bán hàng như quảng cáo, tiếp thị sản phẩm hay vận tải làm cho thu nhập tăng lên, chi phí lưu thông giảm, do đó góp phần tăng lợi nhuận. Do đó các doanh nghiệp phải tìm mọi biện pháp làm giảm hai loại chi phí này bằng việc giám sát, quản lý chặt chẽ, căn cứ vào tình hình nhu cầu thực tế và mục tiêu,
xây dựng các định mức cho từng khoản mục cụ thể như vậy sẽ đảm bảo thu được lợi nhuận tốt hơn.
1.3.2.5. Mối quan hệ và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường
Đây chính là tiềm lực vô hình của doanh nghiệp tạo nên sức mạnh của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh của mình, nó tác động rất lớn tới sự thành bại của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh giúp nâng cao lợi nhuận. Sự tác động này là sự tác
động phi lượng hoá bởi vì chúng ta không thể tính toán, định lượng được. Một hình ảnh, uy tín tốt về doanh nghiệp liên quan đến hàng hoá, dịch vụ chất lượng sản phẩm, giá cả... là cơ sở tạo ra sự quan tâm của khách hàng đến sản phẩm của doanh nghiệp, mặt khác tạo cho doanh nghiệp một ưu thế lớn trong việc tạo nguồn vốn, hay mối quan hệ với nhà cung cấp và cả khách hàng. Với mối quan hệ rộng sẽ tạo cho doanh nghiệp nhiều cơ hội, nhiều đầu mối và từ đó doanh nghiệp lựa chọn những cơ hội, phương án
kinh doanh tốt nhất cho mình.
20
PHẦN 2. THỰC TRẠNG LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN THÉP VÀ
VẬT TƢ CÔNG NGHIỆP
2.1. Giới thiệu về công ty CP thép và vật tƣ công nghiệp
2.1.1. Khái quát chung về công ty
Tên công ty : CÔNG TY CỔ PHẦN THÉP VÀ VẬT TƯ CÔNG NGHIỆP
Tên giao dịch : STEEL INDUSTRY MATERIAL JOINT STOCK COMPANY
Tên viết tắt : SIMCO., JSC
Logo công ty :
Người đại diện : Tổng giám đốc Nguyễn Thanh Thủy
Trụ sở chính : Tòa nhà SIMCO, đường Phạm Hùng, Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội
Điện thoại : (+84).04.7848000
Fax : (+84).04.7846444
Website : www.simco.com.vn
Email : simco@fpt.vn
Phương châm : “Uy tín, chất lượng và tiến bộ”
Mã số thuế : 0100902925
Vốn điều lệ : 170.000.000.000 đồng
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty Cổ phần Thép và Vật tư công nghiệp được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh công ty cổ phần số 0100902925 của Sở kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp ngày 28/12/2006. Trong suốt quá trình hình thành phát triển công ty luôn có những bước tiến vững chắc và đã khẳng định được chỗ đứng của mình trên thị trường thép trong nước.
Tiền thân công ty CP Thép và Vật tư công nghiệp – SIMCO là công ty TNHH
thép và vật tư công nghiệp SIMCO được thành lập năm 2001. Năm 2002 nhà máy Ống thép Việt Đức VG PIPE được thành lập trên cơ sở là đơn vị thành viên của công ty TNHH Thép và Vật tư công nghiệp SIMCO.
Năm 2005, công ty khánh thành và đưa vào khai thác tòa nhà SIMCO BUILDING gồm 3 khối nhà (khối nhà 9 tầng, khối nhà 3 tầng, nhà làm việc 2 tầng) tại đường Phạm Hùng, xã Mỹ Đình, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội.
21
Năm 2006, Công ty phát triển kinh doanh nhà hàng (nhà hàng AROMA 1) tại
N2B khu đô thị Trung Hòa - Nhân Chính với diện tích 600 m2.
Tháng 12 năm 2006 Công ty TNHH Thép và Vật tư công nghiệp SIMCO chuyển đổi mô hình thành công ty CP Thép và Vật tư công nghiệp SIMCO. Tổng vốn điều liệu đăng kí là 90.000.000.000 đồng.
Ngày 29/1/2007 đại hội đồng cổ đông Công ty CP thép và Vật tư công nghiệp
quyết định tách một phần tài sản và vốn góp của các cổ đông hiện có để thành lập Công ty cổ phần Ống thép Việt Đức VG PIPE với vốn điều lệ 35.000.000.000 đồng.
Năm 2008 Công ty CP thép và vật tư công nghiệp - SIMCO bắt đầu đi vào hoạt động kinh doanh phân phối các sản phẩm thép xây dựng, vật liệu xây dựng tại thị trường Việt Nam. Mạng lưới phân phối với hệ thống các văn phòng đại diện, đại lý, kho trung chuyển rộng khắp trên cả nước của SIMCO giúp công ty luôn đảm bảo khả
năng giao nhận hàng hóa nhanh chóng, đáp ứng kịp thời tiến độ thi công của các công trình xây dựng. Hàng năm, công ty cung cấp cho thị trường 280.000 tấn sản phẩm các loại với giá cả cạnh tranh và các điều kiện thanh toán hợp lý.
Năm 2010, Công ty mở thêm nhà hàng AROMA 2 tại tầng 6 tòa nhà Vinaconex 9, Khu đô thị HH2 - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội. Cuối năm 2010, Công ty thành lập sàn giao dịch bất động sản - SIMCO LAND. Hoạt động chính của SIMCO LAND là
môi giới, định giá bất động sản và các hoạt động liên quan đến quá trình mua bán, chuyển nhượng bất động sản của các Dự án tại Hà Nội, Vĩnh Phúc.
Năm 2012, công ty tiếp tục đưa vào khai thác 02 diện tích sàn văn phòng tại lô đất N05, Khu đô thị Đông Nam đường Trần Duy Hưng, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội với tổng diện tích khoảng 2.000 m2.
Tính đến nay, công ty đã thay đổi đăng kí kinh doanh 14 lần do công ty có nhu
cầu tăng vốn điều lệ, thay đổi thành viên góp vốn, thay đổi người đại diện theo pháp luật và mở rộng ngành nghề kinh doanh. Theo giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh thay đổi lần thứ 14 ngày 28/1/2013, tổng số vốn điều lệ của công ty là 170.000.000.000 đồng, mệnh giá của một cổ phần là 100.000 đồng.
2.1.3. Cơ cấu bộ máy tổ chức và chức năng nhiệm vụ từng ban
Mô hình tổ chức của công ty là mô hình truyền thống. Các phòng ban, bộ phận
được hình thành trên cơ sở phân chia chức năng, nhiệm vụ chuyên môn. Kiểu kết cấu này giúp cho các bộ phận phát huy hết khả năng của mình do được chuyên môn hóa, đồng thời giúp tối đa hóa việc sử dụng các nguồn lực và hiệu quả công việc.
22
Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức và quản lý của Công ty
PHÒNG TÀI CHÍNH KẾ TOÁN
PHÒNG KẾ HOẠCH ĐẦU TƯ
PHÒNG HÀNH CHÍNH QUẢN TRỊ
HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
BAN GIÁM ĐỐC
PHÒNG XUẤT NHẬP KHẨU
PHÒNG TIẾP THỊ BÁN HÀNG
PHÒNG VẬT TƯ THIẾT BỊ
PHÒNG NHÂN SỰ
(Nguồn Phòng Hành chính quản trị)
Bộ máy tổ chức của công ty theo mô hình công ty cổ phần bao gồm Hội đồng
quản trị, Ban giám đốc và các phòng chức năng.
Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong công ty
Hội đồng quản trị
Là cơ quan quản lý cao nhất của Công ty. Hội đồng thực hiện chức năng quản lý và kiểm tra giám sát hoạt động của công ty. Hội đồng quản trị giữ vai trò định hướng chiến lược phát triển và kế hoạch hoạt động hàng năm, chỉ đạo và giám sát hoạt động của công ty thông qua Ban giám đốc điều hành công ty.
Ban giám đốc
Thực hiện các chiến lược kinh doanh mà Hội đồng quản trị thông qua. Điều hành công ty đạt các mục tiêu mà hội đồng quản trị đề ra; Giải quyết, phê duyệt, kí kết các
23
công việc hàng ngày của công ty; Tổng giám đốc là người điều hành và quyết định cao
nhất về tất cả các vấn đề liên quan tới hoạt động hàng ngày của Công ty và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao; Các Phó tổng giám đốc là người giúp việc cho Tổng giám đốc chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về phần việc được phân công, chủ động giải quyết những công việc đã được Tổng giám đốc uỷ quyền, phân công theo đúng chế độ chính sách của Nhà nước
và điều lệ của Công ty.
Phòng tài chính kế toán
Thực hiện những nghiệp vụ chuyên môn tài chính kế toán theo đúng quy định của Nhà nước về chuẩn mực kế toán; Theo dõi, phản ánh sự vận động vốn kinh doanh của công ty dưới mọi hình thái và cố vấn cho Ban giám đốc các vấn đề liên quan; Tổng hợp và phân tích số liệu, cung cấp thông tin cho nhà quản trị để thấy được hiệu
quả sản xuất kinh doanh; Hàng năm, xây dựng kế hoạch tài chính, cân đối nguồn vốn đảm bảo cho hoạt động của Công ty; Hoàn thành báo cáo tài chính theo từng kì phục vụ cho công tác kiểm tra, thanh tra của Nhà nước.
Phòng Kế hoạch đầu tư
Phòng Kế hoạch là đơn vị thuộc bộ máy quản lý của công ty, có chức năng tham mưu cho Ban giám đốc công ty xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh ngắn hạn
và dài hạn, tìm hiểu khai thác thị trường, đầu tư phát triển sản xuất, liên doanh liên kết trong và ngoài Công ty; Xây dựng và thực hiện các loại kế hoạch khác theo quy định, thống kê sản phẩm doanh thu, bố trí phương tiện vận chuyển và trang thiết bị bưu chính, kiểm kê tài sản định kỳ và đột xuất; Giao dịch với khách hàng và điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh trong toàn công ty.
Phòng hành chính quản trị
Có chức năng tham mưu, đề xuất các chủ trương, giải pháp cho Ban Giám đốc trong việc chỉ đạo, quản lý, điều hành dông ty về các lĩnh vực như quản lý cơ sở, vật chất, đất đai thuộc quyền quản lý của công ty; Quản lý văn thư lưu trữ như tiếp nhận, vào sổ các công văn, giấy tờ chuyển đến Công ty và trực tiếp chuyển các công văn đến các cơ quan đơn vị bên ngoài; Thực hiện công tác hành chính, lễ tân, phục vụ.
Phòng xuất nhập khẩu
Thực hiện tất cả các hoạt động xuất nhập khẩu của công ty; Tham mưu, hỗ trợ cho ban giám đốc, phòng ban khác về các nghiệp vụ hoạt động xuất nhập khẩu. Phân tích đơn hàng, lập định mức sản phẩm trên cơ sở từ đó tính giá thành và giá bán ( giá FOB, CIF) trình Ban giám đốc duyệt; Lập hợp đồng kinh tế, làm thủ tục, thực hiện việc nhập khẩu cho toàn bộ đơn hàng đã qua phê duyệt.
24
Phòng tiếp thị bán hàng
Tìm kiếm nguồn ra cho hàng hóa, dịch vụ và phát triển thị trường theo chiến lực của công ty; Lập kế hoạch kinh doanh, tìm kiếm thị trường và phân phối các sản phẩm, dịch vụ của công ty tới các khách hàng; Tiếp xúc khách hàng, giới thiệu chào bán sản phẩm, dịch vụ, đảm bảo nguồn hàng ổn định cho công ty; Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, các dịch vụ liên quan hàng tháng cho Ban giám đốc.
Phòng vật tư thiết bị
Cung cấp thông tin kinh tế, giá cả thị trường các chủng loại vật tư nguyên vật liệu cho các phòng ban liên quan; Mua sắm, lưu trữ cung cấp vật tư nguyên vật liệu để sản xuất các sản phẩm, công trình từ các đơn đặt hàng của khách hàng; Quản lý, bảo quản vật tư, nguyên nhiên vật liệu; Cấp phát vật tư, nguyên nhiên vật liệu theo nhu cầu sản xuất kinh doanh của Công ty; Báo cáo số lượng, chất lượng vật tư xuất nhập và tồn
kho theo chế độ từng tuần, từng tháng. Từ đó, căn cứ kế hoạch sản xuất kinh doanh để xây dựng kế hoạch mua sắm vật tư và cung cấp vật tư phục vụ sản xuất cho các dự án, công trình.
Phòng nhân sự
Hỗ trợ các phòng ban khác và là cầu nối giữa Ban giám đốc và người lao động trong công ty; Phòng nhân sự phụ trách khâu tuyển dụng của công ty; Quản lý hồ sơ,
lý lịch và theo dõi đánh giá tình hình lao động và xây dựng, thực hiện các chính sách, lương thưởng đối với người lao động; Tham mưu cho Ban giám đốc về việc sắp xếp, bố trí nhân sự, quy hoạch và phát triển cán bộ thông qua phân tích cơ cấu tổ chức, đánh giá kết quả thực hiện công việc và năng lực nhân sự
2.1.4. Khái quát ngành nghề kinh doanh của công ty
Ngành nghề đăng ký kinh doanh theo đăng ký kinh doanh số 0100902925 do Sở
Kế hoạch và đầu tư Thành phố Hà Nội cấp thay đổi lần thứ 14 ngày 28/01/2013 gồm:
+ Bán buôn phế liệu, phế thải kim loại, phi kim loại (trừ loại Nhà nước cấm).
+ Bán buôn kim loại và quặng kim loại.
+ Dịch vụ tư vấn, đấu giá, quản lý, quảng cáo bất động sản, môi giới, định giá,
sàn giao dịch bất động sản.
+ Kinh doanh bất động sản.
+ Kinh doanh nhà hàng, khách sạn, rượu bia, nước giải khát.
+ Dịch vụ ăn uống, giải khát.
+ Dịch vụ cho thuê văn phòng, nhà xưởng, kho bãi, nhà ở.
+ Buôn bán hàng kim khí, vật liệu xây dựng, hàng công nghiệp.
25
Mặc dù công ty có các hoạt động kinh doanh ở nhiều ngành nghề tuy nhiên công
việc đem lại nguồn thu chính của công ty là hoạt động buôn bán sắt thép xây dựng công trình cơ sở hạ tầng cho các doanh nghiệp và các cá thể. Sản phẩm chủ yếu của Công ty là thép xây dựng, thép hình các loại, thép ống, các sản phẩm liên quan và vật tư công nghiệp. Một số các sản phẩm chính về thép của Công ty gồm:
+ Thép xây dựng: các sản phẩm thép cây, thép cuộn do Công ty CP sản xuất thép
Việt Đức VGS, Công ty TNHH thép VSC - POSCO, Công ty CP thép Việt Ý - VIS, Công ty TNHH thép Pomina… có đường kính từ 6mm đến 41mm.
+ Thép ống: các sản phẩm ống thép Việt Đức VGPIPE, ống thép 190 bao gồm
ống thép đen tròn/vuông/chữ nhật và ống thép mạ kẽm các loại.
+ Sản phẩm khác: kinh doanh phôi thép, mua bán phế liệu…
2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty CP Thép và Vật tƣ công nghiệp
qua một số năm
2.2.1. Khái quát kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
Nhận xét:
Căn cứ vào BCKQKD của Công ty trong 3 năm 2011, 2011 và 2013 ta có thể thấy được sự biến đổi của doanh thu trong từng thời kì. Nhìn chung doanh thu của Công ty đạt ở mức khá cao song lại có mức tăng trưởng không ổn định. Để thấy rõ hơn
tình hình tốc độ tăng trưởng doanh thu của Công ty CP Thép và Vật tư công nghiệp qua các năm, ta có biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.1: Tốc độ tăng doanh thu của Công ty giai đoạn 2011-2013
Đơn vị: Tỷ đồng
2623,21
3000
2500
2000
1188,2
1500
942,45
1000
500
0
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
26
Bảng 2.1: Báo cáo kết quả kinh doanh của Công ty giai đoạn 2011-2013
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Chênh lệch 2013/2012 Chênh lệch 2012/2011 Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011
Tuyệt Đối % Tuyệt Đối %
942,45 2.623,21 1.188,20 (1.680,76) (64,07) 1.435,01 120,77
1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 2. Các khoản giảm trừ doanh thu 0 0 0 0 0 0 0
3. Doanh thu thuần 2.623,21 1.188,20 (1.680,76) (64,07) 1.435,01 120,77 942,45
4. Giá vốn hàng bán 2.469,60 1.095,85 (1.588,67) (64,33) 1.373,75 125,36 880,93
5. Lợi nhuận gộp 61,52 153,61 92,35 (92,09) (59,95) 61,26 66,33
6. Doanh thu hoạt động tài chính 6,74 1,02 1,61 5,72 560,78 -0,59 -36,65
7. Chi phí tài chính 34,38 41,05 28,28 (6,67) (16,25) 12,77 45,16
8. Chi phí bán hàng 20,56 42,60 29,59 (22,04) (51,74) 13,01 43,97
9. Chi phí quản lý kinh doanh 12,01 41,18 19,90 (29,17) (70,84) 21,28 106,93
10. Lợi nhuận thuần 1,31 29,80 16,19 (28,49) (95,60) 13,61 84,06
11. Thu nhập khác 0,16 0,72 0,153 (0,56) (77,78) 0,57 370,59
12. Chi phí khác 1,05 0,02 0,003 1,03 5.150 0,02 566,67
13. Lợi nhuận khác (0,89) 0,70 0,15 (1,59) (227,14) 0,55 366,67
14. Lợi nhuận trƣớc thuế 0,42 30,50 16,34 (30,08) (98,62) 14,16 86,66
15. Chi phí thuế TNDN 0,18 6,18 3,70 (6,00) (97,09) 2,48 67,03
16. Lợi nhuận sau thuế 0,24 24,32 12,64 (24,08) (99,01) 11,68 92,41
(Nguồn: BCKQKD của Công ty giai đoạn 2011-2013)
27
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ có biến động bất thường, không theo
quy luật. Năm 2012, doanh thu là 2623,21 tỷ đồng, tăng 1435,01 tỷ đồng tương ứng tăng 120,77% so với con số 1188,2 tỷ đồng năm 2011. Đến năm 2013, doanh thu lại tụt giảm mạnh xuống 942,45 tỷ đồng tương ứng với giảm 64,07%, mức giảm 1680,76 tỷ đồng so với năm 2012. Nguyên nhân có sự sụt giảm mạnh doanh thu là do trong năm 2013 do chính sách thắt chặt tài chính đối với hoạt động xây dựng, bất động sản
và do sự cạnh tranh gay gắt từ các doanh nghiệp cung cấp thép trong nước, đặc biệt là thép Trung Quốc giá rẻ tràn vào Việt Nam làm mất thị phần thép sản xuất trong nước.
Doanh thu bán hàng thay đổi đồng nghĩa với giá vốn hàng bán cũng thay đổi. Tỷ lệ tăng, giảm của giá vốn trong 2 năm của công ty khá tương đồng với doanh thu bán hàng. Năm 2012 tăng 125,36%, năm 2011 giảm 64,33% so với năm trước. Tuy nhiên giá vốn hàng bán của công ty lại chiếm tỷ trọng khá cao so với doanh thu thuần, tỷ
trọng này chiếm khoảng 92% đến 94% doanh thu thuần. Do đặc thù hoạt động kinh doanh của công ty là phân phối thép cho các công ty sản xuất nên nhằm đảm bảo nguồn thu, công ty đặt giá bán hàng sát với giá hàng mua nhằm tăng sức cạnh tranh với các đối thủ cùng ngành.
Giá vốn hàng bán cao kéo theo lợi nhuận gộp qua các năm của công ty ở mức thấp. Năm 2012 tăng từ 92,35 tỷ đồng lên 153,61 tỷ đồng so với năm 2011, tương ứng
tăng 66,63%. Lợi nhuận gộp năm 2013 giảm 59,95% so với năm 2012, xuống còn 61,52 tỷ đồng.
Doanh thu hoạt động tài chính của doanh nghiệp chủ yếu từ lãi tiền gửi, đầu tư cổ phiếu và lãi bán hàng trả chậm. Nhìn chung đây không phải là nguồn thu chính của công ty. Trong năm 2013 tăng 560,78% về con số tương đối, tương đương với tăng 5,72 tỷ đồng lên 6,74 tỷ đồng. Nguyên nhân có sự tăng mạnh này là do công ty đổi
mới các chính sách bán hàng nên có thêm nguồn thu tăng cao là lãi bán hàng trả chậm.
Các khoản chi phí của công ty như chi phí tài chính, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp luôn chiếm tỷ trọng cao trong lợi nhuận gộp của công ty. Mặc dù tỷ lệ này có thay đổi phù hợp theo lợi nhuận gộp hàng năm song vẫn ở mức cao kéo theo sự giảm mạnh của lợi nhuận thuần. Trong năm 2012, do kiểm soát tốt các loại chi phí trên nên mặc dù lợi nhuận gộp của công ty chỉ tăng 66,33% nhưng lợi nhuận thuần
lại tăng 84,06% so với năm 2011 lên 29,8 tỷ đồng so với năm trước, mức tăng lợi nhuận thuần này là tương đối đáng kể. Đến năm 2013, mặc dù lợi nhuận gộp của công ty giảm 59,95% song lợi nhuận thuần lại giảm tới 95,60% so với năm 2012, tương ứng giảm 28,49 tỷ đồng đạt 1,31 tỷ đồng vào năm 2013. Chứng tỏ các khoản chi phí trên không theo kịp tốc độ giảm doanh thu của công ty.
28
Khoản thu khác và chi khác của Công ty những năm gần đây cũng đều biến động
bất thường. Mặc dù các khoản thu chi này qua các năm có biến động mạnh về con số tương đối song các khoản này thường chiếm tỷ trọng nhỏ so với quy mô của doanh thu và không mang tính chất thường xuyên do đó cũng không gây ảnh hưởng nhiều đến lợi nhuận trước thuế của Công ty.
Tất cả các yếu tố trên đã giúp công ty trong năm 2012 đạt mức lợi nhuận trước
thuế là 30,5 tỷ đồng đạt tỷ lệ tăng trưởng 86,66% so với năm 2011 là 16,34 tỷ đồng. Đến năm 2013, do tình hình kinh doanh có phần giảm sút nên lợi nhuận sau thuế chỉ đạt 0,42 tỷ đồng giảm 98,62% so với năm trước.
Sau khi nộp các khoản thuế, công ty có mức lợi nhuận sau thuế là 0,24 tỷ đồng vào năm 2013 giảm 99,01% và 24,32 tỷ đồng vào năm 2012 tăng 92,41% so với năm trước đó. Nhìn chung mặc dù lợi nhuận của công ty trong 3 năm có diễn biến bất
thường, nhưng lợi nhuận sau thuế của công ty đều có kết quả dương. Với lợi nhuận như vậy sẽ tạo điều kiện cho công ty cho tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh, phát triển thị trường trong các năm tiếp theo.
Biểu đồ 2.2: Tốc độ tăng lợi nhuận sau thuế Công ty giai đoạn 2011-2013
Đơn vị: Tỷ đồng
24,32
25
20
12,64
15
10
0,24
5
0
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
29
2.2.2. Khái quát tình hình tài sản – nguồn vốn của công ty
Bảng 2.2: Bảng Cân đối kế toán của Công ty giai đoạn 2011-2013 Đơn vị: Tỷ đồng
Chênh lệch 2013/2012 Chênh lệch 2012/2011 Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011
% %
Tuyệt Đối Tuyệt Đối
386,32 24,17 6,56 339,02 1,52 15,05 164,31 73,88 69,33 19,12 1,98 550,63 727,82 2,52 7,92 706,28 11,07 0,03 167,79 72,51 72,56 21,25 1,47 895,61 460,91 19,67 7,16 339,92 90,41 3,75 150,30 95,28 32,61 21,25 1,16 611,21 (341,50) 21,65 (1,36) (367,26) (9,55) 15,02 (3,48) 1,37 (3,23) (2,13) 0,51 (344,98) (46,92) 859,13 (17,17) (52,00) (86,27) 50.067 (2,07) 1,89 (4,45) (10,02) 34,69 (38,52) 266,91 (17,15) 0,76 366,36 (79,34) (3,72) 17,49 (22,77) 39,95 0,00 0,31 284,40 57,91 (87,19) 10,61 107,78 (87,76) (99,20) 11,64 (23,90) 122,51 0,00 26,72 46,53
TÀI SẢN A. TÀI SẢN NGẮN HẠN I. Tiền và các khoản tương đương tiền II. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn III. Các khoản phải thu IV. Hàng tồn kho V. Tài sản ngắn hạn khác B. TÀI SẢN DÀI HẠN I. Tài sản cố định II. Bất động sản đầu tư III. Các khoản đầu tư tài chính dài hạn IV. Tài sản dài hạn khác TỔNG TÀI SẢN NGUỒN VỐN A. NỢ PHẢI TRẢ I. Nợ ngắn hạn
II. Nợ dài hạn B. NGUỒN VỐN CHỦ SỞ HỮU I. Nguồn vốn, quỹ TỔNG NGUỒN VỐN 380,24 341,24 39,00 170,40 170,40 550,64 725,46 680,72 44,74 170,16 170,16 895,62 490,25 455,80 34,45 120,96 120,96 611,21 (345,22) (339,48) (5,74) 0,24 0,24 (344,98) (47,59) (49,87) (12,83) 0,14 0,14 (38,52) 235,21 224,92 10,29 49,20 49,20 284,41 47,98 49,35 29,87 40,67 40,67 46,53
(Nguồn: BCKQKD của công ty giai đoạn 2011-2013)
30
Tình hình Tài Sản
Bảng 2.3: Tỷ trọng cơ cấu tài sản của Công ty giai đoạn 2011-2013
Đơn vị: %
Năm Tỷ trọng tài sản 2013 2012 2011
Tổng tài sản
100 70,16 100 81,27 100 75,41 Tài sản ngắn hạn
Tiền và các khoản tương đương tiền 4,39 0,28 3,22
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn 1,19 0,88 1,17
Các khoản phải thu 61,57 78,86 55,61
Hàng tồn kho 0,28 1,24 14,79
Tài sản ngắn hạn khác 2,73 0,00 0,61
Tài sản dài hạn 29,84 18,73 24,59
Tài sản cố định 13,42 8,10 15,59
Bất động sản đầu tư 12,59 8,10 5,34
Các khoản đầu tư tài chính dài hạn 3,47 2,37 3,48
Tài sản dài hạn khác 0,36 0,16 0,19
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo KQKD của công ty)
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu và tăng trƣởng tài sản của Công ty giai đoạn 2011-2013
Đơn vị: Tỷ đồng
1000
167,79 800
600 150,3 Tài sản dài hạn
164,31
400 Tài sản ngắn hạn 727,82
460,91
200
386,32
0
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Theo biểu đồ trên, ta thấy rằng cả 3 năm tài sản ngắn hạn đều chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng tài sản. Tuy năm 2012 so với năm 2011 tỷ trọng tài sản ngắn hạn so với tổng tài sản đã tăng từ 75,41% lên 81,27%. Nhưng sang đến năm 2013, tỷ trọng này lại giảm mạnh xuống còn 70,16%. Mặc dù quy mô nguồn vốn thay đổi qua các năm nhưng tài sản ngắn hạn luôn chiếm phần lớn trong tổng tài sản. Đây là nét đặc trưng
31
của doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại khi nhu cầu về tài sản lưu động
luôn cao hơn tài sản cố định.
Từ những biến động trên và căn cứ vào bảng cân đối kế toán, ta thấy được tình
hình biến động tài sản của công ty trong 3 năm từ 2011 – 2012 như sau:
Dựa vào bảng cân đối kế toán, trong năm 2012 tổng tài sản của Công ty đạt 895,61 tỷ đồng tăng lên 284,40 tỷ đồng tương ứng với 46,53% so với năm 2011. Điều
này cho thấy, quy mô kinh doanh đang được mở rộng quy mô nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên vào năm 2013, quy mô tổng tài sản lại giảm xuống còn 550,63 tỷ đồng tương ứng giảm 46,53% so với năm 2012.
Nguyên nhân có sự thay đổi lớn của tổng tài sản là do sự biến động chính của tài sản ngắn hạn. Trong giai đoạn 2011 – 2012, tài sản ngắn hạn của công ty tăng 266,91 tỷ đồng, tương ứng với 57,91%. Trong đó đáng kể nhất là các khoản phải thu tăng
mạnh và chiếm tỷ trọng rất lớn. Năm 2011, các khoản phải thu chiếm 55,61% tổng tài sản, tương đương giá trị 339,92 tỷ đồng. Đến năm 2012 khoản phải thu chiếm đến 78,86% tổng tài sản và có giá trị lên đến 706,28 tỷ đồng tăng hơn 107.78% so với năm trước. Đây cũng là điều hợp lý vì công ty là doanh nghiệp thương mại, làm trung gian buôn bán nên thường xuyên thực hiện các chính sách mua bán chịu cho khách hàng. Bên cạnh đó, điều này còn cho thấy doanh nghiệp đang mở rộng chính sách tín dụng
và để cho khách hàng chiếm dụng vốn của mình. Ngoài sự thay đổi mạnh của các khoản phải thu, trong giai đoạn này hàng tồn kho cũng sụt giảm mạnh 87,76% so với năm 2011 từ 90,41 tỷ đồng xuống còn 11,07 tỷ đồng vào năm 2012. Điều này là do lượng lưu thông hàng hóa của công ty trong năm 2012 rất tốt, thể hiện qua mức doanh thu thuần tăng 120,77% trong năm dẫn đến lượng hàng tồn kho ở mức thấp chỉ chiếm 1,24% tổng tài sản.
Từ năm 2012 đến năm 2013, tài sản ngắn hạn của Công ty giảm 341,50 tỷ đồng tương đương với 46,92%. Về giá trị, lượng tài sản ngắn hạn của công ty năm 2013 còn thấp hơn cả năm 2011. Nếu như năm 2012 công ty có xu hướng nới lỏng chính sách bán chịu thì năm 2013 công ty bắt đầu thắt chặt bằng cách hạn chế số lượng khách hàng được mua chịu. Năm 2013, các khoản phải thu chỉ còn chiểm 61,57% tổng tài sản, giá trị giảm 367,26 tỷ đồng so với năm 2012, chỉ còn 339,02 tỷ đồng. Mặc dù tài
sản ngắn hạn trong năm 2013 đạt mức giá trị thấp nhất trong 3 năm trở lại, song khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền và tài sản ngắn hạn khác lại tăng lên đáng kể so với năm trước đạt mức cao nhất trong 3 năm. Tiền và các khoản tương đương tiền tăng mạnh 21,65 tỷ đồng tương ứng với tăng 859,13% lên 24,17 tỷ đồng vào năm 2013. Điều này là do công ty đã thu tiền về được từ các khoản phải thu ngắn từ năm trước. Việc tăng tiền để đảm bảo cho công việc được diễn ra thuận lợi, giao dịch diễn
ra liên tục và nhanh chóng. Công ty đã chuẩn bị một lượng tiền lớn hơn so với năm
32
trước. Tài sản ngắn hạn khác cũng có biến động lớn khi trong năm 2012 khoản mục
này gần như là không đáng kể. Sang năm 2013, khoản mục này đạt giá trị 15,05 tỷ đồng do công ty dùng tiền đặt cọc mua sàn thương mại văn phòng và tiền đặt cọc thuê nhà để mở rộng lĩnh vực kinh doanh bất động sản và cho thuê văn phòng.
Tài sản dài hạn qua 3 năm của công ty biến động không nhiều. Nhìn chung tài sản dài hạn có sự gia tăng, đặc biệt là giai đoạn 2011-2012, khi công ty muốn mở rộng
lĩnh vực kinh doanh bất động sản, cho thuê văn phòng của mình. Khoản mục bất động sản đầu tư tăng 39,95 tỷ đồng tương đương với 122,51% đạt giá trị 72,56 tỷ đồng vào năm 2012. Bước sang năm 2013, tài sản dài hạn của công ty không có biến động nhiều so với năm trước, chỉ giảm 2,07% tương ứng với 3,48 tỷ đồng. Nguồn giảm này chủ yếu là do công ty đã trích 1 khoản tiền để dự phòng giảm giá đầu tư tài chính dài hạn trong mục các khoản đầu tư tài chính dài hạn là 2,13 tỷ đồng.
Tình hình Nguồn vốn
Bảng 2.4: Tỷ trọng nguồn vốn Công ty giai đoạn 2011-2013
Đơn vị: %
Năm Tỷ trọng nguồn vốn 2013 2011 2012
TỔNG NGUỒN VỐN 100 100 100
A. NỢ PHẢI TRẢ 69,05 81,00 80,21
I. Nợ ngắn hạn II. Nợ dài hạn 61,97 7,08 76,01 5,00 74,57 5,64
B. NGUỒN VỐN CHỦ SỞ HỮU 30,95 19,00 19,79
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo KQKD của công ty)
Biểu đồ 2.4: Cơ cấu và tỷ trọng Nguồn vốn Công ty giai đoạn 2011-2013
Đơn vị: Tỷ đồng
1000
170,16
800
600
120,96
170,4
400
Nguồn vốn chủ sở hữu Nợ phải trả
725,46
490,25
200
380,24
0
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
33
Theo nguyên tắc đối ứng, tương đương với mức tăng tổng tài sản thì tổng nguồn
vốn năm 2012 tăng 284,41 tỷ đồng tương ứng với tỷ lệ tăng là 46,53% so với năm 2011 và năm 2012 giảm 344,98 tỷ đồng, giảm 38,52% so với năm 2011.
Năm 2011, Nợ phải trả của công ty ở mức 490,25 tỷ đồng. Sang năm 2012, khoản mục này tăng mạnh đạt giá trị 725,46 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng 47,98% so với năm 2011. Nguyên nhân của sự gia tăng mạnh của nợ ngắn hạn chủ yếu là sự
gia tăng của nợ ngắn hạn, năm 2012 nợ ngắn hạn đạt giá trị 680,72 tỷ đồng, tăng 49,35% so với năm 2011. Nợ ngắn hạn tăng do trong năm công ty có vay một khoản tiền lớn từ ngân hàng để phục vụ việc mở rộng sản xuất kinh doanh, dẫn đến khoản mục vay nợ ngắn hạn tăng đột biến lên từ mức 118,75 tỷ đồng vào năm 2011 lên 333,36 tỷ đồng vào năm 2012, tương ứng tăng 180,72% (theo BCKQKD). Mặc dù khoản phải trả tăng mạnh 47,98%, song cơ cấu nguồn vốn của công ty chỉ có ít thay
đổi do trong năm 2012 công ty có tăng vốn chủ sở hữu lên 170 tỷ đồng, tăng 50 tỷ đồng, mức tăng tương ướng 40,67%. Năm 2011 cứ 100 đồng nguồn vốn được đầu tư cho tài sản thì phải huy động 80,21 đồng nợ phải trả, còn năm 2012 phải huy động 81 đồng nợ tương ứng tăng 0,79 đồng nợ. Tỷ trọng vốn chủ sở hữu cũng cũng có ít biến chuyển năm 2012 giảm 0,79 đồng so với năm 2011, cho biết trong 100 đồng nguồn vốn đầu tư cho tài sản thì sử dụng 19 đồng là vốn chủ sỡ hữu trong năm 2012. Vốn
chủ sở hữu của công ty qua hai năm đều chiếm tỷ trọng không cao, đều dưới 20%, cho thấy nguồn vốn chủ sở hữu dành cho hoạt động kinh doanh của Công ty còn chưa cao. Khả năng tự chủ về tài chính của công ty là thấp, chịu phụ thuộc vào nguồn vốn huy động từ bên ngoài.
Bước sang năm 2013, tỷ trọng nợ được giảm xuống chiếm 69,05% tổng nguồn vốn giảm 11,95% so với năm 2012. Công ty trong năm 2013, đã duy trì tỷ trọng nợ
xuống mức thấp hơn bằng cách giảm khoản nợ ngắn hạn. Khoản phải trả người bán giảm từ 336,8 tỷ đồng vào năm 2011, sang năm 2013 giá trị này chỉ còn 46,5 tỷ đồng giảm 290,3 tỷ đồng, tương ứng 86,2% (theo BCKQKD). Do trong giai đoạn 2011- 2012, tỷ trọng nợ phải đều duy trì ở mức cao nên đến năm 2013, công ty đã cân nhắc, cắt giảm mức sử dụng nợ để giảm rủi ro thanh khoản, nâng cap uy tín của công ty trên thị trường, tạo niềm tin cho các đối tác và giúp công ty dễ dàng có được các hợp đồng
lớn. Trong năm 2013, không có sự thay đổi ở khoản vốn chủ sở hữu, giá trị vẫn là 170 tỷ đồng, song do cắt giảm được các khoản nợ phải trả nên tỷ trọng nguồn vốn chủ sở hữu tăng lên, chiếm tỷ trọng 30,95% tăng 11,95% so với năm 2011.
2.2.3. Một số chỉ tiêu tài chính của công ty
Việc có thể đưa ra được những kết luận chính xác về hoạt động và tiềm năng của Công ty mà chỉ dựa vào các số liệu trong báo cáo tài chính là không khả thi, khi các
con số còn bị ảnh hưởng bởi quy mô công ty, ngành nghề và các nhân tố khác. Vì thế
34
các thông tin trong các báo cáo tài chính cần được tổ chức lại thành các chỉ số tài
chính. Các chỉ số này sẽ cho chúng ta một cái nhìn chi tiết hơn về tình hình tài chính của Công ty.
2.2.3.1. Chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán
Giống như chính tên của các chỉ tiêu này, chúng được sử dụng để cung cấp thông tin về khả năng thanh toán của một Công ty. Trong đó mối quan tâm chính là khả năng
Công ty có thể chi trả những hóa đơn tài chính ngắn hạn mà không phải chịu áp lực về việc bị quá hạn. Bảng sau sẽ trình bày ba chỉ tiêu thanh toán căn bản của Công ty Thép và Vật tư công nghiệp.
Bảng 2.5: Khả năng thanh toán của Công ty giai đoạn 2011-2013
Đơn vị: lần
Chênh lệch Chỉ tiêu Công thức tính Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 13-12 12-11
Tổng tài sản ngắn hạn 1,13 1,07 1,01 0,06 0,06 Khả năng thanh toán ngắn hạn Tổng nợ ngắn hạn
Tổng tài sản ngắn hạn - Kho 1,13 1,05 0,81 0,08 0,24 Khả năng thanh toán nhanh
0,07 0,004 0,04 0,066 (0,036) Khả năng thanh toán tức thời Tổng nợ ngắn hạn Tiền và các khoản tương đương tiền Tổng nợ ngắn hạn
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo Tài chính)
Khả năng thanh toán ngắn hạn: Hệ số này phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để trang trải các khoản nợ ngắn hạn, hệ số này cũng thể hiện mức độ đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
Từ năm 2011 đến năm 2013, hệ số thanh toán ngắn hạn của công ty tăng từ 1,01 lần lên 1,13 lần. Hệ số thanh toán ngắn hạn này cho biết năm 2011, một đồng nợ ngắn hạn sẽ được đảm bảo bằng 1,01 đồng tài sản ngắn hạn. Sang năm 2013 một đồng nợ ngắn hạn sẽ được đảm bảo bằng 1,13 đồng tài sản ngắn hạn. Mặc dù cơ cấu tài sản ngắn hạn có giảm đi nhưng mức giảm tổng nợ ngắn hạn của công ty lại giảm nhanh hơn, kéo theo khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty tăng lên. Sự gia tăng này cho
thấy doanh nghiệp dùng nhiều tài sản ngắn hạn hơn để đáp ứng khả năng chi trả nợ. Tỷ số trong 3 năm luôn lớn hơn 1 chứng tỏ công ty luôn đảm bảo khả năng thanh toán ngắn hạn đối với các nhà cung cấp, làm tăng uy tín với nhà cung cấp hàng cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thể huy động vốn, chiếm dụng vốn dễ dàng hơn và với một mức chi phí hợp lý.
35
Khả năng thanh toán nhanh có nghĩa 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bằng
bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao. Hay nói cách khác, khi các khoản nợ ngắn hạn đến hạn trả, doanh nghiệp có thể sử dụng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn để chi trả mà không cần bán hàng tồn kho.
Tương tự như hệ số thanh ngắn hạn, hệ số thanh toán nhanh có xu hướng tăng lên từ năm 2011 đến năm 2013. Năm 2011 do dự trữ hàng tồn kho ở mức cao chiếm 14,79%
tổng tài sản nên khả năng thanh toán nhanh chỉ đạt 0,81 lần. Đến năm 2012 do hoạt động kinh doanh tốt hơn nên lượng hàng tồn kho giảm đáng kể chỉ còn chiếm 1,24% tổng tài sản đẩy giá trị thanh toán lên 1,05 lần. Năm 2013, chỉ số này lại tiếp tục tăng nhẹ 0,08 lần lên 1,13 lần hay nói cách khác một một đồng nợ ngắn hạn của doanh nghiệp năm 2013 được đảm bảo bằng 1,13 đồng tài sản ngắn hạn có khả năng thanh toán nhanh (không tính hàng tồn kho). Tỷ số này của công ty trong 2 năm 2012 và 2013 luôn lớn hơn 1 chứng tỏ doanh nghiệp có khả năng thanh toán tốt các khoản nợ ngắn hạn khi đến thời điểm trả nợ. Tuy nhiên, việc duy trì lượng hàng tồn kho đều ở mức thấp quanh mức 1% tổng tài sản làm cho công ty khó đáp ứng được nhanh chóng các nhu cầu của khách hàng khi cần thiết. Vì vậy, công ty cần cân nhắc duy trì một lượng hàng tồn kho thích hợp để đáp ứng nhu cầu tức thì.
Biểu đồ 2.5: Khả năng thanh toán tại Công ty giai đoạn 2011-2013
1,2
Đơn vị: lần
1,07
1,13 1,13
1,01
1
1,05
0,81
0,8
Khả năng thanh toán ngắn hạn
0,6
Khả năng thanh toán nhanh
0,4
Khả năng thanh toán tức thời
0,2
0,07
0,04
0,004
0
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
Khả năng thanh toán tức thời cho biết khả năng đáp ứng những khoản nợ ngắn hạn bằng các tài sản có tính thanh khoản cao như tiền và các khoản tương đương tiền. Nếu chỉ số này cao tức là doanh nghiệp có đủ khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn đến hạn trả. Điều này là rất tốt nhưng nếu dự trữ quá nhiều tài sản có tính
36
thanh khoản cao thì doanh nghiệp sẽ mất chi phí lưu giữ tiền và những cơ hội đầu tư
vào lĩnh vực khác.
Ta có thể nhận thấy so với các chỉ tiêu trên, chỉ tiêu này là rất nhỏ và nhỏ nhất trong 3 chỉ tiêu. Điều này phản ánh mức độ dự trữ tiền mặt của công ty chưa đủ chi trả ngay các khoản nợ ngắn hạn. Cụ thể, năm 2011, chỉ tiêu này là 0,04 lần, nghĩa là 1 đồng nợ ngắn hạn chỉ được đáp ứng bằng 0,04 đồng dự trữ tiền mặt. Năm 2012 chỉ
tiêu này còn xuống thấp hơn nữa, chỉ đạt 0,004 lần. Lượng tiền mặt giảm xuống nhanh kiến khả năng thanh toán tức thời giảm, điều này gây bất lợi cho công ty khi thanh toán các khoản nợ đến hạn. Sang năm 2013, doanh nghiệp đã tăng cường lượng tiền mặt lên và chỉ số thanh toán tức thời được cải thiện lên 0,07 lần. Tuy có tăng, nhưng khả năng thanh toán tức thời của công ty hiện tại vẫn ở mức rất thấp. Trong tương lai công ty cần cải thiện chỉ số này nhằm đảm bảo khả năng thanh toán, tránh rơi vào tình
trạng mất khả năng thanh toán.
2.2.3.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản
Bảng 2.6: Hiệu suất sử dụng tài sản của Công ty giai đoạn 2011-2013
Đơn vị: lần
Chênh lệch Chỉ tiêu Công thức tính Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 13-12 12-11
Doanh thu thuần 1,71 2,93 1,94 (1,22) 0,99 Hiệu suất sử dụng tài sản Tổng tài sản
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo KQKD của công ty)
Hiệu suất sử dụng tài sản (Vòng quay tài sản): Hệ số này cho biết mỗi đồng tài
sản tạo ra cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Hệ số sử dụng tổng tài sản càng cao đồng nghĩa với việc sử dụng tài sản của công ty vào các hoạt động sản xuất kinh doanh càng hiệu quả.
Năm 2012, bình quân 1 đồng tài sản tham gia vào quá trình kinh doanh tạo ra 2,93 đồng doanh thu thuần. Năm 2011, bình quân 1 đồng tài sản tham gia vào quá trình kinh doanh tạo ra 1,94 đồng doanh thu thuần. Hiệu suất sử dụng tài sản năm 2012
tăng 0,99 đồng so với 2011. Trong năm 2012, doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng mạnh 120,77% so với năm 2011, bên cạnh đó tổng tài sản có tốc độ gia tăng 46,53%, điều này làm cho hiệu quả sử dụng sử dụng tài sản của doanh nghiệp trong năm 2012 tăng lên so với năm 2011. Tuy nhiên sang đến năm 2013, hiệu suất sử dụng tài sản lại giảm đi 1,22 đồng, đạt giá trị 1,71 đồng vào năm 2013. Mặc dù tổng tài sản sụt giảm 38,52% so với năm 2012, song mức sụt giảm của doanh thu thuần lại
lại lớn hơn là 46,92% kéo theo sự sụt giảm của chỉ tiêu này vào năm 2013. Chỉ tiêu
37
này trong 3 năm của công ty đều lớn hơn 1, chứng tỏ công ty đã phát huy được hết
công suất sử dụng tài sản. Tuy nhiên trong năm 2013, hiệu suất này có phần sụt giảm so với 2 năm trước. Vì thế công ty nên xác định được chính xác nhu cầu về tài sản cần, từ đó lên kế hoạch tìm kiếm nguồn tài trợ, mua sắm hay dự trữ tài sản. Điều này sẽ giúp công ty quản lý tốt tài sản, tiết kiệm chi phí và tăng sức cạnh tranh của công ty trên thị trường.
2.3. Thực trạng lợi nhuận của công ty CP Thép và Vật tƣ công nghiệp giai đoạn
2011-2013
2.3.1. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Bảng 2.7: Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty giai đoạn 2011-2013
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Chênh lệch 2013/2012 Chênh lệch 2012/2011 Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 % % Tuyệt Đối Tuyệt Đối
942,25 2.623,21 1.188,20 (1.680,96) (64,07) 1.435,01 120,77
916,04 2593,41 1151,25 (1.677,37) (64,68) 1.442,16 125,27
26,41 29,80 36,95 (3,39) (11,38) (7,15) (19,35)
0 0 0 0,00 0 0 0 1. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Doanh thu bán hàng Doanh thu cung cấp dịch vụ 2. Các khoản giảm trừ doanh thu
3. Doanh thu thuần 942,45 2.623,21 1.188,20 (1.680,76) (64,07) 1.435,01 120,77
4. Giá vốn hàng bán 880,93 2.469,60 1.095,85 (1.588,67) (64,33) 1.373,75 125,36
Giá vốn hàng đã bán 862,61 2446,32 1073,53 (1.583,71) (64,74) 1.372,79 127,88
18,32 23,28 22,32 (4,96) (21,31) 0,96 4,30 Giá vốn của dịch vụ cung cấp
5. Lợi nhuận gộp 61,52 153,61 92,35 (92,09) (59,95) 61,26 66,33
6. Chi phí bán hàng 20,56 42,60 29,59 (22,04) (51,74) 13,01 43,97
12,01 41,18 19,90 (29,17) (70,84) 21,28 106,93 7. Chi phí quản lý doanh nghiệp
8. Lợi nhuận thuần 28,95 69,83 42,86 (40,88) (58,54) 26,97 62,93
(Nguồn: Báo cáo KQKD Công ty giai đoạn 2011-2013)
Tại công ty Thép và Vật tư công nghiệp phương pháp tính lợi nhuận của hoạt
động sản xuất kinh doanh cũng như phương pháp tính lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khác (như đã lý luận ở Phần 1 trên).
38
Hiện nay Công ty đang tiến hành 2 hoạt động sau:
Hoạt động buôn bán, kinh doanh sắt thép, vật tư xây dựng
Hoạt động dịch vụ kinh doanh nhà hàng, kinh doanh bất động sản
Do vậy tổng doanh thu và giá vốn hàng bán của công ty cũng được tổng hợp từ 2 hoạt động trên. Từng hoạt động được bộ phận kế toán của công ty bóc tách riêng và
theo dõi doanh thu và giá vốn bỏ ra để từ đó tìm hiểu nguyên nhân tăng giảm lợi nhuận của hoạt động sản xuất kinh doanh, để có biện pháp tác động phù hợp.
Xét một cách tổng thể lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty trong ba năm từ 2011-2013 khá tốt và đây là nguồn lợi nhuận chính của công ty trong những năm qua. Mặc dù tình hình kinh doanh trong năm 2013 có phần sụt giảm so với 2 năm trước do sự cạnh tranh gay gắt từ thị trường, tình hình kinh tế vĩ mô
còn nhiều vất ổn và thị trường bất động sản đóng băng, ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình kinh doanh của công ty. Bằng những nỗ lực không ngừng, lợi nhuận thuần tự hoạt động kinh doanh này vẫn đang đem lại lãi cao cho công ty trong giai đoạn này.
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Tổng doanh thu năm 2011 đạt 1.188,2 tỷ đồng, năm 2012 đạt 2.623,21 tỷ đồng, tăng 1.435,01 tỷ đồng, tương đương với tăng 120,77%. Sự gia tăng mạnh này do doanh thu từ hoạt động bán hàng đem lại, cụ thể là
mặt hàng thép của công ty tăng 1.442,16 tỷ đồng, tương đương 125,27% đạt giá trị 2593,41 tỷ đồng vào năm 2012. Năm 2012 hàng loạt chính sách mới được Chính phủ đề ra trong nỗ lực đối phó với tình trạng tăng trưởng kinh tế thấp, kiểm soát lạm phát và tiêu thụ khó khăn đã giúp doanh thu bán hàng của công ty tăng trưởng mạnh mẽ. Bên cạnh đó, chính nhờ những sự nỗ lực của của đội ngũ lãnh đạo đã giúp công ty kiếm được các hợp đồng cung ứng lớn cung cấp vật liệu xây dựng như dự án Royal City - Hà Nội hay cầu vượt đường sắt
Uông Bí - Quảng Ninh… Tình hình doanh thu bán hàng của công ty tăng mạnh nhưng hoạt động cung cấp dịch vụ lại bị sụt giảm từ mức 36,95 tỷ đồng năm 2011, giảm xuống 29,80 tỷ đồng vào năm 2012, mức giảm tương ứng với 19,35%. Tuy nhiên ở hoạt động cung cấp dịch vụ, do tình hình kinh tế có phần đi xuống làm ảnh hưởng tới thu nhập của người dân nên số lượt khách đến với chuỗi nhà hàng AROMA của công ty có phần giảm. Hoạt động cho thuê, kinh doanh bất động sản của công ty cũng bị tác động do bất động sản đóng băng,
giá cho thuê mặt bằng và bán nhà cũng bị ảnh hưởng bợi yếu tố thị trường tác động vào.
Giai đoạn năm 2012-2013, Chính phủ đã đưa ra gói 30.000 tỷ đồng cứu thị trường bất động sản đóng băng, song gói kích thích này giải ngân rất chậm nên chưa có tác động nhiều vào thị trường. Mặt khác, trong năm 2013 sự cạnh tranh gay gắt thép trong nước và thép nhập khẩu giá rẻ từ Trung Quốc đã chiếm mất thị phần của các
doanh nghiệp trong nước làm tình hình kinh doanh trở nên khó khăn hơn. Vì thế, nên hoạt động kinh doanh dịch vụ nhà hàng, bất động sản của công ty giảm 11,38% xuống
39
còn 26,41 tỷ đồng. Hoạt động bán hàng cung cấp vật liệu xây dựng giảm mạnh hơn và
giảm 64,68% đạt giá trị 916,04 tỷ đồng. Kéo theo tổng doanh thu chỉ còn đạt 942,25 tỷ đồng vào năm 2013, giảm 1.677,37 tỷ đồng, tương đương giảm 64,07% so với mức doanh thu 2.623,21 tỷ đồng năm 2012.
Các khoản giảm trừ doanh thu: Trong cả 3 năm 2011, 2012 và 2013 công ty không có biến động về các khoản trừ doanh thu do công ty hoàn thành sản phẩm tốt
đáp ứng đúng nhu cầu khách hàng không có lỗi và không có sản phẩm bị trả lại. Do đó không xuất hiện các khoản giảm trừ doanh thu. Các khoản giảm trừ doanh thu bằng 0 tác động tích cực đến uy tín của công ty, khách hàng tin tưởng hơn vào chất lượng của hàng hóa, dịch vụ mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Doanh thu thuần: Do công ty không có nghiệp vụ giảm trừ doanh thu nên doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ bằng với doanh thu bán hàng và
cung cấp dịch vụ.
Giá vốn hàng bán: Doanh thu tăng lên dẫn đến việc giá vốn hàng bán cũng tăng, năm 2012 tăng 1.373,75 tỷ đồng lên 2.623,21 tỷ đồng. Theo đó ta có thể thấy, tỷ lệ thay đổi của giá vốn hàng bán năm 2012 tăng 125,36%. Điều này cho thấy doanh nghiệp có mức tăng của giá vốn hàng bán lớn hơn mức tăng của doanh thu thuần trong năm, do so sánh với tỉ lệ thay đổi của doanh thu thuần năm 2012 tăng 120,77% trong
khi tốc độ tăng của giá vốn hàng bán lại là 125,36%. Không những thế, trong giai đoạn này, mặc dù doanh thu hoạt động dịch vụ nhà hàng, bất động sản của doanh nghiệp có phần giảm sút, giảm 19,35% so với năm 2011 nhưng giá vốn dịch vụ năm 2012 lại tăng 4,3%. Như vậy doanh nghiệp đang có mức chi khá lớn cho giá vốn hàng hóa sản phẩm, đặc biệt là mức chi quá cao cho hoạt động dịch vụ.
Đến năm 2013, do doanh thu thuần giảm nên giá vốn hàng bán cũng giảm
1.588,67 tỷ đồng xuống còn 880,93 tỷ đồng. Mức giảm của giá vốn hàng bán là 64,33% khá tương đồng với mức giảm của doanh thu thuần là 64,07% so với năm trước.
Lợi nhuận gộp: Doanh thu bán hàng năm 2012 tăng mạnh là 1.435,01 tỷ đồng đồng thời tốc độ tăng của giá vốn hàng hóa cũng tương đối lớn là 1.373,75 tỷ đồng nên kéo theo lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ trong năm tăng lên 153,61 tỷ đồng so với lợi nhuận của năm 2011 là 92,35 tỷ đồng tương đương 66,33%. Năm
2013, doanh thu thuần của công ty giảm nhưng giá vốn vốn hàng bán lại giảm mạnh hơn một chút nên lợi nhuận trong năm chỉ giảm 59,95% so với năm trước đạt giá trị 61,52 tỷ đồng.
Chi phí bán hàng: Năm 2012 là 42,60 tỷ đồng tăng 13,01 tỷ đồng, tăng 43,97% so với năm 2011 là 29,59 tỷ đồng. Ta thấy chi phí bán hàng tăng nhưng xét về mặt con số tương đối nhưng chi phí bán hàng lại tăng chậm hơn so với doanh thu thuần. Việc
này cho ta thấy công tác quản lý, kiểm soát chi phí bán hàng của công ty tương đối tốt.
40
Trong khoản chi phí này chủ yếu là chi phí vận tải vận chuyển hàng hóa, năm 2011 là
22,19 tỷ đồng, năm 2012 là 34,8 tỷ đồng, lần lượt chiếm 75% và 81,69% trong tổng chi phí bán hàng. Điều này được lý giải do công ty hoạt động trong lĩnh vực thương mại, kinh doanh thép và nguyên vật liệu nên việc vận chuyển hàng hóa, sản phẩm đi các khu vực để giao hàng làm chi phí vận tải, xăng xe chiếm tỉ trọng cao nhất. Số còn lại là cho các khoản chi phí quảng cáo, chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí bằng tiền
khác như chi phí tiếp khách, giao dịch. Năm 2013, do doanh thu giảm vì bán được ít hàng hóa hơn nên chi phí bán hàng trong năm cũng giảm 22,04 tỷ đổng, tương ứng 51,74% đạt giá trị 20,56 tỷ đồng. Trong năm 2013, chi phí vận tải vẫn chiếm phần lớn tổng chi phí bán hàng, chi phí vận tải là 16,17 tỷ đồng, tương ứng với 78,65% chi phí bán hàng.
Chi phí quản lý doanh nghiệp: khoản chi phí này của công ty cũng tăng vào
năm 2012 sau đó giảm vào năm 2013 tương tự như chi phí bán hàng. Năm 2012 tăng 21,28 tỷ đồng, tương ứng tăng 106,93% lên 41,18 tỷ đồng. Đến năm 2013, chi phí quản lý doanh nghiệp giảm xuống còn 12,01 tỷ đồng, tương đương với 70,84%. Trong năm 2012 do tình hình kinh doanh tốt, nên công ty có tuyển thêm một số nhân viên và mua sắm đồ dùng văn phòng làm phát sinh thêm chi phí quản lý. Ngoài ra các năm công ty dành phần lớn chi phí này để trích lập khoản chi phí dự phòng để dự phòng
các khoản thu khó đòi, dự phòng các khoản phải trả cho các bên khách hàng và nhà cung cấp. Do đặc điểm kinh doanh của công ty hoạt động thương mại nên các khoản trích lập dự phòng lớn là rất cần thiết. Năm 2011, khoản trích chi phí dự phòng 7,04 tỷ đồng, năm 2012 là 25,26 tỷ đồng, năm 2013 là 8,24 tỷ đồng lần lượt chiếm 43,26%, 61,34%, 58,62%. Có thể thấy, khoản chi phí dự phòng của công ty có xu hướng tăng cao, giúp doanh nghiệp hạn chế trường hợp mất khả năng thanh toán khi không thu hồi
được nợ. Tuy nhiên các khoản chi phí dự phòng tăng làm tăng chi phí và giảm thu nhập và do đó sẽ làm giảm lợi nhuận của công ty. Vì vậy công ty nên có biện pháp thích hợp để quản lý thu, chi để làm tăng lợi nhuận một cách hiệu quả nhất.
Lợi nhuận thuần: của công ty từ hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2012 là 69,83 tỷ đồng tăng 62,93% so với năm 2011, tương ứng tăng 26,97 tỷ đồng. Năm 2013 lợi nhuận thuần giảm 40,88 tỷ đồng, tương đương 58,54%, xuống còn 28,95 tỷ đồng.
Mức tăng, giảm của lợi nhuận thuần khá tương đương với mức tăng, giảm của lợi nhuận thuần của hoạt động sản xuất kinh doanh. Mức thay đổi lợi nhuận thuần này chứng tỏ công ty đã khống chế được các chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp thay đổi theo mức lợi nhuận gộp hàng năm, để đảm bảo được mức lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh sau cùng của công ty.
Qua các phân tích trên, ta thấy được hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
trong 3 năm gần đây luôn mang lại lợi nhuận, như vậy nhìn chung lợi nhuận của từ
41
hoạt động kinh doanh này là tốt. Với việc tập trung vào chiến lược mở rộng sản xuất
và đa dạng hóa các mặt hàng kinh doanh đã giúp công ty có được thành công nhất định nâng cao được vị thế và uy tín của mình với các nhà cung cấp, đối tác và khách hàng.
2.3.2. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính
Hoạt động tài chính của công ty chủ yếu là từ lãi tiền gửi, cổ tức lợi nhuận được chia do đầu tư tài chính vào các công ty liên kết. Do thiếu vốn để mở rộng kinh doanh
nên Công ty phải huy động thêm vốn vay nhiều, lãi phải trả cao và hoạt động tài chính của công ty luôn bị thua lỗ. Kết quả hoạt động tài chính của Công ty thép và Vật tư công nghiệp qua 3 năm gần đây được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.8: Lợi nhuận từ hoạt động tài chính của Công ty giai đoạn 2011-2013
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Chênh lệch 2013/2012 Chênh lệch 2012/2011 Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 % % Tuyệt Đối Tuyệt Đối
6,74 1,02 1,61 5,72 560,78 (0,59) (36,65) 1. Doanh thu hoạt động tài chính
2. Chi phí tài chính 34,38 41,05 28,28 (6,67) (16,25) 12,77 45,16
Trong đó : Chi phí lãi vay 32,23 40,81 28,28 (8,58) (21,02) 12,53 44,31
(27,64) (40,03) (26,67) 12,39 (30,95) (13,36) 50,09 3. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính
(Nguồn: Báo cáo KQKD của Công ty giai đoạn 2011-2013)
Qua bảng trên, ta thấy tình hình hoạt động tài chính của công ty là không tốt, trong 3 năm liên tục hoạt động tài chính của công ty đều bị thua lỗ. Điều này là do công ty mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh song do vốn eo hẹp nên phải vay vốn từ
ngân hàng và các cá nhân khác để đầu tư sản xuất kinh doanh. Vì vậy, lãi vay phải trả tăng lên và luôn chiếm trên 93% tổng chi phí tài chính nên kết quả là hoạt động kinh doanh tài chính bị thua lỗ.
Năm 2012, doanh thu hoạt động tài chính của công ty vị sụt giảm 36,65%, xuống còn 1,02 tỷ. Không những thế, chi phí tài chính của công ty lại gia tăng lên 45,16% từ mức 28,28 tỷ đồng lên mức 41,05 tỷ đồng vào năm 2012. Doanh thu giảm và chi phí
tăng làm cho lợi nhuận từ hoạt động tài chính của công ty tiếp tục bị thua lỗ nặng hơn 50,09%, mức lỗ 40,03 tỷ đồng. Do trong năm 2012 công ty có gia tăng các khoản vay ngắn hạn từ mức 118,75 tỷ đồng ở năm 2011 lên mức 333,36 tỷ đồng năm 2012 kéo theo chi lãi vay tăng lên nhanh chóng.
Trong giai đoạn 2012-2013, doanh thu hoạt động tài chính có tăng có mạnh về mặt con số tương đối là 560,78%, song con số về mặt tuyệt đối chỉ là 5,72 tỷ đồng đạt
42
giá trị 6,74 tỷ đồng vào năm 2013. Trong năm qua, do bên đối tác và khách hàng chậm
trong việc thanh toán đơn hàng như đã thỏa thuận trước nên khoản mục lãi bán hàng trả chậm tăng mạnh từ mức 0,12 tỷ đồng lên mức 5,9 tỷ đồng vào năm 2013. Chi phí tài chính của công ty cũng được cải thiện hơn so với năm trước, chi phí tài chính năm 2013 đạt giá trị 34,38 tỷ đồng, giảm 6,67 tỷ đồng, tương ứng giảm 16,25% so với năm trước. Do các khoản vay tiền từ các ngân hàng được giảm lãi suất từ 14-15%/1 năm
trong năm 2012, xuống còn từ 10-11%/1 năm vào năm 2013 nên mặc dù khoản vay ngân hàng ít có thay đổi về lượng vốn vay nhưng lại được giảm về lãi vay nên khoản chi phí vay được giảm đi đáng kể. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính vẫn âm nhưng đã được cải thiện với năm 2012, giá trị trong kì lỗ 27,64 tỷ đồng, giảm được 12,39 tỷ đồng so với năm trước.
Hoạt động tài chính trong 3 năm công ty không được tốt, nhưng có chiều hướng
giảm do lãi suất huy động của Công ty từ các tổ chức vay có khuynh hướng giảm. Các khoản lỗ từ hoạt động này sẽ làm hạn chế mức độ tăng của tổng lợi nhuận. Việc nâng cao lợi nhuận từ hoạt động này là một bài toán hóc búa của công ty, bởi hoạt động này gắn với tình trạng vốn của Công ty mà vốn của công ty luôn phải đi vay từ nhiều nguồn do luôn phải mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh và tái đầu tư. Do đó, Công ty cần có thêm nhiều biện pháp để quản lý lại các khoản chi phí này để hạn chế sự thua
lỗ từ hoạt động tài chính.
2.3.3. Lợi nhuận từ hoạt động khác
Bảng 2.9: Lợi nhuận từ hoạt động khác của Công ty giai đoạn 2011-2013
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Chênh lệch 2013/2012 Chênh lệch 2012/2011 Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 % % Tuyệt Đối Tuyệt Đối
1. Thu nhập khác 0,72 0,153 (0,56) (77,78) 0,57 370,59 0,16
2. Chi phí khác 0,003 1,03 5.150 0,02 566,67 1,05 0,02
3. Lợi nhuận khác (0,89) 0,15 (1,59) (227,14) 0,55 366,67 0,70
(Nguồn: Báo cáo KQKD của Công ty giai đoạn 2011-2013)
Nhìn chung khoản thu nhập không thường xuyên này chiếm tỷ trọng rất thấp trong tổng lợi nhuận của công ty. Năm 2012, lãi từ hoạt động khác chỉ là 0,7 tỷ đồng nhưng tăng với tỷ lệ rất cao là 366,67%, tương ứng với mức tăng 0,55 tỷ về tuyệt đối so với năm trước. Nguyên nhân là do khoản thu nhập khác của công ty tăng mạnh từ 0,153 tỷ đồng lên 0,72 tỷ đồng vào năm 2013, tương đương tăng 370,59%. Do trong năm 2012, lượng hàng thép mua và bán của Công ty tăng mạnh nên chủ yếu được hưởng lợi
43
lớn từ những khoản thu nhập hàng do chênh lệch đầu cân, phần dôi thừa hàng hóa từ
phía nhà sản xuất khi giao hàng cho công ty giúp cho thu nhập khác tăng mạnh.
Năm 2013, lợi nhuận từ hoạt động khác này bị lỗ và giảm đi 1,59 tỷ đồng, tiền lỗ có giá trị là âm 0,89 tỷ đồng. Vì trong năm, thu nhập khác của doanh nghiệp bị giảm mạnh, do chỉ có phát sinh thanh lý ở một số tài sản đã lạc hậu. Phần chi phí khác trong năm tăng mạnh lên 1,05 tỷ đồng, tăng 1,03 tỷ và tăng 5150% so với năm trước. Chi
phí khác tăng cao do trong năm 2013, công ty bị nộp phạt hạch toán truy thu thuế, phạt nộp chậm và nộp phạt 10% do kê khai sai tài sản theo Quyết định số 22580 của Cục thuế TP Hà Nội. Do lợi nhuận từ hoạt động khác này mang tính chất không thường xuyên và biến đổi nên lợi nhuận từ hoạt động này không phải mục tiêu phấn đấu để tăng lợi nhuận chung của công ty. Do đó, công ty cần cố gắng hạn chế các khoản chi phí bất thường xảy ra từ đó hạn chế lỗ do hoạt động này đem lại.
2.3.4. Tổng hợp lợi nhuận của công ty
Sau khi đã nghiên cứu cho tiết lợi nhuận của từng hoạt động mang lại để có một
cái nhìn tổng quát của 3 loại lợi nhuận ta có bảng sau:
Bảng 2.10: Tổng hợp lợi nhuận của Công ty giai đoạn 2011-2013
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Chênh lệch 2013/2012 Chênh lệch 2012/2011 Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 % % Tuyệt Đối Tuyệt Đối
28,95
69,83 42,86 (40,88)
(58,54)
26,97 62,93
(27,64) (40,03) (26,67) 12,39 (30,95) (13,36) 50,09 1. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh 2. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính
3. Lợi nhuận khác (0,89) 0,70 0,15 (1,59) (227,14) 0,55 366,6 7
4. Tổng lợi nhuận trƣớc thuế 0,42 30,50 16,34 (30,08) (98,62) 14,16 86,66
5. Chi phí Thuế TNDN 0,18 6,18 3,70 (6,00) (97,09) 2,48 67,03
6. Tổng lợi nhuận sau thuế 0,24 24,32 12,64 (24,08) (99,01) 11,68 92,41
(Nguồn: Báo cáo KQKD của Công ty giai đoạn 2011-2013)
Trong những năm qua, mặc dù nền kinh tế còn nhiều bất ổn và chưa có dấu hiện phục hồi, các đối thủ cùng ngành cạnh tranh gay gắt. Song Công ty luôn cố gắng thay đổi để phù hợp với yêu cầu thị trường và trong 3 năm 2011 đến năm 2013 công ty luôn có lợi nhuận. Năm 2011, tổng lợi nhuận trước thuế của công ty là 16,34 tỷ đồng. Đến năm 2012, lợi nhuận của công ty mạnh 14,16 tỷ đồng, tương đương với 86,66% lên
44
mức 30,5 tỷ đồng. Mặc dù lợi nhuận từ hoạt động tài chính năm 2012 tăng mạnh do
các khoản vay ngân hàng và cá nhân của công ty tăng cao nhưng lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh tăng nên đã bù đắp được khoản lỗ từ hoạt động tài chính. Sang năm 2013, tổng lợi nhuận trước thuế của công ty sụt giảm mạnh, chỉ còn 0,42 tỷ đồng, mức giảm tương đương 98,62% so với năm 2013. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm này vẫn tốt, tuy nhiên do vẫn huy động vốn vay ở mức cao
nên mức lỗ từ hoạt động tài chính và phát sinh thêm khoản lỗ từ hoạt động khác làm cho tổng lợi nhuận trước thuế của công ty không cao so với các năm trước.
Sau khi đã tính toán được thu nhập chịu thuế TNDN bằng cách điều chỉnh các khoản thu nhập chịu thuế như cộng chi phí không hợp lý và trừ cổ tức, lợi nhuận được chia. Doanh nghiệp sẽ tính được chi phí thuế TNDN bằng 25% thu nhập chịu thuế TNDN. Tổng lợi nhuận sau thuế của công ty sau khi đã trừ đi chi phí TNDN vào năm
2012 là 24,32 tỷ đồng, tăng 11,68 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng 92,41%. Năm 2013, do tình hình kinh doanh kém hiệu quả hơn nên tổng lợi nhuận sau thuế giảm 99,01%, xuống còn 0,24 tỷ đồng.
Nhìn chung thông qua bảng số liệu tổng kết lợi nhuận ta thấy hoạt động kinh doanh chung của công ty đạt hiệu quả chưa cao. Công ty có lợi nhuận nhưng chưa có sự tăng trưởng bền vững và ổn định. Do đó trong các năm tới công ty cần phải có
những biện pháp khắc phục nhằm cải thiện tình hình lợi nhuận của công ty. Ta có biểu đồ tổng kết các loại lợi nhuận của công ty trong 3 năm qua.
Biểu đồ 2.6: Lợi nhuận từ các hoạt động của Công ty giai đoạn 2011-2013
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
69,83
70
42,86 50 28,95 30,5
30 16,34 0,15 0,42 0,7 10
-0,89 -10
-30 -26,67
-27,64
-40,03 -50
Lợi nhuận khác
Tổng lợi nhuận trƣớc thuế
Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh
Lợi nhuận từ hoạt động tài chính
45
2.3.5. Các chỉ tiêu về lợi nhuận
Để đánh giá đúng đắn chất lượng hoạt động của công ty CP Thép và Vật tư công nghiệp, ta phải kết hợp các chỉ tiêu về lợi nhuận như tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hay tỷ suất lợi nhuận trên tài sản, từ đó có cái nhìn đúng đắn nhất về hoạt động sản xuất kinh doanh chung của công ty. Qua đó, có những phương hướng điều chỉnh các nhân tố làm ảnh hưởng tới lợi nhuận của công ty để mang
lại lợi nhuận tối ưu. Ta có bảng tỷ suất lợi nhuận của công ty qua 3 năm như sau:
Bảng 2.11: Các chỉ tiêu về lợi nhuận của Công ty giai đoạn 2011-2013
Đơn vị tính: %
Chênh lệch Chỉ tiêu Công thức tính Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 13-12 12-11
Lợi nhuận sau thuế ROS 0,03 0,93 1,06 (0,90) (0,14) Doanh thu thuần
Lợi nhuận sau thuế ROA 0,05 2,72 2,07 (2,67) 0,65 Tổng tài sản
Lợi nhuận sau thuế ROE 0,14 14,30 10,40 (14,16) 3,90 Vốn chủ sở hữu
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo KQKD của công ty)
Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS): Năm 2011 cứ 100 đồng doanh thu thuần thì tạo ra 1,06 đồng lợi nhuận, trong khi vào năm 2012 tạo ra 0,93 đồng lợi nhuận, giảm 0,14 đồng. Chỉ tiêu ROS giảm mặc dù doanh thu thuần và lợi nhuận của năm 2012 cùng tăng mạnh so với năm 2011 chứng tỏ lợi nhuận có tốc độ tăng thấp
hơn so với doanh thu. Điều này phản ánh Công ty đã quản lý chi phí kém hiệu quả hơn so với năm 2011. Năm 2013, cứ 100 đồng doanh thu chỉ tạo 0,03 đồng lợi nhuận, giảm 0,9 đồng so với năm 2012. Như vậy, chỉ tiêu ROS liên tục sụt giảm trong các năm do công tác quản lý các loại chi phí của công ty rất kém, đặc biệt là chi phí tài chính luôn cao do công ty phải huy động vốn ở bên ngoài tương đối lớn. Công ty nên xem xét và tiến hành những biện pháp để tiết kiệm chi phí để làm tăng lợi nhuận.
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA): Năm 2011 chỉ số này thể hiện, cứ 100 đồng tài sản thì tạo ra được 2,07 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2012, chỉ số này tăng 0,65 đồng lên mức 2,72 đồng lợi nhuận sau thuế. Quy mô tổng tài sản năm 2012 của công ty tăng 46,53% tuy nhiên ta thấy, tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế năm 2012 lại tăng 92,41% so với năm 2011 dẫn đến tỷ suất ROS trong năm tăng lên cao. Điều này có thể thể hiện rằng Công ty đã sử dụng tài sản tốt hơn so với năm 2011. Giống như
chỉ tiêu sinh lời trên doanh thu, đến năm 2013 thì chỉ tiêu sinh lời trên tổng tài sản cũng giảm mạnh 2,67 đồng, chỉ còn tạo ra 0,05 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2013,
46
chứng kiến quy mô tổng tài sản và lợi nhuận sau thuế đều tụt giảm mạnh so với năm
2012 song lợi nhuận sau thuế tụt giảm mạnh hơn ở mức 99,01% so với mức tụt giảm 38,52% của tổng tài sản. Tuy doanh nghiệp làm ăn vẫn có lãi nhưng sức sinh lời của tài sản đang kém đi.
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE): Giống như chỉ tiêu ROA, chỉ tiêu ROE cũng tăng trong giai đoạn 2011-2012 và giảm mạnh trong giai đoạn 2012-2013.
Năm 2011, cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu mang lại 10,4 đồng lợi nhuận. Năm 2012, chỉ tiêu này tăng cao thêm 3,9 đồng, đạt 14,3 đồng lợi nhuận sau thuế, chứng tỏ khả năng sinh lời trong 2 năm ở khoản mục này của công ty rất cao. Song song với việc tăng quy mô vốn chủ sở hữu trong năm 2012 lên 170,16 tỷ, tương đương với tăng 40,67%, tốc độ tăng của lợi nhuận năm 2012 còn cao hơn, tăng với tốc độ 92,41% làm cho chỉ tiêu sinh lời này tăng mạnh. Ngược lại, đến năm 2013, nguồn vốn chủ sở hữu của công
ty không đổi trong khi lợi nhuận lại giảm đi mạnh. Kết quả là tỷ số ROE đạt mức thấp nhất trong 3 năm qua là 0,14%, nghĩa là cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu chỉ đem lại 0,14 đồng lợi nhuận sau thuế.
Nếu sử dụng phương pháp phân tích Dupont thì ROA và ROE có thể được tính
toán như sau:
Bảng 2.12: Chỉ tiêu ROA theo Dupont của Công ty giai đoạn 2011-2013
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần = ROA x Doanh thu thuần Tổng tài sản
% Lần Đơn vị %
0,03 = 1,71 x Năm 2013 0,05
0,93 = 2,93 x Năm 2012 2,72
1,06 = 1,94 x Năm 2011 2,07
(0,9) (1,22) Chênh lệch 13-12 (2,67)
(0,13) 0,99 Chênh lệch 12-11 0,65
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo KQKD của công ty)
Theo bảng trên có thể thấy rằng chỉ tiêu ROA bị ảnh hưởng bởi ROS và hiệu suất sử dụng tài sản hay vòng quay tài sản. Năm 2012 ROA tăng so với năm 2011 là 0,65%
chủ yếu là do hệ số vòng quay tài sản tăng lên 0,99 lần đã bù trừ được mức giảm của ROS là 0,13%. Năm 2012, do làm tốt công tác sử dụng tài sản đúng mục đích và hiệu quả như đưa ra chính sách tín dụng nới lỏng làm tăng các khoản phải thu ngắn hạn nhưng giúp công ty lại bán được nhiều hàng hơn. Tốc độ tăng doanh thu thuần của công ty lớn hơn tốc độ tăng của các khoản phải thu đã minh chứng cho điều này. Tuy
47
nhiên, việc quản lý các khoản phải thu khiến chi phí quản lý doanh nghiệp tăng nên
sang năm 2013, công ty đã siết chặt hơn chính sách tín dụng của mình để làm giảm quy mô các khoản phải thu hay giảm tổng tài sản từ đó tăng hiệu suất sử dụng tài sản. Thay vì hiệu suất sử dụng tài sản tốt hơn thì năm 2013, hiệu suất sử dụng tài sản lại bị giảm đi 1,22 lần do doanh thu giảm do không có nhiều đơn hàng như năm trước. Doanh thu giảm làm lợi nhuận sau thuế cũng giảm theo và giảm mạnh hơn nên làm
cho ROS giảm và giảm 0,9% khiến cho ROA vào năm 2013 chỉ còn là 0,05%, mức thấp nhất trong 3 năm gần đây.
Bảng 2.13: Chỉ tiêu ROE theo Dupont của Công ty giai đoạn 2011-2013
Lợi nhuận sau thuế
Doanh thu thuần
Tổng Tài sản
x
x
= ROE
Doanh thu thuần
Tổng tài sản
Vốn CSH
Lần
Lần
%
Đơn vị
%
x
1,71
x
3,23
=
0,03
Năm 2013
0,14
x
2,93 lần
x
5,26
=
0,93
Năm 2012
14,30
x
1,94 lần
x
5,05
=
1,06
Năm 2011
10,40
(2,03)
Chênh lệch 13-12
(14,16)
0,21
(1,22) lần (0,9)
Chênh lệch 12-11
3,90
0,99 lần (0,13)
(Nguồn: Số liệu tính được từ Báo cáo KQKD của công ty)
Chỉ tiêu ROE theo Dupont bị ảnh hưởng bởi 3 yếu tố: ROS, hiệu suất sử dụng tài sản và đòn bẩy tài chính. Năm 2012, ROE tăng do ROS chỉ bị giảm nhẹ nhưng 2 chỉ tiêu còn lại lại tăng khá cao. Cụ thể ROS giảm 0,13% nhưng hiệu suất sử dụng tài sản lại tăng 0,99 lần và đòn bẩy tài chính cũng tăng 0,21 lần kết quả làm cho ROE tăng 3,9% đạt giá trị 13,3%. Ngoài kích thích tăng trưởng hiệu suất tài sản và ROS đã nói ở
chỉ tiêu ROA trên, công ty còn sử dụng đòn bẩy tài chính nhiều hơn thể hiện qua chỉ số tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu tăng từ 5,05 năm 2011 lên 5,26 năm 2012. Tác động của tăng của đòn bẩy tài chính giúp ROE tăng lên 3,9%. Tuy nhiên, hệ số này trong năm 2013 lại bị giảm 2,03 lần cùng với sự sụt giảm của hai chỉ tiêu còn lại đã khiến cho ROE giảm còn 0,14%. Điều này có thể đưa ra một kết luận, công ty đang bị ảnh hưởng khá nhiều bởi vốn nợ, chủ yếu sử dụng nợ làm nguồn vốn để phục vụ hoạt
động sản xuất kinh doanh. Hiện tại hệ số trong 2 năm 2011-2012 ở trên mức 5,05 lần nhưng năm 2013, hệ số này giảm còn 3,23 lần. Đây là một con số tương đối lớn chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng nhiều nợ hơn so với vốn chủ sở hữu để tài trợ cho tài sản vì vậy doanh nghiệp có khả năng sinh lời cao nhưng lại kém tính tự chủ tài chính.
48
Biểu đồ 2.7: Tốc độ tăng các chỉ tiêu lợi nhuận của Công ty giai đoạn 2011-2013
Đơn vị tính: %
16 14,3
14
12
10,4
10 ROS 8 ROA
6 ROE
4 2,72 2,07
2 0,93 1,06
0,14 0,05 0,03 0
Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Qua các phân tích và dựa theo biến động các chỉ tiêu lợi nhuận của Công ty ở trên ta thấy cả 3 chỉ tiêu lợi nhuận đều tăng trưởng tốt ở giai đoạn 2011-2012 và sụt giảm mạnh giai đoạn 2012-2013. Điều này cho thấy công ty chưa quản lý tốt các loại
chi phí của doanh nghiệp và sử dụng tài sản một cách hợp lý để tạo ra được nhiều lợi nhuận. Vì vậy, công ty cần có những biện pháp hợp lý trong việc quản lý chi phí, doanh thu và tăng hiệu suất sử dụng của tài sản nhằm làm gia tăng khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp từ những yếu tố đầu vào sẵn có.
2.4. Đánh giá các nhân tố ảnh hƣởng đến lợi nhuận của công ty CP Thép và Vật
tƣ công nghiệp
2.4.1. Các nhân tố làm tăng lợi nhuận của công ty
2.4.1.1. Chính sách bán hàng của công ty
Hoạt động kinh doanh của Công ty dựa trên nhu cầu của thị trường, các mối
quan hệ kinh doanh lâu dài, đã tạo được uy tín và xây dựng niềm tin lẫn nhau. Công ty
thực hiện việc bán hàng theo phương thức trả chậm và bán chịu hàng hóa đối với một
số khách hàng thân thiết cũng như doanh nghiệp lớn. Việc có những chính sách tín
dụng và các phương thức bán hàng trả chậm làm tăng doanh thu do đẩy mạnh được
lượng hàng bán ra của công ty sẽ đồng thời làm gia tăng gián tiếp lợi nhuận cuối cùng
của công ty. Tuy nhiên nếu thực hiện không tốt công tác kiểm tra công nợ sẽ khiến chi
phí tăng, khách hàng chiếm dụng vốn quá lâu làm mất cơ hội đầu tư ảnh hưởng tới lợi
nhuận sau này.
49
Chính sách tín dụng
Công ty chia khách hàng thành 2 nhóm là khách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp. Với mỗi nhóm công ty sẽ áp dụng các chính sách và điều kiện tín dụng khác nhau. Cụ thể:
Đối với khách hàng cá nhân tiêu dùng mua hàng trực tiếp tại các đại lý, công ty bán theo phương thức thanh toán ngay 100% bằng tiền mặt giá trị lô hàng trước khi
nhận hàng,chi phí vận chuyển khách hàng chịu nếu khách mua nhiều sẽ được miễn phí vận chuyển trong phạm vi dưới 20km kể từ kho. Giá bán công ty đối với khách hàng cá nhân là áp dụng theo giá bán lẻ trên thị trường.
Đối với khách hàng là doanh nghiệp, nhằm khuyến khích gia tăng khối lượng bán, đẩy mạnh hoạt động bán và thanh toán đúng thời hạn,công ty đưa ra điều kiện tín dụng áp dụng năm 2011 và năm 2013 là “1,5/30 net 90”. Có nghĩa là sau 90 ngày,
khách hàng sẽ phải trả toàn bộ số tiền mua hàng nhưng nếu người này trả trong vòng 30 ngày đầu, họ sẽ được hưởng một khoản chiết khấu là 1,5% giá trị của lô hàng (lớn hơn 10 tấn cho một lần mua). Với phương thức bán hàng này công ty sẽ chịu toàn bộ chi phí vận chuyển, bao gồm công bốc dỡ hàng hóa và chi phí xăng xe.
Chính sách bán hàng trả chậm
Công ty thực hiện việc bán hàng theo phương thức trả chậm đối với một số khách
hàng thân thiết cũng như doanh nghiệp lớn hoặc các khách hàng mua trả chậm có bảo lãnh của ngân hàng. Lãi suất và ngày trả tiền được thỏa thuận trên quy tắc thỏa thuận 2 bên như số lượng hàng, số tiền thanh toán trước, thời hạn vay (thông thường là trên 5 tháng), lãi suất ngân hàng tại thời điểm mua hàng, cách thu hồi khoản nợ. Tuy nhiên vẫn có một số trường hợp phát sinh như sau:
- Trường hợp khách hàng ký hợp đồng mua hàng trả chậm nhưng thanh toán sớm
hơn hạn định thì sẽ thanh toán lại phần lãi xuất do thanh toán sớm theo tỷ lệ lãi xuất tiền vay tại thời điểm trả tiền cho ngân hàng công bố +0,3% trên số ngày thanh toán trước hạn.
- Trường hợp khách hàng nợ quá hạn Công ty sẽ gửi biên bản xác nhận công nợ tới khách hàng, nhắc nhở tình trạng không trả nợ đúng hạn. Liên hệ điện thoại trực tiếp để hối thúc khách hàng trả nợ hoặc cử người đến đơn vị khách hàng để vận động trả nợ
sau đó tiến hàng các thủ tục pháp lý đòi nợ. Tuy nhiên, trước khi tiến hành các thủ tục đòi nợ công ty sẽ xem xét các khoản nợ có giá trị bao nhiêu và thời gian quá hạn là bao lâu để có biện pháp đòi nợ thích hợp, hạn chế tốn kém nhiều chi phí đối với các khoản nợ có giá trị nhỏ và thời hạn thanh toán chỉ vài ngày.
50
2.4.1.2. Nhà cung cấp và mạng lưới tiêu thụ của công ty
Thế mạnh của Công ty là khả năng cung ứng các mặt hàng về thép từ nguồn hàng nhập khẩu và sản xuất trong nước đảm bảo chất lượng, nguồn hàng cung ứng với mức giá cạnh tranh nhất. Trong giai đoạn 2011-2013 vừa qua, công ty đã ký kết Hợp đồng phân phối, đại lý cấp 1 bán hàng với các nhà sản xuất thép:
Bảng 2.14: Các nhà sản xuất cung cấp hàng của Công ty giai đoạn 2011-2013
Nhà sản xuất Sản phẩm
Công ty CP sản xuất thép Việt Đức VGS
Công ty TNHH thép VSC – POSCO Thép Việt Hàn
Công ty CP thép Việt Ý Thép Việt Ý
Công ty CP ống thép Việt Đức VGPIPE Ống thép VG
1 số đơn vị nhập khẩu Phôi thép, thép hình các loại
(Nguồn: Báo cáo kết quả thường niên của Công ty giai đoạn 2011-2013)
Với khả năng cung cấp hàng hóa đảm bảo chất lượng, chính sách khuyến khích tiêu thụ hấp dẫn, dịch vụ sau bán hàng tốt, Công ty CP thép và vật tư công nghiệp được các nhà thầu xây dựng, chủ đầu tư, công ty tư vấn tín nhiệm. Các sản phẩm hàng hóa của Công ty luôn có chất lượng tốt và đảm bảo nên có hàng lỗi, hỏng hóc nên đã giúp các khoản mục giảm trừ doanh thu trong 3 năm 2011 đến 2013 không phát sinh
và không làm ảnh hưởng tới lợi nhuận của Công ty.
Nhằm đảm bảo nguồn cung cấp hàng ổn định, công ty cũng duy trì mối quan hệ với các nhà sản xuất khác như: Công ty gang thép Thái Nguyên CN Hà nội, Công ty CP kim khí Hà Nội, Công ty thép Hòa Phát… và một số doanh nghiệp thương mại: Công ty TNHH TM Thái Sơn, Công ty CP đầu tư và phát triển công nghiệp INDECO, Công ty CP thép vật tư tổng hợp, Công ty CP thương mại Hiệp Hương, Công ty
TNHH Kim khí Hoàng Phong, Công ty TNHH Kinh doanh thép và vật liệu xây dựng, Công ty CP sản xuất và thương mại thép Nhật Minh,…
Công ty có mạng lưới tiêu thụ rộng khắp trải dài từ Bắc vào Nam. Hệ thống phân phối sản phẩm của Công ty với 4 chi nhánh đặt tại các thành phố lớn như: Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh. Tổng số khách hàng của Công ty lên đến hơn 100 đơn vị bao gồm nhiều thành phần kinh tế: doanh nghiệp Nhà nước, Tổng công
ty chuyên về lĩnh vực xây dựng, doanh nghiệp ngoài quốc doanh, nhà thầu nước ngoài thi công công trình tại Việt Nam, các cửa hàng bán lẻ.
2.4.1.3. Kết cấu mặt hàng kinh doanh
Như đã phân tích ở trên, doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh chiếm phần lớn tổng doanh thu trong những năm qua của công ty. Cụ thể, doanh thu từ hoạt động
51
sản xuất kinh doanh từ năm 2011 đến năm 2013, chiếm tỷ trọng lần lượt là 96,5%,
99,93%, 99,85%. Hơn thế nữa, lợi nhuận từ hoạt động này mang tính ổn định và là nguồn lợi nhuận chính của công ty. Hoạt động sản xuất kinh doanh này bao gồm kinh doanh buôn bán sắt thép, cho thuê kho bãi, kinh doanh nhà hàng, môi giới bất động sản nhưng doanh thu đa phần là do mặt hàng kinh doanh thép của công ty đem lại. Ta có bảng cơ cấu về sản lượng bán và giá trị trong 3 năm như sau:
Bảng 2.15: Kết cấu mặt hàng kinh doanh thép của Công ty giai đoạn 2011-2013
Đơn vị tính: Tỷ đồng
Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011
Giá trị Giá trị Giá trị Nhóm hàng
% % % Sản lượng (tấn) Sản lượng (tấn) Sản lượng (tấn) Số tiền Số tiền
53,17 22,46 73,93 1240 2486 3759 2,85
78 458
1. Thép xây dựng 2,45 2. Thép tấm, lá 3. Phế liệu, phôi thép 11854 154,44 16,86 4,82 257 0,16 4. Thép hình 3,51 356 0,50 5. Thép khác 100 168484 2593,4 Tổng Số tiền 47215 733,12 80,03 132256 2087,5 80,49 52395 863,43 75,00 4,62 31856 423,68 16,34 15435 216,09 18,77 1,00 0,61 100 11,51 596 0,19 7,05 663 0,14 100 71575 1151,3 1,47 4,55 60845 916,04
(Nguồn: Báo cáo kết quả thường niên của Công ty giai đoạn 2011-2013)
Công ty trong những năm qua luôn đa dạng các loại hình dịch vụ kinh doanh, mở rộng sản xuất để phục vụ tối đa nhu cầu của xã hội, đồng thời uy tín của công ty cũng được cải thiện. Hoạt động cung cấp, buôn bán sắt thép của công ty cũng đa dạng về chủng loại và nhóm hàng. Nhìn chung, công ty chủ yếu là cung cấp thép xây dựng để phục vụ cho các khách hàng doanh nghiệp hay các dự án bất động sản lớn, thép xây dựng của công ty luôn chiếm trên 75% cơ cấu mặt hàng thép. Ngoài ra, công ty còn
thu mua, nhập khẩu phôi thép, thép phế để phục vụ sản xuất các mặt hàng thép vì trong nước ta nguồn thép phế, phôi thép còn nhiều hạn chế do không có tài nguyên hoặc đã khai thác gần như cạn kiệt. Thép tấm cũng được công ty chú trọng nhập khẩu do thép tấm được dùng nhiều trong sản xuất máy móc, thiết bị chính xác. Đây được coi là chủ trương của Nhà nước khuyến khích việc sản xuất, chế tạo các loại máy móc thiết bị thay thế cho việc nhập khẩu nguyên chiếc từ nước ngoài.
2.4.1.4. Nguồn nhân lực
Nhân tố con người là một trong những nhân tố quan trọng nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp thương mại dịch vụ, hoạt động trong nhiều lĩnh kinh doanh như công ty CP Thép và Vật tư công nghiệp thì nguồn nhân lực có tính chất quyết định đến lợi nhuận của công ty. Vì vậy công ty luôn
52
đặt mục tiêu xây dựng đội ngũ nhân viên ngày một chuyên nghiệp, có trình độ hiểu
biết, am hiểu sâu trong lĩnh vực kinh doanh của Công ty.
Trong công tác quản lý nhân lực, công ty có sự sắp xếp hợp lý giữa các phòng ban giúp các phòng ban phối hợp, thực hiện xử lý các thông tin một cách khoa học và ra đưa ra các quyết định hợp lý, chính xác để đem lại hiệu quả kinh doanh cao. Ngoài ra ban lãnh đạo công ty còn có các biện pháp, hình thức khuyến khích vật chất và tinh thần để
động viên cán bộ công nhân viên giúp nhân viên nâng cao tinh thần, say mê công việc, tái tạo sức lao động để phục vụ hiệu quả hơn cho công ty.
Công ty có đội ngũ cán bộ kinh doanh có nhiều kinh nghiệm và chuyên môn cao kết hợp với đội ngũ trẻ năng động, nhiệt huyết phụ trách các hoạt động thâm nhập thị trường, khai thác nguồn khách hàng. Trong hoạt động kinh doanh thương mại, đội ngũ này thể hiện sự sáng tạo, khả năng ứng phó linh hoạt, năng động trong công việc đem lại
các hợp động lớn cho công ty và được sự tín nhiệm của ban lãnh đạo.
2.4.2. Các nhân tố làm giảm lợi nhuận của công ty
2.4.2.1. Nhân tố lãi vay
Bảng 2.16: Cơ cấu và chi phí lãi vay của Công ty giai đoạn 2011-2013 Đơn vị tính: Tỳ đồng
Chênh lệch 2013/2012 Chênh lệch 2012/2011 Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 % % Tuyệt Đối Tuyệt Đối
Vay ngắn hạn 291,84 333,36 118,75 (41,52) (12,46) 214,61 180,72
Vay dài hạn 33,96 36,36 25,98 (2,40) (6,60) 10,38 39,95
Chi phí lãi vay 32,23 40,81 28,28 (8,58) (21,02) 12,53 44,31
(Nguồn: Báo cáo KQKD của của Công ty giai đoạn 2011-2013)
Trong những năm qua, do có sự can thiệp từ chính phủ tình hình lãi suất cho vay từ các ngân hàng giảm dần qua các năm giúp các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay
một cách dễ dàng hơn để phục vụ việc mở rộng sản xuất kinh doanh. Mặc dù nguồn vốn vay ngân hàng ngắn hạn có giảm dần từ đỉnh năm 2011 là 22%/năm, đến năm 2012 lãi suất cho vay ngắn hạn ngân hàng giảm mạnh chỉ còn từ 12%-15%/ năm, năm 2013 lãi suất tiếp tục giảm còn 10-11,5%/năm. Tuy nhiên, lãi suất có giảm song chi phí lãi vay của công ty vẫn có xu hướng tăng lên do công ty vay thêm vốn để trang trải hoạt động kinh doanh. Cụ thể hơn, năm 2012, các khoản vay ngắn hạn tăng từ 118,75
tỷ đồng năm 2011 lên 333,36 tỷ đồng. Vay dài hạn trong năm cũng tăng lên lên 39,95% lên 36,36 tỷ đồng kéo chi phí lãi vay của công ty tăng lên 44,31% so với năm 2011 lên 40,81 tỷ. Lãi suất năm 2013 trung bình giảm còn 10%/năm đối với vay ngắn hạn và 12%/năm đối vay dài hạn (các khoản vay dài hạn trong 3 năm của công ty đều
53
là vay từ cá nhân). Lãi suất giảm giúp cho chi phí lãi vay của công ty giảm nhẹ còn
32,23 tỷ đồng năm 2013 nhưng khoản chi phí này vẫn cao làm ảnh hưởng tới lợi nhuận của công ty.
2.4.2.2. Ảnh hưởng nền kinh tế và các chính sách của Nhà nước
Là ngành công nghiệp quan trọng của nền kinh tế, ngành thép chịu mọi biến động của nền kinh tế quốc dân cũng như biến động của nền kinh tế thế giới trong xu
hướng toàn cầu hóa, tự do mậu dịch. Trước những biến động của nền kinh tế, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới diễn ra vào năm 2008 cộng những vấn đề nội tại khiến kinh tế Việt Nam ngày càng khó khăn và chưa thể thoát ra khỏi suy thoái. Từ đó, Chính phủ đã phải đưa ra nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy tăng trưởng như hạ lãi suất, tạo điều kiện giảm hàng tồn kho cho doanh nghiệp. Với hành động này, sản xuất công nghiệp và dịch vụ năm 2013 đã nhích lên, song vẫn còn ở
mức rất thấp. Mới đây nhất, gói kích cầu 30.000 tỷ đồng để gỡ rối bất động sản nhưng do giải ngân chậm vì nhiều vướng mắc nên chưa phát huy được hiệu quả cần thiết làm ngành xây dựng đặc biệt là ngành thép tiếp tục khó khăn.
Việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ nhằm kiềm chế lạm phát với nhiều biện pháp như cắt giảm đầu tư công, thắt chặt tài chính tiền tệ đã ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành kinh tế trong đó có ngành sản
xuất, kinh doanh thép và vật liệu xây dựng. Những năm tới, khi Việt Nam hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, hàng rào thuế quan phải giảm dần theo lộ trình cam kết WTO và AFTA (mức hiện tại của phôi thép từ 5-20%, thép xây dựng từ 10-30% và theo mức cam kết năm 2014 thuế phôi thép nhập khẩu chỉ còn 5-10% và 5-25% thuế thép xây dựng nhập khẩu), thép nhập khẩu từ Trung Quốc và các nước trong khu vực ASEAN với ưu thế về giá rẻ sẽ càng tạo thêm áp lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong
nước. Những điều trên sẽ gây khó khăn và làm ảnh hưởng trực tiếp, làm giảm doanh thu cũng như lợi nhuận của Công ty.
2.4.2.3. Đối thủ cạnh tranh
Đối thủ trong nước
Công ty CP Thép và Vật tư công nghiệp là đơn vị chuyên phân phối các loại thép và vật tư công nghiệp trong nước. Vì thế, đối thủ cạnh tranh của công ty không chỉ là
các công ty hoạt động thương mại trong lĩnh vực phân phối thép mà đối thủ của công ty còn là các công ty sản xuất trực tiếp mặt hàng này. Ngành thép hiện nay có trên 40 doanh nghiệp sản xuất thép xây dựng và 5 doanh nghiệp sản xuất thép tấm. Tương ứng với các công ty sản xuất thép thì cũng có tương đương các nhà phân phối thép hoạt động. Sự cạnh tranh có thể dẫn tới việc gia tăng chi phí quảng cáo và hoạt động hậu mãi hoặc các đối thủ sẽ đưa ra các chính sách cạnh tranh không lành mạnh nhằm tiêu
54
diệt đối thủ. Do đó, Công ty sẽ phải đầu tư thêm cho việc nghiên cứu phát triển thị
trường cũng như các chiến lược hậu mãi, quảng cáo. Những chi phí này có thể làm ảnh hưởng tới lợi nhuận và cũng ảnh hưởng không tốt đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty.
Đối thủ đến từ nước ngoài
Có thể thấy ngành thép Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất và phân
phối thép phía Bắc đang phải đối mặt với tình hình cạnh tranh lớn, không chỉ trong nội bộ ngành mà còn cả áp lực từ nguồn nhập khẩu nước ngoài, đặc biệt là nguồn thép thông qua nhập khẩu tiểu ngạch Trung Quốc. Ngoài ra, trong tương lai hàng loạt các dự án xây dựng khu liên hiệp thép cũng sẽ được xây dựng, tạo thêm nguồn cung cho thị trường trong nước vốn đã đang dư thừa.
Theo số liệu hải quan thì lượng thép cuộn có chứa hợp kim Boron nhập từ Trung
Quốc vào Việt Nam chỉ trong 7 tháng năm 2012 đã gấp 5,5 lần cùng kỳ năm 2011. Trong năm 2013, sản lượng thép nhập khẩu lên tới gần 9 triệu tấn, chủ yếu là thép xây dựng và đa số là nhập từ Trung Quốc. Việc thép nhập khẩu giá rẻ từ Trung Quốc tràn vào ngày càng nhiều cũng gây khó khăn lớn cho doanh nghiệp, nhất là thép hợp kim có chứa nguyên tố Boron nhập khẩu từ Trung Quốc, làm cho các doanh nghiệp sản xuất trong nước phải giảm sản lượng, sản xuất cầm chừng, nhiều doanh nghiệp có thời
điểm chỉ sản xuất 40-50% công suất, làm tăng chi phí cố định trên mỗi tấn sản phẩm. Giá bán từ nhà sản xuất cao gây ảnh hưởng đến nguồn nhập của Công ty do giá hàng hóa tăng lên làm ảnh hưởng tới chi phí giá vốn hàng bán và lợi nhuận sẽ bị sụt giảm.
2.4.2.4. Biến động tỷ giá và giá nguyên liệu tăng cao
Là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại và kinh doanh thép, nhu cầu nhập khẩu phôi thép, thép hình để giao trả hàng cho bên sản xuất ra thép thành phẩm
là hoạt động thường xuyên của công ty. Bởi vậy, biến động tỷ giá hối đoái cũng sẽ gây ra những tác động nhất định với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Hơn thế nữa việc sản xuất, thu mua thép trong nước bị ảnh hưởng bởi biến động giá nguyên liệu. Đặc thù của ngành thép là giá nguyên liệu đóng góp tỷ trọng rất lớn (khoảng trên 90%) trong tổng giá vốn hàng bán, thêm vào đó 70% nguyên liệu dùng để luyện phôi phải đi nhập khẩu. Đặc thù này dẫn đến rủi ro đáng kể do biến động giá
nguyên liệu đối kết quả kinh doanh của công ty. Giá phôi thép tháng 1/2013 giao động khoảng 580-590 USD/tấn, tuy nhiên giá phôi thép nhập khẩu ngay trong tháng 2/2013 lại tăng 20-30 USD/tấn giữ mức trung bình 600-620 USD/tấn. Giá nguyên liệu nhập về tăng khiến giá vốn tăng song các công ty cũng không tăng giá nhằm đảm bảo doanh số bán ra, cũng như cam kết với khách hàng vì thế làm tăng chi phí dẫn đến giảm lợi nhuận của công ty.
55
PHẦN 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO LỢI NHUẬN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
THÉP VÀ VẬT TƢ CÔNG NGHIỆP
3.1. Định hƣớng phát triển của công ty CP Thép và Vật tƣ công nghiệp
3.1.1. Khái quát môi trường kinh doanh của công ty CP Thép và Vật tư công
nghiệp
Môi trường kinh doanh là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Môi trường thuận lợi tạo cơ hội cho các doanh nghiệp phát triển, nhưng ngược lại, nó cũng có thể là rào cản khắc nghiệt, kìm hãm sự đi lên của doanh nghiệp
3.1.1.1. Thuận lợi
Sản phẩm của ngành thép có liên quan đến hầu hết các ngành kinh tế và quốc phòng của một đất nước. Vì thế đòi hỏi nhà nước phải có sự quan tâm đặc biệt đối với
ngành công nghiệp này. Với nhu cầu tiêu thụ trong nước ngày một tăng cao chắc chắn sẽ đem lại nhiều cơ hội cho công ty CP Thép và Vật tư Công nghiệp trong những năm tới.
Nhìn chung tất cả các doanh nghiệp kinh doanh ở Việt Nam đều có một thuận lợi chung đó là cùng được hoạt động trong một môi trường chính trị ổn định và bền vững. Hệ thống các văn bản pháp luật về lĩnh vực kinh doanh ngày càng đầy đủ hơn tạo điều kiện hoạt động thuận lợi cũng như hành lang pháp lý cho kinh doanh thương mại cũng
như các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác
Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật cùng những tiến bộ về công nghệ ngày nay đã trở thành một yếu tố vô cùng thuận lợi để doanh nghiệp phát triển, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ. Với sự phong phú về hàng hoá thì công ty sẽ cung cấp những sẩn phẩm, dịch vụ tốt nhất, thỏa mãn tối đa nhu cầu và mong muốn của khách hàng..
Nguồn nhân lực dồi dào và lợi thế nhân công giá rẻ góp phần làm tăng lợi thế
cạnh tranh về giá cho các doanh nghiệp sản xuất thép Việt Nam.
Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam về mặt trung và dài hạn được coi là có khả năng đạt tốc độ tăng trưởng cao so với các nước trong khu vực cũng như các nước trên thế giới. Nguồn vốn đầu tư chảy vào Việt Nam sẽ tăng nhanh, cơ hội lớn cho mọi ngành mở rộng hoạt động sản xuất. Nhu cầu tiêu thụ thép trẻ nên lớn hơn theo sự tăng
trưởng của các ngành công nghiệp.
3.1.1.2. Khó khăn
Kinh tế thế giới và kinh tế Việt Nam suy giảm trong những năm gần đây, ảnh hưởng tới nhu cầu tiêu thị thép. Cộng thêm tình trạng cung cầu mất cân đối khiến các doanh nghiệp sản xuất thép trong nước phải cắt giảm sản lượng để cầm chừng, nhiều
56
doanh nghiệp có thời điểm chỉ sản xuất 40-50% công suất, làm tăng chi phí cố định
trên mỗi tấn sản phẩm.
Nhiều ngân hàng cũng lâm vào tình cảnh khó khăn mặc dù đã nổ lực triển khai các giải pháp như sáp nhập, tái cơ cấu, duy trì sức tăng trưởng. Tuy nhiên những giải pháp này vẫn không thực sự hiệu quả dẫn đến việc tiếp cận vốn vay ngân hàng của các doanh nghiệp trong nước cũng bị kéo theo làm cho các doanh nghiệp không có vốn để
phục vụ việc sản xuất kinh doanh. Khi các doanh nghiệp tiếp cận được vốn thì lãi suất còn cao khiến chi phí tài chính tăng cao, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh chung của doanh nghiệp.
Do tình hình bất động sản đóng băng trong những năm gần đây, kéo theo lượng hàng tồn kho về xây dựng tăng cao gây khó khăn cho các công ty liên quan đến lĩnh vực xây dựng, bất động sản. Đặc biệt là ngành cung cấp nguyên vật liệu xây dựng nói
chung và ngành thép nói riêng.
Quá trình hội nhập hóa ngày càng mở rộng, các doanh nghiệp nước ngoài tăng cường đầu tư vào Việt Nam. Các sản phẩm công nghệ ngày càng nhiều và chịu sự cạnh tranh rất lớn từ các doanh nghiệp nước ngoài.
3.1.2. Định hướng phát triển của công ty CP Thép và Vật tư công nghiệp
3.1.2.1. Tầm nhìn
Trở thành đơn vị hàng đầu trong ngành phân phối và nhập khẩu thép, có khả năng cung ứng đầy đủ chủng loại thép xây dựng, phôi thép, thép hình các loại với chất lượng cao, giá cạnh tranh cho các hộ tiêu dùng công nghiệp.
Là tổ chức kinh tế xã hội có quy mô lớn kinh doanh đa ngành nghề, có tiềm lực tài chính mạnh, có quy mô hoạt động quốc tế. Mở rộng đầu tư sang các ngành thương mại và dịch vụ có hiệu quả kinh tế xã hội cao.
3.1.2.2. Mục tiêu chiến lược
Theo xu hướng phát triển Công ty đã, đang và sẽ tham gia vào nhiều lĩnh vực công nghệ khác nhau, để có thể đa dạng hóa sản phẩm và thu hút được nhiều đối tượng khách hàng hơn nữa. Để tồn tại và phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường, công ty không những phải giải quyết những vấn đề tồn tại trước mắt mà còn phải đặt ra được những định hướng và mục tiêu phát triển mới cho công ty trong tương
lai, từng bước thực hiện để có được vị thế lớn mạnh, chắc chắn trên thị trường. Trong thời gian tới, ban lãnh đạo Công ty cần tập trung vào những vấn đề sau:
Về thị trường
Tiếp tục giữ vững thị trường truyền thống, đồng thời mở rộng thêm các thị
trường mới như một số các tỉnh phía bắc và phía nam có hoạt động xây dựng phát triển
57
mạnh như Quảng Ninh, Biên Hòa, Vũng Tàu… Đa dạng hóa các quan hệ thị trường
với các đối tác trong và ngoài nước.
Thiết lập và khẳng định thương hiệu trên thị trường bởi lẽ thương hiệu được
xem như một tài sản của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp thu hút khách hàng, vốn đầu tư và nhân tài. Đầu tư vào marketing nhiều hơn nữa, công ty nên lập thêm 1 phòng ban chuyên về làm SEO cho doanh nghiệp vì xu hướng người tiêu dùng ngày nay tìm kiếm sản phẩm chủ yếu là qua internet.
Về quan hệ với các đối tác
Tiếp tục duy trì tốt mối quan hệ với các nhà cung cấp hiện tại, tăng cường mở
rộng quan hệ với các nhà cung cấp mới, tìm kiếm nguồn hàng với mức giá tốt hơn. Cố gắng hoàn trả các khoản nợ nguyên vật liệu, hàng hóa đúng hạn để có được nguồn
hàng ổn định, lâu dài, hạn chế sự phụ thuộc vào người bán, nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty với các đối thủ cùng ngành.
Về tài chính
Xây dựng kế hoạch kinh doanh lâu dài cụ thể trên cơ sở bảo đảm đối với nguồn
tài chính vững chắc, tránh thất thoát và sử dụng nguồn tài sản có hiệu quả. Bảo đảm cân đối thu chi, sử dụng và đầu tư có hiệu quả. Từ đây tạo lập niềm tin cho khách hàng, cho đối tác và tạo lợi thế trong việc huy động vốn từ nhiều nguồn phục vụ theo yêu cầu kinh doanh.
Về cơ cấu quản lý và lao động
Hoàn thiện bộ máy quản lý của công ty. Nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho
các cán bộ quản lý. Đội ngũ cán bộ cần phải biết quản lý sản xuất kinh doanh, thu thập và xử lý các thông tin cần thiết một cách khoa học, biết xác lập và xác định mục tiêu, ra các quyết định hợp lý và kịp thời. Cử các cán bộ quản lý đi học các lớp bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ chuyên môn và sử dụng thành thạo ngoại ngữ và tin học.
Luôn quan tâm tới đời sống vật chất tinh thần của cán bộ công nhân viên, có
chế độ thưởng phạt hợp lý để khuyến khích nhân viên nâng cao tính sáng tạo và ý thức trách nhiệm trong công việc.
Về loại hình kinh doanh
Đứng trước xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, ban lãnh đạo công ty phải quan tâm nhiều hơn đến việc giá thành của dịch vụ nhà hàng, cho thuê văn phòng hay
dịch vụ môi giới bất động sản, tìm kiếm các nhà cung cấp sản phẩm có chất lượng tốt mà giá cả phải chăng để tạo nên sự cạnh tranh về giả cả trên thị trường.
58
3.2. Một số giải phát tăng lợi nhuận của công ty CP Thép và Vật tƣ công nghiệp
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của doanh nghiệp, nó cho thấy khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đây là một chỉ tiêu tổng hợp chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố. Ngoài các nhân tố khách quan do môi trường kinh doanh mang lại thì bất kì một sự biến đổi nào trong nội bộ doanh nghiệp cũng ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến lợi nhuận. Đối với từng doanh nghiệp lợi nhuận quyết định sự sống
còn của doanh nghiệp, còn đối với phạm vi toàn bộ nền kinh tế vấn đề nâng cao lợi nhuận trong từng doanh nghiệp cũng ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế, lợi nhuận càng tăng thì mức đóng góp của doanh nghiệp với ngân sách nhà nước sẽ nâng cao, đây là điều kiện để thúc đẩy sự phát triển của đất nước, tiến bộ xã hội.
Mặc dù lợi nhuận trong những năm qua của công ty luôn ở mức dương song lợi nhuận này có xu hướng giảm và còn nhiều bất ổn. Do vậy mà nâng cao lợi nhuận là
một việc hết sức khó khăn đòi hỏi phải có các biện pháp toàn diện, tổng thể cùng với nỗ lực phấn đấu cao độ của cả một tập thể ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên trong toàn Công ty. Thông thường có 2 giải pháp chính tăng lợi nhuận là giải pháp tăng doanh thu và giải pháp giảm chi phí.
3.2.1. Giải phải tăng doanh thu
3.2.1.1. Lựa chọn và sử dụng hiệu quả vốn
Như đã phân tích ở trên, công ty sử dụng nguồn vốn và tài sản chưa có hiệu quả nên các chỉ tiêu về khả năng sinh lời, hiệu suất sử dụng tài sản trong các năm biến thiên liên tục và không ổn định. Việc lựa chọn và sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả giúp Công ty tăng doanh thu, tiết kiệm chi phí, trên hết là làm tăng lợi nhuận. Cụ thể là để sử dụng có hiệu quả vốn kinh doanh. Công ty cần phải xác định chính xác nhu cầu vốn tối thiểu thường xuyên, cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty. Từ đó có biện pháp tổ chức huy động và sử dụng sao cho hợp lý, xác định thứ tự tài sản cần ưu tiên đầu tư, thứ tự cấp vốn đối với từng hạng mục kinh doanh, ưu tiên các các mặt hàng kinh doanh đem lại lợi nhuận cao. Khi sử dụng vốn Công ty cần phải căn cứ vào kế hoạch đã lập để làm cơ sở phù hợp với tình hình thực tế, nếu phát sinh thêm nhu cầu vốn Công ty cần đáp ứng kịp thời để đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục, nhanh chóng hoàn thành tiến độ. Nếu thừa vốn cần có biện pháp xử lý
ngay không để vốn bị ứ đọng như: mở rộng sản xuất kinh doanh, thực hiện hoạt động cho vay.
Hiện nay, trong nguồn vốn của Công ty có khoảng 20-30% là nguồn vốn chủ sở hữu, điều này cho thấy sự phụ thuộc khá lớn vào vốn vay và vốn chiếm dụng từ các nguồn khác. Thực chất là Công ty sử dụng đòn bẩy tài chính nhằm nâng cao tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), biện pháp này mang lại nhiều lợi ích cho Công ty
59
bởi thay vì phải trả chi phí sử dụng vốn vay thì Công ty lại tận dụng được nguồn vốn
do chiếm dụng của nhà cung cấp, chiếm dụng của khách hàng và tận dụng các khoản phải trả công nhân viên, phải trả nội bộ khác nhưng chưa trả, nhờ vậy mà chi phí sử dụng vốn của Công ty sẽ giảm, thậm chí có khoản chi phí sử dụng bằng không. Với biện pháp kinh doanh này, Công ty vừa có thể độc lập về mặt tài chính, vừa huy động đủ nguồn vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất xây lắp được liên tục. Công ty có thể
huy động và lựa chọn từ các nguồn khác nhau như:
Nguồn lợi tích lũy: là các khoản chưa đến hạn thanh toán như nợ lương công nhân viên, nợ các khoản thuế, quỹ khen thưởng phúc lợi… đây là hình thức tài trợ
không có chi phí vì công ty sử dụng mà không phải trả lãi cho đến ngày phải thanh toán. Tuy nhiên, phạm vi sử dụng các khoản nợ là có giới hạn bởi công ty nếu quá ngày nộp thuế sẽ bị phạt do quá ngày, còn nếu chậm trễ trả lương cho công nhân sẽ làm giảm tinh thần làm việc, hiệu quả kinh của công ty sẽ kém đi.
Chiếm dụng vốn từ nhà cung cấp: Mua chịu là hình thức phổ biến hiện trong
môi trường kinh doanh hiện nay. Do có quan hệ làm ăn lâu năm và có uy tín trong nghành nghề, Công ty có thể tận dụng tốt nguồn tài trợ này, công ty nên mua chịu của các nhà cung cấp lớn, tiềm lực tài chính mạnh vì họ có đủ khả năng bán chịu cho các
doanh nghiệp khác. Ngoài ra, Công ty cần tận dụng tối đa thời hạn thiếu chịu, nếu muốn hưởng chiết khấu thanh toán, công ty nên thanh toán tiền vào ngày cuối cùng của thời hạn chiết khấu. Công ty cũng nên tránh việc trì hoãn thanh toán các khoản tiền mua trả chậm vượt quá thời hạn trả, bởi nó có thể gây ra tác động tiêu cực như làm tăng chí phí nợ hay làm tổn hại uy tín, vị thế và các mối quan hệ của Công ty.
Nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng: ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong
việc bổ sung vốn cho các doanh nghiệp. Thực tế, trong ba năm qua công ty đã rất thành công trong việc huy động các khoản vay ngắn hạn song vốn vay trung và dài hạn
lại chưa có nhiều. Các khoản vay ngắn hạn thường có thời gian đáo hạn ngắn nên việc gia tăng nguồn tài trợ này dẫn đến tình trạng món nợ này chồng chất lên nhau trong tương lai không xa. Trong khi đó, công ty đang cần những tài trợ có thời gian dài để đầu tư cho tài sản cố định. Vì vậy công ty nên giảm nợ ngắn hạn, thay bằng nợ dài hạn. Mặc dù các khoản vay dài hạn phải chịu chi phí lớn hơn nên có thể ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của công ty nhưng xét về mục tiêu lâu dài thì điều đó là cần thiết
cho kế hoạch phát triển của công ty. Gần đây, lãi suất ngân hàng đã giảm đi đáng kể, việc tiếp cận vốn vay cũng dễ dàng hơn nên việc huy động từ nguồn vay này rất khả quan. Vì thế công ty cần tính toán, lựa chọn, thiết lập các phương án kinh doanh cũng như đầu tư có tính khả thi cao để vừa đảm bảo được chi phí vận hành cộng thêm chi phí lãi suất vay mà vẫn có được lợi nhuận cao.
60
Nguồn vốn từ bên trong công ty: rất nhiều người trong số bộ phận cán bộ công
nhân viên có nguồn vốn dư thừa, nhàn rỗi có nhu cầu gửi tiết kiệm để hưởng lãi. Vì vậy, để tiết kiệm chi phí lãi vay, doanh nghiệp có thể trực tiếp huy động vốn từ cán bộ
công nhân viên với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất tiền gửi mà họ nhận được, đồng thời nhỏ hơn lãi suất huy động vốn trên thị trường. Với biện pháp này thì cả doanh nghiệp và cán bộ công nhân viên đều có lợi.
3.2.1.2. Tìm kiếm thị trường mới, đẩy mạnh công tác tiêu thụ
Thị trường trọng điểm của Công ty trong những năm qua là thị trường miền Bắc. Thị trường trọng điểm tiêu thụ chính mặt hàng, dịch vụ của Công ty và trong đó quan
trọng nhất là thị trường Hà Nội. Tại khu vực này cần củng cố và phát triển các đại lý, điểm bán hàng, chi nhánh sang tất cả các tỉnh giáp Hà Nội. Ngoài ra Công ty cũng nên mở rộng trung tâm phân phối điểm trung chuyển tại một số tỉnh, thành phố đang phát triển cơ sở hạ tầng như Quảng Ninh, Hải Dương, Nam Định… để có khả năng bao quát tiêu thụ toàn khu vực. Các chính sách tiêu thụ ở khu vực này cần ưu đãi hơn về giá và linh hoạt về cơ chế để đảm bảo khả năng cạnh tranh. Hỗ trợ khách hàng ở tỉnh
xa bằng trợ giá vận chuyển. Đồng thời có mức thưởng hoa hồng theo doanh số bán hàng cho các đại lý, gian hàng kinh doanh trong kỳ tốt. Thêm vào đó, việc phát triển thêm mạng lưới kênh phân phối, tăng cường công tác thị trường, tìm kiếm khách hàng mới ở các tỉnh miền Trung như Nha Trang, Huế, ở miền Nam như Vũng Tàu, Biên Hòa cũng nên được Công ty trú trọng vì đây là những nơi đang thu hút đầu tư phát
triển các dự án, công trình đô thị.
Trong những năm qua vừa qua cán bộ của Công ty đã nỗ lực tìm đầu ra cho sản phẩm, song việc làm này chưa hiệu quả một cách triệt để do vậy chưa mang lại hiệu quả cao đầu ra cho sản phẩm đôi lúc còn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù công ty đã giành được các hợp đồng lớn song chưa có tính liên tục. Năm 2012 doanh thu thuần của công ty đạt được ở mức rất cao nhưng đến năm 2013, doanh thu của công ty giảm một
nửa do có ít các hợp đồng cung cấp nguyên vật liệu lớn trong tay. Để giải quyết được việc này phòng kế hoạch đầu tư cùng phòng tiếp thị bán hàng phải chủ động phối hợp với nhau, xây dựng giá bán và cơ chế riêng phù hợp, ưu đãi các đơn đặt hàng số lượng lớn như thực hiện theo giá kỳ hạn, ưu đãi về thời gian trả chậm hoặc các ưu đãi khác phù hợp nhằm khuyến khích tiêu thụ cho đối tượng này.
Hàng tháng Công ty cần tiến hành phân tích, đánh giá tình hình tiêu thụ sản phẩm
dựa trên số liệu sổ sách kế toán, và kế hoạch tiêu thụ, qua đó có thể đánh giá những mặt đã làm được để phát huy và chỉ ra những tồn tại cần khắc phục kịp thời trong tháng sau. Đồng thời, công ty cần giao cho phòng tiếp thị bán hàng nghiên cứu vì việc điều tra nghiên cứu thị trường giữ vai trò quan trọng trong việc đẩy mạnh tiêu thụ sản
61
phẩm và mở rộng thị trường, làm tốt công tác này giúp doanh nghiệp lắm bắt kịp thời
nhu cầu và sức mua của thị trường.
3.2.1.3. Đa dạng hoá hình thức quảng cáo sản phẩm
Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay Quảng cáo là sản phẩm là một chiến lược kinh doanh rất quan trọng, hầu hết các doanh nghiệp đều dùng các hình thức quảng cáo độc đáo để gây sự chú ý của khách hàng đến sản phẩm của
doanh nghiệp mình và để đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm cùng chủng loại trên thị trường. Sản phẩm của Công ty dù có tốt đến mấy, mẫu mã sản phẩm đẹp đến đâu nếu không có cách đưa thông tin sản phẩm đến khách hàng thì chắc chắn khách hàng sẽ lựa chọn sản phẩm của doanh nghiệp có những thông tin cụ thể mà họ biết qua quảng cáo.
Quảng cáo sản phẩm là biện pháp hữu hiệu để cung cấp cho khách hàng hệ thống thông tin sản phẩm của doanh nghiệp, làm cho họ hiểu rõ hơn về sản phẩm của
doanh nghiệp. Thực tế ở Công ty CP Thép và Vật tư công nghiệp cho thấy chiến lược quảng cáo còn ít và đơn điệu. Công ty chỉ tiến hành quảng cáo và giới thiệu sản phẩm qua các tạp chí chuyên nghành về xây dựng và thông qua catalog mà chưa chú trọng đến việc quảng cáo trên internet và truyền hình, một phần là do chi phí cho việc quảng cáo còn hạn hẹp và chưa đề cao tầm quan trọng của quảng cáo.
Để góp phần đấy mạnh tiêu thụ sản phẩm thì công ty cần có sự đầu tư thích đáng
cho quảng cáo, bổ sung thêm ngân sách cho quảng cáo hàng năm. Công ty có thể quảng cáo nhiều hơn nữa trên các phương tiện thông tin đại chúng như quảng cáo trên phương tiện giao thông, website tin tức, quảng cáo biển tấm lớn tại những trục đường chính hay tham gia các hội chợ chuyên ngành hình thức này không tốn nhiều chi phí mà mang lại hiệu quả cao.
3.2.1.4. Quản lý và dự trữ hàng tồn kho
Hàng tồn kho tại Công ty chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ. Trong 3 năm vừa qua, cơ cấu hàng tồn kho trong tổng tài sản giảm từ 14,79% năm 2011 xuống còn 0,28% trong năm 2013. Việc dự trữ hàng tồn kho thấp như vậy chứng tỏ lượng hàng hóa tiêu thụ trong năm 2013 vừa qua rất tốt. Tuy nhiên do tác động hai chiều của việc duy trì của mức hàng tồn kho thấp khiến Công ty mất đi cơ hội cung cấp hàng cho các khách hàng khi cần thiết, điều này làm giảm doanh thu dẫn đến lợi nhuận của Công ty cũng
sụt giảm. Vì thế công ty cần tăng mức dự trữ lên để đáp ứng được tối đa nhu cầu của khách hàng.
Với đặc thù là Công ty thương mại do đó để đảm bảo quá trình luân chuyển luôn được diễn ra liên tục, không bị gián đoạn, đồng thời hạn chế những biến động bất thường của nguồn cung cấp, cho nên Công ty cần có mức dự trữ hàng hóa lớn hơn nhu cầu thực tế. Công tác đầu tiên trong việc quản lý hàng tồn kho là việc tìm kiếm những
62
nhà cung cấp phù hợp. Việc lựa chọn được những nhà cung ứng đảm bảo chất lượng
đầu vào sẽ giúp hàng hóa của Công ty tạo lập được uy tín đối với khách hàng, giảm bớt số lượng sản phẩm bị trả lại do không đảm bảo chất lượng, từ đó giúp hàng hóa tiêu thụ được tốt hơn, vòng quay hàng tồn kho sẽ được nâng cao. Nhưng đi kèm với chất lượng cao chính là chi phí phải bỏ ra ở mức tương xứng, trong khi bất cứ doanh nghiệp nào cũng muốn giảm thiểu chi phí đầu vào để tạo lợi thế cạnh tranh. Điều này
đòi hỏi nhân viên phụ trách việc lựa chọn nhà cung cấp cần có kinh nghiệm trong việc đàm phán với bên đối tác, tìm kiếm hợp đồng có lợi cho phía Công ty. Đặc biệt phải lưu ý đến khoản tiền phải đặt cọc, ứng trước cho bên nhà cung cấp, vì đây là phần vốn mà Công ty bị chiếm dụng. Bên cạnh đó, Công ty vẫn cần có những điều khoản yêu cầu chặt chẽ đối với bên cung cấp về chất lượng sản phẩm, thời gian giao nhận... cũng như những điều khoản phạt nhằm đảm bảo việc cung cấp đúng mặt hàng Công ty cần,
để quá trình sản xuất không bị gián đoạn cũng như thành phẩm tạo ra đảm bảo chất lượng đã đề ra từ trước. Tiếp theo, theo dõi sự biến động của thị trường vật tự và căn cứ mức tiêu thụ trong các kì trước, dự báo mức lượng hàng tồn kho dự trữ thích hợp, áp dụng các mô hình quản lý dự trữ kho để đưa ra thời điểm đặt hàng thích hợp. Cuối cùng, tổ chức bảo quản hàng hóa, tránh tình trạng mất mát, hàng hóa bị kém phẩm chất. Làm tốt các việc trên sẽ giúp hiệu suất sử dụng tài sản tăng và làm các chỉ tiêu về
lợi nhuận như ROE, ROA, cũng như lợi nhuận chung của Công ty sẽ được cải thiện.
3.2.2. Giải pháp giảm chi phí
3.2.2.1. Quản lý các khoản phải thu khách hàng
Nguồn vốn là yếu tố quan trọng trong sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn hiệu quả mới đem lại lợi nhuận cao cho công ty. Khoản phải thu khách hàng chính là phần vốn mà công ty bị chiếm dụng. Ta thấy khoản phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất
trong các khoản phải thu và luôn ở mức rất cao, giao động từ 55% đến 82% trong tổng tài sản trong ba năm qua. Mục tiêu hoạt động của công ty là hướng tới đạt lợi nhuận cao nhất. Do đó công ty cần có những chính sách bán hàng và tín dụng thương mại hợp lý để giảm khoản phải thu khách hàng xuống tỷ lệ vừa phải, phần vốn bị chiếm dụng không quá lớn, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất cũng như làm tăng quay vòng vốn. Tuy nhiên, chính sách này đem lại những mặt hạn chế, đó là gia tăng các khoản phải thu và
chi phí cho việc thu nợ của doanh nghiệp, việc làm tốt các công tác quản lý các khoản phải thu này sẽ làm giảm chi phí theo dõi và làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
Để làm được điều này, Công ty cần phải giao cho phòng kế toán tài chính, phòng tiếp thị bán hàng nghiên cứu thực hiện công việc này. Công ty phải đào tạo được một đội ngũ nhân sự làm công tác phân tích thị trường, phân khúc thị trường cho những đối tượng khách hàng có khả năng tài chính khác nhau. Nắm bắt được những thông tin
chính xác về khả năng tài chính và mong muốn của mỗi đối tượng. Từ đó có những
63
chính sách, chương trình chiết khấu thương mại hợp lý có lợi cho cả Công ty và khách
hàng và quản lý các khoản nợ một cách hiệu quả.
Xây dựng quy trình phân tích tín dụng khách hàng: Đây là một bước làm đầu tiên và quan trọng nhất của quyết định cấp tín dụng thông qua hình thức mua bán trả chậm, làm phát sinh các khoản mục phải thu. Công ty có thể phân tích tín dụng khách hàng như tập hợp hồ sơ về từng khách hàng như thông tin về uy tín khách hàng, báo cáo kết
quả kinh doanh, báo cáo xếp hạng uy tín từ các tổ chức xếp hạng chuyên nghiệp. Sau đó tính toán các chỉ tiêu khả năng thanh toán nhanh, hệ số sinh lời trên vốn… và tiến hành gán trọng số cho từng yếu tố. Tiếp theo, Công ty có thể tính điểm tín dụng cho từng khách hàng và xếp hạng mức độ ưu tiên cho việc cấp tín dụng.
Đối với công tác thu hồi nợ: Thường xuyên theo dõi khoản phải thu và đôn đốc, ghi nhận thời hạn trả nợ của khách hàng, gửi thư thông báo thời hạn trả nợ hoặc điện
thoại với khách hành xác nhận thời hạn trả nợ. Muốn thế, công ty nên chủ động liên hệ với khách hàng sớm, thay vì chờ đến ngày hoá đơn hết hạn thanh toán. Điều này không chỉ giúp công ty quản lý tốt các khoản phải thu, mà còn giúp công ty giữ được mối quan hệ tốt với khách hàng. Công ty có thể đầu tư phần mềm quản lý công nợ, giúp việc theo dõi khoản nợ nhanh chóng, chính xác, hiệu quả và giảm bớt nhân sự trong công tác quản lý công nợ. Đồng thời phải thường xuyên tiến hành kiểm tra, rà
soát, phân loại các khoản phải thu đến hạn, quá hạn và nợ khó đòi, tổng hợp báo cáo tình hình thu nợ về Ban giám đốc để có những phương án thu hồi mới và hợp lý.
Đối với công tác quản trị các khoản phải thu: Công ty cần xác định xác đáng tỷ lệ các khoản phải thu hưởng chiết khấu thanh toán, tỷ lệ các khoản trả đúng hạn của chính sách tín dụng và tỷ lệ khoản phải thu trả chậm so với qui định của chính sách, Công ty phải tiến hành đánh giá tuổi nợ của khoản phải thu, từ đó nắm bắt những
thông tin tín dụng tổng quát về khách hàng và điều chỉnh các yếu tố của chính sách tín dụng cho phù hợp.
Đánh giá hiệu quả quản trị khoản phải thu: Nhằm xác định xác đáng tỷ lệ các khoản phải thu hưởng chiết khấu thanh toán, tỷ lệ các khoản trả đúng hạn của chính sách tín dụng và tỷ lệ khoản phải thu trả chậm so với qui định của chính sách, Công ty phải tiến hành đánh giá tuổi nợ của khoản phải thu, nắm bắt những thông tin tín dụng
tổng quát về khách hàng và điều chỉnh các yếu tố của chính sách tín dụng cho phù hợp. Để làm được điều này, cần phải theo dõi các khoản phải thu sắp tới hạn có chính sách thu tiền thích ứng. Ngoài ra, công ty cũng cần so sánh kỳ thu tiền bình quân với thời hạn của chính sách tín dụng thương mại. Nếu kỳ thu tiền bình quân, ví dụ là 50 ngày, nhưng chính sách tín dụng của công ty chỉ cho phép thời hạn nợ 30 ngày (net 30). Điều này cho thấy, công ty cần xem lại công tác quản trị khoản phải thu của mình.
64
3.2.2.2. Quản lý tốt nguyên liệu đầu vào
Công ty cần phải giao cho phòng vật tư quản lý tốt nguyên liệu đầu vào, tính toán hợp lý tránh lãng phí nguyên vật liệu, theo dõi đầy đủ thường xuyên các nghiệp vụ phát sinh liên quan đến công tác thu mua, vận chuyển, xuất nhập kho vật tư, nguyên liệu đầu vào giữa các đơn vị cung ứng cùng chủng loại để lựa chọn nhà cung cấp có giá cả hợp lý nhất và đảm bảo chất lượng nhất.
Đây là khoản mục chi phí chiếm tỷ trọng lớn trong hạng mục kinh doanh dịch vụ ăn uống, nhà hàng hay các khoản mục chi phí khác liên quan đến lĩnh vực kinh doanh chính của Công ty. Vì vậy tiết kiệm được chi phí này là điều rất cần thiết và quan trọng, đây là khả năng tiềm tàng to lớn tác dụng lớn tới việc hạ giá thành sản phẩm và tăng lợi nhuận, nó được coi như vấn đề cốt lõi trong việc hạ giá thành và tăng lợi nhuận của Công ty.
Về việc tìm nguồn cung ứng nguyên vật liệu, khi có đơn hàng của khách hàng, phòng kỹ thuật phải tính toán định mức sao cho phù hợp, tiết kiệm tối đa nguyên vật liệu tránh lãng phí, nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng của sản phẩm. Phòng nguyên vật liệu căn cứ vào định mức của sản phẩm phải lựa chọn nguyên vật liệu đảm bảo về chất lượng, đồng thời phải lựa chọn nhà cung cấp thích hợp giá cả tốt, phù hợp với tài chính của Công ty. Nên lựa chọn nguồn cung ứng quen thuộc từ trước để đảm bảo chất
lượng, giá cả có thể được ưu đãi hơn do mua khối lượng lớn và lâu dài, đồng thời cũng đàm phán với các nhà cung cấp mới để được giá cả một cách tốt nhất. Thêm vào đó Công ty cũng nên tìm hiểu những nguyên vật liệu trong nước thay thế nguyên vật liệu hiện đang nhập khẩu để giảm bớt chi phí.
Về định mức nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho sản xuất Công ty cần phải có biện pháp tính toán để hạn thấp định mức sử dụng nguyên vật liệu trực tiếp thông qua
việc nâng cao tay nghề, ý thức trách nhiệm của người lao động tránh lãng phí nguyên vật liệu.
Trong quá trình cấp phát nguyên vật liệu cần phải có sự giám sát chặt chẽ, thường xuyên kiểm tra, kiểm soát tránh cấp phát thừa, cấp phát không đúng chủng loại. Công ty nên có cơ chế về nộp phạt đối với những trường hợp cá nhân vi phạm về việc quản lý nguyên vật liệu.
Thực hiện việc bảo quản và sử dụng tốt nguyên vật liệu tốt tránh trường hợp lẫn lộn và tiêu hao nguyên vật liệu do nguyên nhân khách quan như thời tiết… phải phân loại vật liệu để quản lý và bảo quản tốt tùy theo tính chất của nguyên vật liệu.
Phòng tài chính kế toán và phòng nguyên vật liệu hàng tháng phải đối chiếu so sánh số liệu giữa thực tế phát sinh và định mức đã đưa ra để tìm ra nguyên nhân tăng nguyên tăng chi phí để từ đó có biện pháp thích hợp để giảm chi phí đó.
65
3.2.2.3. Quản lý tiền lương nhân viên
Tiền lương trong công ty phải đảm bảo phản ánh được giá cả của hàng hóa sức lao động. Quản lý tiền lương là quản lý việc xây dựng các định mức lao động và đơn giá tiền lương xem đã hợp lý chưa, đồng thời có thỏa mãn người lao động hay không. Điều này ảnh hưởng đến tâm lý và sự tận tụy của người lao động, tác động trực tiếp đến hiệu quả của sản xuất kinh doanh. Vì vậy Công ty cần phải giao nhiệm vụ cho
phòng tổ chức hành chính và phòng nhân sự phối hợp xây dựng chính sách tiền lương, tiền thưởng của người lao động gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty và gắn với năng suất lao động, trách nhiệm mỗi người. Như thế mới góp phần vừa quản lý tốt chi phí sản xuất, vừa tạo được định mức lương hợp lý cho từng trình độ của người lao động, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
3.2.2.4. Tiết kiệm chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
Hạ thấp chi phí quản lý kinh doanh và chi phí bán hàng là nhiệm vụ mà công ty phải cố gắng thực hiện. Trong giai đoạn năm 2011-2013, tổng 2 loại chi phí này của doanh nghiệp luôn chiếm xấp xỉ 50% lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ. Đây là mức chi phí rất cao, cần phải được cắt giảm những khoản chi không hiệu quả trong 2 khoản mục này.
Thực hiện tiết kiệm chi phí điện, nước, điện thoại trong làm việc, đặc biệt là thực
hiện tiết kiệm điện trong cơ quan. Đây là những khoản chi phí chiếm tỷ trọng khá lớn trong chi phí mua ngoài và những khoản mục chi phí này hoàn toàn có thể giảm được. Hạn chế tổ chức các hội nghị, hội họp tập trung để giảm chi phí. Đối với các khoản chi trong quá trình vận hành sản xuất như chi phí lưu kho, nhân công bảo quản, sửa chữa cơ bản, phi phí dụng cụ, đồ dùng, chi tiếp khách, đấu thầu, kí kết hợp đồng, chi phí khác…. các phòng ban trong công ty phải kết hợp với phòng tổ chức hành chính để
đưa ra định mức cụ thể cho từng đối tượng, nhằm đảm bảo sự khích lệ trong công việc, đồng thời có biện pháp kiểm tra tính hợp lý và tính có thật của chúng với những người trực tiếp làm việc này.
Tóm lại, kiểm soát chi phí là một trong những nội dung quan trọng trong quản lý tài chính doanh nghiệp. Nhận diện, phân tích các hạng mục chi phí phát sinh, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến các khoản mục chi phí sẽ giúp cho nhà quản lý đề ra các
giải pháp phù hợp để giảm các khoản mục chi phí, từ đó góp phần tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp giúp nâng cao lợi nhuận của Công ty.
3.2.3. Giải pháp khác
3.2.3.1. Đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ cho nhân viên
Hiện nay trong hoạt động thực hiện hợp đồng nhập khẩu Công ty vẫn phải thuê đại lý trung gian thực hiện việc thông quan và giao nhận hàng hóa, điều này làm Công
66
ty thiếu đi sự chủ động xử lý tình huống cũng như phát sinh thêm một khoản chi phí
làm ảnh hưởng tới lợi nhuận của Công ty, tuy nhiên để thực hiện các công việc này yêu cầu cán bộ nhập khẩu phải có chuyên môn cao trong lĩnh vực này và có mối quan hệ tốt với cơ quan hải quan. Trong thời gian tới Công ty nên có các chính sách đào tạo, nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ phòng nhập khẩu của mình để có thể tự chủ động nhập khẩu tránh các tác nhân bên ngoài giúp giảm chi phí. Công ty cần thực hiện các công
việc sau để giải quyết được tốt các vấn đề trên như:
Cấp kinh phí đào tạo để nâng cao năng lực trình độ chuyên môn và trình độ ngoại ngữ cho cán bộ phòng nhập khẩu. Đồng thời có kế hoạch tuyển dụng thêm các
cán bộ trẻ để đội ngũ cán bộ luôn có sự trẻ hóa và được đào tạo để có đủ năng lực trở thành đội ngũ kế cận xứng đáng.
Cử các cán bộ tham gia các cuộc họp, các hội thảo chuyên ngành về nghiệp vụ
ngoại thương. Thường xuyên tạo điều kiện cho nhân viên có cơ hội cập nhập tin tức và sự thay đổi của các chính sách, các văn bản pháp lý và xu thế vận động của nền kinh tế trong nước cũng như nước ngoài.
Bên cạnh việc tổ chức các khóa học để nâng cao trình độ nghiệp vụ Công ty
cũng nên tổ chức các cuộc thi nghiệp vụ để mỗi cán bộ, nhân viên tự chủ trau rồi kiến thức. Đây là một trong những phương pháp tốt, trực tiếp để bản thân mỗi người phải tự nỗ lực vươn lên.
3.2.3.2. Tăng cường áp dụng khoa học kĩ thuật trong quản lý
Các ứng dụng của khoa học kĩ thuật nhất là công nghệ thông tin trong quản lý doanh nghiệp tiến bộ không ngừng. Nếu chịu khó tìm hiểu và mạnh dạn áp dung, Công ty có thể có giảm thiểu chi phí quản lý và nâng cao lợi nhuận. Việc ứng dụng khoa học kĩ thuật có thể làm tăng tốc quá trình lưu chuyển và kết nối các thông tin với nhau, khiến cho doanh nghiệp có thể xử lí thông tin nhanh và sử dụng thông tin phục vụ cho
hoạt động kinh doanh.
Một trong những phát triển của ngành công nghệ thông tin trong công việc kinh doanh và quản lý của các doanh nghiệp là ứng dụng phần mềm công nghệ quản lý. Các phần mềm này sẽ cung cấp giải pháp cho toàn bộ các hoạt động đầu vào của doanh nghiệp, từ việc đặt mua hàng của nhà cung cấp, cho đến các giải pháp tồn kho an toàn của công ty. Trong hoạt động quản trị nguồn cung ứng, nó cung cấp những giải pháp
mà theo đó, các nhà cung cấp và công ty sản xuất sẽ làm việc trong môi trường cộng tác, giúp cho các bên nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và phân phối sản phẩm, dịch vụ tới khách hàng. Các phần mềm quản lý tích hợp hệ thống cung ứng mở rộng và phát triển một môi trường sản xuất kinh doanh thực sự, cho phép công ty của bạn giao dịch trực tiếp với khách hàng và nhà cung cấp ở cả hai phương diện mua bán và
67
chia sẻ thông tin. Vì vậy nên Công ty nên khảo sát triển khai đầu tư hệ thống quản trị
này. Phần mềm quản lý này ngày càng được đón nhận và sử dụng đông đảo ở một số doanh nghiệp lớn tại Việt Nam, nó giúp cho công ty có thể giảm bớt được quá trình liên kết thông tin lại với nhau, năng suất từ đó của Công ty sẽ được cải thiện.
3.3. Kiến nghị
3.3.1. Kiến nghị với Nhà nước
Hoạt động kinh doanh thương mại không thể thiếu được sử quản lý điều hành của Nhà nước vì hàng loạt chính sách thuế, lãi suất, các quy định đối với hoạt động kinh doanh.. đều do nhà nước đặt ra. Trong những năm qua nhà nước đã có nhiều chính sách khai thông thị trường, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, trong thực tế ngành sản xuất và kinh doanh thép đã phát sinh không ít khó khăn cần tới sự điều chỉnh các chính sách vĩ mô của Nhà nước để nâng cao hiệu quả kinh doanh của mỗi
doanh nghiệp. Từ đó góp phần cho hiệu quả chung của nền kinh tế, xuất phát từ hoạt động kinh doanh tại Công ty CP Thép và Vật tư công nghiệp, em xin đưa ra một số kiến nghị với Nhà nước như sau:
Cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh thương mại như thủ tục
xin giấy phép kinh doanh, giấy phép nhập khẩu, thủ tục hải quan, thuế.. tránh việc gây phiền nhiễu cho các doanh nghiệp đồng thời ngăn chặn triệt để tình trạng vòi tiền, ăn hối lộ của một số cán bộ cơ quan trong ngành.
Xây dựng các kế hoạch đầu tư vào cơ sở hạ tầng và phát triển hệ thống thông
tin liên lạc. Xây dựng các tuyến đường mới chất lượng cao, thuận tiện cho việc chuyển chở hảng hàng hóa từ các tỉnh thành phố ra các tỉnh vùng sâu, vùng xa. Quy hoạch, nâng cao, sửa chữa và xây dựng mới mạng lưới cầu cảng, kho vãi thuận tiện cho việc
bốc xếp và lưu trữ hàng hóa.
Đảm bảo ổn định tăng trưởng kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát. Tạo ra một
môi trường kinh doanh an toàn, lành mạnh.
Hạn chế thay đổi các chính sách pháp luật, khi tiến hành thay đổi các chính
sách pháp luật cần có những biện pháp ban hành thông tư văn bản cụ thể hướng dẫn thi hành kịp thời tránh tình trạng doanh nghiệp chưa kịp hiểu văn bản này thì đã có thông tư, nghị định mới. Đồng thời Nhà nước cũng phải tiến hành, rà soát lại các văn bản pháp luật, có những sửa chữa kịp thời nhằm tạo điều kiện hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Bên cạnh các chính sách đầu tư, nhà Nước cần có sự hỗ trợ các doanh nghiệp
thông qua hệ thống thông tin của phòng Thương mại Việt Nam, các đại sứ quán và các tham tán thương mại tại nước ngoài. Việc cung cấp kịp thời những thông tin cần thiết
cho doanh nghiệp về sự biến động của thị trường thế giới là rất quan trọng bởi nó có
68
ảnh hưởng sâu sắc đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh hoạt động
xuất nhập khẩu như thay đổi giá cả một số nguyên vật liệu, tỷ giá hối đoái…Vì vậy, các hoạt động hỗ trợ này từ các cơ quan Nhà nước này phải mang tính liên tục và có tính chính xác cao để doanh nghiệp có thời gian đối phó với các nhân tố luôn biến đổi từng ngày này.
3.3.2. Kiến nghị với bộ, ban ngành chức năng liên quan
Để thực hiện tốt các giải pháp để nâng cao lợi nhuận của Công ty thì ngoài những cố gắng nỗ lực của Công ty thì cần có sự trợ giúp đắc lực của bộ, ban ngành và các cơ quan quản lý của Nhà nước cũng cần phải có những chính sách, biện pháp hỗ trợ nhằm khuyến khích, tạo điều kiện cho ngành kinh doanh và sản xuất thép trong nước. Bộ Công Thương đơn vị chủ quản của ngành thép và Hiệp hội Thép Việt Nam (VGS) cần nâng cao hơn nữa trong việc điều tiết sản xuất và kinh doanh thép, thay mặt các nhà
sản xuất thép phản ánh với Chính phủ những nguyện vọng của các doanh nghiệp, để Nhà nước ban hành những cơ chế chính sách khuyến khích sản xuất và bảo vệ quyền lợi của nhà sản xuất và kinh doanh thép:
Một là, hoạch định chiến lược ngành thép trong những năm tới phải tính đến sự
Hai là, đa dạng hoá vốn đầu tư cho ngành Thép từ các nguồn vốn tự có, vốn
cân đối trong việc cung cầu, tránh tình trạng cấp giấy phép kinh doanh hàng loạt cho các Công ty tham gia thị trường vốn đang thiếu người mua nhưng lại thừa người bán. Từ đó làm cơ sở cạnh tranh và phát triển của cả ngành thép.
Ba là, đẩy mạnh cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước của ngành Thép để đa dạng hoá sở hữu nguồn vốn và huy động vốn từ các cổ đông. Khuyến khích các doanh nghiệp cổ phần trong ngành Thép thực hiện niêm yết trên thị trường chứng khoán và
vay ưu đãi (đối với các dự án sản xuất phôi thép), vốn vay thương mại trong và ngoài nước, vốn từ nguồn phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu công trình, vốn đầu tư nước ngoài;
Bốn là, phát triển ngành Thép Việt Nam phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và ngành công nghiệp của cả nước, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội các địa phương và lộ trình hội nhập của Việt Nam.
Năm là, bảo vệ thị trường nội địa bằng các hàng rào kỹ thuật và tiêu chuẩn chất lượng, môi trường hợp pháp nhằm ngăn chặn sự xâm nhập của sản phẩm kém chất
phát hành cổ phiếu thu hút vốn đầu tư gián tiếp.
Sáu là, tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật để hoàn thiện thị trường các sản phẩm thép, tạo liên kết chặt chẽ, chia sẻ lợi nhuận và cộng
lượng, không bảo đảm an toàn vào thị trường Việt Nam. Áp mức thuế suất chống bán phá giá thép từ Trung Quốc đưa vào thị trường nước ta
69
đồng trách nhiệm giữa nhà sản xuất với nhà kinh doanh thép. Hoàn thiện chính sách,
Bảy là, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và chất lượng đội ngũ giáo viên cho các trường đào tạo công nhân kỹ thuật để có đủ năng lực đào tạo đáp ứng nhu cầu lao động cho ngành luyện kim. Coi trọng hình thức đào tạo ở nước ngoài, mời chuyên gia
pháp luật và tăng cường năng lực thực hiện pháp luật về cạnh tranh, chống độc quyền, chống liên kết lũng đoạn thị trường, chống bán phá giá.
Tám là, tăng cường hợp tác quốc tế, củng cố mối quan hệ khoa học - công nghệ giữa các đơn vị sản xuất với các cơ quan nghiên cứu R&D, các trường đại học trong và ngoài nước nhằm đẩy mạnh việc chuyển giao công nghệ - kỹ thuật mới vào ngành Thép nước ta.
Chín là, hạn chế, giảm thiểu mức độ gia tăng ô nhiễm. Các cơ sở sản xuất
nước ngoài đào tạo tại nhà máy.
luyện kim mới đầu tư xây dựng phải áp dụng công nghệ hiện đại, tiên tiến và được trang bị các thiết bị xử lý chất thải, giảm thiểu ô nhiễm đạt tiêu chuẩn môi trường. Không cấp phép đầu tư cho dự án luyện kim chưa có hoặc không có báo cáo đánh giá tác động môi trường và đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường. Có kế hoạch di dời và đầu tư chiều sâu để giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường đối với các cơ sở luyện cán thép nằm trong diện di dời ở các thành phố hoặc các khu vực làng nghề tránh ảnh
hưởng đến môi trường sống của những hộ dân xung quanh nhà máy.
70
KẾT LUẬN
Tóm lại, suy cho cùng thì mục đích sau cùng của bất kỳ doanh nghiệp nào cũng là lợi nhuận, do đó bất cứ một yếu tố nào ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty đều được các nhà đầu tư quan tâm. Hơn thế nữa, lợi nhuận còn là đòn bẩy kinh tế quan trọng đồng thời là chỉ tiêu kinh tế cơ bản đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, nhiệm vụ đặt ra đối với các nhà quản lý kinh doanh là phải quản
lý điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả để có lợi nhuận không ngừng tăng lên.
Nhận thức được tầm quan trọng của lợi nhuận Công ty Cổ phần Thép và Vật tư công nghiệp luôn cố gắng hoàn thiện và phát triển để mang lại lợi nhuận. Thực tế cho thấy Công ty đã thành công trong bước đầu, lợi nhuận của Công ty những năm gần đây luôn đạt kết quả dương và có xu hướng tăng nhưng chưa thật ổn định. Thêm vào đó, tỉ
lệ lợi nhuận so với doanh thu của Công ty đạt được là chưa cao, đứng trước vấn đề này đòi hỏi các nhà quản lý của Công ty phải có các biện pháp tác động phù hợp.
Trong thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Thép và Vật tư công nghiệp, em đã tiếp thu và học hỏi được rất nhiều điều bổ ích cho công việc học tập, tìm hiểu, nghiên cứu vận dụng lý thuyết với thực tế để nâng cao hiểu biết của mình đồng thời hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp. Với trình độ hiểu biết còn hạn chế nên khóa luận của em
còn nhiều thiếu sót. Em mong được sự góp ý các anh, chị và các cô, chú trong Công ty cổ phần Thép và Vật tư công nghiệp và các thầy, cô giáo trong bộ môn đã giúp khóa luận của em được hoàn thiện hơn. Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị Bất, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, tạo động lực và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 4 tháng 7 năm 2013
Sinh viên
Nguyễn Quý Khánh
PHỤ LỤC
1. Bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm
2011 của Công ty Cổ phần Thép và Vật tư công nghiệp.
2. Bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm
2012 của Công ty Cổ phần Thép và Vật tư công nghiệp.
3. Bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm
2013 của Công ty Cổ phần Thép và Vật tư công nghiệp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Thuyết minh báo cáo tài chính của Công ty cổ phần Thép và Vật tư Công nghiệp năm 2011, 2012, 2013.
2. Nguyễn Tấn Bình (2005), Phân tích hoạt động doanh nghiệp, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia TP.Hồ Chí Minh.
3. TS. Lưu Thị Hương (2002), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản giáo dục.
4. TS. Nguyễn Minh Kiều (2010), Tài chính doanh nghiệp căn bản, Nhà xuất bản Thống Kê.
5. TS. Lê Thị Xuân (2011), Phân tích tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản Đại học Kinh Tế Quốc Dân.
6. Nguyễn Hải Sản (2007), Quản trị tài chính doanh nghiệp, Nhà xuất bản tài chính.
7. PGS.TS Trần Ngọc Thơ (2005), Tài chính doanh nghiệp hiện đại, Nhà xuất bản
Thống kê
8. Nguyễn Trung Toàn (2006), Khái quát thương mại doanh nghiệp, Nhà xuất bản Lao Động.
9. http://www.laisuat.vn
10. http://cafef.vn/.
11. http://www.vsa.com.vn/
12. http://www.tapchithep.com/.
13. Tiêu thụ thép ở Việt Nam có thể tăng nhưng ít thay đổi,
http://finance.tvsi.com.vn/News/2014327/273484/tieu-thu-thep-co-the-tang-nhung- gia-it-thay-doi.aspx.
14. Xoay quanh câu chuyện thép giá rẻ Trung Quốc tràn vào Việt Nam,
http://www.giasatthep.net/2014/05/xoay-quanh-cau-chuyen-thep-gia-re-trung.html.
15. Gói 30000 tỷ đồng chưa phá băng được thị trường,
http://www.tapchitaichinh.vn/Bat-dong-san/Goi-30000-ty-dong-van-chua-pha-bang- duoc-thi-truong/43386.tctc.
16. Thị trường sắt thép 2013 và dự báo năm 2014 Thế giới và trong nước,
http://www.pomina-steel.com/index.phpoption=195%3Ath-trng-st-thep-nm-2013-va- d-bao-nm-2014-th-gii-va-trong-nc&catid=1Atin-tuc-va-su-
kien&Itemid=122&lang=vi.

