intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Kinh nghiệm một số nước về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp khoa học và công nghệ, gợi suy cho Việt Nam

Chia sẻ: Ni Ni | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

0
17
lượt xem
2
download

Kinh nghiệm một số nước về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp khoa học và công nghệ, gợi suy cho Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Doanh nghiệp KH&CN được thành lập hoạt động trong các lĩnh vực công nghệ cao. Vì vậy, các doanh nghiệp này được hưởng các lợi ích nhà nước khuyến khích phát triển công nghệ cao. Kinh nghiệm của các nước dưới đây có thể gợi suy cho Việt Nam trong quá trình thành lập và tổ chức hoạt động các doanh nghiệp KH&CN.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Kinh nghiệm một số nước về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp khoa học và công nghệ, gợi suy cho Việt Nam

48<br /> <br /> Kinh nghiệm một số nước về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp…<br /> <br /> KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC VỀ TỔ CHỨC<br /> VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP KHOA HỌC<br /> VÀ CÔNG NGHỆ, GỢI SUY CHO VIỆT NAM<br /> ThS. Nguyễn Đức Minh<br /> Trường Đại học Hồng Bàng TP. Hồ Chí Minh<br /> Tóm tắt:<br /> Doanh nghiệp KH&CN - về cơ bản là một loại hình doanh nghiệp để thực hiện sản xuất,<br /> kinh doanh các sản phẩm, hàng hóa hình thành từ các kết quả nghiên cứu KH&CN, các<br /> thành tựu KH&CN được tự mình tạo ra hoặc tích hợp từ các nguồn trong nước hoặc quốc<br /> tế. Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp đều hoạt động trong các lĩnh vực KH&CN ưu<br /> tiên của quốc gia, của vùng lãnh thổ và địa phương, hoặc của chính doanh nghiệp<br /> KH&CN. Thông thường, doanh nghiệp KH&CN được thành lập hoạt động trong các lĩnh<br /> vực công nghệ cao. Vì vậy, các doanh nghiệp này được hưởng các lợi ích nhà nước khuyến<br /> khích phát triển công nghệ cao. Kinh nghiệm của các nước dưới đây có thể gợi suy cho<br /> Việt Nam trong quá trình thành lập và tổ chức hoạt động các doanh nghiệp KH&CN.<br /> Từ khóa: Doanh nghiệp KH&CN; Tổ chức doanh nghiệp KH&CN.<br /> Mã số: 14100601<br /> <br /> 1. Một số khái niệm cơ bản<br /> 1.1. Doanh nghiệp khởi nghiệp (Start-up firm)<br /> <br /> Theo nghĩa thông thường, đây là doanh nghiệp mới thành lập. Trên thực tế,<br /> tại các nước công nghiệp mới và các nước phát triển, doanh nghiệp khởi<br /> nghiệp là giai đoạn đầu của một doanh nghiệp vừa và nhỏ với tư cách là<br /> chìa khóa của đổi mới công nghiệp nói riêng và của hệ thống đổi mới nói<br /> chung [7]. Nó được “ấp” tại một loại hình vườn ươm nào đó (của trường đại<br /> học, của khu công nghệ cao, của làng khoa học,...).<br /> Trong một số hướng công nghệ mới nổi, khi mà nhu cầu thị trường chưa<br /> thật chắc chắn, độ may rủi còn cao thì các doanh nghiệp này có ưu thế hơn<br /> hẳn so với các công ty lớn bởi tính mềm dẻo, năng động của nó trong việc<br /> ra quyết định tập trung nguồn lực cho các ưu tiên đổi mới. Rõ ràng là, với<br /> một đất nước có nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp sẽ có lợi thế trong nền<br /> kinh tế tri thức.<br /> 1.2. Doanh nghiệp spin-off<br /> <br /> Là loại hình doanh nghiệp trưởng thành trên cơ sở thương mại hóa một hoặc<br /> nhiều công nghệ được ươm tạo trực tiếp tại viện/ trường, vườn ươm công nghệ.<br /> Nó là giai đoạn cuối của doanh nghiệp khởi nghiệp - giai đoạn trưởng thành.<br /> <br /> JSTPM Tập 3, Số 4, 2014<br /> <br /> 49<br /> <br /> Hiện nay, hình thức này khá phổ biến ở Mỹ, Canada, Trung Quốc và Nga.<br /> Tùy từng nước, người ta có tên gọi khác nhau: Doanh nghiệp đổi mới (Mỹ)<br /> dựa trên hình thức quản lý tự chủ, Spin-off (Canada), Doanh nghiệp<br /> KH&CN (Trung Quốc), Doanh nghiệp đổi mới vừa và nhỏ (Nga).<br /> Tại Mỹ và Trung Quốc, thường thì các doanh nghiệp này do tập thể (hoặc<br /> cá nhân nhà khoa học) đứng ra thành lập trên cơ sở thương mại hóa ý<br /> tưởng/ kết quả KH&CN, nâng cao vai trò cá nhân nhà khoa học trong việc<br /> thành lập các doanh nghiệp kiểu này. Người ta gọi các cán bộ đó là người<br /> “hạ hải - ra khơi”.<br /> Cần nhấn mạnh rằng, tên gọi “doanh nghiệp KH&CN” với tư cách là doanh<br /> nghiệp spin-off chỉ có ở các nước xã hội chủ nghĩa chuyển đổi - nơi mà mối<br /> liên kết khoa học với sản xuất và đào tạo không chặt, không có cơ chế tự<br /> chủ, độc lập, tự quyền phù hợp với cơ chế thị trường theo tính tự nhiên của<br /> nó. Đối với các nước phát triển, đã là doanh nghiệp đổi mới thì chắc chắn<br /> có con người làm KH&CN với vai trò là chìa khóa cho sự phát triển của<br /> doanh nghiệp và thường được thành lập trong các hướng KH&CN mới nổi<br /> lên (các công nghệ cao, công nghệ mới, công nghệ nền,...). Cụm từ “Doanh<br /> nghiệp KH&CN” ở các nước đó dùng để chỉ các tổ hợp Nghiên cứu - Đào<br /> tạo - Sản xuất như các làng KH&CN có trường đại học làm hạt nhân [5, 6].<br /> II. Kinh nghiệm tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp ở một số nước<br /> <br /> 2.1. Canada<br /> Với mục tiêu xây dựng các chùm đổi mới mà hạt nhân là các doanh nghiệp<br /> spin-off, Chính phủ Canada đã xem xét việc thành lập các trung tâm công<br /> nghiệp vùng với một loạt thành phần quan trọng (trong đó có các doanh<br /> nghiệp đổi mới trong một số hướng công nghệ tương lai như công nghệ vi<br /> sinh, công nghệ gen (chỉ sau Mỹ 20 năm) và trong một số hướng công nghệ<br /> truyền thống (công nghệ ôtô với trung tâm nghiên cứu lớn tại Windsor, với<br /> các chi nhánh lớn tại Michigan, London, Ontario). Các chùm có chức năng<br /> gắn kết các yếu tố công nghệ, kinh phí và nhân lực phục vụ cho mục tiêu<br /> đổi mới và phát triển.<br /> Chính phủ đã giao cho Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia, từ năm 1995, thành<br /> lập các công ty công nghệ mới trên cơ sở nguồn lực trí tuệ, công nghệ và tri<br /> thức sẵn có trong nước. Từ 1995 đến năm 2000, Hội đồng Nghiên cứu<br /> Quốc gia đã thành lập mới 400 công ty công nghệ, trong đó có 40 công ty<br /> thuộc loại Spin-off [1, 2].<br /> Hiện nay, Canada có khoảng 150 doanh nghiệp spin-off từ các phòng thí<br /> nghiệm quốc gia, trong đó có 110 do Hội đồng nghiên cứu quốc gia; 800<br /> doanh nghiệp spin-off từ các trường đại học. Doanh thu hàng năm khoảng 2<br /> <br /> 50<br /> <br /> Kinh nghiệm một số nước về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp…<br /> <br /> tỷ USD và tạo 12.000 việc làm. Riêng đối với các doanh nghiệp của Hội<br /> đồng nghiên cứu quốc gia - 1,2 tỷ USD/năm và 7.000 việc làm.<br /> Trong số các hình thức tổ chức chuyển giao công nghệ, Canada cho rằng<br /> hình thức chuyển giao công nghệ/thương mại hóa kết quả nghiên cứu nhanh<br /> nhất - đó là các doanh nghiệp spin-off/ khởi nghiệp (xem hình 1). Quá trình<br /> phát triển của loại hình doanh nghiệp này gắn liền với chương trình ươm<br /> tạo công nghệ hay còn gọi là chiến lược phát triển ươm tạo công nghệ ở<br /> Canada. Quá trình này không thể thực hiện được nếu như không có các<br /> nguồn quỹ đầu tư mạo hiểm.<br /> Chính sách và hỗ trợ pháp lý<br /> Các công ty và<br /> tổ chức R&D<br /> khác<br /> <br /> Hợp tác R&D<br /> <br /> Tổ chức<br /> R&D<br /> <br /> Các hoạt động<br /> R&D khác<br /> <br /> Mua công nghệ<br /> <br /> Các công ty<br /> <br /> Các công ty<br /> hoặc các bộ<br /> phận mới<br /> <br /> Spin- off<br /> <br /> Cải tiến sản phẩm<br /> hoặc quá trình<br /> <br /> Sản phẩm hoặc<br /> dịch vụ mới<br /> <br /> Thị trường<br /> <br /> Hình thành các<br /> công ty mới<br /> <br /> Hình 1. Các kênh chuyển giao công nghệ của Canada<br /> Phá vỡ tất cả các kỷ lục - Nét nổi trội trong đầu tư mạo hiểm của Canada<br /> . Năm 2000, các công ty<br /> Canada đã tiếp cận nhiều<br /> vốn hơn những năm trước<br /> . Năm 2000, vốn đầu tư mạo<br /> hiểm của Canada đạt 19 tỷ<br /> USD<br /> . Vốn đầu tư mạo hiểm trong<br /> công nghiệp của Canada đầu<br /> tư đạt kỷ lục 3,4 tỷ USD với<br /> 1.013 vòng tài chính tính<br /> đến cuối quý 3 năm 2000<br /> <br /> 6<br /> 5<br /> <br /> 5<br /> 4<br /> <br /> 3.48<br /> <br /> tỷ USD<br /> <br /> 2.7<br /> <br /> 3<br /> 2<br /> 1<br /> <br /> 0.46<br /> <br /> 0<br /> 1994<br /> <br /> 1999<br /> <br /> 2000<br /> <br /> 2014 (dự kiến)<br /> <br /> Nguồn: Hội đồng Nghiên cứu Canada<br /> <br /> Hình 2. Đầu tư mạo hiểm cho hoạt động của các doanh nghiệp đổi mới<br /> Như đã nói, hoạt động của các doanh nghiệp đổi mới ở Canada không thể<br /> thiếu vốn đầu tư mạo hiểm, cũng như không thể thiếu các biện pháp miễn<br /> <br /> JSTPM Tập 3, Số 4, 2014<br /> <br /> 51<br /> <br /> giảm thuế. Canada coi việc miễn thuế cho các doanh nghiệp này thực chất<br /> không phải mất thuế mà hoãn thuế cho tương lai. Vốn đầu tư vốn mạo hiểm<br /> cho các doanh nghiệp đổi mới ở Canada (xem hình 2).<br /> 2. Liên bang Nga<br /> Như chúng ta đã biết, Liên bang Nga tiếp thu phần lớn tài sản của Liên Xô<br /> để lại, trong đó có gần 150 Liên hiệp Khoa học - Sản xuất. Theo định nghĩa<br /> thời đó, Liên hiệp Khoa học - Sản xuất là một tổ hợp bao gồm viện nghiên<br /> cứu - thiết kế và một số doanh nghiệp sản xuất loạt số 0 các sản phẩm trong<br /> một số hướng công nghệ đặc biệt (công nghệ ưu tiên). Viện nghiên cứu<br /> đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động của Liên hiệp, Viện trưởng đồng thời<br /> kiêm Tổng giám đốc. Liên Xô sụp đổ, cùng với nó là sự tan rã của các Liên<br /> hiệp này, trước hết là các viện nghiên cứu. Quá trình tư nhân hóa kinh tế<br /> nói chung và tư nhân hóa trong lĩnh vực KH&CN được đánh giá như “sự<br /> thủ tiêu thành phần quan trọng nhất của tiềm lực khoa học và công nghiệp”<br /> [4]. Trước tình trạng đó, Chính phủ đã tiến hành:<br /> - Trên cơ sở các Liên hiệp này, thành lập một loạt các doanh nghiệp đổi<br /> mới vừa và nhỏ đa sở hữu, biến địa điểm của Liên hiệp thành làng<br /> khoa học, làng công nghệ (theo kiểu thung lũng Silicon) với đầy đủ<br /> các dịch vụ đi kèm: tổ hợp tài chính - công nghiệp, ngân hàng, các tổ<br /> hợp đầu tư,...<br /> - Tạo cơ chế để các viện lớn liên kết với các doanh nghiệp có khả năng áp<br /> dụng và nhân rộng các công nghệ cao đã có, ví dụ góp vốn bằng cơ sở<br /> vật chất, bằng sở hữu trí tuệ.<br /> Chính phủ Nga đã thực hiện chương trình đổi mới các Liên hiệp khoa học sản xuất trong tất cả các lĩnh vực: nông nghiệp, giao thông, vận tải, chế<br /> tạo... và hình thành nên một hệ thống các doanh nghiệp đổi mới vừa và nhỏ.<br /> Phần lớn các doanh nghiệp này được xây dựng trên mặt bằng của các Liên<br /> hiệp khoa học - sản xuất nên vô hình chung tạo nên một sự liên kết hoặc<br /> chính thức hoặc phi chính thức theo ngành và liên ngành giữa các doanh<br /> nghiệp thông qua mục tiêu chung là đổi mới công nghệ. Bằng cách đó,<br /> người Nga đã hình thành các khu công nghệ cao - các khu đổi mới [3,4,5].<br /> Để phục vụ cho hoạt động của các doanh nghiệp đổi mới kiểu này, Chính<br /> phủ Nga đã xây dựng hệ thống quỹ tài chính và phi tài chính như: quỹ đầu<br /> tư mạo hiểm, các công ty đầu tư mạo hiểm, các quỹ dự trữ vật chất, quỹ<br /> phát triển công nghệ... Đồng thời, hình thành các vườn ươm doanh nghiệp<br /> để tiếp nhận các doanh nghiệp khởi nghiệp và qua đó xây dựng các doanh<br /> nghiệp đổi mới theo kiểu công ty mẹ và công ty con.<br /> Trên đây là những biện pháp tổng hợp hỗ trợ cho hoạt động của doanh<br /> nghiệp đổi mới của Nga. Chi tiết hơn, ta có thể thấy như sau:<br /> <br /> 52<br /> <br /> Kinh nghiệm một số nước về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp…<br /> <br /> - Nhà nước đặc biệt chú ý đến việc điều chỉnh giá cả công nghệ mới trên<br /> cơ sở cung cầu, đảm bảo được 3 yếu tố: Bù đắp chi phí của người sản<br /> xuất; xác định được tỷ lệ doanh lợi giữa các thành viên tham gia quá<br /> trình khoa học - sản xuất, giảm giá cho người sử dụng tùy thuộc vào lĩnh<br /> vực mà công nghệ mới được áp dụng.<br /> Việc giảm giá được tiến hành trên cơ sở tính toán đầy đủ các chi phí,<br /> đồng thời có tính tới sự hao mòn vô hình xét theo khía cạnh kinh tế, xã<br /> hội và môi trường. Tăng giá dẫn đến tình trạng giảm ứng dụng, giảm giá<br /> dẫn đến giảm cung, chính phủ cần có các chính sách điều tiết hợp lý vì<br /> đối với công nghệ mới đôi khi không thể để thị trường tự do điều tiết.<br /> Việc trợ giá có thể được thực hiện thông qua các quỹ tập trung.<br /> - Nhà nước chú ý tới việc áp dụng cơ chế khấu hao nhanh để thúc đẩy quá<br /> trình đổi mới công nghệ nói chung và chu trình đổi mới sản phẩm của<br /> doanh nghiệp KH&CN nói riêng. Đây là điều mà nước Nga cho rằng cần<br /> học tập kinh nghiệm của Mỹ, nơi mà cơ chế này đã được áp dụng phổ<br /> biến từ hơn 50 năm nay.<br /> - Nhà nước đặc biệt chú ý đến vai trò tín dụng Ngân hàng thông qua<br /> việc: tạo cơ chế để Ngân hàng góp vốn cùng đầu tư với doanh nghiệp<br /> đổi mới, giảm thuế thu nhập để ngân hàng chỉ thu lãi 50% khoản nợ<br /> đáo hạn của doanh nghiệp; giảm 50% vốn dự trữ bắt buộc đối với ngân<br /> hàng đầu tư cho đổi mới; bảo đảm kịp thời trả tới 50% tổng số tín dụng<br /> của các ngân hàng thương mại bằng cách Ngân hàng Trung ương thu<br /> lãi suất bằng 0 trong thời hạn nhất định đối với các khoản nợ quá hạn;<br /> giảm 50% lãi suất đối với các khoản tín dụng trung và dài hạn cho đổi<br /> mới, nhưng tăng thêm 30% đối với các khoản vay ngắn hạn cho các<br /> mục tiêu đầu cơ, trục lợi.<br /> - Ưu đãi về thuế: bao gồm giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn thuế<br /> thu nhập doanh nghiệp 2-3% đối với sản phẩm mới, dãn nợ thuế, thuế tín<br /> dụng đầu tư,... Cụ thể, không thu thuế các thương vụ sử dụng và bán<br /> licence, không thu thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần lợi nhuận<br /> bằng tổng chi phí cho nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp đổi<br /> mới, đồng thời tăng thuế lũy tiến đối với các doanh nghiệp độc quyền từ<br /> năm thứ năm trở đi. Miễn thuế tài sản 100% năm thứ nhất, 50% năm thứ<br /> hai, 30% năm thứ ba và 20% năm thứ tư đối với các doanh nghiệp đổi<br /> mới có trang thiết bị mới. Giảm các khoản bảo hiểm xã hội 30 - 50%, số<br /> còn lại do Nhà nước cấp bù từ ngân sách [4].<br /> 3. Mỹ<br /> Một trong các hình thức tổ chức các quá trình đổi mới ở Mỹ là doanh<br /> nghiệp đổi mới vừa và nhỏ hay còn gọi là doanh nghiệp tự quyền [3]. Hình<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản