intTypePromotion=1

Luận án tiến sĩ Kinh tế: Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam

Chia sẻ: Huc Ninh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:218

0
29
lượt xem
5
download

Luận án tiến sĩ Kinh tế: Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu cơ bản, xuyên suốt của luận án là ứng dụng khung lý thuyết về nội dung phân tích tài chính các NHTMCP và sử dụng dữ liệu thực tế để đánh giá thực trạng nội dung phân tích tài chính của các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam. Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nội dung phân tích tài chính các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin phụ vụ quản trị của các nhà quản lý ngân hàng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận án tiến sĩ Kinh tế: Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam

  1. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong quá trình phát triển KT-XH ở Việt Nam, các Ngân hàng thương mại (NHTM) ngày càng đóng vai trò quan trọng và khẳng định được vị trí của mình là trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và tạo ra phương tiện thanh toán trong nền kinh tế. Có thể nói hoạt động của NHTM liên quan đến hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế. Nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng vừa trải qua khủng hoảng trầm trọng mà tâm điểm của cuộc khủng hoảng là hệ thống tài chính – ngân hàng. Trên thế giới, một loạt ngân hàng lớn như Washington Mutual, LehmonBrother đã bị sụp đổ. Còn ở Việt Nam, trước năm 2012, nền kinh tế và hệ thống ngân hàng thực thi chính sách tăng trưởng đầy tham vọng và dẫn đến hệ lụy là thanh khoản của hệ thống ngân hàng gặp khó khăn, lãi suất liên ngân hàng tăng cao, nợ xấu tăng nhanh, hiệu quả và lợi nhuận giảm sút- một số ngân hàng âm vốn điều lệ như Navibank, Habubank, GP bank. Trước tình hình đó ngành ngân hàng đã và đang tiến hành tài cơ cấu hoạt động, điều này gây ra xáo trộn toàn hệ thống và hao phí lớn sức lực, tiền của của xã hội. Do đó, về lâu dài cần có biện pháp quản lý để các NHTM hoạt động hiệu quả, bền vững. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà Nước, tính đến 31/12/2017, trong nước có 35 NHTM thì có 31 NHTM cổ phần, trong số đó có 10 NHTM cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán. Do đó, tình hình tài chính của NHTM có ý nghĩa quan trọng đối với các cổ đông, là cơ sở để họ ra quyết định. Đặc biệt với các NHTM cổ phần (NHTMCP) niêm yết, các ngân hàng này có điều kiện thuận lợi trong việc huy động vốn đầu tư nhưng phải đảm bảo các điều kiện về tài chính do Ủy ban chứng khoán Nhà Nước đưa ra. Ngoài ra, hoạt động của các NHTMCP niêm yết rất nhạy cảm với chấn động chính trị- kinh tế- xã hội và ngược lại, biến động tài chính của các NHTMCP niêm yết tác động mạnh mẽ đến thị trường chứng khoán, đến toàn bộ nền kinh tế. Phân tích tài chính là công cụ để nhận thức các hiện tượng, quá trình và kết quả hoạt động kinh tế- tài chính. Phân tích tài chính các NHTMCP niêm yết đưa ra đánh giá về tình hình tài chính của ngân hàng trong quá khứ và hiện tại, từ đó dự đoán về tình hình tài chính trong tương lai làm cơ sở cho các chủ thể kinh tế đưa ra các quyết định phù hợp với lợi ích của họ. Do đó, phân tích tài chính các NHTMCP niêm yết có ý nghĩa quan trọng đối với tất cả các chủ thể kinh tế đặc biệt trong tình hình khủng hoảng hiện nay. 1
  2. Như vậy, NHTMCP niêm yết có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và phân tích tài chính là công cụ cao cấp, không thể thiếu để quản trị tài chính. Tuy nhiên, hiện nay hoạt động phân tích tài chính của NHTMCP niêm yết vẫn còn giản đơn, nội dung phân tích chưa toàn diện. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng của hệ thống tài chính – ngân hàng. Nhìn nhận trên khía cạnh lí luận, đã có một số nghiên cứu về phân tích tài chính và phân tích hoạt động của NHTM nhưng chưa có nghiên cứu nào chuyên sâu về nội dung phân tích tài chính NHTMCP niêm yết Xuất phát từ những đòi hỏi cả về lí luận và thực tiễn tác giả đã lựa chon đề tài Nghiên cứu sinh của mình là “Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam”. 2. Mục tiêu nghiên cứu của luận án Mục tiêu cơ bản, xuyên suốt của luận án là ứng dụng khung lý thuyết về nội dung phân tích tài chính các NHTMCP và sử dụng dữ liệu thực tế để đánh giá thực trạng nội dung phân tích tài chính của các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam. Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nội dung phân tích tài chính các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin phụ vụ quản trị của các nhà quản lý ngân hàng. Từ mục tiêu cơ bản, mục tiêu cụ thể của luận án bao gồm: - Làm rõ lý luận cơ bản về NHTMCP, phân tích tài chính NHTMCP, đặc biệt là nội dung phân tích tài chính NHTMCP. - Mô tả thực trạng và đánh giá thực trạng nội dung phân tích tài chính của các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam. - Đề xuất các giải pháp và điều kiện thực hiện giải pháp hoàn thiện nội dung phân tích tài chính các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của luận án là: nội dung phân tích tài chính các NHTMCP - Phạm vi nghiên cứu + Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu lý luận và thực trạng, đề xuất giải pháp hoàn thiện nội dung phân tích tài chính của các NHTMCP nhằm cung cấp thông tin phục vụ quản trị ngân hàng. +Về không gian: Giới hạn tại các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam hiện nay + Về thời gian: Luận án nghiên cứu trong giai đoạn 2013-2017 2
  3. 4. Phương pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp luận được sử dụng trong nghiên cứu Tác giả sử dụng triết học Mác- Lênin, cụ thể sử dụng phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử để làm phương pháp luận cho luận án. Phương pháp này là nền tảng để tác giải lựa chọn các phương pháp nghiên cứu cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra. 4.2. Phương thức tiếp cận Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả đã vận dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng. Phương pháp định tính được sử dụng nhằm mô tả và phân tích đặc điểm kinh doanh của NHTMCP, các nhân tố ảnh hưởng đến nội dung phân tích tài chính NHTMCP. Phương pháp định tính được thực hiện thông qua việc thu thập dữ liệu dưới dạng văn bản, quyết định (dữ liệu dạng chữ), từ đó tiếp cận đối tượng nghiên cứu nhằm tìm cách mô tả và phân tích đặc điểm của đối tượng nghiên cứu. Nghiên cứu định lượng được tiến hành thông qua việc khảo sát, thu thập dữ liệu dạng số về tình hình tài chính cũng như thực trạng phân tích tài chính của các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam hiện nay. 4.3. Quá trình thu thập dữ liệu Để hoàn thành được mục tiêu của luận án, tác giả đã tiến hành thu thập các dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp. Dữ liệu sơ cấp là những dữ liệu mà tác giả tự thu thập được, chưa qua xử lý và được thu thập thông qua phiếu khảo sát dành cho các nhà quản lý, chuyên viên phụ trách tài chính của 9 NHTMCP niêm yết. Cách thức khảo sát là gửi phiếu khảo sát qua Email hoặc gửi trực tiếp, gặp gỡ trao đổi với những người liên quan. Dữ liệu thứ cấp là dữ liệu đã được xử lý bởi các NHTMCP niêm yết và NHNN là hệ thống báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, báo cáo quản trị. Đây là những minh chứng quan trọng và cần thiết, phản ánh một cách trung thực và chính xác thực trạng nội dung phân tích tài chính của các NHTMCP niêm yết. 4.4. Quá trình xử lý dữ liệu Trên cơ sở dữ liệu sơ cấp thu thập được, tác giả đã tiến hành tổng hợp, phân loại, lựa chọn và tóm lược để có thể sử dụng được. Quá trình xử lý dữ liệu thu thập bao gồm: kiểm tra dữ liệu, hiệu đính dữ liệu, nhập dữ liệu vào máy tính và sử dụng các phần mềm như Google Docs, eview và Microsoft Excel để tính toán, lập bảng tính, xử lý và phân tích dữ liệu nhằm đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu. Bên cạnh 3
  4. đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp phân tích mang tính nghiệp vụ - kỹ thuật khác như so sánh, đối chiếu, tổng hợp để xét đoán phù hợp với tư duy biện chứng và lịch sử. Đối với các dữ liệu thứ cấp, đây là những thông tin đã được kiểm toán nên tác giả sử dụng trực tiếp để minh họa trong chương 2 và chương 3 của luận án. Nhìn chung, nhận thức về tầm quan trọng của việc phân tích tài chính trong mỗi NHTMCP niêm yết còn hạn chế. Hơn nữa, việc không thể kiểm định được kết quả trả lời của những người tham gia khảo sát vì những câu trả lời này mang tính chủ quan và phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức của người trả lời. Do đó, số liệu trong khảo sát có thể ảnh hưởng nhất định đến chất lượng của luận án. 5. Những đóng góp của luận án - Về lý luận: Luận án góp phần hệ thống hoá và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về nội dung phân tích tài chính các NHTMCP phục vụ công tác quản trị của ngân hàng, cung cấp thông tin cho nhà đầu tư và công tác giám sát tài chính của cơ quan quản lý Nhà Nước đối với NHTMCP niêm yết - Về thực tiễn: Luận án đã tổng kết và mô tả thực trạng nội dung phân tích tài chính tại các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam hiện nay. - Về tính ứng dụng vào thực tiễn: Luận án đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện nội dung phân tích tài chính các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam phù hợp với đặc điểm đặc thù của các NHTMCP niêm yết ở nước ta hiện nay. 6. Kết cấu luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án kết cấu thành 3 chương: Chương 1: Lý luận cơ bản về nội dung phân tích tài chính trong các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết Chương 2: Thực trạng nội dung phân tích tài chính trong các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết ở Việt Nam Chương 3: Giải pháp hoàn thiện nội dung phân tích tài chính các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết ở Việt Nam 4
  5. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Mục đích của phần tổng quan này nhằm hệ thống hóa và phân tích các nghiên cứu trước đó ở Việt Nam và trên thế giới liên quan đến đề tài, chỉ ra những vấn đề còn tồn tại mà luận án sẽ tập trung giải quyết, xác định câu hỏi nghiên cứu. 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu NHTM là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, vì vậy phân tích tài chính NHTM mang những đặc điểm của phân tích TCDN. Hơn nữa, đề tài nghiên cứu cụ thể NHTMCP niêm yết nên ngoài nội dung phân tích TCDN nói chung còn có nội dung đặc trưng của doanh nghiệp cổ phần niêm yết. Hoạt động của NHTM có những đặc thù so với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh: hoạt động chủ yếu là huy động vốn và cho vay, đầu tư tài chính. Đặc biệt hoạt động của NHTM luôn chứa đựng rủi ro. Do đó, đề tài có liên quan đến các công trình nghiên cứu về phân tích tài chính NHTM và về quản trị NHTM như quản trị các hoạt động của ngân hàng, quản trị các loại rủi ro. Mỗi nhà khoa học tiếp cận vấn đề quản trị NHTM ở những khía cạnh khác nhau nhưng đều hướng đến mục tiêu chung làm gia tăng chất lượng và hiệu quả quản lý tài chính đối với NHTM. Trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận án, tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu theo 2 nhóm: - Nhóm các công trình nghiên cứu về phân tích tài chính công ty cổ phần - Nhóm các công trình nghiên cứu về phân tích tài chính NHTM và quản trị NHTM. Thứ nhất, tổng quan các công trình nghiên cứu về phân tích tài chính công ty cổ phần Luận án tiến sĩ kinh tế: “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong doanh nghiệp cổ phần phi tài chính ở Việt Nam”, (1999), của Nguyễn Trọng Cơ [8]: tổng quan về doanh nghiệp cổ phần và phân tích tài chính trong doanh nghiệp cổ phần; thực trạng về phân tích tài chính trong doanh nghiệp cổ phần phi tài chính ở Việt Nam; hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong doanh nghiệp cổ phần phi tài chính. Theo tác giả Nguyễn Trọng Cơ, phân tích tài chính là công cụ giúp các đối tượng đưa ra quyết định phù hợp với mục tiêu mà họ quan tâm. Do đó, để đánh giá và dự đoán tài chính, phân tích tài chính cần thực hiện những nội dung: (1) Phân tích quá trình tạo lập và phân phối vốn; (2) Phân tích tình hình và khả năng thanh toán; (3) Phân tích khả năng sinh lời; (4) Đánh giá doanh nghiệp. Ngoài ra, nội dung phân tích có thể được chia nhỏ và tiến hành theo tài liệu sưu tầm được. Cụ 5
  6. thể: (1) Phân tích bảng cân đối kế toán; (2) Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh; (3) phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ; (4) Phân tích mức độ đảm bảo vốn cho sản xuất kinh doanh; (5) cấu trúc tài chính và tình hình đầu tư; (6) Phân tích tình hình khả năng thanh toán; (7)Phân tích hiệu quả kinh doanh và khả năng sinh lời; (8) Phân tích hiệu quả đầu tư cổ phiếu; (9) Định giá doanh nghiệp. Tác giả Nguyễn Trọng Cơ đã căn cứ vào đặc điểm tài chính của doanh nghiệp phi tài chính và mục đích phân tích để đưa ra hệ thống nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp. Tác giả luận án đã phân biệt cơ chế quản lý tài chính trong doanh nghiệp cổ phần và doanh nghiệp khác làm cơ sở đưa ra hệ thống chỉ tiêu phân tích riêng cho công ty cổ phần. Ngoài các nội dung phân tích TCDN nói chung, tác giả đã đề xuất nội dung “Phân tích hiệu quả đầu tư cổ phiếu” và hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá doanh nghiệp. Như vậy, theo tác giả Nguyễn Trọng Cơ có thể hệ thống và xây dựng nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp dựa vào chu trình tài chính hoặc tài liệu phân tích. Luận án tiến sĩ kinh tế:“Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, (2011) của Nguyễn Thị Quyên [45]: hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần niêm yết nói riêng; phân tích sâu sắc và đánh giá đúng thực trạng hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính của công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Luận án đã đưa ra hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán ngoài các chỉ tiêu phân tích TCDN nói chung, bao gồm: lãi cơ bản trên cổ phiếu (EPS), tỉ lệ cổ tức so với giá trị thị trường của cổ phiếu (DYR), tỉ lệ giá trên thu nhập của cổ phiếu (P/E), tỉ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách (P/B). Luận án tiến sĩ kinh tế “Hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích tài chính trong các tập đoàn kinh tế hoạt động theo mô hình công ty mẹ -con ở Việt Nam” (2012) của Nguyễn Thị Thanh [48]: trên cơ sở nhận thức chung về tập đoàn kinh tế và vai trò của phân tích tài chính đối với tập đoàn kinh tế, đứng trên góc độ nhà quản lý, lãnh đạo tập đoàn, tác giả Nguyễn Thị Thanh đã đưa ra 7 nội dung phân tích: (1) Đánh giá khái quát tình hình tài chính; (2) Phân tích chính sách tài chính;(3) Phân tích tình hình sử dụng vốn; (4)Phân tích tiềm lực tài chính;(5) Phân tích khả năng sinh lời, (6) Phân tích rủi ro tài chính; (7) Dự báo nhu cầu tài chính. Hoạt động 6
  7. đầu tư vốn giữa công ty mẹ với con và hình thức quản lý sử dụng vốn là đặc điểm đặc trưng về quản lý tài chính của tập đoàn kinh tế nên tác giả tập trung làm rõ hơn nội dung phân tích tình hình đầu tư, bảo toàn – phát triển vốn của tập đoàn. Luận án tiến sĩ kinh tế “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các công ty tài chính ở Việt Nam” (2012) của Hồ Thị Thu Hương [13]: căn cứ vào mô hình tổ chức quản lý và đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty tài chính, tác giả đã hệ thống hóa các chỉ tiêu phân tích tài chính trong công ty tài chính theo 8 nhóm nội dung: (1)chỉ tiêu phản ánh quy mô tài chính, (2)chỉ tiêu phản ánh chính sách huy động vốn, (3)chỉ tiêu đánh giá độ an toàn vốn, (4)chỉ tiêu phản ánh chính sách tín dụng, (5)chỉ tiêu phản ánh chất lượng tài sản, (6) chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán, (7)chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời, (8) chỉ tiêu phản ánh rủi ro tài chính. Công ty tài chính có nhiều hoạt động giống ngân hàng nên NCS có thể vận dụng một số chỉ tiêu trong luận án này. Luận án tiến sĩ kinh tế: “Hoàn thiện phân tích hiệu quả kinh doanh trong các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, (2013) của Trần Thu Phong [41] Luận án đi sâu vào phân tích một khía cạnh tình hình tài chính là hiệu quả kinh doanh và không chỉ hoàn thiện chỉ tiêu, phương pháp phân tích mà cả tổ chức phân tích. Tác giả cho rằng, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán không chỉ so sánh giá trị các chỉ tiêu giữa các thời kì, so sánh với trung bình ngành mà cần so sánh với các hình thức đầu tư khác như gửi tiết kiệm, đầu tư trái phiếu, kì phiếu hay so sánh với tỉ lệ lạm phát. NCS cho rằng đây là quan điểm hợp lý. Ngoài ra, còn rất nhiều luận án viết về phân tích TCDN thuộc các lĩnh vực khác nhau như “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính trong các doanh nghiệp xây dựng của Việt Nam”,(2002) của Nguyễn Ngọc Quang [43]; “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính tại tổng công ty Hàng không Việt Nam”, (2008) của Trần Thị Minh Phương [42];“Hoàn thiện nội dung phân tích tài chính trong các công ty cổ phần thuộc tổng công ty công nghiệp xi măng Việt Nam”,(2014) của Phạm Thị Quyên [46]…Các luận án này ngoài những điểm tương đồng về phương pháp phân tích, nội dung hay chỉ tiêu phân tích tài chính của doanh nghiệp nói chung thì đều có những nội dung hay chỉ tiêu đặc trưng xuất phát từ đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của đối tượng phân tích mà các tác giả lựa chọn. Đối với doanh nghiệp xây dựng, tác giả Nguyễn Ngọc Quang đưa ra chỉ tiêu đặc trưng: Tỉ lệ hoàn thành khối lượng xây dựng, tốc độ tăng trưởng giá trị sản 7
  8. lượng xây dựng, thời hạn trung bình 1 công trình chưa được bàn giao. Đối với công ty Hàng Không- vận tải kĩ thuật cao, tác giả Trần Thị Minh Hương xây dựng chỉ tiêu riêng: nhóm chỉ tiêu doanh thu – chi phí tính chi tiết trên 1 đơn vị hành khách (1 đơn vị vận chuyển); nhóm chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động so với thiết kế. Tác giả Phạm Thị Quyên thì lựa chọn quan điểm xây dựng nội dung phân tích tài chính theo quy trình tài chính và hoàn thiện nội dung “Phân tích tình hình bảo toàn, phát triển vốn cồ phần”- đặc trưng cho công ty cổ phần. Theo quan điểm của NCS, NHTMCP niêm yết cũng là một doanh nghiệp nên khi phân tích tài chính NHTMCP niêm yết có thể kế thừa các quan điểm về mục tiêu, chỉ tiêu, phương pháp và tổ chức phân tích tài chính đối với doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần niêm yết nói riêng. Tuy nhiên, NHTMCP niêm yết có tính đặc thù về hoạt động kinh doanh (đối tượng kinh doanh, mức độ rủi ro, các loại hoạt động…) và đặc biệt hoạt động của nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế nên chịu sự giám sát, tuân theo quy định của cơ quan quản lý Nhà Nước. Vì vậy, khi phân tích tài chính NHTMCP niêm yết cần bổ sung thêm mục tiêu và nhiều nội dung đặc thù. Thứ hai, tổng quan các công trình nghiên cứu về phân tích hoạt động ngân hàng thương mại và quản trị ngân hàng thương mại Trong cuốn “Quản trị NHTM hiện đại”, PGS,TS. Nguyễn Đăng Đờn [4] đã đưa ra các nội dung quản trị tài chính và kết quả kinh doanh của NHTM bao gồm các nội dung: (1) Quản trị vốn tự có và sự an toàn của NHTM; (2) Quản trị tài sản Nợ và tài sản Có; (3) Quản trị kết quả tài chính; (4) Quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Trong mỗi nội dung quản trị, tác giả đã đưa ra các chỉ tiêu phản ánh khía cạnh đó, đề xuất biện pháp nâng cao năng lực tài chính cho NHTM. Như vậy, tác giả đã đề cập đến vấn đề quản trị một số khía cạnh quan trọng về tình hình tài chính của NHTM nói chung nhưng chưa toàn diện (chưa đề cập đến quản trị dòng tiền, hiệu suất sử dụng vốn) và không đưa ra phương pháp phân tích các khía cạnh đó. Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam”, (2002), Lê Thị Xuân [51] đã hệ thống hóa lí luận cơ bản về phân tích hoạt động kinh của NHTM, đánh giá thực trạng phân tích hoạt động kinh doanh của các NHTM ở Việt Nam giai đoạn 1996-2000 từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh của NHTM ở Việt Nam hiện nay. Luận án đã đưa ra hệ thống chỉ tiêu phân tích hoạt động kinh doanh theo các khía cạnh sau: 8
  9. + Đánh giá khái quát tình hình Tài sản – Nguồn vốn + Đánh giá tình hình vốn tự có + Đánh giá tình hình huy động vốn + Đánh giá tình hình dự trữ và khả năng thanh toán + Đánh giá tình hình hoạt động tín dụng + Đánh giá tình hình thu nhập và chi phí + Đánh giá tình hình thực hiện chỉ tiêu Lợi nhuận và khả năng sinh lời Luận án đã hệ thống lí luận, trình bày thực trạng và hoàn thiện các phương pháp phân tích hoạt động kinh doanh tương tự phân tích TCDN như phương pháp so sánh, phân chia, Dupont. Như vậy, NCS có thể kế thừa các chỉ tiêu phân tích mà tác giả Lê Thị Xuân đã hệ thống hóa và xây dựng thêm về các nội dung: phân tích tình hình tài sản- nguồn vốn, phân tích tình hình vốn tự có. Tuy nhiên, theo NCS, các nhóm chỉ tiêu mà tác giả xây dựng vừa theo quy trình tài chính như nói đến Tài sản- nguồn vốn, thu nhập chi phí lại vừa theo các hoạt động kinh doanh như tình hình huy động vốn, hoạt động tín dụng, như vậy sẽ khó bao quát đủ các nội dung phân tích. Ngoài ra, tác giả Lê Thị Xuân chưa đề cập sâu đến một số khía cạnh quan trọng về hoạt động của ngân hàng như an toàn hoạt động ngân hàng, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng (tác giả mới đề cập đến rủi ro tín dụng khi phân tích hoạt động tín dụng), chưa phân tích dòng tiền. Luận án chủ yếu hoàn thiện về chỉ tiêu phân tích nên phương pháp phân tích tác giả hệ thống và hoàn thiện chưa đầy đủ như chưa đề cập đến phương pháp phân tích nhân tố, phương pháp phân tích định lượng. Đối tượng nghiên cứu của tác giả là NHTM ở Việt Nam nói chung, không phải NHTMCP niêm yết ở Việt Nam. Một số tác giả viết luận án tiến sĩ về phân tích một khía cạnh tài chính của NHTM mà NCS có thể kế thừa như: Luận án “Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của NHTM ở Việt Nam”, (2008) của Nguyễn Việt Hùng [11]; luận án “Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM Việt Nam sau M&A”, (2016) của Nguyễn Quang Minh [17]. Các luận án này đã nêu ra những vấn đề lí luận, thực tiễn nghiên cứu hiệu quả hoạt động của NHTM; Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM ở Việt Nam; Định hướng giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của NHTM ở Việt Nam. Như vậy, đối tượng nghiên cứu của luận án chỉ là khía cạnh “hiệu quả hoạt động” của NHTM nói chung, NHTM có hoạt động M&A. Luận án “Hoàn thiện phân tích chất lượng tín 9
  10. dụng tại các NHTM trên địa bàn tỉnh Bình Định” (2017) của Lê Thị Thanh Mỹ [16] đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích chất lượng tín dụng của NHTM, hệ thống hóa và hoàn thiện các tiêu chí phân tích chất lượng tín dụng của NHTM. Nghiên cứu “Financial analysis of bank institutions”,(1995) của K.Selvavinayagam [61] đã đưa ra mô hình phân tích để phản ánh các khía cạnh khác nhau về tình hình tài chính của ngân hàng, bao gồm: tình hình huy động vốn, chất lượng cho vay, phân tích an toàn vốn, phân tích thanh khoản và phân tích tình hình kinh doanh. NCS cho rằng, nghiên cứu này đã khái quát được những vấn đề quan trọng về tình hình tài chính của ngân hàng nhưng chưa đầy đủ và chi tiết. Nghiên cứu “A financial ratio analysis of commercial bank performance in South Africa”, (2010) của Mabwe Kumbirai và Robert Webb [62] đã mô tả, đánh giá tình hình tài chính của các ngân hàng thuộc khu vực Nam phi qua một số nhóm chỉ tiêu tài chính: khả năng sinh lời, khả năng thanh khoản, chất lượng tín dụng bằng phương pháp thống kê định lượng. Theo NCS, nhóm tác giả cũng chỉ đánh giá 1 số nội dung về tình hình tài chính của NHTM. Tuy nhiên, nhóm tác giả đưa ra phương pháp đánh giá định lượng có tính thuyết phục. Như vậy, các luận án tiến sĩ và công trình nghiên cứu khoa học về phân tích NHTM mới chỉ nói đến một số khía cạnh về tình hình tài chính, nó chưa mang tính hệ thống và đối tượng nghiên cứu là NHTM nói chung, không phải NHTMCP niêm yết Các luận án: “Nâng cao năng lực tài chính của các NHTMCP Việt Nam” (2016), Lã Thị Lâm [15]; “Năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam”, (2013) của Phan Thị Hằng Nga [18] đã đưa ra các chỉ tiêu đánh giá năng lực tài chính của NHTM. Tác giả Phan Thị Hằng Nga và Lã Thị Lâm đã đưa ra quan điểm về năng lực tài chính của NHTM; hệ thống hóa các chỉ tiêu phản ánh năng lực tài chính của NHTM theo các khía cạnh: vốn chủ sở hữu, tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu, quy mô- chất lượng tài sản, khả năng thanh khoản, khả năng sinh lời, nguồn vốn huy động; sau đó sử dụng các chỉ tiêu này để đánh giá năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam. Tác giả Phan Thị Hằng Nga còn sử dụng phương pháp định lượng để đánh giá năng lực tài chính của NHTM Việt Nam theo tiêu chuẩn Camel. Các chỉ tiêu trên cũng phần nào phản ánh tình hình tài chính của NHTM, tuy nhiên theo NCS các chỉ tiêu này mới phản ánh khái quát, chưa chi tiết và đặc biệt các tác giả chưa đề cập đến phân tích các rủi ro tài chính của NHTM. Có nhiều tác giả viết về quản trị rủi ro của NHTM mà NCS có thể kế thừa để hệ thống hóa về nội dung phân tích rủi ro tài chính của NHTMCP như: Luận án 10
  11. “Rủi ro thanh khoản tại các NHTM Việt Nam” (2016) của Nguyễn Bảo Huyền [12] đã hệ thống lý luận cơ bản về rủi ro thanh khoản và quản lý rủi ro thanh khoản của NHTM; Luận án “Quản lý rủi ro tín dụng tại NHTMCP công thương Việt Nam” (2013) của Nguyễn Đức Tú [50] đã khái quát hóa những nguyên lý cơ bản về rủi ro và quản lý rủi ro tín dụng của NHTM; Luận án “Quản lý rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của NHTM Việt Nam” (2011) của Tạ Ngọc Sơn [47] đã phân tích, đánh giá tình hình quản lý rủi ro lãi suất của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2007-2009; xây dựng giải pháp hoàn thiện công tác quản lý rủi ro lãi suất tại các NHTM. Tác giả đưa ra 3 phương pháp đo lường rủi ro lãi suất: khe hở nhạy cảm lãi suất (GAP), độ nhạy cảm lãi suất (PVBP), giá trị có thể tổn thất (VAR). 2. Khoảng trống và câu hỏi nghiên cứu của luận án  Khoảng trống nghiên cứu: Qua nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu ở trên, NCS nhận thấy: các công trình về phân tích tài chính doanh nghiệp đã làm rõ lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp nói chung trong đó có nội dung phân tích, ứng dụng lý luận để đánh giá thực trạng phân tích trong một số ngành và loại hình doanh nghiệp cụ thể, từ đó đề xuất các nội dung phân tích hay chỉ tiêu phân tích chuyên biệt cho lĩnh vực kinh doanh hay loại hình doanh nghiệp nghiên cứu. Các công trình về phân tích tài chính NHTM và quản trị ngân hàng thương mại đã làm rõ lý luận về NHTM và nội dung phân tích, quản trị một vài khía cạnh tài chính của NHTM, đánh giá tình hình phân tích hay quản trị các khía cạnh đó ở NHTM nghiên cứu. Tuy nhiên, với mục tiêu phân tích tài chính NHTMCP để cung cấp thông tin cho nhà quản trị ngân hàng thì các nghiên cứu vẫn còn một số khoảng trống: Thứ nhất, về lý luận nội dung phân tích tài chính NHTM: - Chưa nghiên cứu nào phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nội dung phân tích tài chính NHTMCP. - Các nghiên cứu chưa đưa ra nội dung phân tích tài chính các NHTMCP một cách hệ thống và toàn diện về nội dung phân tích, chỉ tiêu phân tích và phương pháp phân tích Thứ hai, về phạm vi nghiên cứu: Chưa có nghiên cứu nào về nội dung phân tích tài chính các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam. 11
  12.  Câu hỏi nghiên cứu: Để giải quyết những tồn tại và khoảng trống của các nghiên cứu trước, NCS xác định câu hỏi nghiên cứu: - Nhân tố nào ảnh hưởng đến nội dung phân tích các NHTMCP? - Phân tích tài chính các NHTMCP bao gồm những nội dung nào? Mỗi nội dung có mục tiêu, chỉ tiêu phân tích và phương pháp phân tích ra sao? - Nhân tố đặc trưng ảnh hưởng đến nội dung phân tích tài chính của NHTMCP niêm yết ở Việt Nam là gì? - Kết quả và tồn tại, nguyên nhân của tồn tại trong thực trạng nội dung phân tích tài chính của các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam? - Cần hoàn thiện nội dung phân tích tài chính các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam như thế nào để cung cấp thông tin hữu ích cho nhà quản trị ngân hàng và phù hợp với định hướng phát triển ngành ngân hàng của Đảng và Chính phủ? 12
  13. CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 1.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 1.1.1. Khái niệm, phân loại ngân hàng thương mại 1.1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống các trung gian tài chính giữ vai trò quan trọng đối với nhiều chủ thể và trong các hoạt động khác nhau. NHTM được xem là trung gian tài chính quan trọng nhất. Đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm NHTM Ở Mỹ, NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Đạo luật ngân hàng Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức kí thác hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính. Theo giáo sư Peter S Rose “Ngân hàng là một trung gian tài chính nhận tiền gửi và cung cấp vốn vay, cung cấp một hệ thống các dịch vụ của một định chế tài chính” [63,tr.3]. Ở Việt Nam, theo Luật các TCTD 47/2010/QH12 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2011) thì:[44] Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Điều 98 của Luật này đã quy định hoạt động của NHTM bao gồm: Nhận tiền gửi không kì hạn, có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác; Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài; Cấp tín dụng dưới các hình thức: cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh ngân hàng....; Mở tài khoản thanh toán cho khách hàng, cung ứng các phương tiện thanh toán, cung ứng các dịch vụ thanh toán 13
  14. Theo các nhà khoa học của Học viện tài chính, NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ ngân hàng trong nền kinh tế quốc dân Từ những nhận định trên có thể thấy, NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ vì mục tiêu lợi nhuận, cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thỏa mãn nhu cầu về sản phẩm dịch vụ xã hội. 1.1.1.2. Phân loại ngân hàng thương mại Có thể phân loại NHTM theo một số tiêu thức sau:  Theo thành phần kinh tế: NHTM được chia thành 4 loại: NHTM Nhà Nước là ngân hàng thuộc sở hữu Nhà Nước, được thành lập bằng 100% vốn do Nhà Nước đầu tư NHTMCP là ngân hàng được thành lập dưới hình thức một công ty cổ phần, do các cổ đông góp vốn. Vốn của NHTMCP được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần. NHTMCP đủ điều kiện và đã đưa cổ phiếu ra giao dịch trên thị trường chứng khoán gọi là NHTMCP niêm yết. NHTM liên doanh là ngân hàng được thành lập dưới hình thức góp vốn liên doanh giữa các đối tác thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. NHTM nước ngoài bao gồm: chi nhánh ngân hàng được thành lập theo pháp luật và thuộc sở hữu của nước ngoài và ngân hàng 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài được Chính phủ nước sở tại cấp giấy phép hoạt động và tuân thủ theo pháp luật của nước đó. Trong luận án này, tác giả tập trung nghiên cứu nội dung phân tích tài chính của NHTMCP.  Theo quy mô hoạt động, NHTM được chia thành 2 loại: NHTM duy nhất là NHTM chỉ có một hội sở hoạt động duy nhất trên phạm vi lãnh thổ quốc gia. NHTM mạng lưới là loại hình NHTM có hội sở trung ương và các chi nhánh hoạt động trên lãnh thổ quốc gia và ở nước ngoài.  Theo lĩnh vực hoạt động, NHTM được chia thành 2 loại: NHTM chuyên doanh: là NHTM chỉ phục vụ cho một hay một số nhóm ngành kinh tế như: nông nghiệp, xuất nhập khẩu và đầu tư… 14
  15. NHTM đa ngành: là NHTM phục vụ cho mọi ngành kinh tế trên địa bàn nhất định.  Theo chiến lược kinh doanh: NHTM được chia thành 3 loại: NHTM bán buôn: là NHTM chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách hàng doanh nghiệp chứ không giao dịch với khách hàng cá nhân NHTM bán lẻ: là NHTM giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách hàng cá nhân NHTM vừa bán buôn vừa bán lẻ: là NHTM giao dịch và cung ứng dịch vụ cho cả khách hàng doanh nghiệp và cá nhân. 1.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại cổ phần Ngày nay, hoạt động của hệ thống NHTMCP có ảnh hưởng sâu rộng ở cả tầm vi mô lẫn vĩ mô của nền kinh tế - xã hội. Sự thành công trong phát triển kinh tế cũng như những cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính vừa qua càng chỉ rõ vai trò quan trọng của hệ thống NHTMCP. Ảnh hưởng lớn của NHTMCP đối với kinh tế xã hội xuất phát từ chức năng của nó. NHTMCP có các chức năng cơ bản sau [5, tr.8-12]: 1.1.2.1. Chức năng trung gian tín dụng: NHTMCP là một tổ chức trung gian tài chính, “đi vay để cho vay”, là cầu nối giữa người có vốn dư thừa và người có nhu cầu về vốn. Đây có thể coi là chức năng đặc trưng của NHTMCP. Trong nền kinh tế có hai đối tượng quan hệ chặt chẽ với ngân hàng là các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu, tức là chi cho tiêu dùng và đầu tư vượt quá thu nhập, vì thế họ trở thành những người cần bổ sung vốn, vay vốn; các cá nhân và tổ chức tạm thời thặng dư trong chi tiêu, tức là thu nhập hiện tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ, do vậy họ có tiền để tiết kiệm. Ngân hàng là một tổ chức trung gian chuyển lượng tiền từ nhóm thặng dư vốn sang nhóm thâm hụt vốn. Hoạt động này mang tính chất kinh doanh, bởi vì khi cho vay NHTMCP đặt ra một mức lãi suất cao hơn mức lãi suất huy động vốn. Chênh lệch giữa 2 mức lãi suất này là để bù đắp chi phí hoạt động và phần lợi nhuận của ngân hàng. Chức năng trung gian tín dụng xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn trong quá trình tái sản xuất xã hội; từ sự bất cân xứng thông tin giữa người đi vay và cho vay; từ sự chấp nhận rủi ro của NHTMCP. Chức năng trung gian tín dụng có ý nghĩa rất quan trọng đối với tất cả các đối tác trong quan hệ tín dụng: 15
  16. - Người gửi tiền: thu được lợi ích từ vốn tạm thời nhàn rỗi với khoản lãi tiền gửi. Hơn nữa, NHTMCP còn đảm bảo an toàn cho các khoản tiền gửi. - Người đi vay: thỏa mãn được nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng, mà không phải tốn kém nhiều thời gian cho việc tìm kiếm nơi cung cấp. - NHTMCP: sẽ thu được lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi. Lợi nhuận này là cơ sở để tồn tại và phát triển ngân hàng. - Đối với nền kinh tế: chức năng này góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, điều hòa lưu thông tiền tệ, ổn định sức mua đồng tiền và kiềm chế lạm phát. 1.1.2.2. Chức năng trung gian thanh toán NHTMCP trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia. Các NHTMCP thay mặt người mua thanh toán giá trị hàng hóa, dịch vụ cho người bán nhằm tiết kiệm chi phí đi lại, vận chuyển tiền của cả 2 bên. Để thanh toán qua ngân hàng nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đã đưa ra nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ... cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử hiện đại và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần. Các NHTMCP thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua Ngân hàng Trung ương, hoặc thông qua các trung tâm thanh toán. Công nghệ thanh toán hiện đại qua ngân hàng được mở rộng, nhiều hình thức thanh toán được chuẩn hóa góp phần tạo tính thống nhất trong thanh toán không chỉ giữa các ngân hàng trong một quốc gia, mà còn giữa các ngân hàng trên toàn thế giới. Chức năng trung gian tài chính – tài chính gián tiếp- của các NHTMCP đã khắc phục được hầu hết các nhược điểm của thanh toán dùng tiền mặt – tài chính trực tiếp - giữa các chủ thể trong nền kinh tế, giúp các quan hệ tài chính minh bạch, lành mạnh, an toàn hơn đồng thời cũng khiến cho dòng vốn của nền kinh tế luân chuyển nhanh hơn, hiệu quả hơn, lợi ích của tất cả các bên đều được đảm bảo và gia tăng khi chuyển dòng vốn qua các NHTMCP. Chính vì vậy, các NHTMCP ngày càng phát triển và là 1 thành tố không thể thiếu được trong nền kinh tế thị trường. Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh tế: - Nhờ tập trung công việc thanh toán của xã hội vào ngân hàng nên mọi khoản thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ trở nên thuận tiện, nhanh chóng, an toàn và tiết kiệm chi phí. Điều này gốp phần tăng nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội. 16
  17. - Do thực hiện chức năng trung gian thanh toán, NHTMCP có điều kiện huy động tiền gửi của khách hàng ở mức tối đa, mở rộng cho vay và đầu tư, đẩy mạnh hoạt động động kinh doanh ngân hàng. - Qua chức năng này, NHTMCP đã góp phần giám sát kỉ luật hợp đồng kinh tế, tài chính và thanh toán theo quy định của pháp luật Nhà nước. 1.1.2.3. Chức năng tạo tiền Với chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, NHTMCP có khả năng tạo ra tiền gửi thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số tiền vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay lại được khách hàng sử dụng để thanh toán chuyển khoản cho khách hàng ở ngân hàng khác và chi khi thực hiện nghiệp vụ cho vay, NHTMCP mới bắt đầu tạo tiền. Từ một khoản tiền gửi ban đầu, thông qua cho vay bằng chuyển khoản trong hệ thống NHTMCP, số tiền gửi đã tăng lên gấp bội so với lượng tiền gửi ban đầu. Khả năng tạo tiền của NHTMCP phụ thuộc vào các yếu tố như: tỉ lệ dự trữ bắt buộc, tỉ lệ dự trữ dư thừa và tỉ lệ giữa tiền mặt so với tiền gửi thanh toán... Chức năng tạo tiền có ý nghĩa quan trọng: - Khối lượng tiền do các NHTMCP tạo ra có ý nghĩa to lớn, tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của quá trình sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu sử dụng tiền của xã hội. - Việc tạo ra tiền chuyển khoản để thay thế cho tiền mặt là một phát minh quan trọng thứ hai trong lịch sử hoạt động của ngân hàng. Nhờ phương thức tạo tiền đã tiết kiệm được chi phí lưu thông và ngân hàng trở thành trung tâm của đời sống kinh tế - xã hội. Chức năng trung gian tín dụng - trung gian thanh toán – chức năng tạo tiền của NHTMCP trong nền kinh tế hiện nay được thể hiện khái quát qua sơ đồ 1 sau: 17
  18. Sơ đồ 1.1. Hệ thống tài chính trực tiếp và gián tiếp Tài chính gián tiếp Các trung gian tài Vốn chính (gồm NHTM) Vốn Người tiết kiệm Người sử dụng vốn - Cá nhân, gia đình Thị trường - Doanh nghiệp, tổ Vốn - Doanh nghiệp, tổ Vốn tài chính chức chức - Chính phủ - Chính phủ - Cá nhân, gia đình Tài chính trực tiếp 1.1.3. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần 1.1.3.1. Hoạt động huy động vốn Để có vốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, NHTMCP phải tiến hành huy động vốn từ các thành phần kinh tế. Khác với doanh nghiệp phi tài chính, hoạt động huy động vốn của NHTMCP không chỉ tạo ra nguồn vốn cho ngân hàng mà còn là một hoạt động kinh doanh, tạo ra đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh. NHTMCP có thể huy động vốn bằng cách huy động tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá và đi vay. Nghiệp vụ nhận tiền gửi của NHTMCP là hoạt động truyền thống và chủ yếu của NHTMCP trong mọi thời kì. Ngân hàng sẽ tiếp nhận tất cả các nguồn tiền gửi của dân cư, của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp với mức lãi suất phù hợp được công bố. Tiền gửi bao gồm tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn. Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi của doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân gửi vào ngân hàng với mục đích chính để thực hiện các khoản chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân gửi vào NHTMCP với mục đích để hưởng lãi. 18
  19. Giấy tờ có giá là công cụ Nợ do ngân hàng phát hành để huy động vốn trên thị trường. Nguồn vốn này tương đối ổn định. Lãi suất của loại này phụ thuộc vào sự cấp thiết của việc huy động vốn nên thường cao hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thông thường. Các giấy tờ có giá do NHTMCP phát hành gồm kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá. Nguồn vốn đi vay nhằm tạo khả năng thanh toán cho NHTMCP. NHTMCP có thể vay từ các TCTD trong nước, các ngân hàng nước ngoài, NHNN. Khi vay vốn các NHTMCP phải thực hiện quy định về chế độ tín dụng hiện hành và hợp đồng tín dụng với cương vị là người đi vay. 1.1.3.2. Hoạt động tín dụng và đầu tư:  Tín dụng ngân hàng là giao dịch tài sản giữa ngân hàng với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế) trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Tín dụng là nghiệp vụ có vị trí rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mỗi NHTMCP. Xuất phát từ đặc trưng của hoạt động ngân hàng là kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ nên tài sản giao dịch trong tín dụng ngân hàng chủ yếu là dưới hình thức tiền tệ. Tuy nhiên, trong một số hình thức tín dụng, như cho thuê tài chính thì tài sản trong giao dịch tín dụng cũng có thể là các tài sản khác như tài sản cố định. Tín dụng là nghiệp vụ sinh lời lớn nhất của ngân hàng thương mại thông qua thu lãi cho vay. Lãi cho vay, theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 14 thuộc loại doanh thu cung cấp dịch vụ, và nó gắn liền với thời hạn sử dụng vốn vay của khách hàng vay. Tín dụng là nghiệp vụ tiềm ẩn nhiều rủi ro. Để chống đỡ với các rủi ro có thể xảy ra, các NHTMCP phải tiến hành phân loại nợ để làm cơ sở cho việc đánh giá chất lượng tín dụng và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo định kỳ.  Đầu tư của ngân hàng thương mại được chia làm 2 loại là đầu tư vào tài sản cố định và đầu tư tài chính. Nhưng khi nói đến hoạt động đầu tư của ngân hàng, người ta thường hiểu là hoạt động đầu tư tài chính. Đầu tư tài chính là nghiệp vụ mà ngân hàng thực hiện mua vào các loại chứng khoán, đầu tư góp vốn liên doanh, đầu tư liên doanh liên kết nhằm mục đích thu lợi. Hoạt động đầu tư của NHTMCP cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro, do vậy, các ngân hàng thường phải đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm mục đích phân tán rủi ro, tối đa hóa giá trị cho ngân hàng. 19
  20. Trong bảng cân đối kế toán của NHTMCP, khoản mục tín dụng và đầu tư thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản Có (khoảng 70% – 80%). Tỉ trọng tài sản cố định chiếm tỉ lệ rất nhỏ trong tổng tài sản của ngân hàng mà chủ yếu là tài sản vô hình như các loại kì phiếu, trái phiếu, thương phiếu, cổ phiếu,... 1.1.3.3. Hoạt động dịch vụ ngân hàng Ngoài những hoạt động chính kể trên, NHTMCP còn cung cấp các dịch vụ tài chính khác như dịch vụ ủy thác và đại lý trong lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm, quản lý tài sản..Những dịch vụ này góp phần tạo nguồn thu đáng kể cho NHTMCP thông qua phí dịch vụ.Các dịch vụ của NHTMCP ngày càng đa dạng, phát triển và hoàn thiện theo yêu cầu của đời sống kinh tế - xã hội. Tóm lại, do tính chất hoạt động kinh doanh của NHTMCP là kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, hoạt động kinh doanh của ngân hàng mang những đặc điểm sau đây:  Thứ nhất, NHTMCP là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ. Tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt với các đặc tính riêng có như: tính xã hội hóa cao, cảm ứng và nhạy bén với mọi thay đổi trong nền kinh tế. Đây chính là đặc điểm cơ bản để phân biệt lĩnh vực kinh doanh ngân hàng với các lĩnh vực kinh doanh khác. Giá cả trong kinh doanh ngân hàng chính là lãi suất. Sự vận động lên xuống của lãi suất ảnh hưởng đến rất nhiều mối quan hệ kinh tế của NHTMCP với các nhóm đối tượng khác nhau. Để đảm bảo ổn định trong kinh doanh, các NHTMCP sẽ cần một lượng tiền mặt rất lớn để phục vụ cho các nghiệp vụ liên quan đến tiền mặt phát sinh đều đặn và tăng lên. Như vậy trong quá trình phân tích tài chính NHTMCP, việc đánh giá khả năng huy động, thanh toán bằng tiền mặt sẽ khác với các DN thông thường.  Thứ hai, hoạt động của NHTMCP là chấp nhận và quản lý rủi ro. Các hoạt động của NHTMCP tạo ra tài sản có đặc điểm là tỉ lệ tài sản được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu khá nhỏ, các tài sản ngoại bảng chiếm tỉ lệ cao và các tài sản nhìn chung có mức độ rủi ro cao. Tuy nhiên, muốn hoạt động, NHTMCP phải biết chấp nhận rủi ro để lấy một mức giá cho sự chấp nhận đó đồng thời luôn chú trọng quản lý rủi ro.  Thứ ba, NHTMCP là kênh dẫn vốn quan trọng trong nền kinh tế Hoạt động chủ yếu của NHTMCP là cấp tín dụng cho khách hàng có nhu cầu trên cơ sở nguồn vốn của những người gửi tiền. Do đó, NHTMCP phải chịu trách nhiệm xã hội trước nhiều nhóm người có lợi ích liên quan. Số lượng khách hàng gửi tiền và vay tiền vô cùng lớn và đa dạng về độ tuổi, lĩnh vực, ngành nghề hoạt 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2