intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận án Tiến sĩ Văn hóa học: Biến đổi văn hóa làng dệt Phương La (huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình)

Chia sẻ: Anhnangchieuta | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:291

23
lượt xem
4
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận án dự báo xu hướng văn hóa làng nghề dệt Phương La thời gian tới, từ đó đưa ra những giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa làng nghề dệt Phương La trong điều kiện CNH - HĐH, giúp làng Phương La và các làng nghề ở Thái Bình phát triển bền vững.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận án Tiến sĩ Văn hóa học: Biến đổi văn hóa làng dệt Phương La (huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình)

  1. BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI ******** BIẾN ĐỔI VĂN HÓA LÀNG DỆT PHƢƠNG LA (HUYỆN HƢNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH) LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC HÀ NỘI, 2016
  2. BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC VĂN HOÁ HÀ NỘI ******** BÙI THỊ DUNG BIẾN ĐỔI VĂN HÓA LÀNG DỆT PHƢƠNG LA (HUYỆN HƢNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH) Chuyên ngành: Văn hóa học Mã số: 62310640 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Bùi Xuân Đính HÀ NỘI, 2016
  3. LỜI CAM ĐOAN Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chính tác giả. Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong Luận án này là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào. Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo theo đúng quy định. Hà Nội, ngày 26 tháng 02 năm 2016 Tác giả luận án Bùi Thị Dung
  4. 1 MỤC LỤC Trang DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU 3 DANH MỤC CÁC HỘP 4 MỞ ĐẦU 5 Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ TỔNG QUAN VỀ LÀNG DỆT 19 PHƢƠNG LA 1.1. Những vấn đề lý luận chung 19 1.2. Tổng quan về làng dệt Phương La 31 Tiểu kết 51 Chƣơng 2: NGHỀ DỆT VÀ VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA LÀNG PHƢƠNG LA 53 HIỆN NAY 2.1. Nghề dệt của làng Phương La hiện nay 53 2.2. Văn hóa vật chất của làng dệt Phương La hiện nay 70 Tiểu kết 78 Chƣơng 3: VĂN HÓA XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA TINH THẦN CỦA LÀNG DỆT 80 PHƢƠNG LA HIỆN NAY 3.1. Văn hóa xã hội của làng dệt Phương La hiện nay 80 3.2. Văn hóa tinh thần của làng dệt Phương La hiện nay 100 Tiểu kết 118 Chƣơng 4: NHỮNG VẤN ĐỀ RÚT RA TỪ VIỆC NGHIÊN CỨU BIẾN 120 ĐỔI VĂN HÓA LÀNG DỆT PHƢƠNG LA 4.1. Những tác động của sự biến đổi văn hóa làng dệt Phương La đến kinh tế - 120 xã hội và văn hóa của làng 4.2. Dự báo xu hướng văn hóa làng dệt Phương La trong thời gian tới 126 4.3. Đề xuất giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa làng dệt Phương La 130 Tiểu kết 143 KẾT LUẬN 144 TÀI LIỆU THAM KHẢO 147 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 157 PHỤ LỤC 158
  5. 2 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT CNH - HĐH: Công nghiệp hóa - hiện đại hóa HTX: Hợp tác xã TNHH: Trách nhiệm hữu hạn TTCN: Tiểu thủ công nghiệp UBND: Ủy ban nhân dân VHTT: Văn hóa thông tin XHCN: Xã hội chủ nghĩa NCS: Nghiên cứu sinh ĐSVHCS: Đời sống văn hóa cơ sở
  6. 3 DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Trang 1 Bảng 1.1: Các loại đất đai của làng Phương La năm 2012 31 2 Bảng 1.2: Số hộ, số khẩu của làng Phương La năm 2012 32 3 Bảng 1.3: Các lễ tiết chính trong năm của làng Phương La xưa 50 4 Bảng 2.1: Các giai đoạn biến đổi của nghề dệt làng Phương La 54 5 Mô hình 2.2: Mô hình sản xuất theo hộ gia đình 59 6 Mô hình 2.3: Mô hình sản xuất theo công ty, xí nghiệp 61 7 Bảng 2.4: Nhóm đối tượng được gia đình truyền nghề 69 8 Bảng 2.5: Đánh giá về một số khía cạnh của làng nghề hiện nay 70 so với trước năm 1996 9 Bảng 2.6: Đánh giá về mức độ sạch đẹp của cảnh quan làng 71 nghề hiện nay so với trước 1996 10 Bảng 2.7: Đánh giá về hạ tầng làng nghề hiện nay so với trước 72 năm 1996 11 Bảng 2.8: Sơ đồ các cửa hàng dịch vụ trên một đoạn trục 73 đường chính gần chợ Mẹo 12 Bảng 3.1: Đánh giá việc duy trì hoạt động dòng họ 94 13 Bảng 3.2: Số người đến dệt thuê ở Phương La, theo các năm 99 14 Bảng 3.3: Đánh giá mức độ coi trọng vấn đề tâm linh của người 103 dân hiện nay so với trước năm 1996 15 Bảng 3.4: Việc thực hành các tiết chính trong tang ma của 114 người Phương La 16 Bảng 3.5: Đánh giá việc tham gia lễ hội của người Phương La 116 hiện nay so với trước năm 1996 17 Bảng 4.1: Những tác động của sự biến đổi 121 văn hóa làng Phương La 18 Bảng 4.2: Đánh giá về tình trạng ô nhiễm môi trường ở Phương 123 La
  7. 4 DANH MỤC CÁC HỘP Trang 1 Hộp 2.1: Ý kiến về nguyên liệu đầu vào của công ty, doanh 55 nghiệp 2 Hộp 2.2: Ý kiến về nguyên liệu đầu vào của các hộ sản xuất nhỏ 56 3 Hộp 3.1: Sự hình thành chủ doanh nghiệp ở Phương La 80 4 Hộp 3.2: Đóng góp của các doanh nghiệp xây dựng các công trình 88 phúc lợi 5 Hộp 3.3: Quan hệ giữa chủ - thợ 91 6 Hộp 3.4: Nhận thức về vị trí, trách nhiệm của các chủ doanh nghiệp 98 7 Hộp 3.5: Biểu hiện tính cần cù, kiên nhẫn của người Phương La 104 8 Hộp 3.6: Vấn đề ăn uống trong đám tang 113 9 Hộp 3.7: Việc tham gia lễ hội Đình Đông của người Phương La 117
  8. 5 MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Vùng châu thổ Bắc Bộ từ xưa đã hình thành nhiều loại hình làng, tùy thuộc vào cách phân chia dựa vào các tiêu chí về điều kiện tự nhiên, kinh tế, lịch sử lập làng v.v. Nếu phân theo cơ sở kinh tế (hay nghề nghiệp), bên cạnh số đông các làng nông nghiệp, còn có làng nghề, làng buôn bán v.v. Trên khuôn mẫu chung của làng nông nghiệp, mỗi loại hình làng lại có sắc thái riêng do đặc thù nghề nghiệp quy định. Đối với làng nghề, nét khác biệt rõ nhất thể hiện ở việc người thợ thủ công tuy chưa hoàn toàn tách khỏi sản xuất nông nghiệp, song đã có những tố chất “làm nền” cho việc hình thành người công nhân công nghiệp, các chủ doanh nghiệp sau này. Làng nghề tạo ra giá trị kinh tế lớn và ổn định hơn so với các loại hình làng khác, bảo đảm công ăn việc làm cho dân làng, thu hút nhiều lao động dư thừa từ các làng quê khác. Đây là một trong những nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, hình thành các thị tứ, góp phần đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa nông thôn. Thu nhập của người làng nghề cao nên có điều kiện để xây dựng, tu bổ các công trình thờ cúng (đình, chùa, đền, miếu...) và tổ chức các hoạt động tín ngưỡng, lễ hội. Sản phẩm của làng nghề làm ra mang tâm hồn, cốt cách, sự khéo léo của đôi bàn tay người thợ, nên mỗi sản phẩm là một tác phẩm riêng, độc đáo. Người làng nghề có bí quyết, công thức nghề riêng, vì vậy, việc giữ bí quyết nghề hết sức nghiêm ngặt. Quan hệ xã hội của người làng nghề cũng mở rộng hơn do người thợ đi khắp nơi làm ăn và cũng có nhiều người từ nơi khác đến làm thuê, trao đổi nguyên vật liệu và sản phẩm; tạo ra những khác biệt về nếp nghĩ, tầm nhìn, quan niệm về các giá trị của làng xã. Đặc điềm nghề nghiệp cũng quy định cường độ và nhịp độ lao động, nhịp sống của cư dân làng nghề, có nhiều khác biệt so với làng nông nghiệp. Tất cả các khía cạnh trên hợp thành một “văn hóa làng nghề” với những nét khác biệt dễ nhận thấy, trong khung chung của “văn hóa làng”. Nghiên cứu văn hoá làng nghề không chỉ góp phần vào việc nghiên cứu làng Việt, đặc điểm kinh tế - xã hội truyền thống mà còn tìm ra những dáng nét văn hoá khác biệt của người Việt thể hiện qua các mặt đời sống, của nghề.
  9. 6 Công cuộc Đổi mới, đặc biệt là việc đẩy mạnh sự nghiệp CNH- HĐH tạo cho các làng nghề những cơ hội để phát triển, văn hóa làng nghề cũng có những thay đổi sâu sắc. Song, làng nghề và văn hóa làng nghề cũng phải đối mặt với những thử thách khắc nghiệt của kinh tế thị trường, ảnh hưởng đến tổ chức làm nghề, tiêu thụ sản phẩm; với vấn đề môi trường; cơ cấu dân cư, sự phân tầng xã hội, các quan hệ xã hội trong và ngoài làng, nhịp sống, nếp sống, phong tục tập quán và tôn giáo tín ngưỡng. Đến lượt chúng, các yếu tố trên lại tác động đến sự phát triển của nghề và làng nghề. Những biến đổi văn hóa làng nghề diễn ra khác nhau ở từng làng, phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Ngoài các yếu tố chung là sự phát triển kinh tế- xã hội dưới tác động của các chủ trương, chính sách của Nhà nước, còn có yếu tố riêng, như đặc điểm nghề, sự năng động của cộng đồng cư dân, hay truyền thống lịch sử văn hóa của địa phương… cần được nghiên cứu. Thái Bình nằm trong vùng châu thổ sông Hồng, có nhiều nghề thủ công hình thành và phát triển ở tất cả các huyện; trong đó, Hưng Hà là điển hình của một huyện đa nghề, với những làng nghề nổi tiếng bởi các sản phẩm đặc trưng, được “dân biết mặt, nước biết tên”, như làng dệt chiếu Hới, làng dệt vải Phương La v.v. Các làng này được giới thiệu trong một số công trình chủ yếu, nêu những nét lớn về lịch sử làng nghề trong quá khứ, ít nghiên cứu về phương diện Văn hóa học, nhất là không đề cập đến sự biến đổi văn hóa truyền thống trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay; khi coi văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, hay văn hóa là một trong bốn trục của phát triển bền vững (ba trục khác là tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị - xã hội và giữ gìn tài nguyên - môi trường). Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về làng nghề, văn hóa làng nghề và biến đổi văn hóa làng nghề ở nhiều chiều cạnh khác nhau, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về Biến đổi văn hóa làng dệt Phương La (huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Vì vậy, việc nghiên cứu, giải quyết đề tài này sẽ góp phần tìm hiểu về thực trạng biến đổi văn hóa làng nghề, xu hướng văn hóa làng nghề Phương La trong thời gian tới và từ đó đưa ra giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa làng Phương La trong giai đoạn CNH - HĐH đất nước.
  10. 7 2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1. Những công trình nghiên cứu về làng nghề, văn hóa làng nghề của ngƣời Việt ở Bắc Bộ - Các nghiên cứu chung về làng nghề, văn hoá làng nghề ở Bắc Bộ trong nghiên cứu chung về làng xã người Việt Điểm nổi bật của việc nghiên cứu nghề thủ công và làng nghề từ trước đến nay là được đặt trong khung cảnh nghiên cứu về làng Việt nói chung, dưới nhiều góc độ khác nhau; do nghề thủ công là bộ phận gắn chặt với nông nghiệp, các làng nghề có mối quan hệ chặt chẽ với các làng nông nghiệp. Đến nay, đã có một khối lượng lớn các công trình được công bố. Dưới đây là một số công trình tiêu biểu. Người nông dân châu thổ Bắc kỳ của Nhà Địa lý học Pháp Pièrre Gourou, từ cách tiếp cận địa lý nhân văn chỉ ra những nét chung về các mặt đời sống của người nông dân Việt ở vùng châu thổ Bắc Bộ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Tác giả đã khảo tả rất chi tiết địa hình châu thổ Bắc Kỳ, về dân cư trong sự vận động, dịch chuyển và quần tụ - đặc điểm điển hình tạo nên làng của vùng châu thổ Bắc Bộ. Tác giả nghiên cứu sâu về văn hóa mưu sinh của các làng và luôn đặt các vấn đề nghiên cứu trong sự vận động biến đổi và linh hoạt. Trong Chương 2, P. Gourou đưa ra con số 108 nghề thủ công (phân theo nhóm nghề) được gọi là “ công nghiệp làng xã”, gồm các nghề dệt, đan lát, gỗ và các nghề khác. Công nghiệp dệt gồm dệt bông, tơ tằm, những ngành lụa thô, tơ đũi, the, đan lưới, võng.., có 242 làng nghề [39]. Công trình Sơ khảo lịch sử phát triển thủ công nghiệp Việt Nam của tác giả Phan Gia Bền [11] được coi là chuyên khảo lớn nhất về nghề thủ công. Thông qua cuốn sách, tác giả đã giới thiệu sơ lược lịch sử phát triển của thủ công nghiệp Việt Nam, tìm hiểu những nét lớn về tình hình phát triển của nghề thủ công qua các thời kỳ, tìm hiểu về mầm mống tư bản chủ nghĩa trong thủ công nghiệp Việt Nam, tác dụng của chủ nghĩa tư bản phát triển đối với thủ công nghiệp Việt Nam. Tác giả còn đúc kết 6 đặc điểm của thủ công nghiệp Việt Nam và tình hình phát triển của một số
  11. 8 nghề thủ công tiêu biểu. Tác giả đã đưa ra những định nghĩa về thủ công nghiệp, về thợ thủ công ... mà cho đến bây giờ những định nghĩa ấy vẫn được các nhà nghiên cứu sử dụng, làm tiền đề cho các nghiên cứu của mình. Bộ sách hai tập Nông thôn Việt Nam trong lịch sử [115], trong tập đầu xuất bản năm 1977 đã có hai bài viết về nghề thủ công và làng nghề. Mặc dù đây mới chỉ là khảo sát tổng quát về sự phân bố các nghề và làng nghề của Việt Nam trong quá trình lịch sử, tuy chưa khảo sát chi tiết nhưng tác phẩm đã rất quan tâm đề cập tới nghề và làng nghề thủ công. Nông dân và nông thôn Việt Nam thời cận đại [116] do Viện Sử học biên soạn. Các bài viết của Phạm Văn Kính, Nguyễn Khắc Tụng và Bùi Xuân Đính phân tích những nét cơ bản về thủ công nghiệp trong đời sống kinh tế của người nông dân thời phong kiến và thời Pháp thuộc. Làng Việt Nam, mấy vấn đề kinh tế - xã hội và văn hóa của Phan Đại Doãn [25] là công trình nghiên cứu tổng thể về làng Việt dưới góc độ Sử học. Tác giả chỉ rõ một số đặc điểm cơ bản của nền kinh tế, sản xuất tiểu nông, thủ công nghiệp kết hợp chặt chẽ với nông nghiệp, các nghề thủ công tồn tại và phát triển phụ thuộc chặt vào kinh tế hộ gia đình người nông dân. Tác phẩm còn chỉ rõ vấn đề ruộng công, ruộng tư và mối quan hệ giữa nông thôn với thành thị giúp NCS hiểu rõ hơn về sự tác động qua lại giữa nông thôn và thành thị giai đoạn những năm cuối của thế kỷ XX. Ngoài ra, còn nhiều công trình khảo sát những nét tiêu biểu về nghề thủ công truyền thống, như: Văn hóa truyền thống làng Đồng Kỵ do Lê Hồng Lý chủ biên, nghiên cứu làng Đồng Kỵ (thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) [79]; Ninh Hiệp truyền thống và phát triển của nhóm tác giả do Tô Duy Hợp chủ biên nghiên cứu về làng- xã Ninh Hiệp (huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội) [55]… - Các nghiên cứu về làng nghề, văn hóa làng nghề của người Việt ở Bắc Bộ Thứ nhất, ngoài những ghi chép trong các bộ chính sử, nghề và làng nghề được đề cập đến đầu tiên trong các cuốn địa chí, thông qua mục ghi “sản vật”, như Dư địa chí của Nguyễn Trãi [107] là tác phẩm ghi chép sớm nhất về các nghề thủ công ở Việt Nam, ở tác phẩm này Nguyến Trãi đã đề cập tới nghề dệt lụa ở Hà
  12. 9 Đông. Công trình Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn [87] hay các cuốn địa phương chí là nguồn tài liệu ghi chép về các nghề thủ công và làng nghề khá phong phú, song chủ yếu nêu sản vật của các nghề thủ công gắn với làng nghề ở mỗi địa phương, không miêu tả quy trình làm nghề. Thứ hai là các công trình nghiên cứu về lịch sử các ngành nghề, chủ yếu đề cập đến nguồn gốc nghề thông qua các vị tổ nghề, tiêu biểu là các cuốn sách Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các vị tổ nghề của Trần Quốc Vượng [121], Truyện các ngành nghề của nhóm tác giả Tạ Phong Châu [16] v.v. Nghề cổ đất Việt (khảo cứu) của Vũ Từ Trang [106] điểm tới 21 nghề cổ truyền như: nghề gốm, nghề rèn, đúc đồng, chạm vàn bạc, làm cày bừa, làm nón, dệt chiếu, nghề trồng dâu, nuôi tằm ... Thứ ba là các công trình khảo tả về nghề gắn với làng nghề và vùng nghề khác nhau, tiêu biểu là Nghề cổ truyền của Tăng Bá Hoành [52], Quê gốm Bát Tràng của Đỗ Thị Hảo [43], Gốm Bát Tràng thế kỷ XV- XIX do Phan Huy Lê chủ biên [71], Làng tranh Đông Hồ của Nguyễn Thái Lai [70]. Các cuốn sách này dùng phương pháp miêu tả Dân tộc học để đưa ra các tư liệu, từ đó nêu những nét lớn của một nghề, từ nguồn gốc nghề (tổ nghề), nguồn nguyên liệu, công cụ làm nghề, quy trình kỹ thuật làm nghề, tổ chức sản xuất đến các loại hình và đặc trưng sản phẩm, phương thức tiêu thụ sản phẩm, thu nhập của người làm nghề và tâm lý làng nghề. Viện Nghiên cứu Văn hóa đã tập hợp các công trình viết về nghề và làng nghề thành bộ Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam (gồm 6 tập). Công trình đồ sộ này đã tổng tập các công trình viết về nghề và làng nghề; gồm giới thiệu làng nghề (nguồn gốc, tổ nghề, lịch sử hình thành và phát triển, thực trạng sản xuất ...), khảo sát và nghiên cứu về nghề (kỹ thuật, kỹ xảo, quy trình công nghệ, dụng cụ hành nghề, bí quyết nghề ...), sản phẩm nghề (kiểu cách, mẫu mã, nghệ thuật tạo hình và trang trí ...), hoạt động sản xuất (phương thức hành nghề, truyền nghề, thị trường, kinh tế làng nghề, du lịch làng nghề và văn hóa nghề nghiệp...). Tập một, nhóm tác giả đề cập về nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam bao gồm những vấn đề lý luận chung về nghề và làng nghề truyền thống, giới thiệu tổ nghề và nghệ
  13. 10 nhân dân gian, các vùng nghề, địa danh và địa chí làng nghề. Đặc biệt, nhóm tác giả dành hẳn chương 5 để bàn về sự biến đổi làng nghề trong bối cảnh hiện nay. Tóm lại, bộ Tổng tập nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam giúp chúng ta có một cái nhìn tương đối tổng quan về các công trình nghiên cứu về nghề và làng nghề truyền thống Việt Nam của các tác giả trong và ngoài nước. Thông qua Tuyển tập, chúng ta có cái nhìn khái quát về nghề, làng nghề; những vấn đề lý luận chung đến nguồn gốc hình thành nghề, tổ nghề, quy trình sản xuất, sự biến đổi của nghề, làng nghề trong giai đôạn hiện nay... Nghề và làng nghề cũng là đề tài hấp dẫn cho nhiều luận án tiến sĩ của các chuyên ngành Dân tộc học, Văn hóa dân gian và Văn hóa học trong khoảng hơn 20 năm trở lại đây, như Biến đổi làng nghề thủ công truyền thống Triều Khúc, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội [125], Làng nghề sơn quang Cát Đằng [60], Sự biến đổi văn hóa làng nghề ở châu thổ sông Hồng từ năm 1986 đến nay [108], hay các luận văn thạc sĩ như Làng thêu Quất Động [88]; Gốm sành nâu ở Phù Lãng [41]; Làng Cọi Khê: Truyền thống và đổi mới [51] v.v. Các luận án, luận văn này khảo tả tương đối kỹ lưỡng các nội dung liên quan đến nghề, chỉ ra được những đặc điểm của làng nghề về các mặt: cấu trúc làng xóm, di tích thờ cúng, các phong tục, tín ngưỡng, hội hè... Bên cạnh đó, còn có một khối lượng lớn các bài đăng trên tạp chí, giới thiệu tổng thể hay từng mặt một nghề, hoặc làng nghề của các địa phương. Nhìn chung, các tác phẩm nói trên đã phản ánh nhiều khía cạnh về nghề, làng nghề như sản vật của các nghề thủ công, lịch sử ngành nghề, khảo tả nghề, những đặc điểm của làng nghề về cấu trúc làng xóm, di tích thờ cúng. Tuy nhiên, các tác phẩm này đề cập đến khía cạnh văn hóa làng nghề còn ít, chưa nghiên cứu tổng thể các thành tố góp phần tạo nên văn hóa làng nghề. 2.2. Những công trình nghiên cứu về biến đổi làng nghề, văn hoá làng nghề Công trình Làng nghề, phố nghề, Thăng Long - Hà Nội của Trần Quốc Vượng và Đỗ Thị Hảo [123] là công trình đầu tiên bàn về biến đổi làng nghề, văn
  14. 11 hóa làng nghề. Sau khi đưa ra định nghĩa về làng thủ công, đặt vị trí làng nghề trong diễn trình lịch sử văn hóa Việt Nam, các tác giả nêu một số quan điểm phát triển làng nghề: Mô hình sản xuất hộ gia đình vẫn hiệu quả nhất vì nó không bị phụ thuộc vào vốn. Tuy nhiên theo các tác giả, trong nền kinh tế thị trường, nghề và làng nghề đang đứng trước những khó khăn thách thức. Vấn đề đầu ra của sản phẩm nghề thủ công, vấn đề môi trường ... phải được quan tâm. Các tác giả cũng cho rằng, để nghề và làng nghề phát triển cần có hệ thống chính sách, cơ chế phù hợp và là vấn đề cấp bách cần phải làm ngay. Công trình “Làng nghề phố nghề Thăng Long - Hà Nội trên đường phát triển” của nhóm tác giả Vũ Quốc Tuấn [104], sau khi đưa ra phác thảo về làng nghề phố nghề trong lịch sử, đề cập đến thực trạng của làng nghề phố nghề hiện nay; đồng thời, nhóm tác giả đã chỉ ra hướng phát triển và các giải pháp để phát triển làng nghề. Ngoài ra, công trình Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá [53]; Làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá [124]; Làng nghề Việt Nam và môi trường phản ánh về các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển các làng nghề, tiềm năng và sự vận động của nó trong nền kinh tế thị trường, hướng bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống [18]. Các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ bảo vệ trong 20 năm trở lại đây và các bài báo (đã nêu ở trên), sau phần giới thiệu về đặc điểm của nghề truyền thống đã đưa ra một số tư liệu cùng nhận xét về sự thay đổi của nghề dưới tác động của các điều kiện kinh tế - xã hội hiện tại. Dưới góc độ Dân tộc học/Nhân học, trong vài năm qua, nhiều công trình bàn sâu về biến đổi của làng nghề truyền thống từ sau hòa bình lập lại đến nay, nhất là dưới tác động của quá trình CNH – HĐH. - Sự phát triển của làng nghề La Phù do Tạ Long chủ biên, nghiên cứu trường hợp về sự thay đổi của một làng nghề qua các thời kỳ trước đây và hiện nay,
  15. 12 nổi bật là việc hình thành các công ty và những đóng góp của làng nghề này vào ngân sách Nhà nước, nghề phát triển có liên quan đến các tổ chức quan phương (hệ thống chính trị, chính sách) và phi quan phương (xóm, ngõ, dòng họ); đồng thời, các tác giả cũng đã đưa ra những khó khăn cần phải giải quyết của làng nghề La phù trong giai đoạn hiện nay [76]. - Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội) - truyền thống và biến đổi do Bùi Xuân Đính chủ biên, nghiên cứu về biến đổi của nghề, làng nghề thủ công huyện Thanh Oai. Công trình đề cập đến những đặc điểm của làng nghề (không gian kiến trúc, cơ cấu tổ chức làng xã, di tích lịch sử văn hóa…). Các tác giả dành Chương 3 để bàn hướng đi lên của làng nghề thủ công của huyện trong bối cảnh CNH- HĐH [31]. Trong suốt thời gian qua, đã có một khối lượng lớn các công trình nghiên cứu về nghề, làng nghề thủ công; sự biến đổi kinh tế - xã hội, biến đổi văn hóa và cuộc sống của người nông dân ở ở các làng quê Việt Nam nói chung với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Các tác giả đã đều đồng thuận chỉ ra rằng sự biến đổi ở các khu vực nông thôn, nông nghiệp là một tất yếu hiện nay. Trong quá trình biến đổi đó, những đặc trưng cơ bản của làng cũng như những đặc tính nổi bật của người nông dân được thể hiện vẫn rất đậm nét. Trong quá trình biến đổi ấy chính là cầu nối giữa nông thôn và đô thị, làng vẫn giữ tính tự trị tương đối của nó nhưng đã rất cởi mở và linh hoạt, ở đó có những sự tái cấu trúc từ không gian, cảnh quan làng cho đến kinh tế, văn hóa và xã hội. Người nông dân ở các làng không thụ động và phụ thuộc như trước kia mà họ thực dụng hơn, có khả năng làm xoay chuyển tình huống theo hướng có lợi. Và như vậy, cuộc sống của người dân ổn định và phát triển hơn. Nghiên cứu sự biến đổi làng nghề, văn hóa làng nghề nói riêng đã có nhiều tác giả đề cập tới. Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu tiếp cận dưới góc độ Sử học (nghiên cứu về lịch sử nghề và làng nghề), Văn hóa Dân gian, Dân tộc học/ Nhân học (đi sâu nghiên cứu quy trình sản xuất, các loại hình sản phẩm). Các công trình nghiên cứu dưới góc độ Văn hóa học, xem xét các yếu tố văn hóa, các giá trị văn hóa của sản
  16. 13 phẩm nghề, của nghề và làng nghề; những biến đổi về các giá trị truyền thống trong bối cảnh hiện nay chưa nhiều. Các công trình đó còn nặng về nghiên cứu truyền thống, ít nghiên cứu những vấn đề của nghề, làng nghề và văn hóa làng nghề trong cuộc sống đương đại. Còn ít các nghiên cứu điểm (case stady) để thấy được tính đa dạng, điểm chung và nét riêng của văn hóa làng nghề và biến đổi của làng nghề. 2.3. Tổng quan các nghiên cứu về làng nghề Phƣơng La Có thể chia các nghiên cứu về làng nghề Phương La từ trước đến nay thành các nhóm sau: - Nhóm công trình nghiên cứu về lịch sử - văn hóa Thái Bình, trong đó có đề cập đến làng Phương La Các tác phẩm Chú thích về tỉnh Thái Bình [65]; Nhận diện văn hóa làng ở Thái Bình [97]; Lễ hội truyền thống ở Thái Bình [98]; Địa danh Thái Bình trong lịch sử [99]; Tên làng xã Thái Bình [103]… đề cập giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể một số làng ở Thái Bình, trong đó có làng Phương La. Tác phẩm Ngàn năm đất và người Thái Bình đề cập đến làng nghề Phương La ở khía cạnh nghề, vai trò của nghề trong phát triển kinh tế [89]. Trong công trình Địa chí Thái Bình nói về các làng nghề ở Thái Bình, về sản phẩm của làng nghề, nêu rõ nghề dệt vải lụa, số lượng thợ thủ công, số khung cửi dùng để dệt, giá sản phẩm: “… Thái Bình có khoảng 750 thợ dệt các loại: sồi, đũi, lụa, là, nái, sa… tập trung ở các làng Bộ La (Vũ Thư), Nam Lỗ (Tiên Hưng), Vân Tràng (Thụy Anh), Phương La (Hưng Nhân); Quận Hành, Động Trung, Đông Nhuế, Niên Hạ (Kiến Xương)… " [100]. - Nhóm công trình nghiên cứu về nghề thủ công ở Thái Bình, trong đó có nghề dệt làng Phương La Sách Đồng Khánh ngự lãm địa dư chí và Đại Nam nhất thống chí nói về nghề thủ công ở Thái Bình, trong đó ghi chép huyện Vũ Tiên có làng Bộ La dệt lụa, ở làng Mẹo phủ Tiên Hưng có nghề dệt lụa, nái..." [35, 87].
  17. 14 Sách Tiên Hưng phủ chí ghi chép về phủ Tiên Hưng viết năm 1928 của Đốc học phủ Tiên Hưng Phạm Nguyên Hợp (lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.3167) ở phần “công nghệ” (nghề thủ công) có ghi: “Dân các xã Phương La, Trác Dương (xã Thái Phương), Yên Nghiệp (Minh Tân) huyện Hưng Nhân (Hưng Hà) thường đi mua kén tằm đem về kéo thành sợi, chia ra làm mấy loại. Loại sợi tơ mảnh đem dệt thành lụa gọi là lục sồi, loại sợi tơ hơi thô dệt ra thành lụa nái, rồi đem đi bán ở chợ các nơi" [58]. Sách Tiên Hưng phủ chí còn cho biết: “Người xã Nguyên Xá, huyện Thần Khê kéo kén thành tơ phiếu (ngâm, phơi khô để tơ mất đi màu vàng, ngả sang màu trắng lụa), cho tơ trắng ra, cuộn vào guồng xe cho săn sợi rồi mới dệt. Lụa dệt ra màu trắng có hoa văn rất đẹp. Nghề này có từ thời Lê Cảnh Hưng”. Tài liệu Chú thích về tỉnh Thái Bình (“Notice sur la Province de Thái Bình”), ký hiệu M.10372 (Thư viện Quốc gia) cho biết, các huyện trong tỉnh Thái Bình có trồng dâu (trước năm 1945) “Dâu, tằm: theo thống kê toàn bộ về các bãi dâu tiến hành năm 1931 - 1932, diện tích trồng dâu tằm lên tới 1.830 mẫu (dâu trồng ở vườn và dâu trồng ở các bãi cát). Diện tích trồng dâu phân bổ ở 10 phủ, huyện trong tỉnh, diện tích trồng dâu ở Duyên Hà (286 mẫu) và Hưng Nhân (50 mẫu), hai huyện nay nhập thành Hưng Hà, có diện tích trồng lớn nhất tỉnh” [65]. Theo Lịch sử Đảng bộ huyện Hưng Hà, đầu thế kỷ XX thợ dệt Phương La và làng Tống Lạp rất nổi tiếng. Thợ ở hai làng dệt này từng có sản phẩm bày bán tại Hội chợ triển lãm kinh tế Pháp - Việt ở nhà Đấu Xảo - Hà Nội [7]. - Nhóm đề tài, bài báo bàn luận, nghiên cứu trực tiếp về Phương La + Đầu tiên, phải kể đến Kỷ yếu hội thảo khoa học Hoằng Nghị Đại Vương và việc bảo tồn, tôn tạo khu di tích lịch sử - văn hóa Phương La do UBND tỉnh Thái Bình và Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức, viết về làng Phương La dưới góc độ Sử học nhằm phục vụ mục đích chính là làm sáng rõ thân thế, sự nghiệp của Hoằng Nghị Đại Vương, khẳng định vai trò của dòng họ Trần ở Phương La. Do vậy, tập Kỷ yếu này chưa đề cập tới làng nghề một cách toàn diện, chưa quan tâm tới văn hóa truyền thống, biến đổi văn hóa làng nghề trong giai đoạn đẩy mạnh CNH - HĐH [111].
  18. 15 + Đề tài cấp ngành Một số giá trị văn hóa của các nghề thủ công truyền thống ở Thái Bình của tác giả Nguyễn Ngọc Phát, tại chương II, giới thiệu sơ bộ về quy trình sản xuất, sản phẩm, một số giá trị di tích của làng Phương La, chưa đề cập tới văn hóa truyền thống của làng nghề một cách đầy đủ, không bàn đến sự biến đổi văn hóa trong điều kiện CNH - HĐH đất nước [91]. + Ngoài ra còn có một số bài báo nói về nghề, làng nghề Phương La dưới các góc độ khác nhau. Nhìn chung, các tác phẩm nói trên chỉ đề cập đến một khía cạnh cụ thể của nghề, làng nghề Phương La: nguồn gốc làng xã, các dòng họ, kinh tế, giá trị các văn bia, di tích, một phần về nghề (quy trình sản xuất, sản phẩm) mà chưa nghiên cứu về văn hóa làng nghề; những vấn đề nổi bật của văn hóa làng nghề một cách hệ thống, đặc biệt dưới tác động của CNH - HĐH. Tuy vậy, các nghiên trên là cơ sở, sự gợi mở cho hướng tiếp cận của tác giả khi nghiên cứu về biến đổi văn hóa làng Phương La. 3. MỤC ĐÍCH, VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 3.1. Mục đích nghiên cứu của Luận án Thông qua việc khảo sát, phân tích thực trạng biến đổi văn hóa làng nghề dệt Phương La; Luận án dự báo xu hướng văn hóa làng nghề dệt Phương La thời gian tới, từ đó đưa ra những giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa làng nghề dệt Phương La trong điều kiện CNH - HĐH, giúp làng Phương La và các làng nghề ở Thái Bình phát triển bền vững. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án Để thực hiện được mục đích nghiên cứu nêu trên, Luận án sẽ phải giải quyết những nhiệm vụ sau: - Hệ thống hóa lý luận về biến đổi văn hóa, biến đổi văn hóa làng nghề và một số khái niệm cơ bản có liên quan đến luận án, làm cơ sở lý luận chung cho toàn bộ đề tài;
  19. 16 - Giới thiệu tổng quan về làng dệt Phương La, nghề dệt và văn hóa làng Phương La trong xã hội truyền thống ; - Khảo sát, phân tích thực trạng biến đổi văn hóa làng dệt Phương La; - Dự báo xu hướng của văn hóa làng nghề dệt Phương La những năm tiếp theo, đề xuất giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của làng nghề dệt Phương La trong điều kiện CNH - HĐH. 4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 4.1. Đối tƣợng nghiên cứu của Luận án Đối tượng nghiên cứu của Luận án là các khía cạnh liên quan đến biến đổi văn hóa làng nghề dệt Phương La (thực trạng và xu hướng biến đổi, nguyên nhân biến đổi …). 4.2. Phạm vi nghiên cứu của Luận án - Về không gian, địa bàn nghiên cứu chính của Luận án là làng Phương La (xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình); đồng thời, Luận án có nghiên cứu mở rộng sang xã nghề dệt đũi Nam Cao (huyện Kiến Xương) và dệt khăn Minh Tân (huyện Hưng Hà) tỉnh Thái Bình. - Về thời gian, Luận án nghiên cứu biến đổi văn hóa làng Phương La khi nghề dệt phát triển, nhất là giai đoạn CNH - HĐH đất nước (từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, tháng 6/1996 đến nay). 5. HƢỚNG TIẾP CẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 5.1. Hƣớng tiếp cận - Tiếp cận Văn hóa học: là hướng tiếp cận chính yếu của Luận án. Luận án chú trọng xem xét, nghiên cứu các thành tố văn hóa trong xã hội truyền thống của làng nghề Phương La; xác định thực trạng biến đổi, nguyên nhân và xu hướng văn hóa trong điều kiện CNH - HĐH và hội nhập quốc tế. - Ngoài ra, Luận án còn sử dụng các cách tiếp cận khác để bổ trợ, như: tiếp cận Nhân học/Dân tộc học để xem xét các mối quan hệ của con người trong các yếu tố văn hóa; tiếp cận lịch sử để xem xét các yếu tố văn hóa hiện nay của làng Phương La; tiếp
  20. 17 cận hệ thống để đặt sự hình thành, tồn tại và phát triển của các yếu tố văn hóa làng nghề dệt Phương La trong mối liên hệ với các yếu tố địa lý tự nhiên, cơ sở kinh tế… 5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phương pháp điền dã Dân tộc học là phương pháp chính được Đề tài sử dụng để thu thập tư liệu. Ngoài việc thu thập các số liệu thống kê, các báo cáo trên thực địa, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể là: Nghiên cứu tham dự các hoạt động làm nghề, các sinh hoạt văn hóa xã hội, tín ngưỡng của dân làng. Phỏng vấn thợ thủ công, chủ doanh nghiệp, các bậc cao niên trên địa bàn nghiên cứu... Các thao tác phụ trợ: chụp ảnh, ghi âm, ghi hình. - Phương pháp điều tra Xã hội học, sử dụng phương pháp điều tra Xã hội học để điều tra về các vấn đề văn hóa, xã hội... theo nội dung các Chương 2,3,4 của Luận án. Trên cơ sở kế thừa, tham khảo mẫu phiếu điều tra của những người nghiên cứu trước, NCS đã hoàn chỉnh bộ mẫu phiếu điều tra xã hội học với bốn nội dung điều tra chính yếu: điều tra về cảnh quan môi trường làng dệt Phương La; về truyền nghề và mối quan hệ của người làng nghề; về biến đổi nghề dệt; về tín ngưỡng, lễ hội, phong tục tập quán. NCS đã điều tra 224 người về truyền nghề, mối quan hệ của người làng nghề; về biến đổi nghề dệt (trong đó, có 69.23% số người là thợ thủ công; 23.08% số người là buôn bán, dịch vụ 20.8%; 7.69% là nội trợ); 208 người về cảnh quan môi trường làng nghề và về tín ngưỡng, lễ hội, phong tục tập quán (trong đó, có 69.23% số người là thợ thủ công; có 7.69 % số người là cán bộ, viên chức; 15.38% số người là cán bộ hưu trí; 7.6% là các đối tượng khác). - Phương pháp nghiên cứu liên ngành, sử dụng các phương pháp nghiên cứu của Văn hóa học, Nhân học/ Dân tộc học, Sử học, Xã hội học,… để xem xét, lý giải các yếu tố văn hóa của làng dệt Phương La. - Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, phương pháp phân tích sử dụng để đánh giá, phân loại các tài liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu, tìm ra đặc trưng văn hóa truyền thống của làng dệt Phương La. Phương pháp tổng hợp sử
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2