intTypePromotion=3

Luận án Tiến sĩ Y học: Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim - mạch, tâm - thần kinh của sinh viên đại học Y Thái Bình ở trạng thái tĩnh và sau khi thi

Chia sẻ: Phong Hoàng | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:178

0
83
lượt xem
23
download

Luận án Tiến sĩ Y học: Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim - mạch, tâm - thần kinh của sinh viên đại học Y Thái Bình ở trạng thái tĩnh và sau khi thi

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận án Tiến sĩ Y học: Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim - mạch, tâm - thần kinh của sinh viên đại học Y Thái Bình ở trạng thái tĩnh và sau khi thi nhằm góp phần xây dựng một số chỉ số sinh học người Việt Nam hiện nay, làm cơ sở khoa học giúp các nhà giáo dục và y tế tìm các giải pháp giảm bớt căng thẳng, duy trì sức khỏe thể chất, tinh thần và học tập tốt hơn cho sinh viên.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận án Tiến sĩ Y học: Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim - mạch, tâm - thần kinh của sinh viên đại học Y Thái Bình ở trạng thái tĩnh và sau khi thi

  1. Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o bé quèc phßng häc viÖn qu©n y nguyÔn thÞ hiªn NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ CHỨC NĂNG TIM - MẠCH, TÂM - THẦN KINH CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC Y THÁI BÌNH Ở TRẠNG THÁI TĨNH VÀ SAU KHI THI LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC HÀ NỘI - 2013
  2. Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o bé quèc phßng häc viÖn qu©n y nguyÔn thÞ hiªn NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ CHỨC NĂNG TIM - MẠCH, TÂM - THẦN KINH CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC Y THÁI BÌNH Ở TRẠNG THÁI TĨNH VÀ SAU KHI THI Chuyªn ngµnh: Sinh lý häc M· sè: 62 72 01 07 luËn ¸n tiÕn sÜ Y häc Ng-êi h-íng dÉn khoa häc: PGS. TS. TrÇn §¨ng Dong PGS. TS. V-¬ng ThÞ Hßa Hµ néi - 2013
  3. 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Sức khỏe không chỉ là vốn quí của mỗi cá nhân mà còn là nhân tố quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Trong đó sinh viên là lực lƣợng lao động chất lƣợng cao trong tƣơng lai của xã hội, là “nguyên khí” của mỗi quốc gia, đặc biệt trong nền kinh tế tri thức ngày nay. Chăm sóc sức khỏe cho sinh viên là nhiệm vụ quan trọng không chỉ của nhà trƣờng mà là của toàn xã hội. Thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ tri thức, đòi hỏi không chỉ tăng trƣởng số lƣợng tri thức mà yêu cầu phải có sự thay đổi căn bản cách chiếm lĩnh và sử dụng tri thức của ngƣời đƣợc đào tạo. Thời đại ngày nay, thời đại của sự hội nhập, toàn cầu hóa với sự phát triển vƣợt bậc của khoa học kỹ thuật, cùng với ô nhiễm môi trƣờng và yếu tố nội tại trong cơ thể con ngƣời đã trở thành những tác nhân gây nên stress. Năm 1992, Tổ chức Liên Hợp Quốc đã đƣa ra một bản báo cáo mang tên “Bệnh tật trong thế kỷ XX”, trong đó có việc cảnh báo stress có thể mang nhiều nguy cơ gây hại cho cuộc sống của con ngƣời ở thế kỷ XXI [108]. Stress tác động tới mọi tầng lớp trong xã hội, trong đó có sinh viên. Cuộc sống của sinh viên ở các trƣờng đại học có nhiều yếu tố gây căng thẳng (stressor) thần kinh - tâm lý, đặc biệt là đối với sinh viên các trƣờng đại học Y. Ngoài các stressor chung ở mọi sinh viên (điều kiện sinh hoạt, học tập...), sinh viên các trƣờng đại học Y là những ngƣời có thời gian học tập tại trƣờng dài nhất với khối lƣợng kiến thức lý thuyết và thực hành rất lớn cùng với nhiều kỳ thi, do đó chịu nhiều áp lực gây căng thẳng chức năng tâm lý cao và trƣờng diễn [60], [81], [84], [85]. Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy các stressor có thể làm thay đổi chức năng hệ thống miễn dịch, thần kinh, tim mạch và nội tiết của con ngƣời [58], [93], [94], [99], [103], [114], [119], [131]. Tuy nhiên các tác động đó không phải tất cả là tiêu cực, nhiều nghiên cứu xác nhận trạng thái stress có mức độ nhất định lại làm tăng khả năng tự
  4. 2 xoay xở với đòi hỏi thích nghi môi trƣờng, nhờ thế tạo điều kiện phát triển tâm lý. Cuộc sống không có stress sẽ không có thách thức đòi hỏi phải vƣợt qua, nên hạn chế việc nâng cao năng lực và trau dồi trí tuệ. Stress là hiện thực của cuộc sống, vì vậy chúng ta cần phải hiểu sự đáp ứng của cơ thể trong từng trạng thái căng thẳng. Muốn vậy phải lƣợng hóa đƣợc mức độ stress bằng các chỉ số đo lƣờng khách quan. Ở Việt nam đã có một số công trình nghiên cứu về stress nghề nghiệp của các nhà khoa học thuộc Viện Khoa học kỹ thuật Bảo hộ lao động, Viện Y học lao động và Vệ sinh dịch tễ, các nhà khoa học một số trƣờng đại học [6], [10], [18], [23]. Vấn đề stress ở học sinh, sinh viên cũng đang đƣợc một số nhà khoa học quan tâm bởi những hệ quả do stress gây ra nhƣ trầm cảm, lạm dụng chất gây nghiện, có hành vi gây hấn hoặc thậm chí tự sát. Căng thẳng mạn tính ảnh hƣởng đến khả năng giải quyết vấn đề cần đòi hỏi phải tƣ duy linh hoạt [84]. Tuy nhiên còn rất ít nghiên cứu về đáp ứng của hệ thống nội tiết, tim mạch và thần kinh của cá thể với trạng thái căng thẳng, trong đó có đối tƣợng là sinh viên. Xuất phát từ lý do nêu trên, chúng tôi tiến hành đề tài "Nghiên cứu một số chỉ số chức năng tim - mạch , tâm - thần kinh của sinh viên Đại học Y Thái Bình ở trạng thái tĩnh và sau khi thi" nhằm góp phần xây dựng một số chỉ số sinh học ngƣời Việt Nam hiện nay, làm cơ sở khoa học giúp các nhà giáo dục và y tế tìm các giải pháp giảm bớt căng thẳng, duy trì sức khỏe thể chất, tinh thần và học tập tốt hơn cho sinh viên. Đề tài đƣợc tiến hành với các mục tiêu sau: 1. Xác định một số chỉ số tim - mạch, tâm - thần kinh ở trạng thái tĩnh của sinh viên Đại học Y Thái Bình. 2. Đánh giá một số chỉ số tim - mạch, tâm - thần kinh và nội tiết tố sau hoạt động trí tuệ (sau buổi thi) của sinh viên Đại học Y Thái Bình.
  5. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. MỘT SỐ CHỈ SỐ CHỨC NĂNG TIM-MẠCH Nhiều công trình của các tác giả trên thế giới cũng nhƣ trong nƣớc đã sử dụng các chỉ số tim mạch để đánh giá trạng thái căng thẳng chức năng vì sự thay đổi nhịp tim là phản ứng tổng hợp của toàn bộ cơ thể đối với bất kỳ tác động nào của môi trƣờng bên ngoài. Những năm gần đây, ngoài phƣơng pháp sử dụng những chỉ số đơn giản của hệ tim mạch nhƣ tần số nhịp tim (TSNT) và huyết áp (HA), một số tác giả đã sử dụng các chỉ số thống kê toán học nhịp tim (TKTHNT) của Baevski và cs [133] để đánh giá chức năng tim. Một số nghiên cứu [18], [19], [20], [132], [133], [134] cho thấy căng thẳng trí tuệ và stress cấp tính gây tăng chỉ số căng thẳng và giảm sự dao động nhịp tim. 1.1.1. Tần số mạch và huyết áp *Tần số mạch Tần số mạch hay tần số tim là số lần tim đập trong một phút. Bình thƣờng tần số tim ở ngƣời trƣởng thành là 70 - 80 lần/phút, thông số này ở nữ cao hơn so với ở nam trong cùng một độ tuổi. Tần số tim thay đổi dƣới tác động của nhiều yếu tố. Làm việc căng thẳng gây tăng nhịp tim là do kích thích hệ thần kinh giao cảm, đồng thời gây ức chế các tín hiệu của dây X tới tim. Lao động trí óc chịu tác động của nhiều yếu tố stress dễ dẫn đến tăng nhịp tim, tăng huyết áp, vữa xơ động mạch [79], [80]. Hoạt động của tim luôn thay đổi để phù hợp với nhu cầu của cơ thể. Tim có tính thích nghi và đáp ứng với căng thẳng là nhờ có cơ chế tự điều hòa và cơ chế thần kinh - thể dịch. Trong điều hòa theo cơ chế thần kinh thì hệ thần kinh tự chủ có vai trò quan trọng.
  6. 4 Hệ thần kinh phó giao cảm có trung tâm điều hòa hoạt động tim nằm ở hành não, đó là nhân của dây thần kinh số X. Các sợi trƣớc hạch của dây X đi tới hạch phó giao cảm nằm ngay trong cơ tim, các sợi sau hạch phó giao cảm chi phối hoạt động của nút xoang và nút nhĩ - thất. Tác dụng của hệ phó giao cảm đối với hoạt động của tim là giảm tần số tim, giảm lực co bóp cơ tim, giảm trƣơng lực cơ tim, giảm tốc độ dẫn truyền xung động trong tim và giảm tính hƣng phấn của cơ tim. Hệ thần kinh phó giao cảm tác dụng lên tim thông qua hóa chất trung gian là acetycholin. Hệ thần kinh giao cảm có trung tâm điều hòa hoạt động tim nằm ở sừng bên chất xám tủy sống đoạn lƣng 1-3, từ đây có các sợi thần kinh đi tới hạch giao cảm nằm gần cột sống. Cũng có một số sợi xuất phát từ sừng bên chất xám tủy sống đoạn các đốt sống cổ 1-7 đi đến hạch giao cảm. Các sợi sau hạch đi tới nút xoang, nút nhĩ - thất và bó His. Kích thích của dây giao cảm đến tim gây ra các tác dụng ngƣợc với tác dụng của dây X, cụ thể là tăng tần số, tăng lực co bóp, tăng trƣơng lực cơ tim, tăng tốc độ dẫn truyền xung động trong tim, tăng tính hƣng phấn và tăng dinh dƣỡng cơ tim. Hệ thần kinh giao cảm tác dụng lên hoạt động tim thông qua hóa chất trung gian là noradrenalin. Ngoài hệ thần kinh thực vật còn có các phản xạ điều hòa hoạt động tim xuất phát từ vỏ não cùng một số trung tâm thần kinh khác. Dƣới ảnh hƣởng của các yếu tố lên vỏ não thƣờng tạo các cảm xúc mạnh, gây hồi hộp, sợ hãi và làm biến đổi nhịp tim. Khi hồi hộp thƣờng làm cho tim đập nhanh, khi quá sợ hãi hoặc quá xúc động nhịp tim có thể tăng lên, nhƣng cũng có khi tim đập chậm, thậm chí ngừng đập. Hoạt động tim còn đƣợc điều hòa bằng cơ chế thể dịch. Hormon T3, T4 của tuyến giáp, adrenalin của tuyến tủy thƣợng thận có tác dụng làm tim đập nhanh. Nồng độ khí oxy giảm, CO2 tăng trong máu động mạch cũng làm tim đập nhanh. Nồng độ ion Ca2+ trong máu tăng làm tăng trƣơng lực cơ tim.
  7. 5 Nồng độ K+ trong máu tăng làm giảm trƣơng lực cơ tim. pH của máu giảm làm tim đập nhanh. Nhiệt độ cơ thể tăng làm tim đập nhanh. Ngƣợc lại nhịp tim giảm trong hạ nhiệt nhân tạo (trong mổ tim phải hạ nhiệt nhân tạo xuống còn 250C - 300C để cơ thể có thể chịu đựng đƣợc với sự thiếu oxy) [38]. *Huyết áp Động lực chính làm máu lƣu thông trong động mạch là huyết áp. Huyết áp là áp lực của máu trong một đoạn mạch nhất định. Huyết áp động mạch đƣợc tạo ra bởi hai lực: áp lực do tâm thất thu tống máu ra khỏi tim và phản lực do tính đàn hồi của thành động mạch. Đây là hai lực ngƣợc chiều nhau và cân bằng nhau, cùng có tác dụng đẩy máu đi. Huyết áp tâm thu là trị số huyết áp cao nhất trong chu kỳ hoạt động của tim, đo đƣợc trong lúc tâm thu. Thông số này đánh giá lực co của tâm thất là chính. Trị số bình thƣờng là 110 mmHg, giới hạn từ 90 -
  8. 6 hơn so với sau khi làm việc và gánh nặng công việc làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch. Munataka M. [100] nghiên cứu trên 18 y tá, tuổi trung bình là 29±2 cho thấy huyết áp tâm thu và nhịp tim trong thời gian làm ca đêm thấp hơn so với làm ca ngày, sự khác biệt có ý nghĩa với p
  9. 7 1.1.2. Chỉ số thống kê toán học nhịp tim và các nghiên cứu Những năm gần đây các nhà y học và sinh lý học đã và đang cố gắng nghiên cứu tìm ra các thông số tim mạch có giá trị để đánh giá, phân loại khả năng lao động (KNLĐ) cá thể, từ đó tuyển chọn đối tƣợng có khả năng thích nghi (KNTN) với một số nghề nghiệp đặc biệt. Hiện nay các nhà nghiên cứu thƣờng sử dụng phƣơng pháp thống kê toán học nhịp tim để phân tích sự dao động của các khoảng RR của nhịp tim theo thời gian. Nghiên cứu trên thế giới về dao động nhịp tim Năm 1966, tại Moskva đã tổ chức hội nghị chuyên đề về vấn đề "Ứng dụng các phƣơng pháp toán học để phân tích nhịp tim". Tại đây nhiều báo cáo về ứng dụng các phƣơng pháp phân tích toán học nhịp tim (THNT) để tiếp tục hoàn thiện các phƣơng pháp chẩn đoán và để dự báo trạng thái chức năng hệ tim mạch cũng nhƣ trạng thái chức năng chung của cơ thể, đặc biệt cho các nhà du hành vũ trụ trong chuyến đi dài ngày. Theo Baevski [132] thì chức năng hệ tim mạch thay đổi đƣợc coi là chỉ tiêu đánh giá phản ứng thích nghi của toàn bộ cơ thể, còn nhịp tim là hiệu quả của sự điều khiển của thần kinh nội tiết. Phƣơng pháp phân tích THNT là phƣơng pháp định lƣợng của phản ứng thích nghi mà các nhà y học và sinh lý học rất quan tâm. Baevski và cs [133] đã đƣa ra nguyên lý chung để nghiên cứu biến động nhịp tim và các chỉ số thống kê toán học nhịp tim (TKTHNT). Một số chỉ số TKTHNT đặc trƣng cho dao động của 100 khoảng RR liên tiếp của nhịp tim hay đƣợc sử dụng là: - Tần số tim (TST) trung bình của 100 khoảng RR liên tiếp, tính bằng nhịp /phút là chỉ số đặc trƣng cho hoạt động của hệ tim mạch. Đây là thông số cân bằng nội môi của cơ thể. Sự biến đổi của TSNT so với tiêu chuẩn của cá thể nói lên sự tăng gánh nặng đối với bộ máy tuần hoàn hoặc có thay đổi
  10. 8 bệnh lý. TSNT= 60/RRtb (RRtb là thời gian trung bình của 1 khoảng RR tính bằng giây, RRtb = tổng số RR/100). - Độ lệch chuẩn của 100 khoảng RR liên tiếp (SD), tính bằng giây là một trong những chỉ số chính của dao động nhịp tim, đặc trƣng cho trạng thái cơ chế điều khiển. Nó chỉ ra ảnh hƣởng tổng hợp của hệ thần kinh thực vật đến nút xoang của tim. Tăng hay giảm chỉ số này nói lên sự dịch chuyển của cân bằng nội môi hƣớng về thần kinh phó giao cảm hay thần kinh giao cảm. - Hệ số biến thiên của 100 khoảng RR (V= SD /RRtb), tính bằng giây. Ý nghĩa sinh lý của thông số này giống chỉ số SD và là chỉ số đƣợc tiêu chuẩn hóa theo TSNT. - Mod của 100 khoảng RR liên tiếp (Mo), tính bằng giây là giá trị khoảng RR gặp nhiều nhất trong 100 khoảng RR. Mo chỉ ra khả năng hoạt động của hệ tuần hoàn (chính xác hơn là của nút xoang) và trong quá trình tƣơng đối tĩnh tại, nó trùng với X trung bình. - Biên độ của Mod (AMo), tính bằng % là số lƣợng khoảng RR có giá trị gặp nhiều nhất (Mo) trong 100RR. Chỉ số này biếu thị hiệu quả ổn định điều khiển nhịp tim mức trung ƣơng. - Khoảng dao động của RR tối đa và tối thiểu (X= RR tối đa - RR tối thiểu) tính bằng giây, chỉ ra mức độ dao động tối đa của khoảng RR. Đối với quá trình tĩnh tại, chỉ số X tƣơng tự nhƣ chỉ số SD. - Chỉ số căng thẳng (CSCT) - đơn vị điều kiện là chỉ số bậc 2 đƣợc tính từ các chỉ số trên, nó đặc trƣng cho mức độ của điều khiển nhịp tim từ trung ƣơng. CSCT = AMo/2. X.Mo Các chỉ số X, AMo, SD,V, CSCT đặc trƣng cho trạng thái của hệ thần kinh thực vật (hay còn gọi là điều khiển tự động). Phƣơng pháp phân tích thống kê toán học đánh giá dao động nhịp tim đƣợc ứng dụng rộng rãi nhằm xác định trạng thái cân bằng hệ thần kinh thực
  11. 9 vật; quan hệ hoạt động tƣơng hỗ giữa thần kinh giao cảm và phó giao cảm; mức điều khiển tự động và mức điều khiển trung ƣơng của hệ thần kinh thực vật, cụ thể là: AMo, CSCT cao và X, SD ,V thấp là biểu hiện điều khiển nhịp tim mức trung ƣơng, ngƣợc lại, AMo, CSCT thấp và X, SD,V cao là biểu hiện điều khiển nhịp tim mức tự động [120]. Nhiều nghiên cứu cho thấy các chỉ số thống kê toán học nhịp tim cho nhiều thông tin tốt để đánh giá trạng thái chức năng của cơ thể. Chúng là chỉ số dự báo khả năng thích nghi nghề nghiệp, năng lực và hiệu quả hoạt động nghề nghiệp để từ đó tuyển chọn đối tƣợng có khả năng thích nghi tốt với một số điều kiện lao động, đặc biệt là những nghề nghiệp có trạng thái căng thẳng cảm xúc cao [132], [134], [135], [136], [137], [138]. Baevski [132] đã áp dụng phƣơng pháp phân tích toán học nhịp tim để nghiên cứu diễn biến nhịp tim của các nhà du hành vũ trụ với mục đích dự báo những khả năng biến đổi trạng thái cơ thể của họ. Kết quả bƣớc đầu cho thấy những đối tƣợng có biểu hiện KNTN kém hơn trong điều kiện thử nghiệm dƣới mặt đất (biểu hiện trội điều khiển giao cảm hơn) thì sau 3 ngày, trong chuyến bay thật có rối loạn điều khiển nhịp tim nhiều hơn so với đối tƣợng có biểu hiện thích nghi tốt hơn (điều khiển trội phó giao cảm hơn). Zemaichiche [134] cho rằng con ngƣời tăng KNTN phụ thuộc vào mức độ tăng điều khiển phó giao cảm trong quá trình rèn luyện. Giảm ảnh hƣởng của điều khiển phó giao cảm đồng thời tăng điều khiển giao cảm khi lao động thể lực và căng thẳng về cảm xúc dẫn tới giảm KNTN đƣợc biểu hiện ở sự thay đổi các chỉ số TKTHNT. Zatsiorxki [135] đã sử dụng đặc điểm TKTHNT để đánh giá ảnh hƣởng của điều kiện môi trƣờng (nhiệt độ cao, tiếng ồn cao) lên chức năng điều khiển nhịp tim. Tác giả thấy rằng có mối liên quan giữa yếu tố stress nghề nghiệp, tác hại nghề nghiệp với giảm dao động nhịp tim thể hiện qua các chỉ
  12. 10 số thống kê toán học nhịp tim nhƣ giảm độ lệch chuẩn của 100RR (SD), tăng chỉ số căng thẳng (CSCT). Gevorkian E. và cộng sự [75] nghiên cứu ảnh hƣởng của căng thẳng thần kinh cảm xúc trƣớc thi của sinh viên đối với chức năng điều khiển nhịp tim theo phƣơng pháp của Baevski cho thấy những sinh viên có điểm căng thẳng cảm xúc Spielberger càng cao thì chỉ số căng thẳng tim mạch càng cao. Các phản ứng này phụ thuộc vào đặc tính của từng cá nhân và hoạt động của hệ thống thần kinh tự chủ. Nghiên cứu tại Việt Nam về dao động nhịp tim Ở nƣớc ta trong những năm gần đây, phƣơng pháp nghiên cứu dao động nhịp tim bằng các chỉ số TKTHNT bƣớc đầu đã đƣợc ứng dụng để đánh giá mức căng thẳng chức năng và căng thẳng hệ tim mạch trong quá trình lao động [18], [19], [20], [21], [22], [23], [45]. Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hà [18] về sự căng thẳng tim mạch trên nhân viên y tế cho thấy có mức căng thẳng cao (mức 3/4) với chỉ số căng thẳng là 239 và khả năng thích nghi kém với độ lệch chuẩn là 0,038. Trần Thanh Hà [20] đã áp dụng phƣơng pháp phân tích TKTHNT để nghiên cứu dự báo khả năng lao động của bộ đội tiêu binh. Kết quả cho thấy nhóm tiêu binh có khả năng thích nghi kém nhất với nghề nghiệp thì có chỉ số TKTHNT ở trạng thái tĩnh đạt mức CSCT cao nhất, X thấp nhất, SD ở mức quá căng thẳng (mức 3/4). Đặc biệt tất cả các đối tƣợng đã bị ngất trong lúc làm nhiệm vụ đều có chỉ số dao động nhịp tim ở mức quá căng thẳng (SD
  13. 11 các yếu tố stress trong cuộc sống và trong lao động gây ra, đồng thời có thể dự báo khả năng thích nghi nghề nghiệp của đối tƣợng. 1.1.3. Stress và nguy cơ các bệnh tim mạch Nhiều năm qua các nhà khoa học luôn cho rằng stress có thể sẽ dẫn đến bệnh tim, tuy nhiên có rất ít chứng cứ y học có thể chứng minh đƣợc điều này. Gần đây các nhà khoa học Anh đã tiến hành nghiên cứu trên 514 đối tƣợng cả nam lẫn nữ ở độ tuổi trung bình 62, trƣớc khi nghiên cứu những đối tƣợng này đều không mắc các chứng bệnh về tim. Các đối tƣợng nghiên cứu đƣợc làm trắc nghiệm stress, đồng thời đƣợc xét nghiệm nồng độ cortisol và chụp cắt lớp vi tính động mạch. Các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng xác suất mắc chứng bệnh tích tụ mỡ trong động mạch của những đối tƣợng bị stress cao gấp 2 lần so với những đối tƣợng không bị stress. Nghiên cứu trên đã gợi ý căng thẳng tâm lý có thể là yếu tố nguy cơ dẫn đến các chứng bệnh về động mạch vành [79]. Trên cơ cở nghiên cứu ngang này, Hamer và cộng sự [80] đã tiến hành một nghiên cứu dọc trên 466 đối tƣợng nam và nữ có độ tuổi trung bình 62,7 ±5,6, không có tiền sử tim mạch. Sau 3 năm theo dõi tác giả đã phát hiện có mối liên quan giữa phản ứng cao của cortisol với căng thẳng và tiến triển của vôi hóa động mạch vành (OR= 1,27, 95% CI, 1,02-1,60). Những dữ liệu này ủng hộ quan điểm cho rằng căng thẳng tâm lý gây tăng cortisol (một hormon stress) có thể ảnh hƣởng đến nguy cơ mắc bệnh mạch vành và rối loạn nhịp tim. Cơ chế mà HPA hoạt động ảnh hƣởng trực tiếp đến xơ vữa động mạch vẫn còn chƣa đƣợc hiểu rõ, mặc dù có một số bằng chứng cho thấy tăng mức cortisol máu có thể thúc đẩy viêm quanh mạch [126]. Ngày càng có nhiều nghiên cứu thử nghiệm xem liệu các đáp ứng mạnh mẽ của tim mạch với căng thẳng tinh thần có thể dự đoán các bệnh tim mạch trong tƣơng lai hay không, nhƣng kết quả của các nghiên cứu rất đa dạng [67], [69], [79], [80], [111]. Nghiên cứu của Roemmmich [111] trên thanh, thiếu niên cho thấy căng thẳng gây phản ứng tim mạch, đặc biệt là phản ứng
  14. 12 của huyết áp tâm thu, liên quan đến độ dày động mạch cảnh và là nguy cơ phát sinh sớm các bệnh tim mạch. Chida Y. và Steptoe A. [67] đã tổng hợp các nghiên cứu thuần tập tƣơng lai về đáp ứng của tim mạch với stress và các yếu tố nguy cơ tim mạch từ các dữ liệu ở các thƣ mục của PsycINFO, Web of Science và PubMed. Kết quả nghiên cứu độc lập của hai nhà nghiên cứu cho thấy có 169 sự kết hợp trong 36 bài báo về phản ứng căng thẳng và 30 sự kết hợp (5 bài báo) về hồi phục sau căng thẳng có quan hệ với nguy cơ tim mạch trong tƣơng lai, bao gồm tăng huyết áp, dày thất trái, xơ vữa động mạch và các triệu chứng về tim. Phân tích tổng hợp toàn diện cho thấy phản ứng mạnh hơn với căng thẳng và hồi phục sau căng thẳng kém hơn có liên quan theo chiều dọc với nguy cơ xấu về bệnh tim mạch (r=0,091) [95%CI: 0,05-0,132], p
  15. 13 thể phòng ngừa và điều trị các bệnh tim mạch, nâng cao chất lƣợng cuộc sống của con ngƣời [67], [69]. Căng thẳng không những gây biến động về tim mạch mà còn gây rất nhiều các biến động về chức năng tâm - thần kinh của con ngƣời. 1.2. MỘT SỐ CHỈ SỐ CHỨC NĂNG TÂM - THẦN KINH 1.2.1. Hoạt động trí tuệ 1.2.1.1. Các quan điểm về trí tuệ Trí tuệ là hoạt động tâm lý phức tạp bao gồm khả năng nhận thức, ngôn ngữ vận động và khả năng thích ứng với xã hội. Trí tuệ là một trong những đặc tính tâm lý và tƣ duy chỉ có ở con ngƣời, vì vậy nghiên cứu về năng lực trí tuệ là vấn đề luôn đƣợc quan tâm đặc biệt trong giới khoa học. Cho đến nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về trí tuệ, Fredman tập hợp các quan điểm thành 3 khuynh hƣớng chính: Khuynh hƣớng thứ nhất coi trí tuệ là năng lực nhận thức, năng lực học tập của cá nhân. Theo Huarte J. thì trí tuệ là tập hợp các khả năng lĩnh hội tri thức, phán xét, đánh giá và sáng tạo. J.P Ducanson [71] coi trí thông minh là năng lực học tập. Philipvecnon định nghĩa năng lực trí tuệ thông qua hệ số thông minh. Ushinski K.D. cho rằng trí tuệ là một hệ thống tri thức có tổ chức tốt, luôn luôn đƣợc điều chỉnh và làm phong phú thêm, không phải chỉ trong những biểu hiện cụ thể về những sự vật hoặc sự kiện riêng biệt mà còn đƣợc khái quát thành khái niệm [55]. Năng lực trí tuệ trƣớc hết phải là sản phẩm của trí tuệ, biểu hiện năng lực nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn của con ngƣời. Khuynh hƣớng thứ hai coi trí tuệ là năng lực tƣ duy trừu tƣợng. Ngƣời đại diện cho khuynh hƣớng này là Terman L. Ông cho rằng chức năng của trí tuệ là sử dụng hiệu quả các khái niệm. Quan niệm này có phần hạn chế về khái niệm và phạm vi thể hiện của trí thông minh. Theo Menchinskaia M.N.,
  16. 14 đặc trƣng của trí tuệ là sự tích lũy vốn tri thức và các thao tác trí tuệ. Rubinstein S.L. coi hạt nhân của trí tuệ là các thao tác tƣ duy nhƣ phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa và trừu tƣợng hóa (theo [40]). Khuynh hƣớng thứ ba coi trí tuệ là năng lực thích nghi của con ngƣời đối với thế giới xung quanh. Đại diện cho khuynh hƣớng này là Stern V., tác giả coi trí tuệ là năng lực thích ứng chung của con ngƣời đối với điều kiện và nhiệm vụ mới trong đời sống. Theo David Wechsler, trí tuệ là năng lực chung của nhân cách, đƣợc thể hiện trong hoạt động có mục đích và làm cho cơ thể thích nghi với các điều kiện môi trƣờng [127]. Sở dĩ có nhiều định nghĩa khác nhau vì năng lực trí tuệ đƣợc biểu hiện dƣới nhiều dạng và liên quan đến nhiều hiện tƣợng tâm lý khác nhau. Cho đến nay chƣa có một định nghĩa nào về năng lực trí tuệ đƣợc đa số các nhà tâm lý học thừa nhận. Tuy nhiên, chúng ta có thể thống nhất với quan điểm của N.X.Leytex coi năng lực trí tuệ là khả năng nhận thức và hoạt động thực hành của con ngƣời [37]. 1.2.1.2. Nghiên cứu trên thế giới về phương pháp đánh giá năng lực trí tuệ Lịch sử về phát triển test đánh giá trí tuệ Ngƣời đầu tiên đề xuất tƣ tƣởng trắc nghiệm và đƣa ra thuật ngữ "trắc nghiệm tâm lý" là Francis Galton (1822-1911), nhà nhân chủng học và tâm lý học ngƣời Anh. Nhƣng ngƣời có công trong việc sử dụng rộng rãi thuật ngữ này là học trò của ông - nhà tâm lý học Mỹ, J.Mc.Cattell (1860-1944), tác giả cuốn trắc nghiệm và đo lƣờng trí tuệ (1890). Tuy nhiên phải đến sau năm 1905, khi công trình nghiên cứu năng lực trí tuệ trẻ em từ 3 đến 15 tuổi của Alfred Binet và T. Simon đƣợc công bố, cùng với hệ thống các trắc nghiệm để xác định mức độ trí tuệ, thì việc sử dụng trắc nghiệm mới đƣợc sử dụng rộng rãi trên thế giới (theo [50]. Từ đây hàng loạt các trắc nghiệm trí tuệ khác đã ra đời, bao gồm
  17. 15 thang điểm Binet- Simon (1905), trắc nghiệm Stanford-Binet (1916), thang điểm Wechsler (1939), test Gille (1944), test Raven (1960). Cho đến nay nhiều loại test trí tuệ (ví dụ test Raven) đã đƣợc sử dụng rộng rãi ở các nƣớc trên thế giới nhƣ Nga, Mỹ, Ba Lan, Đức, Pháp… Trắc nghiệm Raven Test Raven hay trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn do J.C.Raven (Anh) xây dựng và công bố năm 1936. Đây là loại trắc nghiệm phi ngôn ngữ về trí tuệ. Sau hai lần chuẩn hóa vào các năm 1945, 1956, đến năm 1960 test Raven đƣợc UNESCO chính thức sử dụng để chẩn đoán trí tuệ của con ngƣời. Đến nay test này đã đƣợc sử dụng rộng rãi ở nhiều nƣớc trên thế giới. Khi thực hiện các bài trắc nghiệm này, các quá trình tâm lý cơ bản đƣợc thể hiện là chú ý, tri giác và tƣ duy. Test Raven đƣợc dùng để đo năng lực tƣ duy trên bình diện rộng nhất và đƣợc sử dụng rộng rãi cho cá nhân cũng nhƣ cho nhóm ngƣời có độ tuổi từ 6 đến 60. Toàn bộ test gồm 60 bài tập, chia làm 5 bộ A,B,C,D,E, mỗi bộ gồm 12 bài tập (khuôn hình) đƣợc đánh dấu nhƣ sau: A1- A12; B1- B12; C1- C12; D1- D12; E1- E12. Các bài tập từ 1-12, từ A - E đƣợc xây dựng theo mức độ phức tạp dần. Do đó trong bộ test Raven, bài dễ nhất là bài 1 của bộ A, tức là khuôn hình A, bài khó nhất là bài E12. Trật tự này đƣợc xem nhƣ một phƣơng thức hƣớng dẫn làm việc. Các bộ A-E đƣợc xây dựng theo các nguyên tắc sau: + Bộ A: thể hiện tính liên tục, toàn vẹn của cấu trúc. + Bộ B: thể hiện sự giống nhau giữa các cặp hình. + Bộ C: thể hiện sự thay đổi tiếp diễn trong các cấu trúc. + Bộ D: thể hiện sự thay đổi logic vị trí các hình . + Bộ E: thể hiện sự phân tích cấu trúc các bộ phận trắc nghiệm .
  18. 16 Năm bộ bài tập là 5 cách đánh giá về năng lực trí tuệ của cá nhân. Tổng điểm số của từng cá nhân là một chỉ số về năng lực trí tuệ. Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, sự vắng mặt của các bài tập ngôn ngữ trong test Raven cho phép loại trừ, trong một mức độ nào đó, ảnh hƣởng của trình độ học vấn, kinh nghiệm sống và những khác biệt về văn hóa xã hội của đối tƣợng nghiên cứu. Do vậy, test này có thể sử dụng rộng rãi trên nhiều loại đối tƣợng. Một ƣu điểm nữa của test Raven là kỹ thuật tiến hành và xử lý test tƣơng đối đơn giản, đòi hỏi ít thời gian và có thể nghiên cứu trên nhiều đối tƣợng cùng một lúc. Nhƣợc điểm của test Raven là chỉ cho biết kết quả cuối cùng mà không cho biết quá trình đi đến kết quả. Do đó, để đánh giá một cách chính xác về năng lực trí tuệ chung cần phải sử dụng bổ sung các phƣơng pháp khác [1], [55]. 1.2.1.3. Sơ lược về tình hình sử dụng test nghiên cứu trí tuệ tại Việt Nam Cùng với xu hƣớng phát triển chung của thế giới, một số test trí tuệ đã và đang đƣợc sử dụng ở Việt Nam. Trƣớc những năm 80, vấn đề test trí tuệ rất ít đƣợc đề cập tới. Tuy nhiên trong thời kỳ này, bệnh viện Bạch Mai và bệnh viện Nhi Thụy Điển đã sử dụng một vài loại test (WAIS, Denver) để chẩn đoán tình trạng trí lực của bệnh nhân tâm thần. Trƣờng đại học Sƣ phạm Hà Nội cũng đã có một số công trình nghiên cứu ứng dụng test trong đánh giá kết quả học tập của sinh viên nhƣ công trình của Trần Bá Hoành (1971), Nguyễn Long (1978) (theo [1]). Từ những năm 80 đến nay, test trí tuệ đã đƣợc ứng dụng nhiều ở Việt Nam. Hai cơ sở có đóng góp quan trọng trong lĩnh vực này là Viện Tâm-Sinh lý lứa tuổi, thuộc Viện Khoa học giáo dục Việt Nam và trung tâm nghiên cứu trẻ em Hà Nội. Các cán bộ của 2 cơ sở này đã tiến hành nhiều công trình thích nghi hóa test WISC (1987), test Gille (1989) và test Raven (1991) ở Việt Nam và sử dụng để nghiên cứu trí tuệ của học sinh. Trong những năm gần đây, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên khoa Sinh - Kỹ
  19. 17 thuật nông nghiệp và khoa Tâm lý - Giáo dục trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội đã sử dụng test Raven và test Gille để nghiên cứu trí tuệ của học sinh, sinh viên Việt Nam. Đó là các công trình nghiên cứu bằng test Raven của Nguyễn Thạc và Lê Văn Hồng [47], Trần Thị Loan [40], Ngô Thị Kim Thoa [49], Mai Văn Hƣng [33] và các công trình nghiên cứu bằng test Gille của Nguyễn Thạc [47]. Một số trƣờng phổ thông cũng đã sử dụng test trí tuệ trong việc tuyển chọn học sinh nhƣ trƣờng dân lập Mari-Curi (sử dụng test Raven), trƣờng dân lập Đông Đô (sử dụng test Gille)…Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này nhƣ công trình nghiên cứu trí tuệ của học sinh cấp I. II, III và của sinh viên đại học [25], [28], [33], [40], [49], [36]. Nhƣ vậy, trong số các test trí tuệ, test Raven là một trong những test đƣợc sử dụng rộng rãi nhất (theo [1]). 1.2.1.4. Một số yếu tố di truyền, môi trường ảnh hưởng đến hoạt động trí tuệ Di truyền tác động lên trí thông minh Vai trò của di truyền và môi trƣờng tác động lên trí thông minh là một đề tài nghiên cứu từ rất lâu. Khả năng thừa kế của một gene lên thế hệ sau đƣợc biểu diễn bằng một số trong khoảng từ 0 đến 1, gọi là hệ số di truyền. Một số nghiên cứu cho thấy hệ số di truyền trung bình ở trẻ em là 0,5, hệ số di truyền ở ngƣời có thể lên đến 0,8. Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kì vào năm 1995 trong công trình "Intelligence: Knowns and Unknowns" (Trí thông minh: những điều đã biết và chƣa biết) kết luận rằng hệ số di truyền là "khoảng 0,75"[102]. Môi trường Yếu tố môi trƣờng đóng vai trò rất lớn trong việc xác định trí thông minh. Một số nghiên cứu về yếu tố môi trƣờng cho rằng thời kỳ thai phụ hay lúc cho con bú nếu tiếp xúc với những loại độc tố hay thiếu các vitamin và muối khoáng quan trọng có thể ảnh hƣởng đến chỉ số IQ của đứa bé. Trong xã
  20. 18 hội đã phát triển, môi trƣờng trong gia đình có thể tạo ra 25% sự khác biệt về chỉ số IQ. Tuy nhiên, khi lớn lên, điều này hầu nhƣ biến mất [128]. Sự chậm phát triển trí não Khoảng 75-80% số trẻ chậm phát triển trí não là do di truyền và 20-25% còn lại là do những nguyên nhân bên trong cơ thể nhƣ sự bất thƣờng ở các nhiễm sắc thể hay chấn thƣơng ở não [128]. Nghiên cứu của Trung tâm Điều khiển và Phòng chống Dịch bệnh (CDC) cho thấy tỉ lệ mắc chứng kém phát triển trí tuệ ở nam cao hơn ở nữ. Đối với chủng tộc, tỉ lệ chung về mắc chứng kém phát triển trí tuệ là 1,66% cho ngƣời da đen và 0,68% cho ngƣời da trắng. Đối với nam ngƣời da đen có tỉ lệ cao nhất, gấp 1,7 lần so với nữ da đen; 2,4 lần so với nam da trắng và 3,1 lần so với nữ da trắng. Ở Hoa Kì những ngƣời có chỉ số IQ dƣới 70 sẽ đƣợc miễn tội tử hình từ năm 2002 [128]. Sự quay lại Sự di truyền chỉ số IQ của một đứa trẻ bị ảnh hƣởng từ IQ của cha mẹ. Hệ số di truyền của chỉ số IQ luôn nhỏ hơn 1 nên chỉ số IQ của đứa trẻ sẽ có xu hƣớng quay lại về chỉ số IQ chuẩn của dân số chung. Hiệu ứng trên có thể đƣợc biểu diễn bởi công thức:  : chỉ số IQ dự đoán của đứa trẻ 2  : h : hệ số di truyền của chỉ số IQ.  m và f: chỉ số thông minh của mẹ và bố đứa trẻ. Vì vậy, nếu hệ số di truyền là 50%, một cặp vợ chồng có IQ trung bình là 120 và sống trong xã hội có IQ trung bình là 100 thì con của họ có nhiều khả năng có IQ là 110 [128].

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản