intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Bảo đảm tiền vay trong cho vay của ngân hàng thương mại

Chia sẻ: Ly Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:49

0
264
lượt xem
54
download

LUẬN VĂN: Bảo đảm tiền vay trong cho vay của ngân hàng thương mại

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Có rất nhiều quan điểm về ngân hàng thương mại. Sau đây là khái niệm được chấp nhận rộng rãi nhất: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên của nó là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cấp tín dụng và cung cấp một số dịch vụ khác về ngân hàng cho khách hàng. 1.1.1.2. Những hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại. Khái niệm trên đã chỉ ra những...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Bảo đảm tiền vay trong cho vay của ngân hàng thương mại

  1. LUẬN VĂN: Bảo đảm tiền vay trong cho vay của ngân hàng thương mại
  2. chương 1 Lý LUậN CHUNG Về BảO ĐảM TIềN VAY TRONG CHO VAY CủA NGÂN HàNG THƯƠNG MạI 1.1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại. 1.1.1. Khái niệm và những hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại. 1.1.1.1. Khái niệm. Có rất nhiều quan điểm về ngân hàng thương mại. Sau đây là khái niệm được chấp nhận rộng rãi nhất: Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên của nó là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cấp tín dụng và cung cấp một số dịch vụ khác về ngân hàng cho khách hàng. 1.1.1.2. Những hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại. Khái niệm trên đã chỉ ra những hoạt động cơ bản mà ngân hàng thương mại thực hiện. Đó chính là: - Huy động vốn. - Cho vay vốn. - Cung cấp các dịch vụ khác về ngân hàng. Huy động vốn có thể coi là hoạt động cơ bản đầu tiên của ngân hàng thương mại. Từ thuở sơ khai, ngân hàng chính là nơi để cho những người có lượng tiền tạm thời nhàn rỗi gửi vào. Những đối tượng gửi tiền vào ngân hàng là tất cả các cá nhân, các hộ gia đình, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội... Họ gửi tiền vào dưới các hình thức ký gửi như mở tài khoản thanh toán, tài khoản tiết kiệm... Qua thời gian, khi hoạt động của ngân hàng trở nên phong phú hơn, ngân hàng không chỉ dừng lại ở chỗ chờ đợi những người này gửi tiền mà còn dùng nhiều hình thức để chủ động thu hút vốn về mình. Ngoài các biện pháp thông thường để vay vốn ngân hàng còn phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi... Ngân hàng cũng được vay ngắn hạn từ Ngân hàng Trung ương dưới hình thức tái chiết khấu. Ngân hàng sử dụng phần lớn số vốn huy động được để thực hiện cho vay nền kinh tế, từ việc hỗ trợ cho nhu cầu chi tiêu của các cá nhân, các hộ gia đình; nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất của các doanh nghiệp đến việc đáp ứng nhu cầu vốn cho phát triển cơ sở hạ tầng xã hội. Các hình thức cho vay cũng vô cùng đa dạng, từ cho
  3. vay thông thường đến cho vay chiết khấu, cho vay thấu chi... và cho đến cả hình thức tín dụng thuê mua đang rất phát triển hiện nay. Thật dễ hiểu khi coi ngân hàng như một cái “két đựng tiền khổng lồ” có thể đáp ứng được mọi nhu cầu lớn nhỏ của nền kinh tế mà cho đến nay chưa có ai thay thế được vị trí quan trọng này của nó, nhất là đối với những nước mà thị trường tài chính chưa phát triển như ở nước ta. Nền kinh tế thị trường càng phát triển thì ngân hàng lại càng trở thành một đầu mối quan trọng. Nó không chỉ là trung gian chu chuyển vốn mà còn là trung gian trong nhiều hoạt động khác của các chủ thể kinh tế. Điều này được đặc biệt thể hiện thông qua vai trò trung gian thanh toán của ngân hàng thương mại. Ngân hàng thực hiện thanh toán hộ cho khách hàng, chuyển tiền từ nơi này đến nơi khác, từ người này sang người khác... Ngoài ra ngân hàng còn cung cấp các dịch vụ như bảo lãnh, chiết khấu. Ngân hàng cũng không thể bỏ qua một hoạt động hết sức hấp dẫn là hoạt động đầu tư: đầu tư vào chứng khoán, vào bất động sản... Tuy nhiên, do hoạt động ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế nên hiện nay Chính phủ các nước đã có những quy định khắt khe về hoạt động đầu tư của ngân hàng như: phải thành lập các công ty chứng khoán, công ty tài chính trực thuộc thực hiện riêng các hoạt động đầu tư, bảo đảm cho sự an toàn trong hoạt động ngân hàng nói riêng, họat động của nền kinh tế nói chung. 1.1.2. Nội dung hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại. Trở lại với hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại, có thể nói rằng cho dù có sự phát triển không ngừng của các hoạt động khác thì khi nói đến ngân hàng thương mại người ta không thể không nhắc tới hoạt động này. Trước hết bởi vì đây là hoạt động mang tính truyền thống của ngân hàng, sau đó vì nó là hoạt động sử dụng vốn lớn nhất và mang lại phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng, là hoạt động mang tính sống còn, là lý do cơ bản để tồn tại các ngân hàng thương mại. Không thể có ngân hàng nào phát triển mà lại yếu kém trong hoạt động cho vay. Cho vay thực chất chính là việc ngân hàng chuyển quyền sử dụng một khoản vốn cho một chủ thể khác dựa trên nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi. Việc chuyển tiền cho chủ thể khác sử dụng là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro. Do đó để thực hiện được nguyên tắc hoàn trả, vấn đề bảo đảm tiền vay được đặt ra trong cho vay của ngân hàng thương mại và đây cũng là cơ sở để nghiên cứu
  4. đề tài: “Những vấn đề cơ bản về bảo đảm tiền vay trong cho vay của ngân hàng thương mại” tại ngân hàng công thương Thanh Xuân. 1.2. bảo đảm tiền vay trong cho vay của ngân hàng thương mại. 1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của bảo đảm tiền vay. 1.2.1.1. Khái niệm. Theo quan điểm truyền thống, bảo đảm tiền vay là việc bảo vệ quyền lợi của người cho vay dựa trên cơ sở thế chấp, cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người đi vay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Như vậy chỉ khi có tài sản cụ thể thì khoản cho vay mới được công nhận là có bảo đảm, còn lại thì được coi là không có bảo đảm. Ta hãy phân tích quan điểm này. Quan điểm này cho thấy rằng đối với một khoản cho vay nếu nguồn thu nợ thứ nhất như lợi nhuận, khấu hao hay thu nhập từ lương, cổ tức... không được thực hiện thì đã có nguồn thứ hai là những tài sản bảo đảm như trên. Thế nhưng câu hỏi đặt ra là giả sử có khách hàng xin vay và có tài sản thế chấp hoặc cầm cố mà mục đích sử dụng không rõ ràng hoặc có mục đích sử dụng nhưng không hợp pháp thì ngân hàng có thể quyết định đồng ý cho vay? Bên cạnh đó không phải lúc nào tài sản bảo đảm cũng thực sự an toàn, chẳng hạn đối với tài sản cầm cố nhưng không có đăng ký quyền sở hữu và lại nhờ quản lý ở kho khách hàng hoặc thuê kho; còn đối với tài sản thế chấp là bất động sản thì luôn tiềm ẩn nguy cơ hao mòn hữu hình và vô hình... Mặt khác nếu chỉ dựa vào lượng tài sản này mà không có các biện pháp thu hồi nợ hoặc không có các biện pháp xử lý, khi xảy ra tình huống bất ngờ làm tiêu hao tài sản của khách hàng thì khoản cho vay đã trở thành nợ khó đòi. Lúc đó thì mục tiêu thu hồi được các khoản nợ là không được bảo đảm. Như vậy quan điểm này là hoàn toàn thiếu sót. Vậy chúng ta sẽ quan niệm bảo đảm tiền vay như thế nào cho đúng? Quay trở lại với lý do đặt ra vấn đề bảo đảm tiền vay trong cho vay của ngân hàng thương mại. Ta đã khẳng định đó chính là nguyên tắc hoàn trả trong cho vay, tức là các khoản cho vay sau một thời gian đã xác định thì phải được quay về ngân hàng với đầy đủ cả gốc và lãi. Như vậy vấn đề bảo đảm tiền vay phải được thực hiện theo cả một quá trình và nó cần nhiều hơn so với việc chỉ đòi hỏi tài sản cầm cố hay thế chấp. Nó phải là tất cả các biện pháp mà cả ngân hàng và khách hàng phải làm để có được một khoản tín dụng an toàn và hiệu quả. Điều này có nghĩa là khi có một nhu cầu về vốn thì ngân hàng phải thực hiện phân tích, đánh giá khách hàng cũng như
  5. phương án sử dụng vốn của khách hàng, đưa ra các phương án trả nợ của khách hàng. Sau khi giải ngân thì cán bộ tín dụng phải thường xuyên theo dõi tiến trình sử dụng vốn của khách hàng cũng như các vấn đề liên quan và nếu xảy ra tình trạng mất khả năng trả nợ thì cả hai sẽ phải bàn bạc để đưa đến quyết định cuối cùng. Cũng trong quá trình đó thì nhiệm vụ của ngân hàng trong vấn đề bảo đảm tiền vay chính là phải thực hiện quá trình phân tích thẩm định một cách mau lẹ và chính xác; sau đó phải thực hiện giải ngân đầy đủ, đúng hạn để bảo đảm vốn đến được đúng vào lúc khách hàng cần. Điều này sẽ bảo đảm được tính hiệu quả cho khách hàng trong việc sử dụng vốn và đó cũng chính là cơ sở để khách hàng thu hồi đựơc vốn đem trả cho ngân hàng. Tất cả những điều trên sẽ bảo đảm cho nguyên tắc hoàn trả không bị phá vỡ. Với sự phân tích ở trên, có thể hiểu rằng “bảo đảm tiền vay chính là tất cả các biện pháp thực hiện để vốn cho vay ra phải quay về với ngân hàng sau một thời gian xác định với đầy đủ cả gốc và lãi”. 1.2.1.2. Đặc điểm. Theo như sự phân tích ở trên, chúng ta có thể khái quát một số đặc điểm của bảo đảm tiền vay như sau: a) Bảo đảm tiền vay tồn tại trong mọi quan hệ tín dụng. Không phải ngẫu nhiên mà ngân hàng trao cho khách hàng của mình sử dụng tiền mà ngân hàng đã phải trả tiền để có được chỉ để nhận được một tờ giấy chứng nhận. Tín dụng có một tính chất đặc biệt là vốn cho vay ra phải được hoàn trả trở lại. Do đó bất kỳ một khoản tín dụng nào mà ngân hàng cấp cho khách hàng cũng cần có bảo đảm. Tín dụng dựa trên lòng tin của một bên đối với bên kia về khả năng họ sẽ hoàn trả số tiền nhận được cộng với số lãi nhất định đã thoả thuận. Lòng tin này được xây dựng trên cơ sở khả năng tài chính và uy tín của mỗi bên. Có thể không cần tài sản cầm cố hay thế chấp nhưng tuyệt đối không thể thiếu được lòng tin. Cả hai phía đối tác đều đòi hỏi bên kia về khả năng tài chính lành mạnh, khả năng thực hiện đúng những điều khoản hợp đồng. Người cho vay yêu cầu khoản tiền vay được sử dụng đúng mục đích, người đi vay lại yêu cầu người cho vay cung cấp tiền đầy đủ, kịp thời. Chỉ khi bảo đảm được điều đó thì quan hệ tín dụng mới tồn tại. Bởi vậy bảo đảm tiền vay tồn tại trong mọi quan hệ tín dụng.
  6. b) Thành công của khách hàng là sự bảo đảm cao nhất cho khoản vay nhưng yếu tố quyết định cuối cùng lại là đạo đức của người vay. Tất cả các biện pháp thực hiện đều nhằm mục đích cuối cùng là thu hồi được vốn đã cho vay. Do đó ngân hàng phải thẩm định để lựa chọn dự án khả thi, theo dõi kiểm tra tiến trình sử dụng vốn của khách hàng và phối hợp xử lý nếu có rủi ro xảy ra. Khi dự án triển khai hiệu quả thì không những đem lại thu nhập cho người lao động, đem lại nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, lợi nhuận cho chủ đầu tư mà còn có tiền để trả cho ngân hàng. Đây chính là điều mà ngân hàng và khách hàng cùng mong đợi. Như vậy thành công của khách hàng chính là sự bảo đảm cao nhất cho các khoản tín dụng. Song ngay cả trong trường hợp khách hàng thành công thì khả năng ngân hàng không thu được nợ vẫn có thể xảy ra. Nếu khách hàng cố tình trì hoãn việc trả nợ trong trường hợp họ có thể làm được điều đó thì không còn là bảo đảm tiền vay nữa. Yếu tố đạo đức được nói đến ở đây là dù trong trường hợp nào thì người đi vay cũng phải coi bảo đảm tiền vay luôn gắn liền với quá trình thực hiện dự án và gắn liền với sự thành công của mình. Điều này có nghĩa là luôn phải có sự thôi thúc từ chính bản thân họ rằng phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với ngân hàng. 1.2.2. Vai trò của bảo đảm tiền vay. a) Đối với ngân hàng. Không phải ngẫu nhiên mà bảo đảm tiền vay là yếu tố được nhắc đến trong mọi quan hệ tín dụng. Và nếu bảo đảm tiền vay thành công, không những ngân hàng bảo đảm được khả năng hoàn trả vốn vay mà còn sản sinh lợi nhuận, bảo đảm hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đối với những khoản vay mà ngân hàng không đòi hỏi tài sản bảo đảm thì ngân hàng phải thẩm định khách hàng một cách chặt chẽ hơn, nhờ đó mà chất lượng tín dụng được nâng cao, khả năng thẩm định của cán bộ tín dụng cũng được cải thiện. Mặt khác những tài sản mà lẽ ra doanh nghiệp phải đem bảo đảm sẽ được dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tạo điều kiện tốt hơn để doanh nghiệp hoàn trả vốn vay cho ngân hàng. Tất cả những điều trên sẽ làm cho mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng trở nên khăng khít hơn. Đây là một điều mà cả ngân hàng và khách hàng cùng mong đợi.
  7. Đối với những khoản vay mà ngân hàng đòi hỏi tài sản bảo đảm sẽ tạo tâm lý mạnh dạn cho ngân hàng khi đưa ra quyết định cho vay, như vậy sẽ dẫn đến kết quả là ngân hàng mở rộng tín dụng đối với nền kinh tế. Cần phải nhắc lại rằng không một khoản tín dụng nào được ngân hàng cấp mà lại không cần bảo đảm. Chỉ như vậy thôi cũng đủ nói lên vai trò to lớn của bảo đảm tiền vay trong quyết định cho vay của ngân hàng. b) Đối với khách hàng. Cũng theo như sự phân tích ở trên, khách hàng muốn có được khoản vốn từ ngân hàng thì chỉ có tạo ra sự bảo đảm cho chính khoản tiền mà mình cần. Một số doanh nghiệp có khả năng phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu trên thị trường tài chính nhưng trong điều kiện thị trường tài chính chưa phát triển như ở nước ta hiện nay thì tín dụng ngân hàng vẫn là rất quan trọng, còn đối với những doanh nghiệp chưa có khả năng đó thí tín dụng ngân hàng đã trở thành nguồn thiết yếu cho mở rộng sản xuất. Đấy là chưa kể đến việc khi được ngân hàng thẩm định thì đó sẽ là lần xét duyệt thứ hai cho dự án của khách hàng, tạo thêm cơ sở cho sự thành công của dự án. Đa phần khách hàng đều không mong muốn phải bảo đảm bằng tài sản vì như vậy sẽ bị ràng buộc vào khoản vay nhưng chính sự ràng buộc này lại tạo cho họ động lực để thực hiện tốt dự án và cái lợi đầu tiên và lớn nhất mang lại chính là lợi nhuận cho chính họ. c) Đối với nền kinh tế. Vai trò của bảo đảm tiền vay đối với nền kinh tế mang tính gián tiếp. Khi chất lượng tín dụng được nâng cao sẽ thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng cường sức mạnh cho nền kinh tế. Nó giúp cho quá trình phân phối lại vốn tiền tệ diễn ra theo đúng yêu cầu: vốn từ nơi tạm thời nhàn rỗi chuyển sang nơi đang cần để mở rộng sản xuất kinh doanh, mở rộng tiêu dùng, kích thích tổng cầu. Bảo đảm tiền vay sẽ tránh được sự lãng phí do vốn bị chuyển vào những ngành làm ăn không hiệu quả hay có ý định chiếm dụng vốn cho những mục đích xấu. Ngành ngân hàng là một ngành kinh doanh gặp rất nhiều rủi ro, mặt khác hoạt động của nó lại mang tính hệ thống cao. Chính nhờ bảo đảm tiền vay đã hạn chế được những mất mát mà ngân hàng phải gánh chịu, tránh cho nền kinh tế những tổn thất to lớn do sự khủng hoảng của hệ thống ngân hàng.
  8. Tác động tích cực của bảo đảm tiền vay là góp phần củng cố niềm tin của dân chúng vào hệ thống tài chính, tạo điều kiện để họ gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn để phát triển sản xuất, đóng góp cho sự phát triển của xã hội. Bảo đảm tiền vay có tác dụng rất to lớn đối với nền kinh tế, đây là điều không thể phủ nhận. Vì vậy Chính phủ các nước luôn phải ban hành nhiều văn bản pháp luật cho vấn đề bảo đảm tiền vay trong cho vay của các ngân hàng thương mại. 1.2.3. Phân loại bảo đảm tiền vay. Theo suốt quá trình phân tích trên chúng ta có thể thấy được có sự phân chia bảo đảm tiền vay thành bảo đảm bằng tài sản và bảo đảm không bằng tài sản hay bảo đảm bằng uy tín. Song chúng ta cũng cần phải thống nhất rằng, trong nền kinh tế, uy tín mà mỗi doanh nghiệp có được cũng chính là một loại tài sản và nó tồn tại ở dạng một loại tài sản vô hình. Nhưng ở bài viết này, người viết đứng trên giác độ một nhà ngân hàng, tức là chỉ những tài sản có thể trở thành nguồn thu nợ thứ hai cho ngân hàng trong trường hợp khách hàng không trả hoặc không có khả năng trả nợ mới được coi là tài sản bảo đảm cho khoản tiền vay. 1.2.3.1. Bảo đảm bằng tài sản. Đây là hình thức mà trong đó ngân hàng (đóng vai trò là chủ nợ) được thừa hưởng một số quyền hạn nhất định đối với tài sản của bên bảo đảm nhằm làm căn cứ để thu hồi nợ trong trường hợp con nợ không trả hoặc không có khả năng trả nợ. Trong trường hợp này mối quan hệ bảo đảm giữa ngân hàng và khách hàng là quan hệ thông qua tài sản bảo đảm. Thông qua mối quan hệ này ngân hàng sẽ có quyền định đoạt đối với số tài sản đó. Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ - một lĩnh vực chứa đựng rất nhiều rủi ro, do đó ngân hàng được pháp luật giao cho một đặc quyền trong việc xử lý nợ đối với những tài sản bảo đảm trong trường hợp con nợ không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là đã bảo đảm chắc chắn cho khả năng thu nợ của ngân hàng mà còn tuỳ thuộc vào khả năng của ngân hàng trong khi đánh giá giá trị của tài sản bảo đảm theo sự biến động của thời gian cũng như khả năng bảo đảm của chúng. Đây chính là một khó khăn lớn đặt ra cho ngân hàng.
  9. Chúng ta có thể chia hình thức bảo đảm bằng tài sản thành hai loại, đó là: bảo đảm bằng chính tài sản của người đi vay và bảo đảm bằng tài sản của người thứ ba (người bảo lãnh). a) Bảo đảm bằng tài sản của chính người đi vay. * Cầm cố. Cầm cố là hình thức theo đó người đi vay phải chuyển quyền kiểm soát tài sản bảo đảm sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết (thường là thời hạn vay vốn). Cầm cố thích hợp với những tài sản ngân hàng có thể kiểm soát và bảo quản tương đối chắc chắn, đồng thời việc ngân hàng nắm giữ hầu như không ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của người nhận tài trợ, ví dụ các chứng khoán, hợp đồng, sổ tiết kiệm, ngoại tệ mạnh, kim loại quý... Các tài sản này gọn nhẹ, dễ quản lý, không chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường tự nhiên. Đối với hàng hoá, ngân hàng thường chấp nhận các loại ít chịu tác động của môi trường trong thời gian cầm cố. Khi xét thấy việc khách hàng nắm giữ tài sản bảo đảm (có thể là nắm giữ tài sản hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản) là không an toàn thì ngân hàng sẽ yêu cầu cầm cố, thường đó là những tài sản dễ bán, dễ chuyển nhượng. Khi cho vay dựa trên tài sản cầm cố, ngân hàng kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ, an toàn của vật cầm cố như quyền sở hữu của khách hàng, khả năng chi trả của giấy tờ, giá trị thị trường khi phát mại... Ngân hàng cùng khách hàng định giá vật cầm cố, ký hợp đồng cầm cố, quy định nghĩa vụ của các bên trong quá trình cầm cố, quyền phát mại tài sản cầm cố. * Thế chấp. Thế chấp là hình thức theo đó người đi vay phải chuyển các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu (hoặc sử dụng) các tài sản bảo đảm sang cho ngân hàng nắm giữ trong thời gian cam kết. Nhiều tài sản của khách hàng trở thành bảo đảm cho các khoản cho vay của ngân hàng song vẫn phải tham gia vào quá trình hoạt động, những tài sản này ngân hàng không thể cầm cố. Các tài sản này thường cồng kềnh, phân tán. Hơn nữa việc bán hoặc chuyển nhượng cũng không đơn giản. Trừ các ngân hàng, các công ty tài chính có thể nắm giữ nhiều chứng khoán, tài sản chủ yếu của doanh nghiệp là hàng
  10. hoá và tài sản cố định. Vì vậy, bảo đảm bằng thế chấp rất phổ biến, đặc biệt đối với doanh nghiệp và người tiêu dùng. Do giá trị của loại tài sản này thường cao nên doanh nghiệp có thể vay ngân hàng với quy mô lớn. Bảo đảm bằng thế chấp cho phép người vay sử dụng tài sản bảo đảm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đó là một thuận lợi. Tuy nhiên, quá trình sử dụng sẽ làm biến dạng tài sản, hơn nữa, do khả năng kiểm soát tài sản bảo đảm của ngân hàng bị hạn chế, khách hàng có thể lợi dụng phân tán, làm giảm giá trị của tài sản, gây thiệt hại cho ngân hàng. Khi cho vay dựa trên bảo đảm bằng thế chấp, ngân hàng phải xem xét kỹ vật thế chấp. Trong hợp đồng thế chấp (ký cùng với hợp đồng vay vốn), phải có phần mô tả vật thế chấp. Như vậy, ngân hàng cần phải có (hoặc thuê) các nhà chuyên môn đủ khả năng đánh giá tài sản bảo đảm. Nếu định giá quá cao, quy mô tài trợ có thể lớn, có thể gây rủi ro cho ngân hàng. Ngược lại, nếu định giá quá thấp sẽ ảnh hưởng đến khả năng vay của khách hàng. Sau khi định giá, ngân hàng và khách hàng phải thoả thuận về nội quy sử dụng bảo đảm, quyền của ngân hàng giám sát bảo đảm, phát mại bảo đảm khi khách hàng vi phạm hợp đồng tài trợ. b) Bảo đảm bằng tài sản của người bảo lãnh. Người thứ ba cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với ngân hàng thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện được. Đối với những người bảo lãnh chưa có uy tín, ngân hàng đòi hỏi phải có tài sản bảo đảm cho bảo lãnh đó. Thực chất, việc phân chia tài sản bảo đảm theo mức độ trực tiếp hay gián tiếp như trên chỉ có ý nghĩa đối với khách hàng, còn đối với ngân hàng thì dù đó là bảo đảm bằng tài sản của khách hàng hay của người bảo lãnh, ngân hàng cũng có quyền như nhau đối với tài sản này trong trường hợp khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. * Hiện nay việc bảo đảm bằng tài sản còn có hình thức mới đó là bảo đảm bằng tài sản được hình thành từ vốn vay, tức là khách hàng dùng chính tài sản có được do đi vay để bảo đảm cho khoản tiền vay. Đây là biện pháp cuối cùng để ngân hàng có thể hạn chế việc khách hàng bán tài sản được hình thành từ vốn vay. Tuy nhiên khi khách hàng không có khả năng trả nợ thì phần lớn các tài sản này cũng đều bị giảm giá, khó bán. Do đó tài sản này không bảo đảm cho ngân hàng thu đủ cả gốc lẫn lãi. Hình thức này
  11. được áp dụng cho khách hàng mà các tài sản khác dùng để bảo đảm có ít hoặc không thể trở thành tài sản bảo đảm cho ngân hàng. 1.2.3.2. Bảo đảm bằng uy tín. Đây là hình thức mà trong đó ngân hàng cho vay dựa trên khả năng hoàn trả của khách hàng chứ không cần bất cứ tài sản bảo đảm nào. Để có thể đưa ra quyết định cho vay không cần tài sản bảo đảm, khách hàng phải đáp ứng những yêu cầu do ngân hàng đặt ra. Hình thức này gồm có bảo đảm bằng uy tín của người vay và bảo đảm bằng uy tín của người bảo lãnh. a) Bảo đảm bằng uy tín của người vay. Theo hình thức này, ngân hàng cho vay dựa trên uy tín của chính khách hàng. Không phải đơn giản để ngân hàng có thể giao tiền cho khách hàng mà không cần tài sản bảo đảm. ở loại hình cho vay này, những đòi hỏi của ngân hàng đề ra phải chặt chẽ hơn và thông thường để có thể cho vay bằng uy tín, ngân hàng cũng phải tuân thủ nhiều ràng buộc trong các quy định của pháp luật. Cho vay bảo đảm bằng uy tín của khách hàng có cả những thuận lợi cũng như những khó khăn. Thuận lợi ở chỗ nó thúc đẩy mối quan hệ giữa hai bên, giảm bớt tính phức tạp của quy trình tín dụng khi thực hiện món vay và cán bộ tín dụng cũng gặp phải ít khó khăn hơn khi không phải tiến hành đánh giá, theo dõi tài sản bảo đảm. Tuy nhiên bất lợi lớn nhất chính là ngân hàng sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro lớn. Một khi niềm tin của ngân hàng bị đặt nhầm chỗ thì lúc đó hậu quả gây ra đối với ngân hàng sẽ không thể lường hết được. Không bị ràng buộc trách nhiệm bởi tài sản bảo đảm, nỗ lực của người vay khi sử dụng vốn có thể vì thế mà giảm sút. Khi mà khách hàng không có khả năng trả nợ thì ngân hàng sẽ không đủ cơ sở pháp lý để thu hồi tiền cho vay. Chính vì sự bất lợi đó mà chủ yếu trong quan hệ tín dụng này ngân hàng đòi hỏi phải là khách hàng lâu năm, tức là sự tin tưởng lẫn nhau đã đạt đến độ chín và yếu tố đạo đức trong bảo đảm tiền vay cũng đã được khẳng định. Tuy nhiên, lật lại vấn đề chúng ta lại cần phải nói rằng, với bất cứ một phương án xin vay nào thì câu hỏi đầu tiên mà ngân hàng đặt ra cho khách hàng là “vay để làm gì?”. Do đó việc thẩm định dự án đầu tư mặc dù không thể thay thế cho mối quan hệ lâu năm giữa ngân hàng và khách hàng nhưng lại là yếu tố quyết định khi có một khoản vay của khách hàng, đặc biệt là trong trường hợp vay không có tài sản bảo đảm. Theo quan niệm thông thường, uy tín của khách hàng chỉ bao gồm: khách hàng có phải là khách hàng truyền thống hay không, năng
  12. lực tài chính trong quá khứ và hiện tại có tốt không, quan hệ vay vốn với ngân hàng từ trước đến nay có tốt không. Đây đều là những yếu tố thuộc về lịch sử. Với bài viết này người viết còn muốn đề cập đến cả những yếu tố năng lực thuộc về hiện tại, tức là khả năng của khách hàng trong việc lựa chọn cho mình một dự án hợp lý. Nói cách khác, năng lực của người vay cũng được thể hiện ở việc họ lựa chọn dự án như thế nào. Điều này có nghĩa chúng ta coi thẩm định dự án chính là đánh giá lại năng lực thực sự của người đi vay. Theo quan niệm này thì thẩm định dự án cũng là một yếu tố của bảo đảm tiền vay. Do đó ở mục này vấn đề thẩm định dự án sẽ được đề cập nghiên cứu. Song chúng ta cũng phải lưu ý rằng, không chỉ cho vay bằng tín chấp mới cần thẩm định mà mọi khoản vay đều cần phải được ngân hàng thẩm định một cách chặt chẽ.  Thẩm định dự án: Thẩm định dự án trong việc cho vay của ngân hàng thương mại có vai trò vô cùng quan trọng, có thể nói nó là yếu tố quyết định các khoản cho vay của ngân hàng. Nhưng ở đây chúng ta xét đến vai trò của thẩm định dự án trên khía cạnh bảo đảm tiền vay tại một ngân hàng thương mại. Mục tiêu cần phải đạt được của cán bộ tín dụng là đưa ra quyết định có cho vay hay không và nếu có thì cho vay như thế nào và cho vay bao nhiêu. Khi xuất hiện nhu cầu vay vốn, trước hết khách hàng cần được hướng dẫn để lập hồ sơ vay vốn. Bởi vậy việc đầu tiên phải làm là giúp khách hàng có được một bộ hồ sơ đầy đủ, chặt chẽ và tuân theo những quy định của pháp luật. Để quyết định cho vay hay từ chối khoản vay, cán bộ tín dụng phải điều tra thu thập, tổng hợp và xử lý các nguồn thông tin về khách hàng bao gồm: thông tin do khách hàng cung cấp, thông tin thu thập được từ các bạn hàng của khách hàng, từ những khách hàng của mình, từ các cơ quan thông tin đại chúng, thông tin từ thị trường tiêu thụ sản phẩm mà khách hàng cung cấp, từ các trung tâm chuyên trong lĩnh vực cung cấp thông tin... Một tập hợp thông tin đầy đủ chính xác là điều kiện cần để đánh giá dự án xin vay bởi đó là cơ sở cho nhận định, phân tích và đưa ra kết luận về tính khả thi của dự án.
  13. Quá trình thẩm định dự án là lúc nhân viên ngân hàng phải vận dụng mọi kiến thức và kinh nghiệm, sử dụng các phương pháp phân tích định lượng kết hợp phân tích định tính trên cơ sở những thông tin có được. Những nội dung trong phân tích định lượng có thể bao gồm: đánh giá các luồng tiền; sử dụng các chỉ tiêu NPV, IRR, thời gian hoàn vốn...; trong đó việc đánh giá luồng tiền là vô cùng quan trọng vì nó là yếu tố trực tiếp quyết định đến việc khi nào khách hàng có thể trả nợ cho ngân hàng và với số lượng là bao nhiêu, từ đó làm cơ sở để hai bên thống nhất về thời điểm trả nợ, thời hạn vay vốn, số tiền thu nợ cho từng đợt trả nợ... Quy trình thẩm định dự án chính xác cũng sẽ làm cho việc thẩm định dự án suôn sẻ. Việc này đòi hỏi cán bộ tín dụng không những phải có chuyên môn nghiệp vụ mà phải có trình độ trong lĩnh vực mà khách hàng đang hoạt động. Khi quyết định cho vay được đưa ra hai bên sẽ phải hoàn thiện hồ sơ cho vay và các điều khoản cần thiết sẽ được xác lập như: giá trị tiền vay, thời hạn vay, hình thức hoàn trả, lãi suất và các vấn đề về tài sản bảo đảm (nếu có). Khách hàng khi đến với ngân hàng đều mong muốn vay được vốn và ngân hàng cũng mong muốn mở rộng tín dụng cả về số lượng lẫn chất lượng. Cả hai phía đều có những điều kiện và yêu cầu, hợp đồng tín dụng sẽ được thảo ra trên cơ sở sự hài hoà những điều kiện và yêu cầu đó. Để có được một khoản cho vay có chất lượng khi đặt bút ký hợp đồng, ngân hàng phải chắc chắn rằng đã không bỏ qua một yếu tố đáng ngờ nào và các điều khoản trong hợp đồng đã được cân nhắc kỹ lưỡng, mang lại lợi ích cho cả hai phía. Việc thẩm định dự án sẽ xem xét việc khách hàng thu lại số vốn đầu tư như thế nào và đó chính là cơ sở để ngân hàng có thể thu hồi vốn cho vay. Chất lượng công tác thẩm định dự án tốt sẽ là sự bảo đảm đến 50% cho khả năng thu hồi vốn của ngân hàng. Để khoản vay có thể được hoàn trả đúng thời hạn thì sau đó còn một loạt vấn đề cần được xem xét tới như: tài sản bảo đảm, quá trình sử dụng tiền vay của khách hàng, đạo đức của người đi vay... Nói tóm lại, thẩm định dự án đầu tư là yếu tố cần thiết trong mọi quyết định cho vay của ngân hàng. b) Bảo đảm bằng uy tín của người bảo lãnh. Vấn đề bảo đảm bằng uy tín của người bảo lãnh và bằng tài sản của người bảo lãnh đều thuộc về bảo lãnh của người thứ ba và đã được đề cập đến trong phần trên. Chỉ có điều ở đây người bảo lãnh cũng chỉ dùng uy tín của mình để bảo đảm, do
  14. đó cũng thiếu cơ sở pháp lý cho việc ngân hàng thu tiền nếu khách hàng không trả nợ. Trên thực tế thì người có thể bảo lãnh bằng uy tín là những người mà mọi ngân hàng đều có thể chấp nhận, ví dụ Chính phủ, các Bộ... Đòi hỏi ở đây là người bảo lãnh cũng phải có quan hệ tín chấp với khách hàng. Một điều có thể nhận thấy là bảo lãnh mang lại rất nhiều thuận lợi. Nó giúp cho những người tạm thời chưa thể tự mình đáp ứng được những điều kiện mà ngân hàng đưa ra sẽ có thể vay được vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, ngân hàng cũng giải quyết được một dự án khả thi mà chưa dám cho vay. 1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến bảo đảm tiền vay. Như đã phân loại ở trên, bảo đảm tiền vay được chia thành: bảo đảm bằng tài sản và bảo đảm bằng uy tín. Do đó khi xét đến các yếu tố ảnh hưởng đến bảo đảm tiền vay, chúng ta cũng xét những yếu tố ảnh hưởng đến từng loại hình bảo đảm. Đối với bảo đảm bằng tài sản thì yếu tố quan trọng nhất quyết định đến việc các tài sản bảo đảm này có thực sự trở thành bảo đảm hay không chính là quy định của các văn bản pháp luật về bảo đảm tiền vay mà cụ thể chính là các quy định liên quan đến tài sản bảo đảm. Đối với bảo đảm bằng uy tín thì yếu tố quan trọng nhất chính là năng lực của ngân hàng trong việc đánh giá khách hàng. 1.2.4.1. Năng lực của ngân hàng trong việc đánh giá khách hàng. Đánh giá khách hàng ở đây chính là việc xem xét: khách hàng có phải là khách hàng truyền thống hay không, năng lực tài chính trong quá khứ và hiện tại có tốt không, dự án xin vay có khả thi không và dự đoán biến động có thể xảy ra ảnh hưởng đến việc thực hiện dự án cũng như bảo đảm tiền vay. Từ đó sẽ đưa đến kết luận về năng lực của khách hàng trong việc trả nợ cho ngân hàng. Khi đi vay bao giờ khách hàng cũng phải lập ra những phương án sử dụng vốn vay. Với xu thế như hiện nay, năng lực của ngân hàng trong việc đánh giá khách hàng, đặc biệt là năng lực thẩm định dự án ngày càng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến bảo đảm tiền vay. Nếu ngân hàng là người có khả năng trong việc đánh giá khách hàng thì các khoản cho vay của ngân hàng sẽ có khả năng thu hồi rất cao, tức là sẽ bảo đảm cho nguyên tắc hoàn trả trong cho vay của ngân hàng thương mại. Tất nhiên ở đây việc phân chia các nhân tố ảnh hưởng theo từng loại hình bảo đảm tiền vay chỉ mang tính tương đối vì chính năng lực của ngân hàng trong việc
  15. đánh giá khách hàng cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng trong cho vay có tài sản bảo đảm. 1.2.4.2. Các quy định của pháp luật về bảo đảm tiền vay. Đối với các khoản cho vay có tài sản bảo đảm thì để tài sản bảo đảm có thể thực sự trở thành bảo đảm cho khoản vay cần có sự hỗ trợ của pháp luật. Chính các quy định của pháp luật liên quan đến bảo đảm tiền vay như quy định của Luật đất đai, Bộ Luật dân sự, quy định của Nghị định về bảo đảm tiền vay, của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm… hoặc sẽ tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây khó khăn cho cả tổ chức tín dụng và khách hàng trong việc sử dụng tài sản bảo đảm cho khoản vay. Một điểm cần lưu ý cuối cùng chính là bảo đảm tiền vay không đồng nghĩa với quy trình tín dụng. Quy trình tín dụng là các bước mà cán bộ tín dụng cần phải thực hiện khi cho vay còn bảo đảm tiền vay chính là các biện pháp mà ngân hàng tiến hành nhằm thu hồi đúng thời hạn, đầy đủ cả gốc và lãi số vốn đã cho vay. chương 2 THựC TRạNG BảO ĐảM TIềN VAY tại CHI NHáNH NGÂN HàNG CÔNG THƯƠNG THANH XUÂN. 2.1. khái quát hoạt động của chi nhánh. 2.1.1. Vài nét về chi nhánh. Tháng 4-1997, chi nhánh ngân hàng công thương Thanh Xuân được thành lập trên cơ sở nâng cấp phòng giao dịch Thượng Đình thuộc chi nhánh ngân hàng công thương Đống Đa. Sau 2 năm hoạt động, đến ngày 20-2-1999, chi nhánh được tách ra và chính thức trở thành đơn vị thành viên trực thuộc ngân hàng công thương Việt Nam theo Quyết định 13/QĐ-HĐQT/NHCT1 của Chủ tịch Hội đồng Quản trị ngân hàng công thương Việt Nam. Là một tổ chức tín dụng, chi nhánh tiến hành thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng theo quy định của điều lệ về tổ chức và hoạt động của ngân hàng công thương Việt Nam, cụ thể như sau: - Huy động vốn.
  16. - Cho vay. - Thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng. - Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán trong nước và quốc tế. - Thực hiện dịch vụ đại lý, uỷ thác, quản lý nguồn vốn đầu tư cho các dự án theo yêu cầu của khách hàng. - Thực hiện các nghiệp vụ mua bán, chuyển đổi ngoại tệ và các dịch vụ ngân hàng đối ngoại khác theo quy định của Tổng giám đốc ngân hàng công thương Việt Nam. - Làm các dịch vụ cất giữ, bảo quản và quản lý các giấy tờ có giá và các tài sản quý khác của khách hàng. Ngoài ra, khi có sự chấp thuận của Tổng giám đốc ngân hàng công thương Việt Nam, chi nhánh còn tiến hành các hoạt động sau: + Phát hành các chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu trong nước và quốc tế. + Đầu mối đồng tài trợ các dự án đầu tư. + Thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh hoặc tái bảo lãnh cho các tổ chức, cá nhân ngoài nước trừ trường hợp bảo lãnh đối ứng cho các doanh nghiệp nước ngoài tham gia dự thầu. + Đầu tư dưới các hình thức đầu tư khác ra ngoài ngân hàng công thương. + Thực hiện các hoạt động khác thuộc thẩm quyền. 2.1.2. Thực trạng hoạt động kinh doanh của chi nhánh.  Tổng kết tình hình hoạt động của chi nhánh Đến ngày 31/12.2002, kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh như sau: - Tổng thu nhập 67.433 triệu đồng, tăng 7.227 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước . - Lợi nhuận 10.818 triệu đồng, tăng 3.298 triệu đồng so với năm 2001. - Tiền lương bình quân năm 2002: 1.352 ngàn đồng/ người. - Thu nhập bình quân năm 2002: 1.548 ngàn đồng/ người.  Thực trạng các mặt hoạt động.
  17. 2.1.2.1. Hoạt động huy động vốn. Bảng 1: Tình hình huy động vốn qua các năm. (đơn vị: triệu đồng) Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Huy động vốn 659.089 749.650 1.166.940 - VNĐ 452.667 487.011 819.546 - Ngoại tệ 206.422 262.639 347.394 Tiền gửi dân cư 454.997 621.168 817.009 - Tiền gửi tiết kiệm 454.997 601.840 704.183 - Tiền gửi kỳ phiếu 0 19.328 68.296 - Tiền gửi trái phiếu 0 0 44.530 Tiền gửi tổ chức kinh tế 204.092 128.482 349.931 (Nguồn: Báo cáo hoạt động huy động vốn ngân hàng công thương T. Xuân) Như vậy, năm 2002 ngân hàng đã đa dạng hoá các hình thức huy động vốn hơn so với những năm trước: - Huy động kỳ phiếu đạt 68.296 triệu đồng, tăng 48.967 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 5,98% tổng nguồn vốn huy động. - Huy động trái phiếu đạt 44.530 triệu đồng. Điều này đã chứng minh rằng khả năng kinh doanh và uy tín của ngân hàng được tăng lên rất nhiều so với các năm trước. Mức tăng trưởng nguồn vốn huy động năm 2002 đã đạt và vượt chỉ tiêu của NHCTVN giao. Cũng trong năm 2002 có thời kỳ lãi suất huy động của NHCT thấp hơn so với lãi suất của một số ngân hàng khác nhưng nguồn huy động của chi nhánh vẫn tăng trưởng ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu đầu tư tín dụng cho các doanh nghiệp. Tiếp tục mở rộng mạng lưới huy động tiết kiệm đến các địa bàn dân cư trong quận Thanh Xuân. Năm 2001, chi nhánh đã khai trương 2 quỹ tiết kiệm (số 78 và 79), năm 2002 khai trương thêm 3 quỹ tiết kiệm (số 80, 81 và 82) đưa tổng số quỹ tiết kiệm
  18. của chi nhánh lên 13 quỹ, đáp ứng nhu cầu gửi tiền của nhân dân trong quận Thanh Xuân. Từng bước hiện đại hoá công nghệ, trong năm chi nhánh đã chuyển 3 quỹ tiết kiệm sang giao dịch tức thời (số 31, 44, 47), rút ngắn thời gian giao dịch, chính xác trong thanh toán, tạo niềm tin đối với khách hàng đến giao dịch; từng bước cải thiện công nghệ trong giao dịch, thực hiện văn minh trong hoạt động ngân hàng. Có thể nói, trong công tác huy động vốn, mặc dù không tạo cho mình ưu thế về mặt lãi suất huy động song do thường xuyên coi trọng chất lượng dịch vụ kết hợp tốt chính sách khách hàng nên nguồn vốn huy động của chi nhánh tăng đều, đảm bảo cân đối vốn, tạo thế chủ động cho hoạt động kinh doanh. Công tác quản lý tiền gửi dân cư được chi nhánh thực hiện thường xuyên, nghiêm túc thông qua công tác kiểm tra dưới nhiều hình thức. Qua đó đã khắc phục được những sai sót, đảm bảo an toàn tuyệt đối nguồn tiền gửi dân cư và các giấy tờ in quan trọng, nâng cao uy tín của NH đối với khách hàng. 2.1.2.2. Hoạt động kinh doanh đối ngoại. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ năm 2002 gặp rất nhiều khó khăn: nguồn ngoại tệ khan hiếm, tỷ giá các loại ngoại tệ, đặc biệt là đô la Mỹ thay đổi với biên độ lớn, cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt. Do đó mục tiêu kinh doanh ngoại tệ nhằm mục đích đa dạng hoá nghiệp vụ kinh doanh, quan trọng hơn là tăng trưởng dư nợ, giữ vững và củng cố quan hệ kinh doanh giữa ngân hàng và khách hàng, không hoàn toàn lấy lãi kinh doanh làm tiêu chí mà vì hiệu quả chung của cả chi nhánh. Doanh số mua ngoại tệ năm 2002 đạt 52.980.241 USD và nhiều loại ngoại tệ khác như EUR, HKD... tăng gấp 2 lần so với 2001. Doanh số bán ra 53.832.480 USD, tăng 3.647.368 USD so với năm 2001. Nghiệp vụ mở và thanh toán L/C nhập khẩu: năm 2002 phát hành 154 L/C trị giá 30.867.593 USD và ngoại tệ khác quy đổi, bằng 255,3% so với năm 2001, số món bằng 157% so với năm 2001, giá trị thanh toán 17.699.000 USD và ngoại tệ khác quy đổi, bằng 148,14% so với năm 2001. Năm 2002 ngân hàng thực hiện nhờ thu 45 món so với 29 món năm 2001 trị giá 668.946 USD so với 321.755 USD năm 2001. Như vậy số món tăng gấp rưỡi và giá trị tăng gấp đôi. Chuyển tiền đi nước ngoài năm 2002 là 240 món, trị giá 868.220 USD.
  19. Chi trả kiều hối năm 2002 đạt 232 món trị giá 2.486.000 USD, năm 2001 là 145 món trị giá 2.315.933 USD. Có thể nhận thấy trong những năm gần đây, ngân hàng đã tăng dần các phương thức thanh toán quốc tế khác làm tăng thu nhập và lợi nhuận của ngân hàng. Điều đó cũng chứng tỏ ngân hàng đang hoà nhập với quốc tế và niềm tin của khách hàng dành cho ngân hàng ngày càng cao. Công tác tư vấn, hướng dẫn khách hàng áp dụng và thực hiện các phương tiện thanh toán thương mại quốc tế có lợi cho khách hàng và an toàn vốn được chi nhánh đặc biệt quan tâm. Công tác thanh toán quốc tế không ngừng được nâng cao, kiểm tra các bộ chứng từ nhanh chóng, chính xác, thường xuyên tư vấn tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng, phong các giao dịch văn minh lịch sự. 2.1.2.3. Công tác kế toán – tài chính. Với công nghệ hiện đại, phong cách giao dịch tận tình, trong năm 2002 số lượng khách hàng đến giao dịch và chuyển tiền tăng 426 khách hàng so với năm 2001, khối lượng luân chuyển qua ngân hàng 21.643.145 triệu đồng, tăng 3.384.333 triệu đồng so với năm 2001, tương đương 119.45%. Công tác kế toán – tài chính chấp hành tốt chế độ, pháp lệnh kế toán quy định; đảm bảo kịp thời, chính xác, trung thực, việc ghi chép kế toán hợp lệ, hợp pháp. Phối hợp với nghiệp vụ tín dụng thu nợ, thu lãi kịp thời, chính xác. Thực hiện nghiêm túc các quy chế về quỹ, bảo đảm thanh toán và ký quỹ bắt buộc, tiết kiệm chi tiêu theo nội dung và kế hoạch của ngân hàng cấp trên. Công tác quyết toán năm hoàn thành tốt, các báo biểu kế toán thực hiện báo cáo về ngân hàng công thương Việt Nam trước giờ quy định. Phong cách thái độ tiếp khách được chú trọng nâng cao, do đó lượng khách hàng về giao dịch với chi nhánh tăng 156 tài khoản so với năm 2001. Công tác thông tin điện toán đã triển khai kịp thời chế độ hạch toán dự thu, dự trả từ tháng 3/ 2001, triển khai chương trình mới báo cáo tức thời về ngân hàng Nhà nước, thực hiện chương trình chuyển đổi 12 loại ngoại tệ về đồng EUR. Đặc biệt đã có sự nghiên cứu phối hợp giữa các phòng Kế toán tài chính – Quản lý tiền gửi dân cư – Kinh doanh giúp khách hàng giao dịch tiện lợi hơn.
  20. Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Tổng các khoản đầu tư, cho vay 436.115 750.649 1.034.9222 - VNĐ 382.672 657.649 958.594 - Ngoại tệ 53.443 93.000 76.328 Tổng các khoản đầu tư, cho vay 436.115 750.649 1.034.9222 - Đầu tư trái phiếu Chính phủ 5.532 18 3.589 - Uỷ thác cho vay 0 87.924 80.649 - Cho vay nền kinh tế: 430583 662.707 950.684 + Cho vay trung, dài hạn 77.608 151.650 257.594 + Cho vay ngắn hạn 352.975 511.057 693.090 - Cho vay nền kinh tế: 430583 662.707 950.684 + Cho vay ngoài quốc doanh 18.730 24.020 72.515 + Cho vay quốc doanh 411.853 638.687 878.169 2.1.2.4. Hoạt động tín dụng. Bảng 2: Tình hình sử dụng vốn qua các năm. (đơn vị: triệu đồng) (Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh ngân hàng công thương T.Xuân) Các khoản đầu tư và cho vay năm 2002 đã đạt được mục tiêu tăng trưởng của ngân hàng công thương Việt Nam, vừa đáp ứng đầy đủ kịp thời vốn phục vụ sản xuất
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2