intTypePromotion=1

Luận văn: Hạn chế rủi ro trong cho vay cầm cố cổ phiếu tại ngân hàng No&PTNT Hà Nội

Chia sẻ: Nguyen Bao Ngoc | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:66

0
59
lượt xem
5
download

Luận văn: Hạn chế rủi ro trong cho vay cầm cố cổ phiếu tại ngân hàng No&PTNT Hà Nội

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tháng 7/2000 đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng của nền kinh tế Việt Nam đó là việc trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh chính thức thực hiện phiên giao dịch đầu tiên, mở ra một thời kì phát triển mạnh mẽ cho cả nền kinh tế, thời kì hội nhập kinh tế quốc tế. Kể từ đó đến nay thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc ngoài sức tưởng tượng, từ một thị trường sơ khai với vài mã cổ phiếu đến nay thị trường đã có trên 200 mã cổ phiếu...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Hạn chế rủi ro trong cho vay cầm cố cổ phiếu tại ngân hàng No&PTNT Hà Nội

  1. Luận văn Hạn chế rủi ro trong cho vay cầm cố cổ phiếu tại ngân hàng No&PTNT Hà Nội
  2. 2 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT No&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn CCCP: Cầm cố cổ phiếu TSCC: Tài sản cầm cố CNH-HĐH: Công nghiệp hoá - hiện đại hoá UBCKNN: Uỷ ban chứng khoán nhà nước NHNN: Ngân hàng nhà nước HOSE: Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh HASTC: Sản giao dịch chứng khoán Hà Nội OTC: Thị trường chứng khoán phi tập trung KBNN: Kho bạc nhà nước TCTD: Tổ chức tín dụng TTGDCK: Trung tâm giao dịch chứng khoán
  3. 3 LỜI MỞ ĐẦU Tháng 7/2000 đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng của nền kinh tế Việt Nam đó là việc trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh chính thức thực hiện phiên giao dịch đầu tiên, mở ra một thời kì phát triển mạnh mẽ cho cả nền kinh tế, thời kì hội nhập kinh tế quốc tế. Kể từ đó đến nay thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc ngoài sức tưởng tượng, từ một thị trường sơ khai với vài mã cổ phiếu đến nay thị trường đã có trên 200 mã cổ phiếu được giao dịch chính thức với tổng giá trị giao dịch hàng nghìn tỷ đồng. Người dân Việt Nam cũng đã trở nên quen thuộc với các khái niệm đầu tư chứng khoán, cổ phiếu, cổ phần…Và thị trường chứng khoán cũng không còn cái cảnh cứ mua cổ phiếu là lãi như thời gian đầu mới hoạt động. Cùng với việc thị trường chứng khoán dần đi vào quy luật thì nhà đ ầu tư cũng phải dần chuyên nghiệp hơn. Sự xâm chiếm tất yếu của các tổ chức tài chính vào mảnh đất màu mỡ - thị trường chứng khoán đang diễn ra một cách nhanh chóng và mạnh mẽ, đặc biệt là ngân hàng – trung gian tài chính khổng lồ của nền kinh tế. Bên cạnh việc thành lập ra các công ty chứng khoán thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn về chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, ngân hàng còn triển khai một nghiệp vụ quan trọng không kém đó là cho vay cầm cố chứng khoán, đây là một nghiệp vụ cho vay bình thường có tính thông lệ quốc tế về hoạt động ngân hàng. Các ngân hàng trên thế giới đã triển khai nghiệp vụ này từ rất lâu song đối với các ngân hàng Việt Nam thì đây là một hoạt động hoàn toàn mới. Nhu cầu vay vốn đầu tư của các nhà đầu tư Việt Nam là rất lớn do khả năng tài chính hạn hẹp vì vậy đây là một thị trường béo bở cho các ngân hàng thu lợi. Tuy vậy do có ít kinh nghiệm về nghiệp vụ này nên những rủi ro cho ngân hàng là không thể tránh khỏi, đặc biệt là mức độ rủi ro của thị trường chứng khoán
  4. 4 Việt Nam là rất cao, tính quy luật còn thấp, đầu tư mang tính bầy đàn, những ngân hàng nào coi thường các biện pháp quản trị rủi ro sẽ phải chịu hậu quả, có thể dẫn đến những hậu quả to lớn cho ngân hàng như: phá sản và ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề quản trị rủi ro đối với nghiệp vụ cho vay cầm cố như vậy, trong quá trình thực tập tại ngân hàng No&PTNT Hà Nội em đã chọn đề tài: “Hạn chế rủi ro trong cho vay cầm cố cổ phiếu tại ngân hàng No&PTNT Hà Nội” làm mục tiêu nghiên cứu trong khoá luận tốt nghiệp của mình. Kết cấu chuyền đề gồm 3 phần: Chương 1: Những vấn đề cơ bản về rủi ro trong cho vay cầm cố cổ phiếu tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hạn chế rủi ro trong cho vay cầm cố cổ phiếu tại ngân hàng No&PTNT Hà Nội. Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro trong cho vay cầm cố cổ phiếu tại ngân hàng No&PTNT Hà Nội thời gian tới. CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TRONG CHO VAY CẦM CỐ CỔ PHIẾU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
  5. 5 1.1.1. Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trong nền kinh tế. Ngân hàng là người cho vay hầu hết các thành phần trong nền kinh tế. Đối với các hộ tiêu dùng thì khoản vay từ ngân hàng giúp cho họ trang trải chi phí cho những nhu cầu trong cuộc sống: xây mới, sửa nhà, mua ôtô… Đối với doanh nghiệp thì những khoản vay giúp doanh nghiệp mở rộng sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trên thị trường. Khi doanh nghiệp và người tiêu dùng phải thanh toán cho các khoản mua hàng hóa và dịch vụ thì họ thường sử dụng séc, thẻ tín dụng hay tài khoản điện tử... Ngoài ra, ngân hàng cũng là địa chỉ tin cậy để mọi người gửi tiền hay nhận được lời tư vấn về lĩnh vực đầu tư cho khoản tiết kiệm. Trong mọi thời kỳ, ngân hàng là một trong những thành viên quan trọng nhất trên thị trường tín phiếu và trái phiếu do chính quyền địa phương phát hành để tài trợ cho các công trình công cộng như trường học, bệnh viện, các công trình giao thông. Để tránh sự nhầm lẫn giữa ngân hàng và các tổ chức tài chính khác, cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp. Theo cách này thì ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Theo cách tiếp cận này thì hoạt động cơ bản của ngân hàng bao gồm 3 hoạt động chính: cho vay, nhận tiền gửi và cung cấp các dịch vụ khác. * Cho vay: Khi mới ra đời, ngân hàng thực thiện chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay với các doanh nhân địa phương (họ bán các khoản phải thu cho ngân hàng để
  6. 6 lấy tiền mặt). Sau đó là bước chuyển tiếp từ chiết khấu thương phiếu sang cho vay trực tiếp với các khách hàng, giúp họ có vốn để mua hàng hóa dự trữ, mua sắm thiết bị nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh. * Nhận tiền gửi: Cho vay được cho là hoạt động sinh lời cao, do đó các ngân hàng tìm kiếm mọi cách để huy động được nguồn vốn cho vay. Một trong những nguồn quan trọng là các khoản tiền gửi của khách hàng (bao gồm tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán). Ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng với cam kết hoàn trả đúng hạn phần gốc cộng thêm một phần tiền lãi theo lãi suất trong hợp đồng coi như phí sử dụng khoản tiền gửi của ngân hàng. * Cung cấp các dịch vụ khác: Ngoài nhận tiền gửi và cho vay, ngân hàng còn cung cấp các dịch sau: + Kinh doanh ngoại tệ: là một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện để đáp ứng nhu cầu buôn bán giữa các vùng hay các quốc gia với nhau. Ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ. Hiện nay, hoạt động kinh doanh ngoại tệ thường được thực hiện bởi những ngân hàng lớn vì những giao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao. + Cung cấp các tài khoản giao dịch: khi khách hàng mở một tài khoản giao dịch tại ngân hàng, ngân hàng sẽ thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng khi họ có nhu cầu. Thanh toán qua ngân hàng mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt. Những hình thức chủ yếu của thanh toán không dùng tiền mặt hiện nay là séc, ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, thẻ thanh toán… Tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt là nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí. Điều này khuyến khích các doanh nhân mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng. + Bảo quản vật có giá: ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có
  7. 7 giá trị cho khách hàng trong kho bảo quản. + Quản lý ngân quỹ: các doanh nghiệp và cá nhân mở tài khoản tại ngân hàng, nhờ đó ngân hàng có mối quan hệ với nhiều khách hàng. Do có kinh nghiệm trong việc quản lý ngân quỹ, nhiều ngân h àng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ, trong đó ngân hàng đồng ý việc quản lý thu và chi cho một công ty kinh doanh. + Tài trợ các hoạt động của Chính phủ: do nhu cầu chi tiêu lớn và thường là cấp bách của Chính phủ, vì vậy Chính phủ các nước đều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của ngân hàng. Trong điều kiện các ngân hàng tư nhân không muốn tài trợ cho Chính phủ vì rủi ro cao, Chính phủ thường dùng một số đặc quyền trao đổi lấy các khoản vay của ngân hàng. Ngày nay, Chính phủ dành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát các ngân hàng. Các ngân hàng được cấp phép hoạt động với điều kiện là họ phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của Chính phủ và tài trợ cho Chính phủ. Các ngân hàng phải mua trái phiếu Chính phủ theo một tỷ lệ nhất định trên tổng lượng tiền gửi mà ngân hàng huy động được; hoặc phải cho vay với các điều kiện ưu đãi cho các doanh nghiệp của chính phủ. + Bảo lãnh: Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng rất lớn và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của các khách hàng, nên ngân hàng có uy tín trong bảo lãnh cho khách hàng. Ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua hàng hóa, trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn tổ chức tín dụng khác… + Dịch vụ thuê mua thiết bị: Ngân hàng cho khách hàng kinh doanh quyền lựa chọn mua các thiết bị máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê mua, trong đó khách hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Cuối hợp đồng khách hàng có thể mua lại tài sản. Hợp đồng thuê mua thường phải bảo đảm yêu cầu khách hàng phải trả tới hơn 2/3 giá trị của tài sản cho thuê.
  8. 8 + Dịch vụ ủy thác và tư vấn: các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia trong lĩnh vực quản lý tài chính. Vì vậy, nhiều cá nhân và doanh nghiệp đã nhờ ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ. Dịch vụ ủy thác phát triển sang cả ủy thác vây hộ, ủy thác phát hành, ủy thác đầu tư… Nhiều khách hàng tìm đến ngân hàng để nhận được lời tư vấn về quản lý tài chính, thành lập, mua bán hay sáp nhập doanh nghiệp. + Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán: ngân hàng bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ đến người kinh doanh chứng khoán. Trong một vài trường hợp, các ngân hàng tổ chức ra công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán. + Dịch vụ bảo hiểm: các ngân hàng bán bảo hiểm cho khách hàng, điều đó đảm bảo việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng chết, bị tàn phế hay gặp rủi ro mất khả năng thanh toán. + Các dịch vụ đại lý: các ngân hàng trong quá trình hoạt động không thể thiết lập các chi nhánh hoặc văn phòng ở khắp mọi nơi. Nhiều ngân hàng lớn cung cấp dịch vụ đại lý cho các ngân hàng khác như thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ… 1.1.2. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 1.1.2.1. Khái niệm hoạt động cho vay Cho vay là một trong những hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng sẽ chuyển giao cho b ên vay (khách hàng) một khoản vốn tiền tệ, bên vay sẽ sử dụng khoản vốn tiền tệ đó trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó sẽ hoàn trả cho tổ chức tín dụng cả gốc và lãi theo thoả thuận. Cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của các ngân hàng – để tài trợ chi tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan của Chính phủ. Đối với hầu hết các
  9. 9 ngân hàng, khoản mục cho vay chiếm quá nửa giá trị trổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân hàng. Tuy nhiên, rủi ro trong hoạt động của ngân hàng có xu hướng tập trung vào các khoản cho vay phát sinh từ các khoản cho vay khó đòi. 1.1.2.2. Phân loại cho vay * Căn cứ theo thời hạn cho vay + Cho vay ngắn hạn: thời hạn của khoản vay dưới 12 tháng và mục đích chủ yếu là để bù đắp sự thiếu hụt vốn tạm thời như tài trợ vốn lưu động cho doanh nghiệp hay hộ sản xuất. + Cho vay trung hạn: là những khoản vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Những khoản vay này thường sử dụng để đổi mới trang thiết bị, mua sắm máy móc có thời gian khấu hao không quá dài, xây dựng dự án có quy mô nhỏ. + Cho vay dài hạn: là những khoản cho vay có thời hạn trên 5 năm, thời hạn có thể lên đến 20 – 30 năm. Những khoản vay này đáp ứng các nhu cầu dài hạn như mua nhà đối với cá nhân, xây dựng nhà xưởng mới, đầu tư vào những dự án lớn đối với các doanh nghiệp. * Căn cứ vào mục đích khoản vay + Cho vay kinh doanh bất động sản: bao gồm các khoản cho vay liên quan đến lĩnh vực đầu tư bất động sản như xây dựng nhà, trung tâm thương mại, giải phóng mặt bằng... + Cho vay sản xuất: bao gồm các khoản cho vay đối với các hãng sản xuất kinh doanh và hộ gia đình nhằm tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của họ. + Cho vay tiêu dùng: giúp tài trợ cho nhu cầu mua sắm của cá nhân hay hộ gia đình như mua ô tô, nhà ở, trang thiết bị... hoặc trang trải cho các chi phí khác như viện phí, học tập... + Các khoản cho vay khác: gồm các khoản cho vay không được xếp loại ở
  10. 10 trên và các khoản cho vay kinh doanh chứng khoán. * Căn cứ vào khách hàng vay vốn + Cho vay đối với các tổ chức tài chính: bao gồm các khoản cho vay dành cho các ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác. + Cho vay các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh + Cho vay cá nhân, hộ gia đình: bao gồm những khoản cho vay sản xuất hoặc tiêu dùng. * Căn cứ theo phương thức cho vay + Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức cho vay phổ biến của ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vốn thường xuyên. Một số khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng. Vốn ngân hàng chỉ tham gia vào một giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh. Mỗi lần vay khách hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phân tích khách hàng và ký hợp đồng cho vay, xác định quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo nếu cần. Mỗi món vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ khác nhau. Theo từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi. Trong quá trình khách hàng sử dụng tiền vay, ngân hàng sẽ kiểm soát mục đích và hiệu quả sử dùng vốn, nếu thấy có dấu hiệu vi phạm hợp đồng, ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn, hoặc chuyển nợ quá hạn. Lãi suất có thể cố định hay thả nổi theo thời điểm tính lãi. Nghiệp vụ cho vay từng lần tương đối đơn giản. Ngân hàng có thể kiểm soát từng món vay tách biệt. Tiền cho vay dựa vào giá trị tài sản đảm bảo. + Cho vay theo hạn mức: là hình thức cho vay mà theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả
  11. 11 kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính. Cho vay theo hạn mức cả kỳ: trong kỳ khách hàng có thể vay trả nhiều lần, song dư nợ không được vượt quá hạn mức tín dụng. Cho vay theo hạn mức cuối kỳ: dư nợ trong kỳ có thể lớn hơn hạn mức. Tuy nhiên đến cuối kỳ, khách hàng phải trả nợ để giảm dư nợ sao cho dư nợ cuối kỳ không vượt quá hạn mức. Mỗi lần vay khách hàng chỉ cần trình bày phương án sử dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hóa dịch vụ. Sau khi kiểm tra tính chất hợp pháp của chứng từ, ngân hàng sẽ cho khách hàng vay. Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh. Trong nghiệp vụ này ngân hàng không ấn định trước ngày trả nợ. Khi khách hàng có thu nhập, ngân hàng sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động cho khách hàng trong việc quản lý ngân quỹ. Tuy nhiên, do các lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên ngân hàng khó kiểm soát hiệu quả sử dụng từng lần vay. * Căn cứ theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng + Cho vay không có bảo đảm: Cho vay không có tài sản bảo đảm là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự đảm bảo của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vài uy tín của bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, có quan hệ gắn bó lâu dài với ngân hàng, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần có một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung. + Cho vay có bảo đảm: Cho vay có bảo đảm là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Lý do là khách hàng luôn phải đối đầu với rủi ro trong kinh doanh, có thể mất khả năng trả
  12. 12 nợ cho ngân hàng. Nhưng biến cố không mong đợi như vậy có thể gây cho ngân hàng những tổn thất lớn. Vì vậy, đối với những khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng thì khi vay vốn đòi hỏi phải có bảo đảm. Bảo đảm này là nguồn trả nợ thứ hai khi khách hàng gặp phải rủi ro mất khả năng thanh toán cho ngân hàng. * Căn cứ theo hình thức cho vay + Cho vay trực tiếp: ngân hàng trực tiếp cấp vốn cho người đi vay, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ cho ngân hàng. Đây là hình thức cho vay phổ biến của các ngân hàng. + Cho vay gián tiếp: đây là hình thức ngân hàng cho vay qua các tổ chức trung gian. Ngân hàng cho vay qua các tổ, đội, hội, nhóm như Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân… Các tổ chức này thường liên kết các thành viên theo lại với nhau nhằm mục đích phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo. Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ chức trung gian như thu nợ, phát tiền vay… Tổ chức trung gian cũng có thể đứng ra bảo lãnh cho các thành viên vay. Điều này rất thuận tiện khi người vay không có hoặc không đủ tài sản thế chấp. Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua người bản lẻ sản phẩm đầu vào của quá trình sản xuất. Việc cho vay này sẽ hạn chế người vay sử dụng tiền sai mục đích. Cho vay gián tiếp thường áp dụng với thị trường có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán, cách xa ngân hàng. Trong trường hợp này, cho vay gián tiếp có thể tiết kiệm được chi phí cho ngân hàng (phân tích, giám sát, thu nợ…). 1.2. Những vấn đề cơ bản về cho vay cầm cố cổ phiếu 1.2.1. Khái niệm cho vay cầm cố cổ phiếu
  13. 13 Thị trường chứng khoán Việt Nam đang phát triển một cách mạnh mẽ và ngày càng khẳng nđịnh vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, cụ thể trong năm 2007 giá trị vốn hoá trên thị trường chứng khoán đạt 40%GDP. Cùng với việc kết hợp với các tổ chức kinh tế lớn đặc biệt là ngân hàng thương mại, thị trường chứng khoán đã tìm được cho mình một kênh cung cấp vốn lớn và hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu phát triển ngày càng cao của mình. Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính, là tổ chức kinh doanh tiền tệ, ngân hàng thương mại luôn chú trọng phát triển các dịch vụ của mình một cách đa dạng và phong phú nhằm tìm kiếm các nguồn tài chính hiệu quả, khi thị trường chứng khoán ra đời ngân hàng thương mại đã nhìn thấy đây là một thị trường tiềm năng có thể đem lại lợi nhuận cao. Hai tổ chức kinh tế này đã kết hợp với nhau một cách tất yếu và trở thành một kênh quan trọng nhất cho hoạt động đầu tư. Bên cạnh các hoạt động như bảo lãnh phát hành, thành lập công ty chứng khoán, ngân hàng phát triển thêm một hình thức kinh doanh nữa đó là cho vay đầu tư chứng khoán, hình thức này đang phát triển một cách mạnh mẽ và mang lại khoản lợi nhuận cao cho ngân hàng. Các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán ngày càng ưa chuộng hình thức tín dụng này, họ có thêm vốn để đầu tư và tài sản đảm bảo lại có thể chính là lượng chứng khoán mà họ đã vay ngân hàng để mua. Việc ra đời của hình thức này là một tất yếu phát triển của thị trường, nó là chiếc cầu nối cho việc luân chuyển dòng vốn từ ngân hàng sang thị trường chứng khoán và ngược lại, nó cung cấp vốn cho thị trường chứng khoán phát triển và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, hình thức này còn buộc nhà đầu tư phải có kế hoạch chiến lược đầu tư hiệu quả, đầu, lựa chọn những cổ phiếu tốt, qua đó giảm thiểu những rủi ro cho nhà đầu tư và đảm bảo kế hoạch trả nợ đầy đủ, đúng hạn. Mặc dù cho đến hiện tại hình thức kinh doanh này là khá an toàn cho các ngân hàng, tuy nhiên hình thức này luôn chứa đựng những rủi ro cao do vậy đòi hỏi các ngân hàng
  14. 14 phải có chiến lựợc quả trị rủi ro hợp lý, nhằm giảm thiểu những rủi ro cho ngân hàng. Biện pháp ngăn ngừa rủi ro hữu hiệu nhất m à ngân hàng dùng vẫn là sử dụng các đảm bảo tín dụng. Chỉ trừ một số khách hàng có uy tín cao còn lại hầu hết các khoản tín dụng ngân hàng đều yêu cầu phải có đảm bảo. Tuy nhiên hình thức cho vay đầu tư chứng khoán có khác các hình thức khác một chút đó là tài sản đảm bảo có thể chính là các cổ phiếu, song không phải cổ phiếu nào cũng được là tài sản đảm bảo, chỉ những cổ phiếu có chất lượng tốt rủi ro ít mới được ngân hàng chấp nhận. Cổ phiếu như thế nào là tốt là ít rủi ro điều này phụ thuộc vào trình độ đánh giá của từng ngân hàng, ngoài ra còn phụ thuộc và chiến lược cho vay của ngân hàng đó. Tuy nhiên không thể phủ định rằng cho vay chứng chứng khoán là một hình thức đầy tiềm năng và mang lại những khoản lợi nhuận cao cho ngân hàng. Trong tương lai cùng với việc phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán đây chắc chắn sẽ trở thành một hoạt động tín dụng chính của ngân hàng thương mại. Vấn đề đầu tiên phải làm rõ đó là khái niệm cho vay cầm cố cổ phiếu. Cho vay cầm cố cổ phiếu là một hình thức tín dụng của ngân hàng trong đó người vay sẽ được nhận một khoản vay từ ngân hàng để đầu tư kinh doanh chứng khoán với điều kiện phải có tài sản đảm bảo là các loại cổ phiếu đã được niêm yết hoặc chưa được niêm yết chính thức trên sàn giao dịch. Người vay phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo là cổ phiếu sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết và mức tín dụng mà khách hàng được cấp phụ thuộc vào đánh giá của ngân hàng về tài sản sản đảm bảo và mức độ rủi ro của khoản vay. Trong khái niệm này có hai đối tượng: Ngân hàng (đối tượng cho vay), khách hàng (đối tượng đi vay). Khách hàng là các cá nhân muốn vay tiền với mục đích dùng vốn vay để đầu tư kinh doanh chứng khoán. Ở Việt Nam hiện nay các ngân hàng chủ yếu cho vay cầm cố các loại cổ phiếu đã được niêm yết trên sàn, vì cổ phiếu dạng này có độ rủi ro thấp hơn và dễ kiểm soát hơn
  15. 15 Cũng giống với các hình thức tín dụng khác, khách hàng muốn được vay vốn của ngân hàng thì điều đầu tiên là khách hàng phải có tài sản đảm bảo, tài sản đảm bảo có thể là cổ phiếu, các giấy tờ có giá, hoặc các loại chứng khoán khác… ngân hàng sẽ thẩm định trước khi cho khách hàng vay, và sẽ giữ tài sản đảm bảo của khách hàng cho đến khi khách hàng hoàn trả đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng. Nếu như đến hạn mà khách hàng không hoàn trả nợ theo hợp đồng tín dụng thì ngân hàng có quyền bán hoặc sở hữu những tài sản đó thay thế cho nghĩa vụ trả nợ của người vay. Khi khách hàng đã có đầy đủ các điều kiên để được cấp tín dụng, khách hàng sẽ được cấp tín dụng từ ngân hàng, mức tín dụng này phụ thuộc vào sự đánh giá của ngân hàng về khoản vay, khoản vay có độ rủi ro càng cao thì mức tín dụng được cấp càng thấp và ngược lại, độ rủi ro càng thấp thì mức tín dụng được cấp càng cao. Tuy nhiên mức tín dụng không thể bằng 100% giá trị tài sản đảm bảo. Do đây là một hình thức có độ rủi ro cao nên ở Việt Nam hiệm nay thông thường các ngân hàng chỉ cho vay với hạn mức tối đa là 70%. Khách hàng phải cam kết sử dụng khoản vay đúng mục đích đó là đầu tư chứng khoán và điều này sẽ được ngân hàng giám sát thông qua các công ty chứng khoán, nhằm hạn chế rủi ro về việc về việc sử dụng vốn của khách hàng. 1.2.3. Nội dung của hoạt động cho vay cầm cố cổ phiếu * Đối tượng cho vay Là các cá nhân người Viêt Nam có đủ năng lực công dân, có tài sản đủ các tiêu chuẩn được ngân hàng chấp nhận là tài sản đảm bảo đó là các cổ phiếu được niêm yết tại trung tâm (sở) giao dịch chứng khoán và lưu kí tại các trung tâm lưu ký. Các cổ phiếu này phải là tài sản sở hữu hợp pháp của khách hàng và chưa được cầm cố tại bất kì một tổ chức tín dụng nào.
  16. 16 * Thời hạn cho vay Thời hạn cho vay là khoảng thời gian xác định kể từ khi ngân hàng bắt đầu cho vay cho đến khi ngân hàng thu hồi được hết nợ. Khi cho vay ngân hàng quy đinh rõ thời hạn cho vay và điều này phải được ghi rõ trong hợp đồng tín dụng.việc quy định thời hạn cho vay là rất quan trọng vì đây là căn cứ để ngân hàng đưa ra lãi xuất, đảm bảo việc hoàn trả đúng hạn và sử dụng hiệu quả các khoản nợ của khách hàng. Khách hàng hoàn toàn có thể hoàn trả khoản vay trước thời hạn. Nếu như khách hàng vay quá hạn và muốn ra hạn vay thì đây là căn cứ để ngân hàng đưa ra các hình thức phạt đối với khoản vay quá hạn đó. Thời hạn vay được căn cứ vào thoả thuận giữa ngân hàng và khách hàng. Tùy vào mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng và uy tín của tổ chức phát hành, các ngân hàng xác đ ịnh mức cho vay khác nhau nhưng ở Việt Nam hiện nay thời hạn vay thường không quá 12 tháng, điều này để hạn chế rủi ro cho các khoản vay. * Lãi xuất cho vay Lãi suất cho vay của nghiệp vụ cho vay cầm cố cổ phiếu bao giờ cũng cao hơn so với các nghiệp vụ cho vay thông thường khác vì mức độ rủi ro của hoạt động này thường cao hơn. Lãi xuất cho vay cầm cố cổ phiếu được xác định dựa vào lãi xuất cơ bản cộng với mức lợi nhuận cận biên và phần bù rủi ro. Nhưng vì rủi ro nên phần bù rủi ro thường cao hơn vì lãi xuất cho vay cầm cố cổ phiếu thường lớn hơn. * Mức cho vay Sau khi xem xét các điều kiện về đối tượng vay, tài sản đảm bảo, năng lực tài chính, giá trị cổ phiếu mà khách hàng định đầu tư… ngân hàng sẽ đưa ra mức cho vay đối với khách hàng. Mức cho vay dựa trên các yếu tố: - Nhu cầu vay vốn của khách hàng
  17. 17 - Tỷ lệ cho vay tối đa so với giá trị tài sản đảm bảo theo quy định của ngân hàng nhà nước - Thị giá của cổ phiếu mà khách hàng đầu tư và mức độ rủi ro của cổ phiếu đó - Khả năng nguồn vốn của khách hàng - Khả năng trả nợ của khách hàng - Giới hạn cho vay tối đa của ngân hàng đối với một khách hàng. Trong thời hạn vay mức cho vay có thể được xác định lại tuỳ theo giá cổ phiếu * Giá xử lý Là mức giá dùng làm căn cứ để xác định thời điểm xử lý tài sản đảm bảo. Theo đó, khi mức giá cổ phiếu giảm xuống bằng hoặc dưới mức giá xử ký này thì ngân hàng cho vay có quyền được xử lý tài sản đảm bảo theo những quy đinh ghi trong hợp đồng tín dụng. mức giá này do ngân hàng đặt ra dựa trên những phân tích về cổ phiếu và thị trường chứng khoán, nhằm phòng ngừa rủi ro cho ngân hàng khi giá cổ phiếu khách hàng đầu tư giảm xuống quá thấp. * Phương thức trả nợ và giải ngân Khách hàng có thể lựa chọn phương thức trả nợ trả lãi hàng tháng và vốn trả vào cuối kì hoặc là trả cả gốc và lãi vào cuối kì. Và ngân hàng có thể giải ngân cho khách hàng bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản, trong trường hợp ngân hàng hợp tác với một công ty chứng khoán để thực hiện nghiệp vụ này thì phương thức giả ngân sẽ là chuyển khoản vào thẳng tài khoản đầu tư chứng khoán của khách hàng. Giải ngân có thể một lần hoặc nhiều lần trong kì hạn nợ. * Làm thủ tục phong toả, giải toả cổ phiếu tại công ty phát hành, trung tâm lưu ký chứng khoán
  18. 18 Ngay sau khi việc ký kết hợp đồng cho vay được hoàn tất, ngân hàng sẽ tiến hành thực hiện phong toả cổ phiếu cầm cố của khách hàng nhằm ngăn chặn các hành vi giao dịch trên cổ phiếu đó từ phía khách hàng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ngân hàng, và khi khách hàng đã thực hiện việc trả nợ đầy đủ cả gốc lần lãi cho ngân hàng thì ngân hàng thực hiện giải toả cổ phiếu cầm cố. Ngân hàng thực hiện việc phong toả và giải toả cổ phiếu bằng cách gửi giấy đề nghị phong toả và giải toả lên tổ chức có thẩm quyền lưu giữ các loại cổ phiếu. Đối với những cổ phiếu chưa được niêm yêt trên sàn giao dịch chứng khoán, ngân hàng sẽ gửi giấy đề nghị phong toả, giải toả cổ phiếu trực tiếp lên tổ chức phát hành để ngăn chặn việc mua bán, biếu tặng, cầm cố, và các hình thức giao dịch khác liên quan đến cổ phiếu cầm cố dưới mọi hình thức. Đối với cổ phiếu đã được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, thì việc lưu giữ chứng khoán được thực hiện bởi trung tâm lưu kí chứng khoán, ngân hàng sẽ gửi giấy đề nghị phong toả, giải toả lên trung tâm lưu ký chứng khoán để đình chỉ cũng như giải phóng việc thực hiện các giao dịch trên số cổ phiếu cầm cố này. 1.3. Rủi ro và hạn chế rủi ro trong cho vay cầm cố cổ phiếu 1.3.1. Khái niệm rủi ro cho vay cầm cố cổ phiếu Rủi ro cho vay đầu tư chứng khoán là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến của ngân hàng do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi, hoặc trong trường hợp giá cổ phiếu giảm nên người vay không trả cho dù họ có khả năng trả nợ cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng là yếu tố luôn tồn tại trong bất kì hoạt động tín dụng nào, do ngân hàng không thể lường trước tất cả các rủi ro có thể xảy ra hoặc không thể đưa ra biện pháp phòng ngừa triệt để, đặc biệt trong hoạt động cho vay cầm cố cổ phiếu thì rủi ro không những luôn tồn tài mà còn rất lớn vì tài sản đảm bảo trong cho vay
  19. 19 cầm cố cổ phiếu là chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, giấy tờ có giá) đây là những tài sản có độ rủi ro cao, nhất là cổ phiếu do vậy nếu như không có nguyên tắc phòng ngừa rủi ro phù hợp thì nguy cơ mất vốn của ngân hàng là rất lớn Ta có thể lấy một ví dụ để thấy được mức độ rủi ro của hạt động này. Đó là: có 100 triệu trong tay, nhà đầu tư mua một lượng cổ phiếu có giá trị 100 triệu đồng. Đem lượng cổ phiếu này cầm cố tại ngân hàng, vay thêm được 60 triệu tiền mặt (thông thường ngân hàng chỉ cho vay tối đa 60% giá trị cổ phiếu tại thời điểm giao dịch, hoặc theo mệnh giá). 60 triệu này tiếp tục được đầu tư vào một lượng cổ phiếu mới có giá trị tương ứng. Lượng cổ phiếu mới lại tiếp tục được cầm cố để vay thêm khoảng 36 triệu đồng. Đến vòng cầm cố thứ 3, có thêm gần 22 triệu tiền mặt để rót tiếp vào một loại cổ phiếu nào đó. Qua 3 vòng chỉ với 1 phần vốn ban đầu, nhà đầu đã sở hữu được gần 220 triệu giá trị cổ phiếu, thay vì 100 triệu đồng tiền mặt. Với 220 triệu giá trị cổ phiếu trong tay, giá cổ phiếu lên, nhà đầu tư thu được lãi siêu lợi mà năng lực của 100 triệu đồng tiền mặt khó có thể làm được khi rót nguyên vẹn vào các kênh đầu tư khác. Ngược lại, giá cổ phiếu rớt, ngoài mức giá bị mất, nhà đầu tư phải đội thêm lãi vay ngân hàng; 100 triệu đồng ban đầu có thể lỗ nặng, khả năng trả nợ bị đe dọa. Do vậy nhà đầu tư có thể phải chịu 3 lần rủi ro nếu như cả 3 loại cổ phiếu cùng giảm giá và tất nhiên ngân hàng cũng phải gián tiếp chịu rủi ro cho nhà đầu tư nếu như nhà đầu tư không đủ khả năng thanh toán. 1.3.2. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong cho vay cầm cố cổ phiếu Cho vay cầm cố cổ phiếu cũng là một hoạt động tín dụng do đó rủi ro của nó cũng mang những rủi ro chung của rủi ro tín dụng và cũng chứa đựng những rủi ro riêng đặc trưng. Các rủi ro đó là: * Nguyên nhân bất khả kháng:
  20. 20 Đây là nguyên nhân khách quan tác động tới người vay, khiến người vay mất khả năng thanh toán, những nguyên nhân mang tính vĩ mô như là các quyết định của chính phủ, bộ tài chính…tác động tới giá cổ phiếu mà nhà đầu tư đem đi cầm cố hoặc là sự suy thoái về kinh tế, các thảm hoạ tự nhiên, chiến tranh tác động tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp m à nhà đầu tư không thể tính toán trước được khiến cho giá cổ phiếu xụt giảm dẫn đến tổn thất cho nhà đầu tư. Khi những tác động của những nguyên nhân bất khả kháng đối với người vay là nặng nề, khả năng trả nợ của họ bị suy giảm, nhà đầu tư có thể không trả được một phần hoặc toàn bộ cả gốc và lãi cho ngân hàng. * Nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay Nguyên nhân này là do trình độ yếu kém của người vay trong việc phân tích dự đoán giá cổ phiếu trong tương lai. Họ kì vọng giá cổ phiếu mà họ đầu tư sẽ tăng và họ sẽ thu được lợi nhuận trong khi trên thực tế phán đoán đó của họ là sai. Đây là những nguyên nhân hoàn toàn thuộc về nhà đầu tư do không đủ kiến thức cũng như kinh nghiệm phân tích dẫn đến rủi ro. Nguyên nhân này thường là nguyên nhân phổ biến dẫn đến rủi ro trong cho vay cầm cố cổ phiếu vì vay tiền để cầm cố cổ phiếu là cá nhân mà nhà đầu tư tư các nhân thường có năng lực thấp trong việc phân tích giá cổ phiếu, cũng không có chiến lược đầu tư rõ ràng và đúng đắn dẫn đến rủi ro lớn cho chính nhà đầu tư và cả ngân hàng cho vay. Nhà đầu tư cá nhân lại hạn chế về khả năng trả nợ khi khoản nợ đó lớn do vay nguyên nhân này cần được các ngân hàng xem xét kĩ trước khi ra quyết định cấp tín dụng. * Nguyên nhân thuộc về ngân hàng Nguyên nhân này là do chính sách cầm cố cổ phiếu của ngân hàng không tốt: các ngân hàng có chính sách cầm cố cổ phiếu của riêng mình. Mỗi ngân hàng có
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2