intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay " (qua thực tế tỉnh Hải Dương)

Chia sẻ: Nguyen Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:77

0
184
lượt xem
56
download

LUẬN VĂN: Tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay " (qua thực tế tỉnh Hải Dương)

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'luận văn: tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay " (qua thực tế tỉnh hải dương)', luận văn - báo cáo phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay " (qua thực tế tỉnh Hải Dương)

  1. LUẬN VĂN: Tác động của tâm lý xó hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay " (qua thực tế tỉnh Hải Dương)
  2. mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Dân số và sự tồn tại, phát triển của xã hội là hai vấn đề luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nói đến vấn đề dân số không có nghĩa là chỉ nói tới mặt số l ượng mà còn bao gồm mặt chất lượng của dân số. Cùng với việc phát triển kinh tế - xã hội, con người cần phải điều chỉnh các xu hướng dân số cho phù hợp với sự phát triển. Quy mô, cơ cấu dân số, tốc độ gia tăng dân số và sự phân bố dân c ư phù hợp sẽ tạo ra những tiền đề và động lực quan trọng cho phát triển bền vững, ng ược lại, sự gia tăng dân số không phù hợp sẽ tạo ra những nhân tố cản trở việc thực hiện những mục tiêu kinh tế- xã hội. Có thể nói, dân số là c ơ hội, đồng thời là thách thức đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Vì vậy, bất cứ quốc gia nào cũng cần có một chính sách dân số hợp lý để tạo ra một quy mô dân số “tối ưu”. Nghĩa là, vừa có thể đảm bảo việc phát huy mọi nguồn lực cho sản xuất, tạo ra được nhiều nhất của cải vật chất cho xã hội, mặt khác, vừa có thể đảm bảo đ ược sự kết hợp hài hòa giữa sản xuất với tiêu dùng, tăng cường và thúc đẩy việc tích lũy cho tái sản xuất mở rộng. Nhận thức được vị trí và tầm quan trọng của vấn đề dân số trong sự phát triển xã hội, ngay từ những n ăm 60 của thế kỷ XX, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm tới việc thực hiện chính sách dân số. Từ đó đến nay, đặc biệt là từ năm 1993 (Đánh dấu bằng sự ra đời của nghị quyết hội nghị lần thứ tư BCH TW Đảng cộng sản việt nam khóa VII), trong công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình chúng ta đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng. Có thể nhận thấy, ban đầu chúng ta mới chủ yếu quan tâm tới vấn đề giảm sinh để ổn định quy mô dân số, thì đến nay về cơ bản chúng ta đã bắt đầu quan tâm được nhiều hơn tới chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội. Việc thực hiện chính sách dân số ở n ước ta những năm vừa qua nhìn chung đang có những chuyển biến theo chiều hướng tích cực với thành tựu rất quan trọng. Tuy nhiên, gần đây việc thực hiện chính sách dân số lại nảy sinh một số vấn đề mới, tỷ lệ các cặp vợ chồng sinh con thứ ba t ăng “ đột biến”, xu hướng giảm sinh có những dấu hiệu chững lại… Thực tế ấy cho thấy những thành tựu trong việc thực
  3. hiện chính sách dân số ở nước ta trong thời gian qua là chưa thực sự bền vững và một trong những nguyên nhân của thực tế trên đó là sự tác động trở lại “ một cách mạnh mẽ” của những yếu tố tâm lý xã hội cũ, bảo thủ, lỗi thời. Việc nghiên cứu một cách có hệ thống sự tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số, từ đó đề ra những giải pháp khắc phục tác động tiêu cực của tâm lý xã hội trong việc thực hiện chính sách dân số ở n ước ta là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, vừa cấp bách vừa lâu dài. Là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc bộ, Hải Dương cũng không phải là ngoại lệ. Có thể nói, sự tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở đây còn hết sức nặng nề. Qua thực tế nhiều n ăm công tác ở cơ sở với đặc thù của công tác nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị cùng với những kiến thức, kinh nghiệm ban đầu đã tích lũy được là những lý do để người viết chọn đề tài: " Tác động của tâm lý xó hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay " (qua thực tế tỉnh Hải Dương) làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Triết học. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Vấn đề ý thức xã hội, tâm lý xã hội, vấn đề dân số đã được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu và những người quan tâm đề cập dưới những góc độ khác nhau. Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã được công bố dưới dạng đề tài khoa học, chuyên đề, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và các bài đăng tải trên các tạp chí, sách báo... Cụ thể như: - “Những yếu tố tâm lý xã hội ảnh hưởng tới mức sinh”, UBDS Hà nội 1991; “KAP (Kiến thức- thái độ- thực hành)” UBQGDS (1993); “Tâm lý cộng đồng làng và di sản”, Đỗ Long- Trần Hiệp (1993); “Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay”, Đề tài KX. 07. 02 (1996) Phan Huy Lê- Vũ Minh Giang (Chủ biên); “ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay”, Đề tài KX. 07. 03 (1997) Nguyễn Tài Thư (Chủ biên); - “Nền sản xuất nhỏ Việt Nam và hậu quả của nó trong tâm lý dân tộc”, Tạp chí Thông tin triết học, số2/ 1971, Tác giả Vũ Khiêu; “ý thức người sản xuất nhỏ và ý thức hàng ngày”, Tạp chí Triết học, số2/ 1986, Tác giả Hồ Sỹ Quý; “Tâm lý “ trọng nam
  4. khinh nữ” trong xã hội hiện nay”, Tạp chí Khoa học về phụ nữ, số 10/ 1995, Tác giả Trần Thị Minh Đức; “ý thức xã hội với sự gia tăng dân số ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 3/ 2005, Tác giả Nguyễn Thị Nga; - “Sự tác động của phong tục tập quán đến mức sinh và giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình ở Hà Nội”, Luận án phó tiến sỹ khoa học Triết học (Chuyên ngành Xã hội học), Tác giả Nguyễn Quốc Triệu (1994); “ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến trong cán bộ lãnh đạo và phương hướng khắc phục nó”, Luận án tiến sỹ khoa học Triết học, Tác giả Nguyễn Bình Yên; “Tâm lý sản xuất nhỏ ở đội ngũ cán bộ cơ sở hiện nay và phương hướng khắc phục (Qua thực tế tỉnh Thái Bình)”, Luận văn thạc sỹ Triết học, Tác giả Trần Sỹ Dương (1997) … Đã có không ít công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực tâm lý, ý thức con người, nhìn chung do yêu cầu mục đích của mỗi công trình, các tác giả chủ yếu tập trung làm rõ những vấn đề lý luận chung cũng như sự tác động của lĩnh vực ý thức xã hội nói chung đối với tồn tại xã hội. Tuy nhiên, việc nghiên cứu sự tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số, hơn nữa coi sự tác động của tâm lý xã hội như một trong những nguyên nhân của sự gia t ăng dân số nhanh ở Hải Dương hiện nay vẫn chưa được quan tâm đầy đủ. Vì vậy, việc thực hiện đề tài này là nhiệm vụ cần thiết. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Nội dung của chính sách dân số rất rộng, luận văn chủ yếu đi sâu phân tích một số tâm lý xã hội tác động trực tiếp tới nhận thức, tình cảm, thái độ và hành vi của con người trong việc thực hiện chính sách dân số. Hơn nữa, với quy mô và tốc độ gia tăng dân số ở nước ta hiện nay, luận văn chủ yếu tập trung vào tác động của tâm lý xã hội đến sự gia tăng dân số nhanh, việc sinh con thứ 3 trở lên tăng “ bất thường” và cản trở của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng dân số. Đồng thời, những số liệu khảo sát, đánh giá trong luận văn cũng chủ yếu được thực hiện ở tỉnh Hải Dương. 4. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn * Mục đích:
  5. Phân tích làm rõ tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay (qua thực tế tỉnh Hải Dương), từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục tác động tiêu cực của tâm lý xã hội trong việc thực hiện chính sách dân số. * Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận văn sẽ tập trung làm rõ: - Vai trò của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số và những yếu tố tâm lý xã hội phổ biến tác động tới việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay. - Nghiên cứu, đánh giá tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở Hải Dương hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm khắc phục tác động tiêu cực của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta nói chung và Hải Dương nói riêng. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu * Cơ sở lý luận: Luận văn đã vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về lĩnh vực ý thức xã hội, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện ý thức xã hội mới ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. * Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận triết học mác xít, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích - tổng hợp, lôgíc - lịch sử, hệ thống - cấu trúc, điều tra khảo sát, thống kê - so sánh... trong nghiên cứu và trình bày. 6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn Luận văn có những đóng góp khoa học mới sau: - Phân tích một cách có hệ thống tác động của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện CSDS ở nước ta hiện nay (qua thực tế tỉnh Hải Dương). - Đề ra một số giải pháp cơ bản nhằm khắc phục tác động tiêu cực của tâm lý xã hội trong việc thực hiện chính sách dân số ở Hải Dương hiện nay. 7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
  6. - Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch định các chương trình, chính sách phát triển kinh tế- xã hội, cũng như các mục tiêu, chương trình dân số ở các địa phương nói chung và tỉnh Hải Dương nói riêng. - Tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong các Trường chính trị tỉnh, thành phố. - Giúp cho những người làm công tác quản lý lãnh đạo xã hội có thể nhận thức, đánh giá một cách đầy đủ hơn về tác động của tâm lý xã hội đối với những lĩnh vực khác nhau của địa phương mình. 8. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 2 chương, 6 tiết. Chương 1 Chính sách dân số và vai trò của Tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số 1.1. Chính sách dân số và quá trình thực hiện chính sách dân số ở nước ta 1.1.1. Chính sách dân số Trong sự phát triển của lịch sử xã hội, gia tăng dân số là một vấn đề mang tính khách quan, hợp quy luật. Bởi vì, nó xuất phát từ những nhu cầu tự nhiên- sinh học của con người, tuy vậy nó cũng là một quá trình mang tính lịch sử- xã hội, nghĩa là nó cần phải được điều chỉnh. Việc tác động, điều chỉnh các quá trình dân số được thực hiện thông qua hàng loạt các chính sách xã hội, trong đó trước hết và trực tiếp nhất là chính sách dân số. Hiện nay, về chính sách dân số cũng có nhiều quan niệm khác nhau. Quan điểm thứ nhất: Chính sách dân số là những chủ trương và biện pháp của đảng và nhà nước nhằm điều tiết quá trình biến đổi dân số theo những mục tiêu nhất định [19, tr.195]. Quan điểm này mặc dù đã chỉ ra được bản chất của chính sách dân số nhưng vẫn còn khá chung chung. Quan điểm thứ hai: Theo quan niệm của nhóm cố vấn về chính sách dân số thuộc Uỷ ban dân số của Hội đồng kinh tế và xã hội Liên hợp quốc: Chính sách dân số là những biện pháp và những chương trình được thiết kế nhằm đóng góp vào việc đạt
  7. được mục tiêu kinh tế xã hội, dân số, chính trị, các mục tiêu công cộng khác thông qua việc tác động đến các biến đổi dân số quan trọng, cụ thể là quy mô, cơ cấu và sự phân bố dân số (trong phạm vi quốc gia và quốc tế) và các đặc trưng dân số của nó [20, tr.208-209]. Với quan điểm này chính sách dân số không chỉ tác động nhằm tái tạo, tăng giảm số lượng dân số mà còn có ý nghĩa tái tạo và hoàn thiện chất lượng dân cư nhằm giải quyết vấn đề dân số và phát triển. Như vậy, chính sách dân số không đồng nhất với việc hạn chế sinh đẻ, mặc dù với hầu hết các nước trên thế giới hiện nay thì hạn chế sinh đẻ là nhiệm vụ trọng tâm của chính sách dân số. ở một số nước phát triển, có tỷ lệ gia tăng dân số thấp, thậm chí đang sụt giảm thì các biện pháp ưu tiên và truyền thông dân số lại thể nhắm đến mục tiêu khuyến khích sinh đẻ. Quan điểm thứ ba: Theo quan niệm của các nhà khoa học thuộc Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh: “ Chính sách dân số là hệ thống các biện pháp do nhà nước tiến hành nhằm đạt được kiểu tái sản xuất dân số trong tương lai” [20, tr.207]. Như chúng ta đã biết, tái sản xuất dân số là sự lặp lại thường xuyên quá trình vận động của dân số. Trên thực tế có hai quan niệm về tái sản xuất dân số: quan niệm về tái sản xuất dân số theo nghĩa hẹp và quan niệm tái sản xuất dân số theo nghĩa rộng. Nếu mục tiêu và đối tượng tác động là tái sản xuất dân số theo nghĩa hẹp thì ta có chính sách dân số theo nghĩa hẹp, theo đó chính sách dân số chỉ tác động tới vận động tự nhiên (sinh sản, tử vong) và vận động cơ học (di dân theo lãnh thổ). Còn khi mục tiêu và đối tượng tác động là tái sản xuất theo nghĩa rộng, ta có chính sách dân số theo nghĩa rộng nghĩa là chính sách dân số phải quan tâm tới cả 3 dạng vận động: vận động tự nhiên, vận động cơ học và vận động xã hội (từ nhóm xã hội này sang nhóm xã hội khác hoặc nâng cao chất lượng của nhóm về mặt xã hội). Quan niệm thứ ba hiện nay đang được dùng phổ biến hơn cả, nó không chỉ phản ánh được nội dung cơ bản của chính sách dân số mà còn cho thấy tính chất phong phú, đa dạng của chính sách dân số. Trước đây, quan niệm phát triển thường nghiêng về những tiêu chuẩn kinh tế- kỹ thuật thì ngày nay đang chuyển dần sang ý nghĩa phát triển xã hội, phát triển con người và phát triển bền vững. Xem xét quan hệ dân số- phát triển thực chất là nhìn nhận dân số theo quan điểm phát triển bền vững thông qua vai trò của con người. Dù quan niệm thế nào thì con người vẫn luôn đứng ở vị trí trung tâm của sự phát triển. Phát triển
  8. con người một mặt phát huy được tiềm năng của chính mỗi con người, mặt khác giúp cho việc khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả nhất các nguồn lực cho phát triển kinh tế- xã hội cũng như đảm bảo cho sự phát triển bền vững của các thế hệ tương lai. Như vậy, “sinh đẻ có hướng dẫn”, “ sinh đẻ có kế hoạch” hay “kế hoạch hóa gia đình” đều là biện pháp cơ bản để vươn tới mục tiêu cao hơn: mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho từng người, từng gia đình và toàn xã hội. Thực hiện tốt chính sách dân số là một trong những giải pháp cơ bản để đạt tới sự phát triển bền vững. Chính sách dân số là một bộ phận của chiến lược phát triển toàn diện của mỗi quốc gia, là một trong những công cụ hữu hiệu để điều tiết quá trình vận động của dân số. Trước hết, nó điều tiết sự phát triển dân số hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội. Chính sách dân số điều chỉnh quá trình di cư, nhập cư, đảm bảo phân bố dân cư và lao động hợp lý, phù hợp với điều kiện, đặc điểm, tình hình phân bố của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao năng suất lao động. Việc thực hiện tốt chính sách dân số còn góp phần thúc đẩy quá trình phát triển giáo dục, y tế… đặc biệt là giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân số với tài nguyên, môi trường, hạn chế tệ nạn xã hội từng bước nâng cao chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống… ở nước ta hiện nay, việc thực hiện chính sách dân số suy cho cùng là việc hạn chế tỷ lệ gia tăng dân số nhanh, hạn chế tình trạng sinh con thứ 3 trở lên và thực hiện các mục tiêu nâng cao chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống. Đối với chính sách dân số, quan trọng nhất vẫn là nhóm chính sách có liên quan đến vấn đề sinh, tử và di dân bởi vì mọi sự biến đổi của dân số suy cho cùng đều chịu ảnh hưởng của 3 nhân tố này. Theo một phép tính đơn giản thì: Tăng dân số tự nhiên = Số sinh- số chết. Vì vậy, việc sinh đẻ và các chính sách tác động tới mức sinh có ý nghĩa quan trọng nhất, nhất là với những nước có tốc độ gia tăng dân số nhanh như Việt Nam. Đương nhiên việc con người không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống, kéo dài tuổi thọ… làm cho mức chết giảm đi và như vậy thì vấn đề kiểm soát sự gia tăng dân số chỉ còn là vấn đề kiểm soát mức sinh. Tất nhiên, mức chết có ảnh hưởng nhất định tới việc “ gây áp lực dân số” song không thể coi việc “ làm gia tăng yếu tố này” như một giải pháp của giảm áp lực dân số đối với quá trình phát triển. Đây cũng chính là lý do vì sao trong phạm vi đề tài này tác giả chủ yếu đề cập tới tác động của tâm lý xã
  9. hội tới mức sinh và giải pháp khắc phục tác động của tâm lý xã hội tới mức sinh ở nước ta hiện nay. 1.1.2. Quá trình thực hiện chính sách dân số ở nước ta Chính sách dân số ở Việt Nam đã được Đảng và nhà nước quan tâm từ rất sớm. Theo thời gian và dựa vào đặc điểm lịch sử của đất nước, chúng ta có thể chia quá trình thực hiện chính sách dân số thành 3 thời kỳ cơ bản: - Thời kỳ từ năm 1961 đến năm 1975: Đây là thời kỳ đất nước còn đang bị chia cắt, chính sách dân số mới chỉ được thực hiện ở Miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Có thể nhận thấy ngay từ đầu, Đảng và nhà nước ta đã rất chú ý tới vấn đề dân số, quan tâm tới số lượng cũng như chất lượng dân số “ vì sức khỏe các bà mẹ, vì hạnh phúc và hòa thuận trong gia đình và để nuôi dạy con cái chu đáo”. Mục tiêu của giai đoạn này là hướng tới quy mô gia đình 3 con, đối tượng vận động chủ yếu là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ và đã đông con, trước hết là nữ công nhân viên chức nhà nước, trong các lực lượng vũ trang, phạm vi thực hiện chính sách dân số tập trung ở thành thị, nông thôn đồng bằng Sông Hồng … kinh phí cho hoạt động dựa vào ngân sách nhà nước cấp. Kết quả là tốc độ gia tăng dân số có giảm nhưng rất chậm, hiện tượng gia đình đông con khá phổ biến. Quan niệm về chính sách dân số như thế còn rất hạn chế, nhìn chung mới chú ý đến quy mô dân số mà rất ít quan tâm tới vấn đề chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống. Với điều kiện đặc biệt của lịch sử và ảnh hưởng của cơ chế tập trung bao cấp lúc bấy giờ mà hiệu quả của việc thực hiện chính sách dân số chưa cao. - Thời kỳ từ năm 1975 đến năm 1984: Đất nước thống nhất, dân số cả nước lúc này đã xấp xỉ 48 triệu người, gần gấp đôi so với năm 1955. Chính sách dân số bắt đầu được triển khai trên phạm vi cả nước với xu hướng đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch. Sau một thời gian tạm lắng, cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch lại được phát động một cách sôi nổi và được triển khai rộng khắp trên toàn quốc chuẩn bị cho sự phục hưng nền kinh tế. Cũng trong giai đoạn này, công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình được xác định là vị trí quốc sách trong sự nghiệp phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IV khẳng định: “ Mọi ngành, mọi cấp phải coi cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch là công tác có tầm quan
  10. trọng to lớn, có ý nghĩa chính trị kinh tế và xã hội góp phần tích cực vào việc nâng cao đời sống của nhân dân ta”. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Đại hội Đảng lần thứ V: “ Phải quyết định và thi hành chính sách dân số đúng đắn, trong đó một công việc cực kỳ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược kinh tế và xã hội, mà tất cả các tổ chức Đảng và chính quyền các cấp phải hết sức quan tâm và trực tiếp chăm lo, là tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch” [6, tr.72]. Những nỗ lực của cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch bước đầu đã góp phần hạ thấp tỷ lệ gia tăng dân số. Số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã giảm từ 5,25 con năm 1975 xuống còn 3,85 con năm 1984. - Thời kỳ từ năm 1984 đến nay: Do những khó khăn về kinh tế- xã hội, từ năm 1975 đến năm 1984 chính sách dân số một lần nữa lại không được quan tâm đầy đủ. Từ năm 1975 đến những năm 1983, 1984 tỷ lệ gia tăng dân số ở các tỉnh phía Nam khá cao, ở các tỉnh phía Bắc việc thực hiện những mục tiêu dân số cũng tiến triển tương đối chậm, sự gia tăng dân số nhanh đã bắt đầu tạo sức ép không nhỏ lên sự phát triển kinh tế xã hội. Những mục tiêu của chính sách dân số nhìn chung đều không thực hiện được. Đứng trước tình hình kinh tế xã hội khủng hoảng một cách nghiêm trọng, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó khăn, gia tăng dân số nhanh… đòi hỏi chúng ta phải nhận thức một cách đầy đủ và sâu sắc hơn nữa về tầm quan trọng của chính sách dân số và đẩy mạnh một bước hiệu quả công tác dân số. Có thể coi đây là thời kỳ việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta đã có những chuyển biến tích cực cả về nội dung, hình thức và cách thức tiến hành. Nhiều văn bản chính sách đã được ban hành, đáng chú ý là: Quyết định số 58/ HĐBT ngày 11 tháng 4 năm 1984 của Hội đồng bộ trưởng về việc thành lập Uỷ ban dân số và sinh đẻ có kế hoạch. Nghị quyết Hội nghị lần thư tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình tháng 1 năm 1993. Quyết định số 270/ TTg ngày 3 tháng 6 năm 1993 của Thủ Tướng Chính phủ về chiến lược dân số và kế hoạch hóa gia đình đến năm 2000.
  11. Quyết định số 147/ QĐ- TTg ngày 22 tháng 12 năm 2000 về chiến lược dân số Việt Nam 2001- 2010. “Pháp lệnh Dân số” được Uỷ ban Thường vụ quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày 9 tháng 1 năm 2003.Trong đó chỉ rõ: Thực hiện gia đình ít con, khỏe mạnh, tiến tới ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững đất nước [65, tr.11]. Nghị quyết số 47- NQ/ TW ngày 22 tháng 3 năm 2005 của Bộ chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X tiếp tục khẳng định: “ Thực hiện tốt các chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình. Giảm tốc độ tăng dân số. Tiếp tục duy trì kế hoạch giảm sinh và giữ mức sinh thay thế, bảo đảm quy mô và cơ cấu dân số hợp lý, nâng cao chất lượng dân số” [11, tr.103]. Thời kỳ này đã đánh dấu sự thay đổi căn bản nhận thức và hành động của Đảng và nhà nước ta về chính sách dân số. Vị trí quốc sách của chính sách dân số tiếp tục được khẳng định trong văn kiện của hầu hết các đại hội Đảng và trong nhiều chính sách phát triển kinh tế- xã hội khác. Việc thực hiện CSDS những năm gần đây ở nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn. 1.1.3. Những thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta những năm gần đây 1.1.3.1. Thành tựu Việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta đã có một quá trình lâu dài với nhiều thành tựu và kinh nghiệm vô cùng quý báu. Đến nay, có thể đánh giá thành tựu trong việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta thời gian qua, nhất là những năm gần đây với các mặt cụ thể như sau: Thứ nhất, về mức sinh, tốc độ gia tăng dân số cơ bản đã được kiểm soát, điều này được chứng minh thông qua mức sinh liên tục giảm trong nhiều năm gần đây. Kết quả giảm sinh đã đạt được sớm hơn so với dự kiến. Mục tiêu của " Chiến lược DS-
  12. KHHGĐ đến năm 2000" là " giảm cho được tổng tỷ suất sinh xuống mức 2,9 con hoặc thấp hơn, quy mô dân số dưới mức 82 triệu người vào năm 2000 để đạt mức sinh thay thế vào năm 2015". Thực tế đã chứng minh rằng, những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ XX tỷ lệ sinh không giảm, hoặc giảm rất chậm thì từ năm 1993 trở lại đây, tức là từ khi thực hiện Chiến lược dân số đến năm 2000, tổng tỷ suất sinh đã giảm khá nhanh, từ 3,8 con vào năm 1989 xuống 2,67 con vào thời kỳ 1992- 1996 và còn khoảng 2,3 con vào năm 1999. Quy mô dân số ở mức 78 triệu người vào giữa năm 2000. Kết quả này đã tạo cơ sở để chúng ta có thể đạt mức sinh thay thế chậm nhất vào năm 2005, sớm hơn 10 năm so với dự kiến [65, tr.2]. Từ những thành công nổi bật đó, Việt Nam đã vinh dự được Tổ chức Liên hợp quốc trao giải thưởng Dân số vào năm 1999. Thứ hai, về cơ bản đã thống nhất được nhận thức và hành động của toàn xã hội về tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách dân số. Hầu hết các tổ chức Đảng, chính quyền đã coi công tác dân số là bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội.Với sự tích cực hưởng ứng và tham gia của các tổ chức Đảng, chính quyền các cấp, các ban ngành và đoàn thể, bước đầu chúng ta đã tạo được những cơ sở cho việc thay đổi hành vi một cách bền vững, hạn chế được tác động tiêu cực của tâm lý xã hội. Trong xã hội, quan niệm về hôn nhân, sinh đẻ đã có những chuyển biến tích cực ngày càng nhiều người có ý thức kết hôn muộn, đẻ ít con, nuôi con khỏe mạnh. Thứ ba, công tác thông tin- giáo dục- truyền thông từng bước được đẩy mạnh. Nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng đối với công tác dân số đã có sự chuyển biến đáng kể. Các hoạt động truyền thông mang tính đa dạng, nhiều chiều, nội dung phong phú. Đặc biệt đã có sự quan tâm chú ý tới từng nội dung, từng đối tượng cụ thể để có những phương pháp phù hợp, hiệu quả. Truyền thông dân số đã được lồng ghép vào các nội dung tuyên truyền, giáo dục, các chương trình chính sách phát triển Thứ tư, hệ thống những quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước ta cùng với thời gian đã từng bước được bổ sung, phát triển hoàn thiện và ngày càng thể hiện tính đúng đắn, hiệu quả, sát với tình hình thực tế hơn. Mục tiêu và các giải pháp của chiến lược dân số- kế hoạch hóa gia đình nhìn chung là phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của đất nước, cơ chế quản lý dân số theo chương trình mục tiêu được định hình và đang phát huy tác dụng. Có thể khẳng định rằng: Những chính sách được
  13. ban hành nếu đáp ứng được sự mong mỏi của nhân dân, xuất phát từ những cơ sở thực tiễn khách quan thì đều tạo ra được sự đồng thuận cao trong xã hội, phát huy được sức mạnh của đông đảo nhân dân và được thực hiện một cách có hiệu quả. Ngoài những thành tựu cơ bản nêu trên, cũng cần phải kể tới thành công đó là chúng ta đã tạo dựng được một bộ máy tổ chức và mạng lưới những người làm công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình rộng khắp từ trung ương tới cơ sở. Trình độ những người làm công tác dân số được nâng lên rõ rệt, nhất là đối với đội ngũ cán bộ chuyên trách. Trang thiết bị được tăng cường, hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu thực tiễn được quan tâm. Chất lượng dịch vụ kế hoạch hóa gia đình cơ bản đã đáp ứng được những yêu cầu của người sử dụng hiện nay. Với những thành tựu như vậy, có thể nói Việt Nam đã tạo dựng được những cơ sở mấu chốt nhất cũng như môi trường xã hội thuận lợi cho việc triển khai các chương trình, chính sách dân số những năm tiếp theo. 1.1.3.2. Những hạn chế Do chúng ta chưa nhận thức được hết tính chất khó khăn, phức tạp và lâu dài của công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình, ở một số nơi đã có những dấu hiệu của sự chủ quan, thỏa mãn với những thành tích bước đầu trong công tác dân số- kế hoạch hóa gia đình. Có không ít địa phương, chính quyền và cơ quan chức năng đã thể hiện sự thiếu kiên quyết trong khâu tổ chức thực hiện. Chính vì vậy, công tác dân số cũng bộc lộ một số hạn chế. Những hạn chế tiêu biểu có thể kể ra đó là: Một là, quy mô dân số nước ta vẫn ở mức cao và đang không ngừng tăng lên. Đây đã và sẽ tiếp tục là thách thức lớn đối với sự phát triển của Việt Nam. Theo thống kê của các tổ chức liên hợp quốc dân số Việt Nam hiện đang xếp thứ ba ở Đông Nam á (đứng sau In- đô- nê- xia và Phi- Líp- Pin) và thứ 14 trên thế giới. Dự báo số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sẽ tăng từ 21,1 triệu người năm 2000 lên 25,5 triệu vào năm 2010. Việt Nam lại là một nước có cơ cấu dân số trẻ, do vậy có thể nói tiềm năng sinh đẻ còn rất lớn. Trong nhiều năm tới, cho dù mức sinh tiếp tục giảm song dân số tiếp tục tăng mỗi năm khoảng từ 1 đến 1,1 triệu người. Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia có mật độ dân số cao trong khu vực và trên thế giới. Hai là, mức sinh ở một số nơi vẫn còn ở mức cao và sự chênh lệch về mức sinh giữa các vùng còn khá lớn, có khi lên tới từ 1,1 đến 1,9 lần. Việc giảm sinh diễn ra chưa
  14. đồng đều. Từ năm 2000 mức sinh giảm sinh đã chững lại và không đạt chỉ tiêu quốc hội giao là giảm tỷ lệ sinh là 5%o mỗi năm. Kết quả thực hiện chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình giảm sút. Trong những năm 2003 và 2004 tỷ lệ sinh con thứ 3 tăng mạnh trở lại. Đặc biệt năm 2003, sự tăng đột biến của việc sinh con thứ 3 đã kéo theo tỷ lệ phát triển dân số từ 1,32% vào năm 2002 lên 1,47% năm 2003 [20, tr 211- 213]. Ba là, một thời gian dài chúng ta đã quá chú trọng tới mục tiêu giảm sinh mà chưa thực sự quan tâm tới chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống. Chính sách dân số còn thể hiện sự mất cân đối. Chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống chưa đáp ứng được yêu cầu về nguồn nhân lực có chất lượng cao cho thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Các tố chất về thể lực của con người Việt Nam như chiều cao, cân nặng và sức bền còn hạn chế. Bốn là, bộ máy quản lý dân số ra đời muộn, chưa ổn định, trình độ của đội ngũ quản lý, triển khai chương trình còn hạn chế, điều này thể hiện cả về trình độ khoa hoa học cơ bản, hiểu biết pháp luật cũng nh ư trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Thực tế đã có không ít những nơi tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể và ngay cả những cán bộ chuyên trách đã hết sức lúng túng trước những vấn đề cụ thể và thực tiễn đặt ra, ví dụ như việc xử lý vấn đề sinh con thứ 3 trong thời gian qua. Điều này cũng phần nào cho thấy về năng lực dự báo, lập kế hoạch và xử lý tình huống của đội ngũ cán bộ còn yếu. Việc lồng ghép các yếu tố dân số vào quá trình hoạch định chính sách, lập kế hoạch chưa đáp ứng được những yêu cầu của tình hình mới. Không ít người dân vẫn thể hiện sự “ thờ ơ”, thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện chính sách dân số. Tóm lại, nâng cao hiệu quả công tác dân số, phấn đấu vì mục tiêu giảm sinh mà trước hết là hạn chế tình trạng sinh con thứ 3 hiện nay là một yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài. Việc thực hiện tốt chính sách dân số sẽ đem lại lợi ích to lớn đối với sự phát triển kinh tế- xã hội và tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện con người. Mặt khác, nếu chính sách dân số đúng đắn, phù hợp với tâm tư nguyện vọng của nhân dân, đảm bảo sự kết hợp và tác động cùng chiều cũng như khai thác được những yếu tố truyền thống, tâm lý xã hội tích cực thì hoàn toàn có thể thu được những kết quả mong đợi.
  15. 1.2. Tâm lý xã hội và vai trò của tâm lý xã hội đối với việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta hiện nay 1.2.1. Tâm lý xã hội trong đời sống tinh thần xã hội Đời sống của con người được chia thành nhiều lĩnh vực hoạt động. Hoạt động tinh thần của đời sống xã hội là một trong những lĩnh vực hoạt động cơ bản. Trong đời sống tinh thần của con người thì tâm lý xã hội lại có một vị trí hết sức quan trọng. ý thức xã hội bao gồm những tư tưởng, quan điểm, lý luận cùng những tình cảm, tâm trạng, truyền thống của một cộng đồng người phản ánh tồn tại xã hội của họ [21, tr.165]. ý thức xã hội là một bộ phận thuộc đời sống tinh thần của xã hội, phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định theo những cách thức khác nhau và biểu hiện bằng những hình thái ý thức xã hội cụ thể như: ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo…Trong đó ý thức xã hội không chỉ được tồn tại dưới dạng lý luận và quan điểm xã hội mà còn tồn tại như là những trạng thái của tình cảm, xúc cảm, thói quen, tập quán …Căn cứ góc độ xem xét và với những tiêu chí khác nhau người ta có thể có những cách phân chia ý thức xã hội thành những cấp độ khác nhau. Thông thường, căn cứ vào trình độ phản ánh người ta phân chia kết cấu ý thức xã hội bao gồm ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận. ở trình độ ý thức xã hội thông thường, tâm lý xã hội là bộ phận chủ yếu, còn trong ý thức lý luận bộ phận chủ yếu đó là hệ tư tưởng. Triết học Mác- Lênin khẳng định: Tâm lý xã hội bao gồm những tình cảm, tâm trạng, ý thích, mong muốn, cả những tập quán, truyền thống.v.v. được hình thành một cách tự phát dưới ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện sinh sống hàng ngày [21, tr.167]. Là một phương thức tồn tại của ý thức xã hội, tâm lý xã hội không tồn tại độc lập như một thành phần trong kết cấu của ý thức xã hội. Nó có mặt trong tất cả các hình thái của ý thức xã hội: ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức thẩm mĩ … Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng đều là sự phản ánh tồn tại xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội. Tuy vậy, về cơ bản thì tâm lý xã hội thuộc cấp độ thấp của ý
  16. thức xã hội. Tâm lý xã hội là một bộ phận của ý thức xã hội thông th ường nhưng nó lại có vị trí rất quan trọng. Nếu coi tâm lý xã hội là cấp độ thấp của ý thức xã hội để rồi coi nhẹ tâm lý xã hội là hết sức sai lầm. Giữa tâm lý xã hội và hệ tư tưởng, giữa tình cảm và lý trí, giữa tri thức và nhiệt tình cách mạng luôn có sự thống nhất và sự tác động qua lại lẫn nhau. Trong nhiều trường hợp sức mạnh của tư tưởng chỉ trở thành sức mạnh hiện thực khi nó kết hợp với yếu tố tâm lý và có sức mạnh lâu bền khi nó đi vào tập quán. Bản thân tư tưởng không có thể tạo ra những bước ngoặt của lịch sử nếu như không có hoạt động của con người với ngọn lửa của lòng nhiệt tình cách mạng. Tình cảm, xúc cảm thúc đẩy con người hoạt động, giúp con người vượt qua những khó khăn. Thành công của bất kỳ hoạt động nào của con người phụ thuộc rất nhiều vào thái độ của con người đối với hoạt động đó. Nếu cuộc sống của chúng ta thiếu đi những tình cảm, xúc cảm, lòng nhiệt tình và quyết tâm của mỗi con người thì có lẽ trước đây, hiện nay và cả mai sau sẽ không có và cũng không thể có sự tìm kiếm của con người về chân lý. Nhưng nếu chúng ta thiếu sự hiểu biết khoa học về nó, cường điệu hóa vai trò của tâm lý xã hội thì cũng dễ dẫn đến những hậu quả tai hại. Phản ánh những điều kiện sinh hoạt vật chất của con người một cách trực tiếp, vì vậy, biểu hiện của tâm lý xã hội trong đời sống xã hội rất phong phú đa dạng, phức tạp. Nhìn chung thì tâm lý xã hội mang nhiều dấu ấn chủ quan như tâm trạng, xúc cảm. ở tâm lý xã hội yếu tố trí tuệ còn đan xen với yếu tố tình cảm. Mặt khác, tâm lý xã hội thường có tính phổ biến, mang tính “ lây lan” nhanh, dễ thâm nhập vào quần chúng. Cũng phải thấy rằng, tâm lý xã hội bên cạnh những ưu điểm còn có những hạn chế nhất định. Thực tế cho thấy, tâm lý xã hội thường có tính bảo thủ rất lớn, nhất là khi nó đã ăn sâu vào đầu óc con người và trở thành thói quen, tập quán…Nó thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội, tức là nó có thể tồn tại lâu hơn khi những cơ sở kinh tế- xã hội nảy sinh ra nó đã biến đổi hoặc không còn nữa. Hơn nữa, tâm lý xã hội thường mới chỉ dừng lại ở sự phản ánh bề ngoài của tồn tại xã hội, do vậy chưa sâu sắc và ít nhiều mang tính cảm tính. Tâm lý xã hội khó có khả năng vạch ra đầy đủ, rõ ràng những mối liên hệ bản chất của tồn tại xã hội. Đồng thời nó còn mang nặng tính kinh nghiệm và hạn chế về tính sáng tạo. Mặt khác, tâm lý xã hội thường ăn sâu vào đầu óc con người nên
  17. những yếu tố bảo thủ, lạc hậu lại có “ khả năng” trở thành lực cản “ ghê gớm” đối với sự phát triển kinh tế- xã hội. ở các xã hội có giai cấp, tâm lý xã hội cũng mang tính giai cấp. Mỗi giai cấp có những điều kiện sinh hoạt vật chất khác nhau mà hình thành nên những nét tâm lý khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Các học giả của giai cấp thống trị thường phủ nhận tính giai cấp của ý thức xã hội nói chung và tâm lý xã hội nói riêng. Trái lại, triết học Mác- Lênin một mặt khẳng định tính phổ biến của tâm lý xã hội nhưng mặt khác cũng không phủ nhận tính giai cấp của nó. Triết học Mác- Lênin còn khẳng định những tầng sâu của tâm lý xã hội trong từng giai cấp. C.Mác và Ph. ăngghen viết: “ Giai cấp nào chi phối những tư liệu sản xuất vật chất thì cũng chi phối luôn cả những tư liệu sản xuất tinh thần, thành thử nói chung tư tưởng của những người không có tư liệu sản xuất vật chất cũng đồng thời bị giai cấp thống trị đó chi phối [29, tr.66]. Tâm lý xã hội không chỉ mang tính giai cấp mà tâm lý xã hội còn bao gồm những đặc điểm tâm lý dân tộc. Tâm lý dân tộc là những đặc điểm về tình cảm, ý chí, tập quán, tính tình, thị hiếu…, được hình thành do ảnh hưởng của những điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và cả những điều kiện tự nhiên trong quá trình phát triển lâu dài của một dân tộc. Những đặc điểm tâm lý dân tộc ăn sâu vào tâm tư, tình cảm của các tầng lớp nhân dân lao động và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và trở thành phong tục tập quán nên những đặc điểm của tâm lý dân tộc thường tương đối ổn định. Tất nhiên, những thay đổi có tính bước ngoặt trong điều kiện lịch sử, trong sinh hoạt chính trị, xã hội của một dân tộc cũng có thể dẫn tới những thay đổi nhất định trong tâm lý xã hội của dân tộc đó. Trong xã hội có giai cấp, tâm lý dân tộc và tâm lý giai cấp có mối lên hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và tạo ra cuộc đấu tranh tư tưởng rất phức tạp. Cũng như toàn bộ ý thức của giai cấp thống trị, những đặc điểm tâm lý xã hội của giai cấp thống trị chi phối cả tâm lý dân tộc và tâm lý xã hội của các giai cấp khác. Hơn nữa, tâm lý của các giai cấp trong xã hội không tồn tại một cách cô lập mà trong mối quan hệ với nhau. Đề cập về ảnh hưởng của tâm lý của các giai cấp trong lịch sử đối với tâm lý của giai cấp công nhân, V.I. Lênin viết:
  18. Họ (tức những người sản xuất nhỏ) bao quanh giai cấp vô sản từ mọi phía bằng một bầu không khí tiểu tư sản, làm cho giai cấp vô sản bị tiêm nhiễm, bị hủ hóa, luôn làm cho giai cấp vô sản tái phạm những tính xấu cố hữu của giai cấp tiểu tư sản như: tính nhu nhược, tản mạn, chủ nghĩa cá nhân [25, tr.46]. Trong chủ nghĩa xã hội, tâm lý dân tộc và tâm lý giai cấp có sự thống nhất với nhau, nó xuất phát từ sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp chứ hoàn toàn không xuất phát từ một mong muốn chủ quan nào. ở đó luôn diễn ra đồng thời quá trình: khai thác, phát triển những yếu tố tích cực của tâm lý dân tộc và đấu tranh để xóa bỏ những tàn dư tâm lý lạc hậu, phản động của các giai cấp thống trị bóc lột cũng như của những người sản xuất nhỏ đã và đang là những lực cản đối với sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Tâm lý xã hội cũng có mối quan hệ chặt chẽ với tâm lý cá nhân. Tâm lý cá nhân là sự phản ánh những điều kiện sinh hoạt vật chất của các cá nhân ở những mức độ khác nhau. Tâm lý cá nhân là toàn bộ thế giới chủ quan của một cá nhân phản ánh thế giới khách quan (chủ yếu là quan hệ xã hội) thông qua điều kiện sống, hoạt động và thể nghiệm của bản thân. Nó là sự thống nhất giữa thế giới khách quan và thế giới chủ quan, là sự thống nhất giữa cái chung, cái đặc thù và cái rêng trong một cá nhân [48, tr.142]. Tâm lý cá nhân thể hiện thế giới tinh thần của những con người riêng biệt, cụ thể. Tuy nhiên tâm lý cá nhân không thể không mang tính xã hội, bởi vì cái cá nhân chỉ tồn tại và biểu hiện sự tồn tại của mình trong xã hội hay là trong mối quan hệ với những cá nhân khác. Triết học Mác- Lênin khẳng định: “Xã hội … là sản phẩm của sự tác động lẫn nhau giữa người với người” và “Lịch sử xã hội của người ta bao giờ cũng chỉ là lịch sử phát triển cá nhân của họ” [35, tr.788- 789]. Sự hình thành hệ thống cấu trúc tâm lý trọn vẹn trong mỗi cá nhân làm cho mỗi cá nhân có nhân cách riêng, có sức mạnh riêng trong nhận thức và cải tạo thế giới hiện thực. Tâm lý cá nhân chịu ảnh hưởng trực tiếp của tâm lý xã hội. Tất nhiên, nói như vậy không có nghĩa là tâm lý xã hội và tâm lý cá nhân không có sự khác biệt. Tâm lý cá
  19. nhân không phải bao giờ cũng thể hiện đầy đủ quan điểm, tư tưởng, tình cảm phổ biến của một cộng đồng, một tập đoàn xã hội, một thời đại xã hội. Mặt khác, tâm lý xã hội không phải là tồn tại chung chung, trừu tượng mà tâm lý xã hội bao giờ cũng tồn tại trong tâm lý cá nhân, thông qua tâm lý cá nhân. Sự thâm nhập của tâm lý xã hội trong tâm lý cá nhân sẽ quyết định tính phổ biến cũng như vai trò của tâm lý xã hội trong đời sống xã hội. Sự tác động của tâm lý xã hội đối với tồn tại xã hội là sự tác động thông qua tâm lý cá nhân, trên cơ sở đó hình thành những tình cảm, ước muốn, thói quen và định hướng và điều chỉnh hành vi của con người. Nếu quá nhấn mạnh điều kiện sinh sống cụ thể của mỗi cá nhân, thổi phồng những nét riêng biệt thì không thể hiểu được bản chất đời sống tinh thần của cá nhân, dẫn đến mơ hồ, lệch lạc trong việc đánh giá nhận thức và hoạt động của cá nhân. Ngược lại, nếu chỉ chú ý tới mặt xã hội mà coi nhẹ đặc điểm tâm lý riêng biệt của từng cá nhân thì cũng dẫn đến chủ quan, giản đơn trong việc xem xét tâm lý cá nhân, do đó sẽ không thể giải thích được một thực tế là cùng sống trong một điều kiện sinh hoạt vật chất nhất định nhưng những tình cảm, suy nghĩ và hành động của con người lại có thể khác nhau. Mối quan hệ này được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. 1.2.2. Những xu hướng biến đổi cơ bản của tâm lý xã hội và vai trò của nó trong việc thực hiện chính sách dân số 1.2.2.1. Những xu hướng biến đổi của tâm lý xã hội Trong giai đoạn hiện nay, những biểu hiện và những xu hướng biến đổi của tâm lý xã hội ở Việt Nam là rất phức tạp, nhiều chiều. Xu hướng thứ nhất mang tính chủ đạo là quá trình hình thành những yếu tố tâm lý xã hội mới. Đây là xu hướng tất yếu của sự phát triển. Sự ra đời của tâm lý xã hội mới trên cơ sở đó là sự chuyển biến của những tâm lý xã hội cũ sang tâm lý xã hội mới đồng thời nó còn là sự phản ánh những điều kiện sinh hoạt vật chất đang nảy sinh và phát triển. Sự hình thành những tâm lý xã hội mới này góp phần to lớn vào quá trình nâng cao đời sống tinh thần của con người, tạo điều kiện cho việc phát huy tính năng động tự chủ, thúc đẩy tính tự giác của mỗi cá nhân, từ đó đẩy xã hội phát triển.
  20. Chuyển biến mạnh mẽ trong lĩnh vực tâm lý xã hội ở nước ta hiện nay là kết quả trực tiếp của những thay đổi về nhu cầu và các quan hệ lợi ích. Những thành tựu kinh tế xã hội của hơn 20 năm đổi mới một mặt đã tạo điều kiện đáp ứng ngày càng tốt hơn những nhu cầu thiết yếu của con người, mặt khắc nó cũng làm nảy sinh ra những nhu cầu mới. Đồng thời, những quan hệ lợi ích trong xã hội cũng có những thay đổi đáng kể, trong đó lợi ích cá nhân ngày càng được quan tâm. Do tác động của các yếu tố kinh tế- xã hội và văn hóa, trình độ dân trí và trình độ nhận thức của con người được nâng cao, người dân có điều kiện để lựa chọn những giá trị mới phù hợp để tạo sự tương đồng với nhau hình thành một hệ giá trị chuẩn mực tiến bộ. Trong ph ương thức thừa nhận và lựa chọn hệ giá trị chuẩn mực, yếu tố lý trí sẽ không ngừng tăng lên so với yếu tố tình cảm, điều này làm cho hệ giá trị mới mang tính thực tế hơn. Lối sống mới đã và đang làm biến đổi những quan niệm về đạo đức, tình cảm và hành vi ứng xử giữa các cá nhân, tác phong công nghiệp đang dần thay thế cho lối sống tùy tiện, lạc hậu, trì trệ. Dưới tác động của hệ thống quản lý mới và sự hoàn chỉnh của hệ thống pháp luật, ý thức pháp luật của người dân được hình thành đầy đủ hơn, chính vì vậy mà vai trò và tác động (nhất là tác động tiêu cực) của tâm lý truyền thống cũng giảm bớt. Xu hướng thứ hai là sự tồn tại dai dẳng của những tâm lý xã hội bảo thủ, lạc hậu đã và đang là những lực cản to lớn đối với sự phát triển kinh tế- xã hội. Nảy sinh trên cơ sở một nền nông nghiệp lạc hậu, trì trệ, sản xuất nhỏ và manh mún, tâm lý xã hội của con người Việt Nam chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của tâm lý xã hội truyền thống với những đặc trưng bảo thủ, trì trệ, khép kín… Có thể nói, do những đặc điểm lịch sử và dân tộc, chế độ quốc hữu hóa ruộng đất và sự tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn đã làm cho sự phát triển của xã hội Việt Nam nói chung có tính chất “ tiệm tiến” mà không có những bước tiến mang tính nhảy vọt. Trong lịch sử phát triển ấy, sự phân biệt của các phương thức sản xuất không biểu hiện một cách rõ rệt. Sự kết hợp giữa thủ công nghiệp với nông nghiệp trong khuôn khổ công xã nông thôn làm cho nó có “ khả năng” cung cấp những sản phẩm tiêu dùng thiết yếu của con người trong khuôn khổ của “ văn minh nông nghiệp”. Cơ cấu kinh tế giản đơn, tự cung tự cấp đã tạo ra cho công xã nông thôn một sức sống tương đối ổn định và lâu dài.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2