intTypePromotion=1

Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học: Đổi mới việc ra đề Văn ở trường trung học phổ thông từ góc độ đổi mới kiểm tra đánh giá

Chia sẻ: Lavie Lavie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:174

0
52
lượt xem
13
download

Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học: Đổi mới việc ra đề Văn ở trường trung học phổ thông từ góc độ đổi mới kiểm tra đánh giá

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Dưới đây là luận văn Thạc sĩ Giáo dục học: Đổi mới việc ra đề Văn ở trường trung học phổ thông từ góc độ đổi mới kiểm tra đánh giá. Mời các bạn tham khảo luận văn để nắm bắt được những nội dung về cơ sở khoa học của việc đổi mới cách ra đề kiểm tra môn Ngữ văn; đổi mới việc ra đề kiểm tra môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông; thực nghiệm sư phạm.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học: Đổi mới việc ra đề Văn ở trường trung học phổ thông từ góc độ đổi mới kiểm tra đánh giá

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Linh Phương ĐỔI MỚI VIỆC RA ĐỀ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỪ GÓC ĐỘ ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC Thành phố Hồ Chí Minh – 2012
  2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH Nguyễn Linh Phương ĐỔI MỚI VIỆC RA ĐỀ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỪ GÓC ĐỘ ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học môn Văn Mã số: 60 14 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN THANH BÌNH Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
  3. 1 LỜI CÁM ƠN Để hoàn thành chương trình cao học và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, góp ý chân thành và sự giúp đỡ từ quý thầy cô trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh. Trước hết tôi xin gửi lời cám ơn đến Ban giám hiệu trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, khoa Ngữ văn, Phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện để tôi thực hiện luận văn trong thời gian cho phép. Tôi cũng xin cám ơn các đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình tiến hành thực nghiệm cho luận văn. Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến thầy hướng dẫn là TS. Trần Thanh Bình đã nhiệt tình hỗ trợ về mặt tài liệu và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn. Dù đã cố gắng thực hiện và hoàn thành luận văn bằng tất cả năng lực và tâm huyết của mình nhưng luận văn sẽ không thể tránh khỏi những mặt thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp chân thành của quý thầy cô và các bạn. TP. Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 09 năm 2012. Nguyễn Linh Phương
  4. 2 MỤC LỤC LỜI CÁM ƠN ................................................................................................... 1 MỤC LỤC ......................................................................................................... 2 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ............................................................... 5 DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................ 6 PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................... 8 1. Lí do chọn đề tài ..................................................................................... 8 2. Lịch sử vấn đề ......................................................................................... 9 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu........................................................ 13 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................ 13 5. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................... 14 6. Đóng góp của luận văn ......................................................................... 14 7. Cấu trúc của luận văn............................................................................ 15 PHẦN NỘI DUNG ......................................................................................... 16 Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐỔI MỚI CÁCH RA ĐỀ KIỂM TRA MÔN NGỮ VĂN........................................................................ 16 1.1. Cơ sở lí luận ....................................................................................... 16 1.1.1. Kiểm tra đánh giá chất lượng giáo dục ..................................... 16 1.1.1.1. Khái niệm....................................................................... 16 1.1.1.2. Vai trò của đề kiểm tra trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh .................................................................................. 19 1.1.2. Đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng giáo dục ....................... 22 1.1.2.1. Quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện trong giáo dục .. 22
  5. 3 1.1.2.2. Đổi mới phương pháp dạy học ...................................... 24 1.1.2.3. Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh ................................................................................................................... 26 1.1.3. Đổi mới cách ra đề kiểm tra môn Ngữ văn............................... 28 1.1.3.1. Đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn ............... 28 1.1.3.2. Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn ................................................................................................................... 30 1.2. Cơ sở thực tiễn ................................................................................... 35 1.2.1. Thực trạng việc ra đề kiểm tra môn Ngữ văn hiện nay ............ 35 1.2.2. Thực trạng đổi mới việc ra đề kiểm tra môn Ngữ văn hiện nay ................................................................................................................... 43 Chương 2 ĐỔI MỚI VIỆC RA ĐỀ KIỂM TRA MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG........................................................ 54 2.1. Mục đích đổi mới việc ra đề kiểm tra môn Ngữ văn ......................... 54 2.2. Yêu cầu cơ bản của đổi mới việc ra đề kiểm tra môn Ngữ văn......... 56 2.2.1. Phù hợp với đổi mới kiểm tra đánh giá hiện nay ...................... 56 2.2.2. Bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học .............................. 58 2.2.3. Đảm bảo tính chính xác ............................................................ 61 2.2.4. Đảm bảo tính tích hợp............................................................... 65 2.2.5. Đảm bảo tính thực hành ............................................................ 68 2.2.6. Đảm bảo tính hệ thống, toàn diện ............................................. 70 2.3. Một số mô hình xây dựng đề kiểm tra môn Ngữ văn theo góc độ đổi mới ............................................................................................................ 74
  6. 4 2.3.1. Xây dựng đề kiểm tra thường xuyên ........................................ 74 2.3.2. Xây dựng đề kiểm tra định kì ................................................... 79 2.3.3. Xây dựng đề kiểm tra học sinh giỏi .......................................... 82 2.3.4. Mô hình đề thi tốt nghiệp, đề tuyển sinh .................................. 84 Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ....................................................... 89 3.1. Mục đích thực nghiệm ....................................................................... 89 3.2. Thời gian và quá trình thực nghiệm................................................... 89 3.3. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm .................................................... 90 3.4. Nội dung thực nghiệm ....................................................................... 91 3.4.1. Hệ thống đề kiểm tra thực nghiệm............................................ 91 3.4.1.1. Đề kiểm tra thường xuyên ............................................. 91 3.4.1.2. Đề kiểm tra định kì ........................................................ 91 3.4.1.3. Đề thi học kì ................................................................... 92 3.4.2. Quy trình xây dựng một số đề kiểm tra .................................... 93 3.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm ......................................................... 106 3.5.1. Kết quả thực nghiệm ............................................................... 106 3.5.2. Nhận xét kết quả thực nghiệm ................................................ 112 3.5.3. Một số kết luận và kiến nghị ................................................... 115 KẾT LUẬN ................................................................................................... 118 TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 120 PHỤ LỤC
  7. 5 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Từ, cụm từ Viết tắt Giáo viên GV Học sinh HS Kiểm tra đánh giá KTĐG Nhà xuất bản Nxb Nghị luận xã hội NLXH Nghị luận văn học NLVH Phương pháp dạy học PPDH Sách giáo khoa SGK Trung học cơ sở THCS Trung học phổ thông THPT
  8. 6 DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1. Thống kê kết quả khảo sát loại đề kiểm tra HS thích được làm Bảng 1.2. Thống kê kết quả khảo sát ý kiến HS về những vấn đề xung quanh việc ra đề Bảng 1.3. Thống kê kết quả khảo sát mức độ điểm HS đạt được đối với từng loại đề kiểm tra Bảng 1.4. Thống kê kết quả khảo sát các cơ sở GV lấy làm căn cứ để ra đề Bảng 1.5. Thống kê kết quả khảo sát ý kiến GV về những vấn đề xung quanh việc ra đề Bảng 1.6. Thống kê kết quả khảo sát mức độ cần thiết của đổi mới KTĐG Bảng 1.7. Thống kê kết quả khảo sát những hướng đổi mới KTĐG của GV hiện nay Bảng 1.8. Thống kê kết quả khảo sát hướng đổi mới kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn của GV ở trường phổ thông Bảng 1.9. Thống kê kết quả khảo sát mục đích đổi mới KTĐG của GV Bảng 1.10. Thống kê kết quả khảo sát hiệu quả việc đổi mới KTĐG của GV Bảng 1.11. Thống kê kết quả khảo sát những khó khăn mà GV gặp phải khi đổi mới KTĐG Bảng 1.12. Thống kê kết quả khảo sát mức độ quan tâm của GV đối với những khía cạnh của đề thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn Bảng 1.13. Thống kê kết quả khảo sát mức độ quan tâm của HS đối với những khía cạnh của đề thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn
  9. 7 Bảng 1.14. Thống kê kết quả khảo sát phần đề thi tốt nghiệp THPT môn Ngữ văn gây thích thú cho HS Bảng 3.1. Thống kê kết quả thực nghiệm khảo sát GV về mức độ đạt được các yêu cầu cơ bản cần đảm bảo khi ra đề của bộ đề thực nghiệm Bảng 3.2. Thống kê kết quả thực nghiệm khảo sát GV về mức độ đạt được của bộ đề thực nghiệm về một số mặt cơ bản cần đảm bảo của một đề kiểm tra Bảng 3.3. Thống kê kết quả thực nghiệm khảo sát GV về các yêu cầu cơ bản cần đảm bảo khi ra đề thể hiện trong Quy trình xây dựng một số đề kiểm tra cụ thể Bảng 3.4. Thống kê kết quả thực nghiệm khảo sát HS về độ khó, độ mở, độ hấp dẫn của bộ đề thực nghiệm
  10. 8 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Dạy học là một quá trình gồm nhiều khâu liên hợp, có quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau như: mục tiêu, nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức dạy học, KTĐG,…Trong đó, “đánh giá việc học tập của học sinh là một khâu vừa đóng vai trò bánh lái, vừa giữ vai trò động lực của dạy học, kiểm tra, đánh giá có tác động đến việc canh tân trong đào tạo” [11]. Khâu KTĐG không những phân loại chất lượng giảng dạy và học tập mà còn có chức năng phát hiện, điều chỉnh giúp ta điều khiển quá trình dạy học theo chiều hướng lành mạnh, tích cực: GV điều chỉnh phương pháp dạy, HS điều chỉnh phương pháp học tập. KTĐG là khâu cuối cùng của quá trình dạy học, đồng thời là cơ sở để mở ra một quá trình dạy học mới. Chính vì vậy, khâu kiểm tra đánh giá có một vị trí và tầm quan trọng đặc biệt đối với toàn bộ quá trình dạy học. Điều 29 mục 1 Luật Giáo dục 2005 có ghi: “Chương trình giáo dục phổ thông thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông; quy định chuẩn kiến thức, kĩ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông” [1]. Như vậy, đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là một quá trình đổi mới từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện đến KTĐG. Đổi mới PPDH để đáp ứng những yêu cầu mới của mục tiêu dạy học nên kiểm tra, đánh giá cũng cần có sự chuyển biến mạnh mẽ theo hướng bám sát vào mục tiêu dạy học; xác định được vai trò, vị trí của người học, đáp ứng yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn mà nền giáo dục đặt ra. Trong nhà trường phổ thông, môn Ngữ văn cũng như bất kì một môn học khác theo tiến trình thời gian được xác định rõ hơn về mục tiêu, đổi mới về nội dung chương trình, cải tiến về phương pháp…. Đổi mới khâu KTĐG là kết quả tất yếu của quá trình đổi mới dạy và học văn, phù hợp với xu hướng đổi mới toàn diện chương trình giáo dục phổ thông. KTĐG càng sâu sát, càng khách quan thì kết quả thu được càng chính xác. KTĐG sẽ là một “cái kích” góp phần nâng cao chất lượng
  11. 9 và hiệu quả giáo dục của nước nhà, giúp các nhà quản lý giáo dục đánh giá đúng những mục tiêu đã đặt ra. Trong KTĐG, công việc ra đề là công đoạn quan trọng nhất bởi nó định hướng, chi phối toàn bộ các công đoạn KTĐG sau nó nữa. Theo GS. Phan Trọng Luận: “Đề thi là một khâu đột phá có thể giải quyết được nhiều vấn đề trọng đại của nền giáo dục”. “Đề thi là thước đo trình độ văn minh của một nền giáo dục - đề thi là lực nắn cách dạy, cách học…Ra đề thi sáng tạo thì tự nhiên đã diệt trừ tận gốc mọi trò phao thi, mọi lò luyện thi. Trong nhà trường sẽ học sáng tạo, dạy thông minh. Thực học sẽ được phục hưng, hư học sẽ được đẩy lùi” [41]. Hơn nữa, “đổi mới cách ra đề là con đường ngắn nhất dẫn đến đổi mới phương pháp dạy học, cách tiếp cận văn chương” [15]. Thời gian gần đây, vấn đề đổi mới cách ra đề thi môn Ngữ văn đang là vấn đề bức xúc, được tranh luận sôi nổi đặc biệt xoay quanh việc ra đề “mở”, về hình thức, nội dung, cấu trúc của đề, việc cải tiến qui trình ra đề, soạn đáp án, chấm bài, trả bài kiểm tra thế nào cho hợp lí nhưng vẫn chưa ngã ngũ. Đây thực sự là một vấn đề nan giải cần có sự chung tay góp sức của nhiều người. Từ những luận điểm trên, người viết xây dựng đề tài Đổi mới việc ra đề Văn ở trường trung học phổ thông từ góc độ đổi mới kiểm tra đánh giá với mong muốn góp một cái nhìn sáng rõ hơn về việc đổi mới cách ra đề môn Ngữ văn ở trường THPT; từ đó thực hiện ra đề theo tinh thần đổi mới ứng dụng vào thực tiễn giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả quá trình dạy học môn Ngữ văn ở trường phổ thông. 2. Lịch sử vấn đề Từ lâu trong lịch sử giáo dục, người ta đã sử dụng thi và kiểm tra để đánh giá kết quả học tập của người học, đồng thời nhận thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa thi, kiểm tra với chất lượng dạy học. Ở Việt Nam, trong sự phát triển của nền giáo dục, KTĐG là một bộ phận cấu thành của quá trình dạy học. Nó ra đời, tồn tại cùng với sự đi lên của hoạt động dạy học. Cho đến nay, vấn đề này đã có nhiều công trình nghiên cứu; trên các sách báo tạp chí về giáo dục đã xuất hiện nhiều bài viết, ý kiến
  12. 10 tranh luận, bàn luận xung quanh vấn đề đổi mới KTĐG sao cho phù hợp với tình hình dạy học mới một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Tuy nhiên, có thể khẳng định vấn đề Đổi mới việc ra đề Văn ở trường THPT từ góc độ đổi mới kiểm tra đánh giá thì vẫn chưa có một công trình nào đề cập đến một cách hoàn chỉnh, hệ thống. Các tài liệu nghiên cứu về KTĐG kết quả học tập của HS và đổi mới việc ra đề có khá nhiều nhưng có thể phân làm hai loại: các công trình nghiên cứu chung và các ý kiến cụ thể của cá nhân trên các báo, tạp chí khoa học. Các công trình nghiên cứu về KTĐG kết quả học tập của HS theo thời gian ngày càng mang tính khái quát lí luận cao. Những người có đóng góp vào lĩnh vực nghiên cứu này phải kể đến nhóm tác giả Hà Thế Ngữ [48], Hoàng Đức Nhuận - Lê Đức Phúc [51], Trần Thị Tuyết Oanh [52], Lâm Quang Thiệp [60], Dương Thiệu Tống [68], Phạm Viết Vương [76],… Trong những tài liệu trên, những vấn đề về khái niệm, vị trí, vai trò, chức năng của KTĐG, các hình thức đánh giá đã được xây dựng. Đây là định hướng tốt về phương diện lí luận, là cơ sở triển khai những nội dung cụ thể về đánh giá trong các môn học. Một số tài liệu nghiên cứu khác như Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa [23], Bước đầu đổi mới kiểm tra kết quả học tập các môn của học sinh lớp 6 [36], Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn trung học phổ thông [61], Hệ thống đề kiểm tra nhằm đánh giá năng lực ngữ văn của học sinh trung học cơ sở theo yêu cầu tích hợp [72], Kiểm tra đánh giá để phát huy tính tích cực của HS bậc trung học [73] trình bày cơ sở kiểm tra, đánh giá kiến thức học tập của HS phù hợp với PPDH tích cực trong thời đổi mới, cần thiết phải có sự thay đổi toàn diện về KTĐG môn Ngữ văn trong nhà trường. Trong các công trình này, các tác giả nêu lên các nguyên tắc và cụ thể hóa định hướng đổi mới PPDH Ngữ văn như đổi mới nội dung, phương pháp, đổi mới KTĐG, đổi mới cách ra đề theo yêu cầu tích hợp,… Các công trình Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn 10 [10], Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ Văn của học sinh THCS, THPT [24] chỉ ra sự cần thiết phải đổi mới việc ra đề văn ở THPT
  13. 11 là một khi mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp…thay đổi thì không thể không thay đổi cách KTĐG. Và để thay đổi cách KTĐG, việc đầu tiên là phải thay đổi cách ra đề kiểm tra, nhất là ra đề phải bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học. Hai công trình này nêu rõ phương hướng đổi mới việc ra đề văn ở THPT là từ những đổi mới về PPDH, đổi mới khâu KTĐG, đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình; đồng thời đề xuất hướng đổi mới cách ra đề văn cả về nội dung, cấu trúc, hình thức cũng như giới hạn dung lượng bài viết. Các tác giả này cũng như giáo sư Đỗ Ngọc Thống [61] đều nhất trí dạng đề văn trong nhà trường phổ thông hiện nay là rất đa dạng. Việc ra đề dạng nào phụ thuộc vào mục đích của từng bài kiểm tra, vào đối tượng HS. Ngoài các công trình trên, còn có một số bài báo bàn về đổi mới KTĐG, đổi mới thi cử. Chúng ta có thể kể đến các bài viết của Lê Trọng Đại [14], Phan Đình Đông [16], Phạm Thị Trinh Mai [43], Lê Đức Ngọc [45], Phúc Nguyên [47], … Các tác giả này yêu cầu cần phải xây dựng được bộ đề có nội dung phù hợp với mục tiêu môn học, phù hợp với thời gian và phương pháp kiểm tra, kĩ thuật trình bày rõ ràng không làm cho HS hiểu sai dẫn tới lạc đề. Tác giả Phan Đình Đông [16] còn nêu ý kiến để đổi mới công tác đánh giá kết quả học tập ở trường phổ thông thì nhất định nhà trường phải xây dựng một ngân hàng đề thi và đáp án. Đề thi phải tuân thủ những tiêu chí: đảm bảo mục tiêu dạy học, bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng; phải có tính chất mở; đa dạng hóa công cụ đánh giá, phối hợp một cách nhịp nhàng giữa các hình thức kiểm tra vấn đáp, trắc nghiệm, tự luận. Như vậy, đổi mới cách ra đề đòi hỏi phải có sự thích ứng của những khâu liên quan. Bên cạnh đó, bài viết của tác giả Nguyễn Duy Kha [35] góp phần làm rõ nguyên nhân chủ yếu làm hạn chế chất lượng KTĐG môn Ngữ văn ở trường phổ thông không chỉ ở khâu ra đề mà còn ở khâu liên quan với nó, cụ thể là công tác chấm bài chưa tốt; chuẩn và thang đáp án chưa rõ ràng. Năm 2006, sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo tiến hành triển khai đổi mới từ nội dung chương trình, SGK, phương pháp, phương tiện dạy học đến đánh giá kết quả học tập ở tất cả các môn học, Bộ chủ trương áp dụng các hình thức trắc nghiệm
  14. 12 khách quan vào việc kiểm tra một số nội dung môn học một cách hợp lí. Tuy nhiên, trong thực tế dạy học, một số môn học mang tính đặc thù (như môn Ngữ văn) thì việc ứng dụng cơ sở lí thuyết chung vào thực tiễn lại còn rất nhiều điều đáng bàn. Những năm đầu thực hiện thi trắc nghiệm ở một số môn, vấn đề hình thức đề kiểm tra gây nhiều tranh cãi: Ra đề tự luận hay đề trắc nghiệm? Cách kết hợp giữa chúng ra sao? Hiệu quả thực tế đem lại là gì? Cao Đăng Chuyên [12], Trương Văn Hà [19], Nguyễn Xuân Huỳnh [32], Hoàng Phương [53], Hoàng Thu [66], Nguyễn Cảnh Toàn [67],… cho rằng thi trắc nghiệm là cách thức tiên tiến nhưng chưa hoàn hảo, còn nhiều tiêu cực. Trái lại, Dương Đức Sáu trong bài viết của mình [56] chứng minh thi trắc nghiệm là một biện pháp thực hiện “hai không” trong giáo dục… Cùng nhìn nhận về hình thức đề kiểm tra, các tác giả Nguyễn Thị Bích [3], Trần Hinh [22], Nguyễn Thế Hưng [33], Nguyễn Thị Lan Hương [34], Đặng Thị Mây [44] quan niệm đổi mới cách ra đề tự luận, qui trình ra đề nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS khi làm bài sẽ là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn ở trường phổ thông,…Các tác giả Hùng Phi Chường [13], Trần Đình Sử [57], Đỗ Ngọc Thống [64] tỏ ra tâm huyết với đề văn mở trong quá trình nghiên cứu đổi mới công tác ra đề bởi đề mở là một hướng tiến bộ trong dạy học làm văn, có tác dụng “thử tài tư duy sáng tạo, khả năng ứng phó linh hoạt của HS” [57, 21]. Trong tham luận Hội thảo về Đổi mới ra đề kiểm tra, đề thi môn Ngữ văn THPT, tác giả Ngô Trí Đương [17] đã góp thêm tiếng nói khẳng định đổi mới ra đề thi môn Ngữ văn THPT là một việc làm phức tạp, khó khăn, công phu. Tóm lại, các công trình nghiên cứu và bài viết về KTĐG, liên quan về đổi mới cách ra đề xuất hiện nhiều nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu cả về lí luận và thực tiễn về đổi mới cách ra đề môn Ngữ văn từ góc độ đổi mới KTĐG. Các kết quả nghiên cứu chủ yếu mới nêu lên các vấn đề cần giải quyết, biện pháp thực hiện chưa nhiều, mức độ ứng dụng trong thực tế cụ thể vẫn chưa thể hiện rõ. Việc nghiên cứu và đề xuất một hệ thống đề kiểm tra môn Ngữ văn theo tinh thần đổi mới KTĐG môn học là một vấn đề cần được tìm hiểu và triển khai cụ thể,
  15. 13 từ lí luận đến thực tiễn và thực nghiệm khoa học. Điều này cũng phản ánh tính cấp thiết của đề tài mà luận văn lựa chọn. Do vậy, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi sẽ kế thừa những kết quả đã đạt được, đồng thời tiếp tục bổ sung, phát triển về mặt lí luận và xây dựng biện pháp, những hướng đi cụ thể hơn. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu: Luận văn hướng tới việc chỉ ra những căn cứ khoa học của việc KTĐG từ khâu ra đề trên cơ sở kết hợp liên hoàn với các khâu khác, đề xuất cách thức tiến hành xây dựng đề kiểm tra, giúp GV có những định hướng cần thiết cho việc ra đề trong quá trình dạy học, giúp HS tiếp cận với hình thức đánh giá mới để chuẩn bị cho việc đổi mới toàn diện trong công cuộc đổi mới, nâng cao chất lượng học tập môn Ngữ văn trong thời gian sắp tới. 3.2. Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn cần giải quyết một số nhiệm vụ chủ yếu sau đây: 3.2.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn về đổi mới việc ra đề môn Ngữ văn từ góc độ đổi mới KTĐG trong nhà trường phổ thông hiện nay. 3.2.2. Xây dựng yêu cầu, mô hình của hệ thống đề kiểm tra Ngữ văn trong tình hình mới. 3.2.3. Triển khai thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của những đề xuất về hệ thống đề kiểm tra môn Ngữ văn, trên cơ sở kết quả thực nghiệm sẽ tiến hành phân tích, đánh giá để có những kiến nghị và giải pháp cụ thể cho những bước nghiên cứu tiếp theo. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Vấn đề KTĐG trong môn học Ngữ văn không còn là vấn đề mới mẻ trong nghiên cứu lí thuyết nhưng thực tế triển khai ở nước ta hiện nay vẫn còn nhiều bất cập. Luận văn không tham vọng giải quyết tất cả vấn đề về KTĐG mà chỉ bước đầu xác định vị trí, vai trò của việc ra đề trong quá trình KTĐG môn Ngữ văn, hiện thực hóa một phần những định hướng về việc ra đề từ góc độ đổi mới khâu KTĐG. Từ
  16. 14 đó xây dựng mô hình của hệ thống đề kiểm tra đặc thù của bộ môn đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong dạy và học ở trường THPT hiện nay. 5. Phương pháp nghiên cứu Để đạt được mục đích và thực hiện được những nhiệm vụ mà luận văn đặt ra, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính sau đây: 5.1. Phương pháp hồi cố tư liệu: nhằm phân tích, tổng hợp, khái quát các quan điểm, luận điểm khoa học trong các tài liệu có liên quan đến đề tài. 5.2. Phương pháp điều tra khảo sát Để có cái nhìn tổng thể về việc ra đề kiểm tra môn Ngữ văn theo tinh thần đổi mới của môn học nhất là ra đề phải căn cứ trên góc độ đổi mới khâu KTĐG, người viết tiến hành điều tra, khảo sát GV và HS ở trường phổ thông. Trên cơ sở những dữ liệu có được, tác giả luận văn sẽ sử dụng tiếp theo các phương pháp như phân loại, thống kê, xử lí và đưa ra nhận xét. 5.3. Phương pháp thực nghiệm Muốn khẳng định giá trị và khả năng thực thi của một công trình nghiên cứu, cần phải đưa những nghiên cứu đó vào thực tiễn để kiểm chứng hiệu quả. Do đó, trong luận văn này, việc thực nghiệm là không thể thiếu. Chúng tôi tiến hành thực nghiệm bằng cách phát phiếu trưng cầu ý kiến của GV và HS về hệ thống đề kiểm tra đã được đề xuất trong luận văn và phân tích kết quả theo những tiêu chí đã được xác định, qua đó chứng minh, khẳng định những đề xuất mà luận văn đưa ra không chỉ có cơ sở khoa học mà còn có giá trị thực tiễn. 6. Đóng góp của luận văn Luận văn bước đầu nêu lên những cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ra đề kiểm tra môn Ngữ văn ở trường THPT trong tình hình mới. Từ đó đề xuất, hình thành những yêu cầu, tiêu chí xây dựng các đề kiểm tra có chất lượng đáp ứng nhu cầu đổi
  17. 15 mới việc đánh giá môn học, phát huy vai trò của nó trong quá trình dạy học Ngữ văn ở trường THPT. 7. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm ba chương: Chương 1: Chương 1 làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của việc đổi mới cách ra đề kiểm tra môn Ngữ văn. Chương 2: Trên cơ sở làm rõ cơ sở khoa học ở chương 1, người viết đưa ra các yêu cầu có tính nguyên tắc khi xây dựng hệ thống đề kiểm tra Ngữ văn từ góc độ đổi mới KTĐG. Chương này đi vào trọng tâm xây dựng mô hình đề kiểm tra trên cơ sở những yêu cầu cơ bản nhất của việc đổi mới công tác ra đề. Chương 3: Chương này mô tả quá trình thực nghiệm để từ đó đánh giá tính khả thi của các mô hình đề kiểm tra mà người viết đề xuất.
  18. 16 PHẦN NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐỔI MỚI CÁCH RA ĐỀ KIỂM TRA MÔN NGỮ VĂN 1.1. Cơ sở lí luận 1.1.1. Kiểm tra đánh giá chất lượng giáo dục 1.1.1.1. Khái niệm Kiểm tra là một phần của quá trình dạy học. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, kiểm tra nghĩa là “xem xét thực chất, thực tế” [77, 937]. Theo Từ điển Giáo dục học, “kiểm tra là một bộ phận của hoạt động dạy học nhằm nắm được thông tin về trạng thái và kết quả học tập của học sinh, về những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm ra các biện pháp khắc phục những lỗ hổng đồng thời củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy học” [21, 224]. Một số nhà nghiên cứu cho rằng kiểm tra là thuật ngữ chỉ cách thức hoặc hoạt động mà GV sử dụng để thu thập thông tin về biểu hiện kiến thức, kĩ năng và thái độ học tập của HS trong học tập nhằm cung cấp dữ kiện làm cơ sở cho việc đánh giá. Kiểm tra được hiểu theo nghĩa rộng như là theo dõi quá trình học tập và cũng có thể hiểu theo nghĩa hẹp như là công cụ kiểm tra hoặc một bài kiểm tra trong các kì thi. Như vậy, có thể hiểu kiểm tra là theo dõi, sự tác động của người kiểm tra đối với người học nhằm thu được những thông tin cần thiết cho việc đánh giá. Kiểm tra có ba chức năng bộ phận liên kết, thống nhất, thâm nhập vào nhau và bổ sung cho nhau đó là: đánh giá, phát hiện lệch lạc và điều chỉnh. Đánh giá là “nhận xét, bình phẩm về giá trị” [77, 589], là khả năng xác định giá trị thông tin, xác định mức độ đạt được về thực hiện mục tiêu. Đánh giá là một
  19. 17 trong những nhiệm vụ quan trọng của hệ thống giáo dục. “Đánh giá trong giáo dục là quá trình thu thập và lí giải kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lượng và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo” [51, 11]. Đánh giá thường ở giai đoạn cuối cùng của một giai đoạn giáo dục và sẽ trở thành khởi điểm của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn trong cả một quá trình giáo dục. * Mối quan hệ giữa kiểm tra, đánh giá: Kiểm tra, đánh giá là những yếu tố phức tạp của quá trình dạy học, được thực hiện thông qua hoạt động của thầy - trò nhằm đánh giá kết quả học tập của HS và tạo động lực cho quá trình dạy học mới. Kiểm tra, đánh giá có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, là hai khâu trong một qui trình thống nhất xác định kết quả thực hiện mục tiêu. Việc kiểm tra cung cấp những dữ kiện, những thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá. Kiểm tra được xem là phương tiện và hình thức quan trọng nhất của đánh giá. Như vậy, nếu coi đánh giá là mục đích của một hoạt động thì kiểm tra là phương tiện quan trọng để thực hiện mục đích đó. Thông qua khâu kiểm tra, GV có thể nắm bắt cụ thể, chính xác năng lực học tập của mỗi HS qua việc giải quyết các vấn đề đưa ra trong quá trình học tập, giai đoạn học tập. Và nhờ đánh giá, GV sẽ phát hiện ra những mặt tốt lẫn chưa tốt trong trình độ đạt tới của HS, trên cơ sở đó tìm hiểu kĩ nguyên nhân của những lệch lạc về phía người dạy cũng như người học hoặc có thể từ khách quan. Phát hiện ra lệch lạc, tìm ra nguyên nhân của những lệch lạc đó là rất quan trọng vì sự thành đạt trong kết quả là điều đã dự kiến trong mục tiêu, còn những lệch lạc thường bị bỏ qua, mà nếu sửa chữa, loại trừ chúng thì chất lượng sẽ tốt hơn. Quá trình kiểm tra cho phép làm rõ các đặc trưng về số lượng và chất lượng của thực trạng giáo dục. Kiểm tra và đánh giá là hai hoạt động đan xen nhằm miêu tả và tập hợp những bằng chứng về kết quả của quá trình giáo dục nhằm đối chiếu với mục tiêu. Kiểm tra luôn gắn với đánh giá vì kiểm tra mà không đánh giá dẫn
  20. 18 đến hiệu quả thu được không chính xác. Đánh giá mà không dựa vào số liệu của kiểm tra thì dễ mang tính ngẫu nhiên, chủ quan, dễ dẫn đến chất lượng giáo dục không thật. Trong thực tế, cũng có thể tiến hành thu thập các thông tin nhưng không đánh giá. Tuy nhiên, để đánh giá được cần tiến hành kiểm tra, tức phải tiến hành thu thập thông tin làm căn cứ cho đánh giá. Trong giáo dục, KTĐG chất lượng giáo dục là việc làm cần thiết, nhằm xác định mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn của đối tượng được đánh giá nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Đây là hoạt động đánh giá các đối tượng của giáo dục về mức độ đáp ứng các quy định về chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục đối với từng đối tượng do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Đối tượng được đánh giá trong giáo dục phổ thông chủ yếu là chương trình, cơ sở giáo dục, cán bộ quản lí, GV, HS,… Để đánh giá chất lượng giáo dục, chất lượng dạy học thì đánh giá kết quả học tập của HS là một nguồn thông tin quan trọng. Đây là quá trình đo lường mức độ đạt được của HS về các mục tiêu và nhiệm vụ của quá trình dạy học. Để KTĐG hoạt động học tập của HS đạt hiệu quả, nhà giáo dục cần đảm bảo các yêu cầu sư phạm như: tôn trọng tính khách quan, tính toàn diện, tính thường xuyên và hệ thống, tính phát triển. Tính khách quan trong việc kiểm tra thể hiện ở khả năng lĩnh hội nội dung tri thức trong các tài liệu học tập, mặt khác còn thể hiện ở chuẩn đánh giá đúng đắn, rõ ràng, tinh thần chấm bài công tâm của GV. Tương tự, việc đảm bảo tính toàn diện được xem xét trên hai mặt, một mặt là khả năng bao quát lượng tri thức, kĩ năng, thái độ trong từng môn học, mặt khác, chú trọng đến năng lực của trí tuệ, năng lực tư duy, sự sáng tạo của HS khi làm bài. Thêm nữa, cần đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống vì qui luật của trí nhớ được tái hiện một cách liên tục. Cuối cùng, khi KTĐG cần xem xét toàn diện cả quá trình học tập, rèn luyện của HS. Trên những cơ sở này, GV sẽ có những điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn, từng bước nâng cao chất lượng dạy - học của thầy và trò.
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2