intTypePromotion=3

Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học: Văn hoá tâm linh trong văn xuôi trung đại

Chia sẻ: Lavie Lavie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:155

0
50
lượt xem
13
download

Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học: Văn hoá tâm linh trong văn xuôi trung đại

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học: Văn hoá tâm linh trong văn xuôi trung đại đưa ra một số vấn đề khái quát; những biểu hiện văn hoá tâm linh trong văn xuôi trung đại; hiệu quả thẩm mĩ của yếu tố tâm linh trong văn xuôi trung đại.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học: Văn hoá tâm linh trong văn xuôi trung đại

  1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH ________ Hoàng Thị Minh Phương VĂN HOÁ TÂM LINH TRONG VĂN XUÔI TRUNG ĐẠI Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 60.22.34 LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ THU YẾN Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2007
  2. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1. Lĩnh Nam chích quái LNCQ 2. Việt điện u linh VĐUL 3. Nam ông mộng lục NOML 4. Thánh Tông di thảo TTDT 5. Truyền kỳ mạn lục TKML 6. Việt điện u linh tục bổ VĐUL tục bổ 7. Công dư tiệp ký CDTK 8. Sơn cư tạp thuật SCTT 9. Vũ trung tuỳ bút VTTB 10. Thượng kinh kí sự TKKS 11. Tang thương ngẫu lục TTNL 12. Lan Trì kiến văn lục LTKVL 13. Hát đông thư dị HĐTD 14. Truyền kỳ tân phả TKTP 15. Vân nang tiểu sử VNTS 16. Nam triều công nghiệp diễn chí NTCNDC 17. Hoàng Lê nhất thống chí HLNTC
  3. DẪN NHẬP 1. Lí do chọn đề tài Đối với mỗi quốc gia dân tộc, cái quan trọng nhất, cao quí nhất là giá trị văn hoá. Văn học là một biểu hiện của văn hóa, sản phẩm của văn hoá. Là một dạng văn hoá tinh thần, văn học chính là nơi lưu giữ giá trị văn hoá tinh thần cho mọi thế hệ. Từ văn học hiểu thêm về văn hoá. Đứng ở góc độ văn hoá nhìn sang văn học, văn hoá đựơc nhìn nhận một cách tinh tế hơn, còn văn học có một nền tảng vững chắc để tồn tại và phát triển, văn học được hiểu thấu đáo sâu sắc hơn. Hơn đâu hết, thế giới tinh thần vô cùng phong phú của người Việt Nam, trong đó có thế giới tâm linh thể hiện rõ nét trong văn học, từ văn học dân gian đến văn học viết. Văn học Việt Nam thời trung đại một mặt kế thừa các giá trị tinh thần thiêng liêng trong văn học dân gian, mặt khác phản ánh tòan diện thế giới ấy của con người Việt Nam trong suốt mười thế kỉ tồn tại xã hội phong kiến. Trong văn học thời kì này, thông qua tài năng nghệ thuật và vốn văn hoá truyền thống sâu rộng của các tác giả ta phần nào hiểu được niềm tin thiêng liêng, tín ngưỡng truyền thống, phong tục tập quán, phương thức tư duy và những quan niệm phổ biến của nhân dân – những điểm cốt lõi tạo nên giá trị văn hoá tinh thần đặc sắc của văn hoá dân tộc – văn hoá tâm linh. Nằm trong quá trình phát triển liên tục nhưng khác với các thời kì văn học khác, văn học trung đại Việt Nam mang những đặc trưng và qui luật riêng. Đó là một thời kì văn học thuộc thời đại văn hoá riêng- văn hoá trung đại với mô hình thế giới, với hệ thống giá trị, với phương thức cảm nhận, tư duy khác. Văn xuôi trung đại không nằm ngoài qui luật ấy. Thật cần thiết phải tiếp cận văn xuôi trung đại xuất phát từ ý thức phân biệt loại hình này. Điều đó có ý nghĩa thiết thực cho việc tìm hiểu, đánh giá, giải thích một số tác phẩm văn xuôi tiêu biểu, khẳng định giá trị riêng của các tác phẩm, góp phần giữ gìn bản sắc thẩm mỹ, nghệ thuật của một thời đại văn học. Đó là lí do chúng tôi chọn đề tài luân văn: “Văn hoá tâm linh trong văn xuôi trung đại”. 2. Mục đích nghiên cứu Thuộc vào một giai đoạn phát triển đặc biệt của lịch sử dân tộc, đối với con người thời trung đại, bên cạnh đời sống hiện thực, thế giới hiện thực với nhiều mối quan hệ, họ còn có một đời sống tâm linh phong phú, một thế giới tâm linh với các thế lực huyền bí, những điều kì lạ siêu nhiên do chính con người tưởng tượng ra, mà họ tin rằng nó đang tồn tại, hiện
  4. hữu chi phối cuộc sống. Trong nhận thức, cách cảm nhận thế giới của họ, hai thế giới ấy có mối liên thông “thiên nhân tương dữ” hay “thiên nhân tương cảm”. Trên cơ sở đó luận văn đi sâu tìm hiểu thế giới tâm linh- thế giới thứ hai trong “mô hình hai thế giới” trong văn học trung đại qua các tác phẩm văn xuôi được khảo sát. Điều đó giúp ta hiểu rõ hơn chiều sâu tâm hồn con người thời trung đại – địa hạt hợp pháp của văn chương muôn đời. Theo hướng nghiên cứu trên, luận văn cố gắng đi hệ thống hoá những biểu hiện của thế giới tâm linh để có cái nhìn hệ thống, toàn diện về những yếu tố ấy trong cách cảm nhận về thế giới và con người ở một thời kì lịch sử. Sự hình thành và phát triển của nền văn xuôi trung đại gắn liền với nền văn hoá dân gian lâu đời, bám rễ trong truyền thống văn hoá dân tộc, đồng thời như là sự phản chiếu tư duy nghệ thuật của nền văn học sản sinh ra nó. Do đó, luận văn đi vào phân tích và bước đầu có những kiến giải phù hợp về nhiều yếu tố tâm linh thường bị cho là “thần bí”, “duy tâm” hay “mê tín dị đoan”. Đành rằng sự hạn chế trong nhận thức thế giới đã sản sinh ra tín ngưỡng, song cần có cái nhìn lịch sử về các hiện tượng văn học ấy trong tương quan với thời đại văn hoá nó ra đời. Với đề tài này, chúng tôi hi vọng đóng góp một phần nhỏ vào khoa học nghiên cứu văn học Việt Nam, mảng văn học trung đại, lĩnh vực văn xuôi. 3. Lịch sử vấn đề Trong nhiều năm gần đây, các vấn đề văn hoá, văn hoá tâm linh, mối quan hệ giữa văn hoá và văn học thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu văn hoá, văn học nước nhà. Văn hoá là cội nguồn của văn học và “văn học nghệ thuật có nhiệm vụ và có tác dụng to lớn trong việc sáng tạo nên những giá trị văn hoá cao quí ấy” (Phạm Văn Đồng). Giá trị văn hóa, tính văn hoá luôn là một thước đo giá trị của tác phẩm văn học. Xung quanh đề tài luận văn “Văn hoá tâm linh trong văn xuôi trung đại”, trong phạm vi tư liệu sưu tầm được, chúng tôi điểm qua một số công trình, bài báo khoa học sau: 3.1. Nói riêng về văn hoá tâm linh, trong nhiều công trình nghiên cứu về văn hoá, các tác giả đều có đề cập các vấn đề liên quan đến văn hoá tâm linh. Tuy nhiên sự đề cập mới chỉ dừng lại ở nêu hiện tượng, nhìn nhận khái quát. Đầu tiên phải kể đến công trình “Văn hoá tâm linh” của tác giả Nguyễn Đăng Duy [17]. Công trình giới hạn những vấn đề về văn hóa tâm linh người Việt ở miền Bắc trong các lĩnh vực: tín ngưỡng thần thánh trời đất, thờ mẫu, tang ma, thờ cúng tổ tiên, các tôn giáo Phật, Đạo, Thiên chúa giáo. Tác giả điểm qua tâm linh trong mọi mặt đời sống: cá nhân, gia
  5. đình, tín ngưỡng tôn giáo, mê tín dị đoan...Vấn đề tâm linh trong văn học nghệ thuật có được nhắc đến với nét nghĩa là chiều sâu tâm hồn nhưng chỉ với cái nhìn sơ giản chung cho mọi loại hình nghệ thuật: “Tâm linh trong sáng tác văn học nghệ thuật là những hình ảnh, biểu tượng thiêng liêng nào đó mà tác giả thể hiện được ra trong tác phẩm, làm rung động những trái tim, ngấn lệ những tâm hồn”[17;tr38]. Gần với công trình trên là chuyên luận “Tìm hiểu văn hoá tâm linh Nam Bộ” [42]. Tác giả Nguyễn Hữu Hiếu tập trung bàn về văn hoá tâm linh của người Việt ở Nam Bộ qua tín ngưỡng thờ Mẫu và các lễ hội cổ truyền từ ảnh hưởng văn hoá Chăm. 3.2. Về mối quan hệ giữa văn hoá và văn học, từ văn học hiểu thêm về văn hoá, một số nhà nghiên cứu cũng đã ít nhiều bàn đến. GS Lê Trí Viễn trong bài “Từ văn học Việt Nam thử nghĩ về văn hoá Việt Nam” [126] đã chỉ ra điểm cốt lõi trong mối quan hệ này: “Từ văn học nhìn vào văn hoá đều thấy thấm nhuần hai tình cảm lớn là vì nước vì dân vì con người, hai tư tưởng lớn: yêu nước và nhân văn, nhân đạo làm cốt lõi cho bản lĩnh dân tộc”[126;tr180]. Phần tâm linh trong văn hoá Việt Nam được ông nhắc đến ở phương diện thờ cúng tổ tiên, các vị anh hùng dân tôc, thành hoàng làng với ý nghĩa là đạo lí biết ơn kèm theo tín ngưỡng. Tâm linh trong văn hoá Việt Nam cũng được nhà văn Sơn Nam bàn đến trong bài viết “Nói thêm về tâm linh trong liên hệ với văn hoá Việt Nam” [80]. Theo nhà văn, tâm linh tồn tại trong mọi mặt đời sống từ xưa tới nay, từ trong truyền thuyết, các bài văn tế, các tác phẩm văn học, trong tục thờ cúng tổ tiên, cúng cô hồn cho tới những ca khúc về Tổ Quốc và cả những hành động, việc làm, nghĩa cử cao đẹp của những con người bình thường trong cuộc sống. Tâm linh ở đây chính là niềm tin của con người đọng lại trong trí nhớ và con người luôn tâm niệm, thành kính về điều mình tin, mình làm. “Trí nhớ không phải đứng dừng một chỗ, lâu ngày phát triển thêm rồi tồn đọng trở thành tâm linh” [80; tr130]. 3.3. Đáng chú ý là hướng nghiên cứu văn học trung đại dưới góc nhìn văn hoá. Trong cuốn “Văn học trung đại Việt Nam dưới góc nhìn văn hoá” [112], nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn đã đề xuất phương pháp nghiên cứu văn học trung đại gắn liền với “mô hình hai thế giới” - một đặc trưng của văn hoá trung đại. Trong quan niệm của người thời cổ trung đại luôn luôn tồn tại hai thế giới, “một thế giới hiện thực với những quan hệ xã hội và thiên nhiên có thể nhận thức được bằng kinh nghiệm” và “một thế giới tâm linh do chính con người tưởng tượng ra theo một nguyên lí nào đó”. Theo đó, một đặc điểm cơ bản của văn hoá phương Đông là xem xét con người và thế giới trong mối quan hệ chặt chẽ không tách rời, xem Thiên đạo (đạo trời) và Nhân đạo (đạo người) như một thể thống nhất. Góc nhìn văn hoá
  6. này được tác giả nghiên cứu qua hai trường hợp Truyện Kiều (Nguyễn Du) và Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi) với những lí giải, phân tích sáng rõ, lôgic. Với Truyện Kiều gần như ông đã “hoá giải” được chỗ mà lâu nay người ta cho là hạn chế tư tưởng của Nguyễn Du như duy tâm, thần bí, nặng tư tưởng Thiên mệnh, nghiệp báo luân hồi... 3.4. Tâm linh trong văn học trung đại cũng được tác giả Thanh Tâm Langlet quan tâm qua bài “Tâm linh và thơ ca Việt Nam giai đoạn cổ trung đại” [58]. Ở đây tác giả chủ yếu dõi theo yếu tố tâm linh trong đời sống tôn giáo ở dòng thơ thiền Lí-Trần qua sáng tác của các Thiền sư thuộc các thiền phái Nam Phương, Thảo Đường, Trúc Lâm. Bên cạnh đó là tâm linh trong thơ của một số nhà thơ ở khía cạnh bộc lộ đời sống nội tâm (Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan…) Dành nhiều tâm huyết cho hướng tiếp cận thơ trung đại từ nền văn hoá truyền thống, PGS.TS Lê Thu Yến đưa ra cái nhìn bao quát, hệ thống những yếu tố tâm linh trong thơ Nguyễn Du với bài “ Thế giới tâm linh trong sáng tác Nguyễn Du - một biểu hiện của văn hoá Việt” [129]. Bằng những con số thống kê cụ thể, chính xác những biểu hiện truyền thống văn hoá tinh thần dân tộc, tác giả đã khẳng định một giá trị văn hoá truyền thống trong sáng tác của nhà thơ lớn Nguyễn Du - thế giới tâm linh: “Thế giới này biểu hiện rõ rệt trong sáng tác Nguyễn Du làm cho người đọc không thể không nhận ra. Một Văn Chiêu Hồn thấm đẫm màu sắc của thế giới bên kia, một Truyện Kiều bàng bạc không gian của cõi âm và nhất là thơ chữ Hán nhan nhản bày ra những đình, đền, miếu, mộ...” [129; tr29]. Đây chính là một gợi ý trực tiếp cho chúng tôi chọn đề tài luận văn này. Riêng ở bộ phận văn xuôi trung đại, PGS.TS Nguyễn Đăng Na đã có cái nhìn khái quát, hệ thống về tiến trình phát triển của văn xuôi tự sự nói chung và các thể loại truyện ngắn, kí, tiểu thuyết chương hồi qua bài “Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại- những bước đi lịch sử” [77] cùng với các bài giới thiệu trong các cuốn tuyển soạn [74],[75],[76]. Sau khi khái quát đặc điểm, thành tựu văn xuôi trung đại qua ba giai đoạn, tác giả đưa ra nhận xét khái quát: “Cùng với các loại hình văn học khác, văn xuôi tự sự đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử mà thời đại giao phó: phản ánh tâm linh của người Việt Nam thời trung đại” [77; tr38]. Như vậy, cho đến nay, nghiên cứu văn hoá tâm linh, tâm linh trong văn học, nhất là thơ ca trung đại đã được một số nhà nghiên cứu bàn đến ở những phạm vi mức độ khác nhau. Nhìn chung các nghiên cứu đều khẳng định có tồn tại một thế giới tâm linh trong đời sống con người Việt Nam từ xưa tới nay trên nhiều phương diện, đặc biệt là trong văn học
  7. trung đại. Tuy nhiên, trong lĩnh vực văn xuôi trung đại hiện vẫn chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, qui mô nào. Từ những gợi ý quí báu của người đi trước, chúng tôi mạnh dạn đi vào tìm hiểu, tiếp cận văn xuôi trung đại Việt Nam ở góc độ văn hoá tâm linh- yếu tố cơ bản tạo nên giá trị đặc sắc cho bộ phận văn học này. 4. Phạm vi nghiên cứu 4.1. Ở đề tài này, do điều kiện tư liệu, chúng tôi chưa thể khảo sát toàn bộ sáng tác văn xuôi trung đại mà chỉ giới hạn ở những tác phẩm quen thuộc có xuất hiện nhiều yếu tố tâm linh, bao gồm: 1. Lĩnh Nam chích quái (Vũ Quỳnh – Kiều Phú) 2. Việt điện u linh (Lý Tế Xuyên ) 3. Nam ông mộng lục (Hồ Nguyên Trừng) 4. Thánh Tông di thảo (Lê Thánh Tông) 5. Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ) 6. Việt điện u linh tục bổ (Nguyễn Văn Chất) 7. Công dư tiệp ký (Vũ Phương Đề) 8. Sơn cư tạp thuật (Đan Sơn) 9. Vũ trung tuỳ bút (Phạm Đình Hổ) 10. Thượng kinh kí sự (Lê Hữu Trác) 11. Tang thương ngẫu lục (PhạmĐình Hổ-Nguyễn Án) 12. Lan Trì kiến văn lục (Vũ Trinh) 13. Hát đông thư dị (Nguyễn Thượng Hiền) 14. Truyền kỳ tân phả (Đoàn Thị Điểm) 15. Thính văn dị lục (Khuyết danh) 16. Nam thiên trân dị tập (Khuyết danh) 17. Thoái thực kí văn (Trương Quốc Dụng) 18. Vân nang tiểu sử (Phạm Đình Dục) 19. Tân đính Việt điện u linh tập (Gia Cát) 20. Việt Nam kì phùng sự lục (Khuyết danh) 21. Nam triều công nghiệp diễn chí (Nguyễn Khoa Chiêm) 22. Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái) Bên cạnh đó, để cho luận văn thêm phong phú và phục vụ việc phân tích, so sánh, chúng tôi mở rộng liên hệ đến một số tác phẩm khác: Thiên đô chiếu (Lý Công Uẩn), Đại
  8. Việt sử kí toàn thư (Ngô Sĩ Liên), Lam Sơn thực lục và Dư điạ chí (Nguyễn Trãi), Truyện Kiều (Nguyễn Du), Tục công dư tiệp kí (Trần Trợ), Kiến văn tiểu lục (Lê Quí Đôn), Thiền uyển tập anh, Tam tổ thực lục và một vài tác phẩm khuyết danh khác. 4.2. Vấn đề văn bản và tác giả của nhiều tác phẩm văn xuôi trung đại khá phức tạp và hiện còn nhiều ý kiến khác nhau. Vì vậy chúng tôi xin không bàn đến. Chúng tôi khảo sát các tác phẩm dựa theo các văn bản hiện hành của các tác giả theo quan niệm phổ biến. 4.3. Trên cơ sở thống kê, phân loại các hiện tượng tâm linh trong các tác phẩm, lấy điểm tựa là văn hoá truyền thống dân tộc (phong tục tập quán, tín ngưỡng…), bước đầu chúng tôi đi giải thích một số hiện tượng tâm linh nổi bật, qua đó thấy được ý nghĩa của chúng đối với tác phẩm. 5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn chúng tôi không loại trừ phương pháp luận nghiên cứu văn học nào, song với đối tượng nghiên cứu của mình, chúng tôi sử dụng chủ yếu một số phương pháp nghiên cứu sau: 5.1. Phương pháp lịch sử cụ thể Tác phẩm văn học là sản phẩm của một hoàn cảnh lịch sử cụ thể trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc. Vì vậy phương pháp hướng đến việc tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử xã hội, môi trường văn hoá tư tưởng chung của thời đại, mối tương tác của chúng với các tác giả, sự ra đời của các tác phẩm để lí giải các yếu tố văn hoá trong văn học một thời đại. 5.2. Phương pháp hệ thống Chúng tôi coi văn xuôi trung đại là một cấu trúc, một hệ thống nhỏ trong hệ thống nền văn học trung đại bao gồm nhiều đơn vị tác phẩm và từng tác phẩm cụ thể để có cái nhìn bao quát, đồng thời xem xét chúng trong tương quan với văn học dân gian và văn học cận hiện đại. Phương pháp giúp ta có cái nhìn hệ thống trong quá trình nghiên cứu. Từ đó sắp xếp các yếu tố, phân tích, lí giải mối liên hệ giữa chúng để thấy tính chỉnh thể của một câú trúc văn hoá trong văn học. 5.3. Phương pháp phân loại thống kê Phương pháp giúp ta tổng hợp thống kê, phân loại tần số xuất hiện của các yếu tố tâm linh trong từng tác phẩm và đơn vị tác phẩm để thấy mức độ ảnh hưởng của nền văn hoá truyền thống đối với sáng tác của các tác giả và cả thời đại văn học, cũng như hiệu quả của chúng trong việc thể hiện nội dung tư tưởng và nghệ thuật. 5.4. Phương pháp so sánh
  9. Vấn đề nghiên cứu văn học trung đại nói chung hiện còn nhiều cách hiểu, lí giải khác nhau. Phương pháp so sánh giúp người đọc thấy được điểm giống và khác nhau giữa các yếu tố tâm linh trong từng đơn vị tác phẩm của các tác giả thuộc các giai đoạn lịch sử khác nhau. Từ đó khẳng định giá trị đích thực của yếu tố văn hoá này trong văn xuôi trung đại nói riêng và văn học trung đại nói chung. Qua đó thấy được đóng góp của các tác giả vào tiến trình phát triển nền văn xuôi trung đại. 6. Đóng góp của luận văn Luận văn tập trung tìm hiểu sự ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá truyền thống dân tộc đối với một bộ phận văn xuôi trung đại, từ đó góp một cách lí giải tương thích một số vấn đề trong văn học thời kì này. Đồng thời khẳng định và làm sáng tỏ giá trị đặc sắc của nó do yếu tố văn hoá tâm linh mang lại. 7. Cấu trúc của luận văn Chương 1: Khái quát 1.1. Khái niệm 1.2. Cơ sở hình thành yếu tố tâm linh trong văn hoá Việt Nam 1.3. Cơ sở hình thành yếu tố tâm linh trong văn học trung đại Chương 2: Những biểu hiện văn hoá tâm linh trong văn xuôi trung đại 2.1. Những biểu hiện 2.2. Nhận xét Chương 3: Hiệu quả thẩm mĩ của yếu tố tâm linh trong văn xuôi trung đại 3.1. Phản ánh hiện thực và thể hiện tư tưởng 3.2. Hiệu quả nghệ thuật 3.3. Yếu tố tâm linh trong văn xuôi hiện đại
  10. NỘI DUNG Chương 1: KHÁI QUÁT 1.1 Khái niệm 1.1.1. Văn hoá tâm linh 1.1.1.1. Văn hoá Văn hoá (dịch từ Culture) là một vấn đề rất rộng, khó có định nghĩa nào bao quát đầy đủ nội hàm của nó. Văn hoá bao hàm hết thảy các sinh hoạt của loài người, từ sinh hoạt vật chất đến sinh hoạt tinh thần, sinh hoạt xã hội. Mọi hoạt động của con người và sản phẩm - kết quả của những hoạt động ấy do con người có ý thức tác động vào tự nhiên và xã hội mà có đều thuộc về văn hoá. Quá trình phát triển của loài người gắn liền với các hoạt động cải biến hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội. Con người sáng tạo ra văn hoá và văn hoá lại tái tạo bản thân con người. Nhìn một cách khái quát nhất, “văn hoá là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” [91;tr1100]; “văn hoá gồm tất cả những sáng tạo kiến thiết của loài người ở trong xã hội, tất cả những cái gì không là không phải tự nhiên, là phi tự nhiên” [2]; Văn học là một hình thái đặc biệt của văn hoá, thuộc về hệ ý thức, lĩnh vực văn hoá tinh thần. Với đối tượng nghiên cứu là một phương diện của văn hoá tinh thần – văn hoá tâm linh trong văn học, chúng tôi lưu ý đến một số định nghĩa sau: Theo Bách Khoa Toàn Thư Pháp, “Văn hoá theo nghĩa rộng là tập tục, tín ngưỡng, ngôn ngữ, tư tưởng, thị hiếu thẩm mỹ,… những hiểu biết kỹ thuật cũng như toàn bộ việc tổ chức môi trường của con người, những công cụ, nhà ở,… và nói chung là toàn bộ công nghiệp có thể truyền lại được, điều tiết những quan hệ và những ứng xử của một nhóm xã hội với môi trường sinh thái của nó”. Nhà dân tộc học người Anh, E.B.Tylor định nghĩa: “Văn hoá là một chỉnh thể phức hợp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập tục và bất kì năng lực thói quen nào khác mà con người cần có với tư cách là một thành viên của xã hội” [121]. Nhân dịp phát động thập kỷ thế giới phát triển văn hoá (1988-1997), tổ chức văn hoá thế giới UNESCO công bố định nghĩa mới về văn hoá: “Văn hoá là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội. Nó không thuần
  11. tuý bó hẹp trong sáng tác nghệ thuật mà bao gồm cả phương thức sống, những quyền con người cơ bản, truyền thống tín ngưỡng”. Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu văn hoá theo hai nghĩa rộng-hẹp. Nghĩa rộng, văn hoá bao gồm các giá trị vật chất (văn hoá vật chất) và giá trị tinh thần (văn hoá tinh thần) do con người sáng tạo ra và tích luỹ qua hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử. Nghĩa hẹp, văn hoá chỉ liên quan đến đời sống tinh thần của con người, tức những giá trị tinh thần nhằm thoả mãn nhu yếu tinh thần trước hết của con người. Với đối tượng nghiên cứu của luận văn là văn hoá tâm linh, chúng tôi hiểu và vận dụng khái niệm văn hoá theo nghĩa hẹp là những giá trị văn hoá trong lĩnh vực tinh thần-văn hoá tinh thần. Đó là “những di sản văn hoá đem lại nguồn cảm hứng thẩm mĩ cho con người bằng những hoạt động của các loại hình nghệ thuật. Cụ thể là văn, thơ, hát… nghề mĩ nghệ thủ công, trò chơi nghệ thuật…Cùng với các loại hình trên là phong tục, tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng, tết, lễ, luật tục và những hương ước, định ước và tri thức dân gian” [9]. Ở đây, có thể xem các thành tố phong tục, tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng thuộc về văn hoá tâm linh bởi chúng đều gắn với yếu tố tâm linh - vấn đề cơ bản trong đời sống văn hoá tinh thần dân tộc. 1.1.1.2. Tâm linh Trong xu thế phát triển không ngừng của xã hội ngày nay, khi mà những nhu yếu vật chất ngày càng được đáp ứng đầy đủ, thoả mãn, người ta lại có xu hướng tìm lại sự cân bằng trong đời sống với những nhu cầu về tinh thần. Vì vậy mà hai chữ “tâm linh” thường được nhắc nhiều. Tâm linh cũng được quan tâm rất nhiều trong văn hoá, văn học. Qua tìm hiểu một số tài liệu, chúng tôi nhận thấy có khá nhiều cách hiểu khác nhau về tâm linh, do vậy mà có nhiều khái niệm tâm linh không giống nhau. Hướng thứ nhất, tâm linh được hiểu là khía cạnh tâm hồn, tinh thần, tình cảm của con người. Theo Từ điển Tiếng Việt 2000, tâm linh có một nét nghĩa là “tâm hồn, tinh thần” [91;tr897]. Trong khi đó, “tâm hồn” được định nghĩa là “ý nghĩ và tình cảm làm thành đời sống nội tâm, thế giới bên trong của con người”[91;tr 896] và “tinh thần” là “tổng thể nói chung những ý nghĩ, tình cảm, những hoạt động thuộc về đời sống nội tâm của con người” [91;tr994]. Theo đó, thế giới tâm linh chính là thế giới tâm hồn, thế giới tinh thần và nói đến tâm linh tức là nói đến đời sống nội tâm của con người trong tương quan với đời sống vật chất bên ngoài. Theo nghĩa này, tâm linh còn là một phần của tâm lý bởi tâm lý là “toàn bộ nói chung sự phản ánh của hiện thực khách quan vào ý thức con người, bao gồm nhận thức,
  12. tình cảm, ý chí,… biểu hiện trong hoạt động cử chỉ của mỗi người” [91;tr897]. Ở đây tâm linh là một biểu hiện của đời sống tâm lí con người ở khía cạnh tình cảm. Hướng thứ hai, tâm linh được hiểu như một khả năng phán đoán, biết trước sự việc. Trong Pháp Việt từ điển của Lê Khả Kế, tâm linh là: “linh tính”. Hay cũng theo Từ Điển Tiếng Việt 2000, một nét nghĩa khác của tâm linh là “khả năng biết trước một số biến cố nào đó sẽ xảy ra đối với mình, theo quan niệm duy tâm” [91;tr897]. Ở đây, tâm linh được dùng như một động từ với nội hàm “tiên tri” (biết trước và nói ra trước các sự kiện trước khi chúng xảy ra). Các khái niệm tâm linh trên tuy khác nhau nhưng vẫn có điểm chung là hiểu tâm linh gắn với con người, ở trong con người. Nhưng không thật là đủ nếu không hiểu tâm linh từ chính nghĩa tự thân của nó cũng như từ thực tiễn đời sống tinh thần. Tâm linh gồm hai chữ tâm và linh. Tâm (lòng, tấm lòng). Chữ tâm ở đây được hiểu trong từ “tâm niệm” (thường xuyên nghĩ tới, tự nhắc mình ghi nhớ làm theo, tức tin theo điều đó). Như thế tâm trong tâm linh là niềm tin. Còn linh là thiêng trong linh thiêng, thiêng liêng (ví dụ: “linh khí” tức khí thiêng-khí thiêng sông núi). Vậy tâm linh là niềm tin của con người vào sự linh thiêng. Tâm linh là một phần không thể thiếu trong đời sống bởi “trong đời sống con người, ngoài mặt hiện hữu còn có mặt tâm linh. Về mặt cá nhân đã như vậy, mà mặt cộng đồng (gia đình, làng xã, dân tộc) cũng như vậy. Nếu mặt hiện hữu của đời sống con người có thể nhận thức qua những tiêu chuẩn cụ thể sờ mó được, có thể đánh giá qua những gì cụ thể nhất định, thì về mặt tâm linh bao giờ cũng gắn với cái gì đó rất trừu tượng, rất mông lung, nhưng lại không thể thiếu được ở con người. Con người sở dĩ trở thành con người, một phần căn bản là do nó có đời sống tâm linh. Nghĩa là tuân theo những giá trị bắt nguồn từ cái thiêng liêng, cái bí ẩn, những giá trị tạo thành đời sống tâm linh của nó [73;tr36]. Tâm linh là thế giới của cái thiêng liêng, cao cả mà con người luôn hướng tới, luôn tin tưởng nên nó có giá trị cố kết cộng đồng, ràng buộc con người bên cạnh các mối quan hệ hữu hình khác. Nên tâm linh có mặt trong cả đời sống tinh thần, đời sống xã hội và đời sống tôn giáo. “Không chỉ có thượng đế, có Chúa, Trời, Thần, Phật mới thiêng liêng, mà cả Tổ quốc, lòng yêu thương con người, sự thật công lí cũng thiêng liêng không kém” [28; tr8]. Hiểu như vậy, khái niệm tâm linh của Nguyễn Đăng Duy được xem là khá toàn diện: “Tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong tín
  13. ngưỡng tôn giáo. Cái thiêng liêng cao cả, niềm tin thiêng liêng ấy được đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm” [17; tr11]. Ở khái niệm tâm linh ta cần lưu ý đến ba điểm cốt lõi: Thứ nhất: Tâm linh là vấn đề thuộc ý thức, gắn liền với ý thức con người, bởi niềm tin có được là do sự nhận biết của ý thức. Không có ý thức con người thì không thể có tâm linh. Trong ý thức con người, tâm linh là một dạng của ý thức – ý thức hướng về cái thiêng liêng. Ý thức tâm linh thường được biểu hiện dưới dạng quan niệm và những hình ảnh, biểu tượng thiêng liêng. Thứ hai: Hạt nhân cơ bản của tâm linh là niềm tin, không có niềm tin chắc chắn là không có tâm linh. Đó là niềm tin, sự ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, gọi là niềm tin tâm linh hay niềm tin tâm thức. Do vậy niềm tin tâm linh thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng giống như đời sống vật chất, đời sống xã hội, tinh thần, tư tưởng. Thứ ba: Tâm linh tồn tại trên nhiều phạm vi: đời sống cá nhân, gia đình, cộng đồng làng xã, Tổ Quốc, trong văn học nghệ thuật, trong tín ngưỡng, tôn giáo. Từ những điểm trên, ta lại cần phải bàn thêm một số khái niệm liên quan: tín ngưỡng, tôn giáo, mê tín dị đoan và có sự phân biệt tâm linh trong từng lĩnh vực. 1.1.1.2.1. Tâm linh và tôn giáo Là một dạng đặc biệt của văn hoá tinh thần, tôn giáo có vị trí vô cùng quan trọng trong đời sống con người. Theo những định nghĩa phổ thông: tôn giáo là một dạng sinh hoạt tâm linh trong đó con người tin vào sự hiện hữu của các thế lực siêu nhiên, có quyền lực siêu phàm có thể tác động đến đời sống của con người khi còn sống cũng như khi đã chết, trong đó linh hồn của những người đã chết vẫn tồn tại trong một cuộc sống khác. Từ đó con người đi đến chỗ tôn vinh thờ phụng các thế lực siêu nhiên, những linh hồn của những người đã chết với hi vọng được sống an bình nơi trần thế và hưởng phúc vĩnh hằng nơi thế giới bên kia sau khi đã chết. Đặc trưng nổi bật của tôn giáo là đặt niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên. Niềm tin ấy có tác dụng như một loại thuốc an thần tạo sự cân bằng về tinh thần cho con người trong mọi hoàn cảnh như câu nói của Mác “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”. Niềm tin tôn giáo (tín ngưỡng tôn giáo) là biểu hiện của đời sống tâm linh nhưng tín ngưỡng tôn giáo không đồng nhất với tâm linh. Tâm linh chỉ là khả năng dẫn đến tôn giáo. Trong tín ngưỡng tôn giáo, ngoài phần tâm linh còn có phần mê tín dị đoan và sự cuồng tín tôn giáo. Tâm linh
  14. là phần cơ bản nhất, là biểu hiện của tôn giáo trong mặt tích cực, giá trị nhất (mặt đạo đức và văn hoá, tính hướng thiện, tính nhân văn…). Mỗi tôn giáo đều hướng về những hình tượng thiêng liêng (Trời trong Nho giáo, Phật trong Phật giáo, Chúa trong Gia tô giáo…) và đặt đức tin vào những triết lý, tín điều riêng. Các tôn giáo đều có chung tâm linh hướng về một thế giới khác, ở đó linh hồn được hạnh phúc trọn vẹn sau khi từ giã cuộc đời (thiên đàng, cõi niết bàn, kiếp khác…). Bên cạnh mặt tích cực, văn hoá, tôn giáo (và cả tín ngưỡng) còn biểu hiện mặt tiêu cực, phi văn hoá. Đó là khi con người vì lý do khác nhau (nhận thức, mục tiêu, lợi ích…) mà sử dụng tôn giáo, tín ngưỡng sai lầm dẫn đến mê tín dị đoan. 1.1.1.2.2. Tâm linh và mê tín dị đoan Trước hết cần hiểu cặn kẽ hiện tượng bằng cách tách bóc hai vấn đề mê tín và dị đoan. Mê tín (tin vào những điều không có thật); dị đoan (lắm mối rắc rối, quàng xiên, mù quáng...). Thực chất các tôn giáo, tín ngưỡng đều là mê tín nhưng không có dị đoan. Nhưng, thực tế mê tín thường đi liền với dị đoan để chỉ niềm tin đã bị biến dạng, bóp méo, dị thường gây hại cho con người. Mê tín dị đoan “là những ý thức, hành vi mê muội, tin và dựa vào những biểu tượng trái lẽ tự nhiên, có hành vi lễ bái ứng xử mang tính chất cuồng tín, nhảm nhí trái với lẽ phải và hành vi thông thường của mọi người chung quanh; làm hại đến đời sống vật chất và tinh thần của mọi người” (Từ điển Tôn Giáo - dẫn theo Mai Thanh Hải) [30;tr107]. Niềm tin trong mê tín dị đoan là niềm tin mù quáng “nhắm mắt tin mò” vào cái thần bí dẫn đến sự thương mại hoá niềm tin, “buôn thần bán thánh”, lợi dụng thần Phật để kiếm lợi bất chính. Cho nên, mê tín dị đoan không thuộc dạng thức sinh hoạt tâm linh. Nói cách khác, trong mê tín dị đoan không tồn tại tâm linh theo đúng nghĩa. 1.1.1.2.3. Tâm linh và tín ngưỡng Thông thường, tín ngưỡng (tin tưởng, ngưỡng mộ) thường được dùng đi kèm với tôn giáo với ý chỉ niềm tin tôn giáo. Song thực chất tín ngưỡng cũng là một dạng thức văn hoá, một lĩnh vực của niềm tin nên nó có vị trí riêng với nội hàm khái niệm riêng. Một số quan niệm cho rằng, tín ngưỡng là lòng tin và ngưỡng mộ đối với một tôn giáo hay một chủ nghĩa. Nhưng như nói trên, lòng tin và sự ngưỡng mộ của con người không chỉ giới hạn ở tôn giáo mà còn ở cả những lực lượng siêu nhiên, thánh thần trong thế giới quan của nhân dân. Những lực lượng ấy có thể gây hoạ tác phúc, chi phối, can thiệp vào cuộc sống của con người. Nên có thể hiểu tín ngưỡng là sự tin tưởng, ngưỡng mộ và sùng bái
  15. những thần thánh, vật thiêng hoặc linh hồn người chết do con người tưởng tượng ra hay do con người suy tôn gán cho những phẩm chất siêu phàm (Theo Hỏi đáp về văn hoá Việt Nam) [100]. Là một thành tố văn hoá tổ chức cộng đồng, tín ngưỡng được hình thành tự phát từ thực tế cuộc sống, được cộng đồng tin theo, tôn thờ… gây thành một nếp sống xã hội theo niềm tin thiêng liêng (như tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng sùng bái con người…) Cùng phát tín hiệu thiêng liêng nhưng tín ngưỡng và tôn giáo có sự khác nhau cơ bản. Nếu như tín ngưỡng là một sự ý thức về thần linh với niềm tin, lòng ngưỡng mộ dưới các hình thức lễ bái cầu cúng theo quan niệm dân gian; ý nghĩa của tín ngưỡng là biết ơn và cầu mong đối tượng phù hộ cho mình bình yên, khoẻ mạnh, ăn nên làm ra; thì ở tôn giáo là niềm tin vào những triết thuyết, giáo lý, kinh sách với một hệ thống lễ nghi (đọc kinh, quỳ bái…), có tổ chức nhân sự điều hành nhằm giáo dục tín đồ theo lời dạy của đấng tối cao. Tôn giáo chủ yếu hướng đến giải thoát cho cái chết, còn tín ngưỡng luôn hướng vào sự thịnh vượng của cuộc sống. Sự phân biệt trên cho phép ta một lần nữa nhận thức rõ vị trí độc lập của tín ngưỡng bên cạnh tôn giáo như là những thành tố cơ bản của đời sống tâm linh. Đồng thời, có thể xem đây là những căn cứ để phân biệt các hiện tượng tâm linh là tín ngưỡng hay tôn giáo. Có thể gọi niềm tin của các tín đồ tôn giáo là tín ngưỡng tôn giáo để phân biệt với niềm tin của các tầng lớp nhân dân không theo tôn giáo là tín ngưỡng dân gian (hay tín ngưỡng truyền thống) Với nhận thức trên, luận văn chúng tôi chỉ bàn đến tâm linh trong tín ngưỡng dân gian truyền thống thông qua văn học, thuộc phạm vi đời sống cá nhân. 1.1.1.3. Văn hoá tâm linh Từ cách hiểu và giới hạn khái niệm văn hoá và tâm linh trên, chúng tôi hiểu văn hoá tâm linh là những giá trị văn hoá tinh thần thiêng liêng. Đó là “văn hoá biểu hiện những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống đời thường và biểu hiện niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo” [17; tr26] Thuộc lĩnh vực văn hoá tinh thần, nhưng văn hoá tâm linh với những đặc thù riêng không chỉ gồm những giá trị văn hoá vô hình (những nghi lễ, ý niệm, tập tục…) mà cả những giá trị văn hoá hữu hình phát tín hiệu thiêng liêng (đình, đền, miếu, chùa, nhà thờ, tượng…)
  16. Văn hoá tâm linh có nội hàm rộng (biểu hiện trong cả cuộc sống đời thường và trong tín nguỡng tôn giáo), cho nên có thể thấy trong đời sống con người luôn tồn tại đời sống tâm linh bên cạnh đời sống thường ngày với những nhu cầu vật chất (ăn, mặc, ở, đi lại…). Đời sống tâm linh là một phần của đời sống tinh thần. Ở đó có niềm tin vào “cái thiêng”. Ở đó con người chủ yếu sống với phần tâm linh trong mình. Với những người không theo tôn giáo, đời sống tâm linh chỉ xuất hiện khi “hoàn cảnh thiêng”, “thời gian thiêng” xuất hiện. Đó là không gian của những “thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề”, của đủ thứ những thần thánh, Phật tiên…Đó là thời gian giỗ, Tết, các lễ hội có phần lễ thiêng liêng, những thời điểm giúp con người giao hoà với trời đất, thiên nhiên và các thế lực thánh thần. Sống trong thứ không gian, thời gian mang tính tâm linh, mang tính vũ trụ ấy, con người thực sự được giải toả tâm linh. Họ được thư giãn tinh thần, mong được cởi phiền muộn âu lo, cầu những điều tốp đẹp cho mình và người thân. Sống đời sống tâm linh chính là cách để con người đến gần hơn với thế giới tâm linh-thế giới của những biểu trưng “đạo trời”, của những lực lượng huyền bí với những quyền năng vô hạn chi phối cuộc sống trần thế. Nói chung, “thế giới tâm linh là thế giới của cái thiêng liêng mà ở đó chỉ có cái gì cao cả, lương thiện và đẹp đẽ mới có thể vươn tới. Cả cộng đồng tôn thờ và cố kết nhau lại trên cơ sở của cái thiêng liêng ấy” (Vũ Tự Lập). Với luận văn của mình, chúng tôi chỉ giới hạn vấn đề ở phạm vi văn hoá tâm linh trong tín ngưỡng người Việt- tín ngưỡng biểu hiện niềm tin vào “cái thiêng” của các tầng lớp nhân dân không theo tôn giáo. Trong ý niệm của nhân dân ta từ xa xưa, thế giới luôn có các lực lượng siên nhiên mặc nhiên thống trị cuộc sống nhân gian và luôn tin như thế, “niềm tin đó tạo nên những hoạt động tương ứng biểu hiện qua việc thờ cúng các nghi lễ, tập tục (…) làm nên tín ngưỡng dân gian” [51;tr1030]. Tín ngưỡng dân gian người Việt vô cùng đa dạng, bao gồm tín ngưỡng thờ thánh thần, trời đất ( thành hoàng làng, thần hộ mệnh cá nhân, thánh tổ nghề, thờ các vị phúc thần, các anh hùng lịch sử văn hoá…); tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ mẫu…; niềm tin tướng số phép thuật…Các tín ngưỡng song hành tồn tại trong đời sống nhân dân và trở thành những sinh hoạt văn hoá tạo nên bản sắc văn hoá truyền thống Việt Nam. Văn học chỉ là một biểu hiện của văn hoá, là một mảng màu của bức tranh văn hoá thời đại nó ra đời. Vì vậy khi tìm hiểu văn hoá tâm linh người Việt trong văn xuôi trung đại, chúng tôi thu hẹp bộ phận văn hóa này trong tín ngưỡng dân gian ở những biểu hiện sau:
  17. việc thờ cúng trong các nghi lễ (lễ cầu đảo, lễ phong sắc thần, lập miếu, tạc tượng thờ) và một số tập tục (tục thờ thần, khấn nguyện, cúng giỗ tổ tiên..). Bên cạnh đó là niềm tin thiêng liêng đối với một số hiện tượng thiêng trong cuộc sống (giấc mộng, điềm báo, sự linh ứng, niềm tin vào phép thuật, hoá kiếp…). 1.1.2. Văn xuôi trung đại 1.1.2.1. Thời kỳ trung đại trong văn học Việt Nam 1.1.2.1.1. Thời kì trung đại Tên gọi “văn học Việt Nam thời trung đại” thực ra là một qui ước mang tính khoa học mà các quốc gia phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng “mượn” từ khái niệm “thời trung đại” trong lịch sử châu Âu. Thời trung đại được xem là thời đại văn hoá lớn trong lịch sử nhân loại. Đó cũng là thời đại hình thành các giá trị văn hoá truyền thống có ảnh hưởng đến ngày nay. Riêng đối với Việt Nam, thời trung đại là thời hình thành toàn bộ di sản văn hoá thành văn của dân tộc. Thời trung đại chuyển sang thời hiện đại thông qua thời kì quá độ là thời cận đại. Về mặt lịch sử, ở Việt Nam thời cận đại được đánh dấu bằng sự kiện Pháp chính thức xâm lược (31.8.1858). Còn xét về mặt văn học, thời cận đại thực sự mờ nhạt, không thật rõ nét. Bởi vì, không giống như ở phương Tây, thời cận đại ở Việt Nam không phải là một giai đoạn độc lập đích thực mà là giai đoạn giao thời chuyển mạnh sang thời hiện đại. Xét từ bình diện văn hoá, thời hiện đại được tính từ cái mốc tiếp nhận và sáng tạo các hình thái văn hoá mới. Đầu thế kỉ XX là thời điểm đánh dấu sự tiếp xúc, giao lưu toàn diện về văn hoá, văn học của Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới. Đó là nền văn học mới với đề tài, phương thức truyền bá, và những quan niệm văn học, lí tưởng thẩm mĩ, phương pháp sáng tác, thể loại văn học…đặc biệt là sự xuất hiện của báo chí, in ấn, xuất bản. Sự đổi thay cơ bản này đem đến cho văn học Việt Nam một diện mạo mới, một nhịp độ phát triển khẩn trương mau lẹ, “một năm ở nước ta kể như ba mươi năm ở nước người” (Vũ Ngọc Phan). Nền văn học bắt đầu bước vào quá trình hiện đại hoá, vận động trong quĩ đạo chung của nền văn học thế giới. Do vậy có thể xem văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX thuộc phạm trù trung đại và từ đầu thế kỉ XX đến nay thuộc phạm trù hiện đại. 1.1.2.1.2. Đặc điểm cơ bản của văn học trung đại Việt Nam Văn học Việt Nam đã hình thành và phát triển cùng với quá trình hình thành và phát triển của dân tộc. Đó là quá trình xây dựng văn học viết bằng cách dựa vào truyền thống và
  18. những thành tựu của văn hoá, văn học dân gian, trên cơ sở tiếp thu một cách chủ động ảnh hưởng của văn hoá văn học nước ngoài, đặc biệt văn học Trung Quốc. Đó cũng là quá trình nền văn học phát triển gắn liền với vận mệnh đất nước và số phận con người, thể hiện ý thức dân tộc mạnh mẽ, đồng thời mang những đặc điểm loại hình thi pháp văn học trung đại trong sự vận động theo hướng dân tộc hóa và dân chủ hoá. Do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt, ngay từ khi ra đời, văn học trung đại Việt Nam đã gắn với vận mệnh đất nước và con người. Chủ đề nổi bật của văn học thời kì này là chủ nghĩa yêu nước, tư tưởng nhân đạo và chủ nghĩa anh hùng. Chủ đề ấy là sợi chỉ đỏ xuyên suốt nền văn học, từ thơ ca của các nhà sư đời Lí, các vị tướng đời Trần đến các nhà thơ nhà văn lớn Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu... Ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, tư tưởng yêu nước và nhân đạo có những biểu hiện khác nhau. Đã trở thành qui luật, nền văn học trung đại của dân tộc nào cũng được xây dựng trên cơ sở nền văn hoá văn học dân gian của dân tộc đó. Văn học dân gian Việt Nam là nền tảng hình thành nền văn học viết trên nhiều phương diện. Tiếp thu nguồn mạch văn học dân gian, văn học viết có cơ sở vững chắc để phát triển. Từ những tác phẩm văn xuôi thành văn đầu tiên: Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái… ra đời trên cơ sở sưu tầm ghi chép các truyền thuyết dân gian, “từ bia miệng người đời”, đến những tác phẩm có qui mô lớn như Đại Việt sử kí toàn thư cũng sử dụng nhiều yếu tố của văn học dân gian. Cũng không ai có thể phủ nhận ảnh hưởng của văn học dân gian đậm đà về văn liệu, thi liệu, bút pháp thể hiện…đối với những tác phẩm truyền kì như Thánh Tông di thảo, Truyền kì mạn lục, thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Đình Chiểu… Khẳng định giá trị và tìm hiểu đặc điểm của văn học viết trung đại cũng đồng thời là sự đánh giá cao vai trò, vị trí của văn học dân gian- suối nguồn tươi mát giàu dưỡng chất nuôi lớn nền văn học viết. Trong thời kì trung đại, sự giao lưu ảnh hưởng của các nền văn học lâu đời (Trung Hoa, Ấn Độ…) với các nền văn học hình thành sau (Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam…) là một tất yếu khách quan. Ở Việt Nam mặc dù đã trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, nền văn hoá văn học dân tộc vẫn không bị đồng hoá. Sự tiếp thu ảnh hưởng văn học Trung Hoa không làm mất đi bản sắc dân tộc mà càng làm cho nền văn học thêm phong phú đậm đà bản sắc. Đặc biệt trên phương diện thể loại, sự tiếp thu đã diễn ra một cách toàn diện. “Người Việt Nam hầu như đã di thực toàn bộ thể loại văn học của văn học Trung Quốc vào Việt Nam với những qui mô và biến đổi khác nhau” (Trần Đình Sử). Thế nhưng con đường
  19. phát triển của văn học dân tộc là vừa tiếp thu vừa Việt hoá những yếu tố Hán song song với việc sáng tạo những yếu tố hình thức mang tính dân tộc. Sự tiếp thu một cách chủ động tinh hoa văn học Trung Quốc trên tinh thần dân tộc vừa làm giàu có cho nền văn học, vừa thể hiện ý thức dân tộc mạnh mẽ của cha ông ta trong quá trình xây dựng nền văn hoá dân tộc mình. Cũng như văn học viết trung đại các nước trên thế giới, văn học Việt Nam thế kỉ X- XIX chịu sự qui định của thi pháp văn học trung đại nói chung. Nổi bật hơn cả là tính chất ước lệ của hình thức biểu hiện. Tính ước lệ trung đại được biểu hiện ra ở tính chất tập cổ, tính qui phạm, tính công thức, sáo ngữ, nghi thức, tính trang trí, gắn chặt với tính truyền thống, nệ truyền thống rất nặng. Ngoài ra văn học trung đại cũng ưu tiên cho các chức năng hành chính, giáo huấn, nghi lễ…, sự coi nhẹ biểu hiện cá tính. Tuy nhiên các đặc điểm thi pháp trên không làm hạn chế sự phong phú và phát triển của văn học. Bằng trí tuệ, tâm hồn, tài năng sáng tạo của các tác giả, văn học trung đại đã để lại nhiều áng thơ văn làm say đắm lòng người. Trên đường sáng tạo, nền văn học luôn vận động theo hướng dân tộc hoá, dân chủ hoá, thường xuyên tự đổi mới bằng cách bám sát cuộc sống của dân tộc để phản ánh. Văn học đã dần trở nên gần gũi với tâm thức người dân. Đó cũng chính là nhu cầu tự thân để văn học trung đại ngày càng làm cho các qui phạm dần bị lỏng lẻo, phá vỡ, đồng thời tạo tiền đề cho quá trình hiện đại hoá văn học đầu thế kỉ XX. Các đặc điểm cơ bản trên giúp ta nhận rõ đặc trưng của văn học trung đại Việt Nam trong qui luật chung của các nền văn học trung đại thế giới và chỉ qua những đặc trưng ấy mới có thể hiểu được văn học trung đại như là một bộ phận hữu cơ của nền văn hoá trung đại. Đi trọn mười thế kỉ, văn học trung đại kết thúc vai trò lịch sử của mình trong tiến trình văn học dân tộc: phản ánh một cách chân thực sinh động đời sống của con người Việt Nam trên các phương diện vật chất và tinh thần, đặc biệt là đời sống tâm linh sâu sắc; để lại cho nền văn học nhiều kinh nghiệm quí giá. 1.1.2.2. Thể loại văn xuôi trung đại 1.1.2.2.1. Thể loại văn học trung đại là một hiện tượng rất bề bộn, phức tạp. Việc phân loại văn học, kể cả văn xuôi là một công việc rất khó trong điều kiện văn sử bất phân. Vấn đề thể loại văn xuôi ở đây chỉ có ý nghĩa làm cơ sở lí luận cho các nội dung tiếp theo. Văn xuôi, theo thi pháp học gồm hai thể văn xuôi tự sự và văn xuôi trữ tình. Thời trung đại chưa xuất hiện văn xuôi trữ tình. Văn xuôi tự sự thời kì này chủ yếu viết bằng chữ Hán. Bên cạnh loại tự sự bằng văn xuôi còn có tự sự bằng văn vần. Tự sự bằng văn vần
  20. được gọi là truyện Nôm. Khái niệm văn xuôi tự sự (hay văn xuôi chữ Hán) được dùng để khu biệt với truyện Nôm. Theo Nguyễn Đăng Na trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, [74], căn cứ vào qui mô và tính chất của các tác phẩm, có thể chia văn xuôi tự sự thành ba nhóm: truyện ngắn, ký và tiểu thuyết chương hồi. Luận văn chúng tôi theo cách phân chia này để gọi tên các tác phẩm văn xuôi trung đại được khảo sát. Tiểu thuyết chương hồi là thuật ngữ chỉ “một thể loại tác phẩm tự sự dài hơi của Trung Quốc thịnh hành vào đời Minh Thanh” [32;tr280]. Loại tác phẩm này có ảnh hưởng sâu xa đối với tiểu thuyết của các nước châu Á như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam. Trong đó, tiểu thuyết chương hồi viết bằng văn xuôi chữ Hán của Việt Nam là một hiện tượng độc đáo với các tác phẩm: Nam triều công nghiệp diễn chí, Tây Dương gia tô bí lục, đỉnh cao là Hoàng Lê nhất thống chí. Đặc điểm tiểu thuyết chương hồi Việt Nam trước hết là viết về đề tài lịch sử - lịch sử đương đại nên tính thời sự chính trị của các tác phẩm rất cao. Đây là loại tiểu thuyết gắn với kí sự lịch sử. Về hình thức, các tác phẩm hoàn toàn theo mô hình chương hồi Trung Quốc. Mỗi hồi chứa đựng một số sự kiến chính, có một câu đối ở đầu hồi tóm gọn nội dung sự kiện; cách trần thuật mở đầu bằng niên hiệu lịch sử, dẫn truyện bằng “nói về”, “ lại nói”, “chuyện chia thành hai mối”... Về truyện và ký. Truyện ngắn trung đại thực ra là một khái niệm tương đối mà “giới nghiên cứu hiện đại dùng để chỉ một hiện tượng rất không thuần nhất về cả nội dung và nghệ thuật, bao hàm rất nhiều kiểu loại tác phẩm khác nhau ra đời trong một thời gian rất dài (khoảng mười thế kỉ)”[111], gồm: chí, lục, phả, tuỳ bút, ký, ký sự, thuyết…Mặt khác, theo nhà nghiên cứu văn học người Nga-B.L.Riptin, “thể loại trong văn học trung đại(…) được thể hiện trong cách thường xuyên nêu bật nó lên ở ngay tên gọi tác phẩm”(dẫn theo Nguyễn Đăng Na)[74]. Nên thật khó để tách bạch đâu là truyện đâu là ký. Ngoài một số đặc điểm về cốt truyện, nhân vật, thời gian không gian, đặc biệt là tính chất hư cấu- yếu tố giúp tách truyện ra khỏi các hình thức ghi chép khác như lục, ký, chí, thì thái độ người cầm bút, sự thể hiện cái tôi cá nhân của tác giả là dấu hiệu làm nên sự phân biệt giữa ký với truyện (như Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác; ký khảo cứu, kí phong cảnh trong Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ). Tuy nhiên, nhiều trường hợp như Tang thương ngẫu lục, Vũ trung tuỳ bút hay Công dư tiệp kí , người ta vẫn quen gọi là truyện bởi tính truyện đậm hơn tính ký. Ngoài ra, từ thế kỷ XVIII, ký đã tách khỏi văn học chức năng để trở thành những tác phẩm ký nghệ thuật đích thực. Do vậy, dù được gọi nhiều tên gọi khác nhau, các tác phẩm

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản