intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Những biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:101

11
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận văn làm sáng tỏ một cách có hệ thống và toàn diện về mặt lý luận về các biện pháp ngăn chặn, đánh giá đúng thực trạng áp dụng các biện pháp ngăn chặn ở tỉnh Đắk Lắk, xác định đúng nguyên nhân của những thiếu sót trong việc áp dụng và trên cơ sở đó đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Luật học: Những biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN VĂN LÂM Nh÷ng biÖn ph¸p ng¨n chÆn trong giai ®o¹n ®iÒu tra theo LuËt tè tông h×nh sù ViÖt Nam (Trªn c¬ së sè liÖu thùc tiÔn ®Þa bµn tØnh §¾k L¾k) LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2015
  2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN VĂN LÂM Nh÷ng biÖn ph¸p ng¨n chÆn trong giai ®o¹n ®iÒu tra theo LuËt tè tông h×nh sù ViÖt Nam (Trªn c¬ së sè liÖu thùc tiÔn ®Þa bµn tØnh §¾k L¾k) Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự Mã số: 60 38 01 04 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN ĐỨC PHÚC HÀ NỘI - 2015
  3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nguyễn Văn Lâm
  4. MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM ........................................ 7 1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo luật tố tụng hình sự Việt Nam ............ 7 1.1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn ........................................................... 7 1.1.2. Đặc điểm của các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo luật tố tụng hình sự Việt Nam .................................................... 12 1.1.3. Ý nghĩa của các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo luật tố tụng hình sự Việt Nam .................................................... 18 1.2. Khái quát lịch sử các biện pháp ngăn chặn trong lịch sử pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi có Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003........................................ 20 1.3. Quy định pháp luật về các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra trong pháp luật của một số nước trên thế giới và những giá trị có thể tham khảo ở Việt Nam ............................. 23 1.3.1. Quy định pháp luật về các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra trong pháp luật của một số nước trên thế giới ...................... 23 1.3.2. Những giá trị có thể tham khảo trong quy định pháp luật về các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo pháp luật của một số nước trên thế giới.................................................................... 26 Kết luận chương 1 ......................................................................................... 29
  5. Chương 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TẠI TỈNH ĐẮK LẮK .........................................................................................31 2.1. Quy định pháp luật về các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo luật TTHS Việt Nam ........................................ 31 2.1.1. Quy định pháp luật về biện pháp bắt người ....................................... 31 2.1.2. Quy định pháp luật về biện pháp tạm giữ .......................................... 35 2.1.3. Quy định pháp luật về biện pháp tạm giam ....................................... 36 2.1.4. Quy định pháp luật về biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú trong giai đoạn điều tra ................................................................................ 38 2.1.5. Quy định pháp luật về biện pháp bảo lĩnh trong giai đoạn điều tra......... 39 2.1.6. Quy định pháp luật về biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm trong giai đoạn điều tra ................................................... 40 2.1.7. Huỷ bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn diều tra ...... 41 2.1.8. Quy định về áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra ..................................................... 41 2.2. Thực trạng áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo luật TTHS Việt Nam tại tỉnh Đắk Lắk .......... 42 2.2.1. Thực trạng áp dụng biện pháp bắt người ........................................... 42 2.2.2. Thực trạng áp dụng biện pháp tạm giữ .............................................. 52 2.2.3. Thực trạng áp dụng biện pháp tạm giam ............................................ 53 2.2.4. Thực trạng áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú ....................... 55 2.2.5. Thực trạng áp dụng biện pháp bảo lĩnh .............................................. 58 2.2.6. Thực trạng áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm .............................................................................................. 59 2.3. Nhận xét, đánh giá về áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo luật tố tụng hình sự Việt Nam tại tỉnh Đắk Lắk................................................................................ 60 2.3.1. Những ưu điểm đạt được .................................................................... 60 2.3.2. Một số hạn chế tồn tại ........................................................................ 61
  6. 2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế tồn tại ....................................................... 62 Kết luận chương 2 ......................................................................................... 63 Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TẠI TỈNH ĐẮK LẮK .............................................................................. 64 3.1. Một số yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo luật tố tụng hình sự Việt Nam tại tỉnh Đắk Lắk ...................................................................................... 64 3.1.1. Đặc điểm tình hình tự nhiên, kinh tế - xã hội, dân cư của tỉnh Đắk Lắk .............................................................................................. 64 3.1.2. Tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ................................... 65 3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo luật tố tụng hình sự Việt Nam tại tỉnh Đắk Lắk ...................................................................... 66 3.2.1. Hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về các biện pháp ngăn chặn ................................................................................... 66 3.2.2. Hoàn thiện tổ chức, bộ máy của các cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo luật tố tụng hình sự Việt Nam ................................................................... 76 3.2.3. Tăng cường sự phối hợp giữa Viện Kiểm sát, cơ quan điều tra và các cơ quan khác có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo luật tố tụng hình sự Việt Nam ..... 78 3.2.4. Thúc đẩy tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra ............................................ 81 3.2.5. Tăng cường vận động quần chúng tham gia vào việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra .............................. 84 Kết luận chương 3 ......................................................................................... 86 KẾT LUẬN .................................................................................................... 87 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 89
  7. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ANCT: An ninh chính trị BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật Tố tụng hình sự CHXHCN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ĐTV: Điều tra viên KSV: Kiểm sát viên NXB: Nhà xuất bản TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao TTATXH: Trật tự an toàn xã hội
  8. DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu bảng Tên bảng Trang Bảng 2.1: Số liệu của Cơ quan điều tra tỉnh Đắk Lắk, từ năm 2010 đến 2014 44 Bảng 2.2: Số liệu của Cơ quan điều tra tỉnh Đắk Lắk, từ năm 2010 đến 2014 52 Bảng 2.3: Số liệu của Cơ quan điều tra tỉnh Đắk Lắk, từ năm 2010 đến 2014 53
  9. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bộ luật Tố tụng hình sự nước CHXHCN Vệt Nam quy định về các biện pháp ngăn chặn trở thành công cụ hữu hiệu trong đấu tranh ngăn chặn tội phạm, phục vụ cho công tác điều tra truy tố, xét xử và để đảm bảo thi hành án. Các biện pháp ngăn chặn là một trong những chế định pháp lý quan trọng của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam. Việc quy định và áp dụng đúng đắn các biện pháp ngăn chặn là sự đảm bảo rất quan trọng cho việc phát hiện nhanh chóng, chính xác, xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, không cho người phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm, trốn tránh pháp luật, cản trở đến các hoạt động điều tra, truy tố xét xử và thi hành án hình sự. Đồng thời đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn là vấn đề hết sức nhạy cảm, nó đụng chạm trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân được quy định trong hiến pháp và pháp luật như: quyền bất khả xâm phạm về thân thể, chỗ ở, về thư tín, điện tín… Vì thế khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn phải tuân thủ đúng quy định của Luật TTHS. Thực tiễn việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong TTHS còn có những hạn chế, tồn tại nhất định đã gây ra những khó khăn nhất định trong việc giải quyết vụ án tạo dư luận không tốt dẫn đến hậu quả như: bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm nguyên tắc pháp chế Xã Hội Chủ Nghĩa, xâm phạm các quyền cơ bản của công dân. Các biện pháp ngăn chặn: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm được quy định tại Chương V Bộ luật TTHS Việt Nam. Việc tìm hiểu, nghiên cứu những quy định này không chỉ cần thiết đối với người tiến hành tố tụng mà còn rất cần thiết đôí với mọi công dân. 1
  10. Nắm vững nội dung quy định về các biện pháp ngăn chặn trong luật TTHS là điều kiện cần thiết giúp cho Điều tra viên áp dụng vào thực tiễn công tác một cách hiệu quả. Để phục vụ cho công tác điều tra, Cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp ngăn chặn cần thiết nhằm ngăn chặn tội phạm. Tuy nhiên việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra vẫn còn những tồn tại, vướng mắc khi xác định căn cứ áp dụng, đối tượng áp dụng. Nguyên nhân của những tồn tại, vướng mắc là do pháp luật TTHS còn sơ hở, thiếu chặt chẽ, chồng chéo dẫn đến khó khăn trong việc thống nhất áp dụng pháp luật; trình độ năng lực của một số điều tra viên còn chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Thực trạng đó đòi hỏi khoa học luật tố tụng hình sự phải tiếp tục nghiên cứu, giải quyết khắc phục những hạn chế, tồn tại và đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm góp phần đấu tranh ngăn chặn tội phạm có hiệu quả đồng thời cũng bảo đảm bảo vệ quyền con người. Hiện nay, cải cách tư pháp đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm coi là nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Để thực hiện nhiệm vụ này, Bộ chính trị đã ra Nghị quyết số 08-NQ/TƯ ngày 02 tháng 01 năm 2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết 49-NQ/TƯ ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Các nghị quyết trên đã chỉ rõ nhiều vấn đề cụ thể của tố tụng hình sự cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện để thể chế hóa vào quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS), tạo cơ sở pháp lý nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Những biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo luật tố tụng hình sự Việt Nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Lắk)”, là vấn đề mang tính cấp bách, thiết 2
  11. thực không những về mặt lý luận mà cả về mặt thực tiễn đối với địa phương trong giai đoạn hiện nay. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Chế định các biện pháp ngăn chặn trong luật tố tụng hình sự đã được nhiều nhà tố tụng hình sự học trong nước quan tâm nghiên cứu. Thạc sĩ Nguyễn Mai Bộ: "Những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự" (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997). TSKH.PGS Lê Văn Cảm, TS. Nguyễn Ngọc Chí, ThS. Thịnh Quốc Toản đồng chủ trì đề tài “Bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam”. TS. Nguyễn Vạn Nguyên: "Các biện pháp ngăn chặn và những vấn đề nâng cao hiệu quả của chúng" (Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1995) PGS.TS Nguyễn Đức Thuận: “Về việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của bộ luật TTHS năm 2003” (Tạp chí luật học số 07 năm 2008) Một số điểm bất cập về tạm giữ và thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 – Khoa luật đại học Huế. ThS Trịnh Tiến Việt: “Về tự do cá nhân và các biện pháp cưỡng chế tố tụng” (NXB chính trị quốc gia Hà Nội 2006). TS. Trịnh Tiến Việt: “Pháp luật về biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và hướng sửa đổi, bổ sung” (Tạp chí nghiên cứu lập pháp). ThS Phạm Khắc Vực: “căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam” (Tạp chí khoa học pháp lý số 02 năm 2004). Tuy nhiên, các công trình trên chưa đi sâu nghiên cứu về thực tiễn áp dụng các biện pháp ngăn chặn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Chính vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện các quy định của Bộ luật TTHS 2003 và đưa ra những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra có ý nghĩa lý luận và thực tiễn phục vụ cho công tác đấu tranh ngăn chặn tội phạm và bảo vệ quyền con người. 3
  12. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.1. Mục đích nghiên cứu: là làm sáng tỏ một cách có hệ thống và toàn diện về mặt lý luận về các biện pháp ngăn chặn, đánh giá đúng thực trạng áp dụng các biện pháp ngăn chặn ở tỉnh Đắk Lắk., xác định đúng nguyên nhân của những thiếu sót trong việc áp dụng và trên cơ sở đó đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích trên, yêu cầu đặt ra phải giải quyết các nhiệm vụ sau: - Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về các biện pháp ngăn chặn. - Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về đối tượng, điều kiện, thẩm quyền, thủ tục áp dụng biện pháp ngăn chặn. - Phân tích thực trạng áp dụng các biện pháp ngăn chặn tại tỉnh Đắk Lắk.; làm rõ mặt được, mặt chưa được, xác định sơ hở, thiếu sót, nguyên nhân của chúng. Trên cơ sở đó, đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp ngăn chặn này. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu gồm các vấn đề lý luận, các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng quy định của luật TTHS về các biện pháp ngăn chặn. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan trong áp dụng các biện pháp nhăn chặn trong giai đoạn điều tra trên cơ sở số liệu thực tế tại địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2010 đến năm 2014. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Cơ sở lý luận là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ 4
  13. Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật được thực hiện trên cơ sở quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp luật tố tụng hình sự của Nhà nước về các biện pháp ngăn chặn. Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đề tài nghiên cứu bằng các phương pháp phân tích, thống kê, logic, tổng hợp, so sánh, dự báo, phương pháp chuyên gia kết hợp khảo sát thực tế, tham khảo ý kiến của các cán bộ làm công tác nghiên cứu và đồng nghiệp hoạt động thực tế trong điều tra phòng chống tội phạm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 6.1. Ý nghĩa lý luận Đề tài góp phần làm sáng tỏ và bổ sung vào khoa học pháp lý của luật TTHS Việt Nam về các biện pháp ngăn chặn. Là tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu, giảng dạy pháp luật và các cơ sở đào tạo Luật của Việt Nam. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của đề tài có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động áp dụng các biện pháp ngăn chặn tại tỉnh Đắk Lắk trong quá trình điều tra. Việc đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp ngăn chặn có ý nghĩa góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về các biện pháp ngăn chặn, hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật về các biện pháp ngăn chặn trong toàn quốc nói chung và tại tỉnh Đắk Lắk. nói riêng và có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho Cơ quan điều tra và đội ngũ ĐTV của tỉnh Đắk Lắk. Trong quá trình điều tra vụ án. 5
  14. 7. Bố cục của đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo luật TTHS Việt Nam. Chương 2: Quy định pháp luật và thực trạng áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo luật TTHS Việt Nam tại tỉnh Đắk Lắk. Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo luật TTHS Việt Nam tại tỉnh Đắk Lắk. 6
  15. Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo luật tố tụng hình sự Việt Nam 1.1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn Trong quá trình phát triển của lịch sử, Nhà nước ra đời là một tất yếu khách quan, là bộ máy cưỡng chế đặc biệt của giai cấp cầm quyền, là công cụ sắc bén để đảm bảo sự duy trì sự thống trị của giai cấp cầm quyền ấy. Nhà nước tồn tại bao giờ cũng gắn liền với một quyền lực mang tính chính trị, giai cấp được thực hiện bởi bộ máy cai trị như: quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù… mà ở đó Nhà nước bao giờ cũng quy định các biện pháp và giao cho những người đặc biệt chuyên làm nhiệm vụ quản lý, lớp người này được tổ chức thành các cơ quan nhà nước có sức mạnh cưỡng chế để thực hiện duy trì đuiạ vị của giai cấp thống trị. Ý chí của giai cấp thống trị trở thành ý trí thống trị xã hội thông qua quyền lực chính trị của nhà nước, như Mác – Ăng Ghen: “Nó thực chất là bạo lực có tổ chức của một giai cấp nhất định với giai cấp khác. Chính bạo lực có tổ chức của giai cấp thống trị đối với các giai cấp khác tạo nên bản chất của Nhà nước, đó là một tổ chức của quyền lực chính trị nhằm trấn áp giai cấp bị thống trị” [10]. Những biện pháp trấn áp của giai cấp thống trị với giai cấp khác, tầng lớp khác được thể hiện bằng các biện pháp cưỡng chế nhà nước, nó phản ánh bản chất giai cấp của nhà nước. Do đó có thể coi cưỡng chế Nhà nước là việc áp dụng các biện pháp bắt buộc để thực hiện các quyết định của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức đã không tự nguyện chấp hành quyết định của Nhà nước. 7
  16. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngoài những đặc điểm chung của nhà nước còn có những đặc điểm riêng khác biệt được thể hiện: Nhà nước Xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đội tiên phong của giai cấp công nhân, là Nhà nước của toàn thể nhân dân lao động. Để bảo vệ thành quả cách mạng đã đạt được trong cuộc đấu trang giai cấp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, ngăn ngửa và trừng trị những phần tử phá hoại quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Nhà nước Xã hội chủ nghĩa một mặt là một tổ chức chính trị hành chính, một cơ quan cưỡng chế đồng thời là một tổ chức quản lý kinh tế- xã hội của tòa thể nhan dân lao động. Bộ máy cưỡng chế hành chính của Nhà nước Xã hội chủ nghĩa được lập ra để bảo vệ quyền và lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, bảo đảm cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân, tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Do đó Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là công cụ của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức nhằm chống lại những hành vi xâm phạm vào lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Để thực hiện được điều đó, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có những biện pháp cưỡng chế nhà nước, có bộ máy đặc biệt để thực hiện việc cưỡng chế đối với tất cả các hành vi xâm phạm đến các lợi ích trên một cách cương quyết và mạnh mẽ. Để quản lý xã hội, Nhà nước tiến hành nhiều hoạt động trên cơ sở pháp luật, mỗi lĩnh vực, mỗi loại, nhóm quan hệ xã hội phải có các quy phạm pháp luật tương ứng điều chỉnh. Thực hiện tốt các quy phạm pháp luật lại là một đòi hỏi thiết thực hơn, bởi nó đi sâu vào tiềm thức, vào lòng tin của cộng đồng và chỉ có kết hợp cả hai vấn đề trên càng trở nên yêu cầu cấp thiết và chính đó đem lại cho ta tiêu chuẩn “Pháp chế Xã hội 8
  17. chủ nghĩa”. Đây là một yêu cầu đòi hỏi phải tăng cường pháp chế khi mà đời sống chính trị, xã hội của nước ta đang từng bước phát triển hội nhập. Luật Nhà nước quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tỏ chức của cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội trong đó thể hiện quyền lực của cơ quan tổ chức đó, nó chứa đựng các quy phạm thể hiện quyền uy biểu hiện cụ thể các hoạt động cưỡng chế, nó như là một phương thức tồn tại, trên cơ sở của việc sử dụng chúng trở thành phương tiện để quản lý Nhà nước. Luật hành chính cũng cố đối tượng và phương pháp điều chỉnh riêng, khi thực hiện luật này nó cũng mang tính cưỡng chế, thể hiện phương pháp điều chỉnh bất bình đẳng mà ở đó buộc các đối tượng vi phạm hành chính phải chấp hành. Bộ luật hình sự quy định tội phạm và hình phạt, trong các quy phạm này đã cho thấy hậu quả tất yếu của hành vi phạm tội là phải chịu trách nhiệm hình sự với một mức hình phạt tương ứng. Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng hình sự bao gồm các “Quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự”. Nó chứa đựng các quy phạm thể hiện việc cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng được áp dụng các biện pháp ngăn chặn khi có căn cứ do luật định, ở đây tính cưỡng chế đã đạt tới mức nghiêm khắc cao độ hơn hẳn các biện pháp cưỡng chế khác. Các hoạt động chứa đựng tính cưỡng chế ở các lĩnh vực khác nhau đã đem lại trong ý nghĩ nhiều người sự nhầm lẫn, làm mất đi giá trị nguyên bản của nó. Mỗi loại biện pháp phải được áp dụng ở những điều kiện nhất định, do những chủ thể nhất định tiến hành chứ không thể hiểu một cách mơ hồ đẫn đến sai lầm pháp luật. Đã có rất nhiều bài báo đưa vào dư luận xã hội một luồng thông tin về hoạt động áp dụng các biện pháp ngăn chặn dưới dạng mượn dư luận để gây sức ép, hoặc coi việc áp dụng một biện pháp ngăn chặn như là hình 9
  18. thức trừng phạt người có hành vi phạm tội. Đó là dạng các kết cục cho rằng: đối tượng A đã có hành vi(hành vi a,b,c nào đó) vì sao vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật?... Tuy nhiên cũng có quan điểm cho rằng: trong điều kiện phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường hiện nay cũng nên đặt vấn đề kinh tế để xem xét. Nếu cứ áp dung các quy định của pháp luật tối tụng hình sự trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn(như tạm giam) thì số lượng bị can, bị cáo ở các trại tạm giam tăng đáng kể gây áp lực về kinh tế và công tác quản lý giáo dục mà ở đó Nhà nước phải tăng chi phí cho các hoạt động kèm theo: chế độ ăn, ở, sinh hoạt, chế độ giam giữ canh gác, trang thiết bị cơ sở vật chất cũng phải tăng cường. Vậy thì nên chăng có biện pháp quản lý, giám sát được đối tượng mà vẫn đảm bảo mục tiêu ngăn chặn tội phạm, đảm bảo hiệu quả trong công tác điều tra khám phá án đồng thời đảm bảo được quyền con người và để họ tự lao động sản xuất nuôi sống bản thân trong cộng đồng xã hội nhằm giảm bớt chi phí ngân sách của nhà nước. Có quan điểm cho rằng phòng ngừa tội phạm cũng là biện pháp ngăn chặn tội phạm trong Tố tụng hình sự. Đây là quan điểm hình thức mà chưa thấy rõ bản chất phòng ngừa từ xa của công tác phòng ngừa tội phạm. Hiện nay chúng ta đã và đang thực hiện Chương trình Quốc gia phòng chống tội phạm, thực hiện các Nghị quyết của Đảng về đấu tranh phòng chống các loại tội phạm trong tình hình mới như Nghị quyết 48, Nghị quyết 21…. Còn đó các quan điểm lấp lửng biến hóa, biến tướng tùy tiện, đặc biệt trong hoạt động tạm giữ hành chính và tố tụng, coi đây như là một cứu cánh, chữa cháy cho hoạt động điều tra vụ án. Đó là tình trạng hình sự hóa các quan hệ pháp luật dân sự, hành chính, kinh tế hoặc ngược lại là lấy cưỡng chế thay cho hoạt động điều tra thu thập tài liệu chứng cứ. Từ các lý do đó đòi hỏi phải nghiên cứu những quy định của pháp luật 10
  19. tố tụng hình sự về các biện pháp ngăn chặn để đánh giá, xem xét trong mối quan hệ tương ứng để rút ra kinh nghiệm, kết luận đúng, áp dụng có hiệu quả góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đồng thời đảm bảo không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự mục đích cần đạt được là: “Nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội”(Điều 1–BLTTHS). Hoạt động này do nhiều chủ thể thực hiện trong đó vai trò, quyền và nhiệm vụ của các chủ thể khác nhau, có khi đối lập nhau vì vậy có khi các chủ thể là người bị nghi thực hiện tội phạm, bị can, bị cáo… thường tìm mọi cách gây khó khăn cản trở việc điều tra giải quyết vụ án hình sự do vậy pháp luật Tố tụng hình sự quy định các biện pháp ngăn chặn để áp dụng khi cần thiết phục vụ cho việc giải quyết vụ án. Việc đưa ra khái niệm đầy đủ, chính xác là yêu cầu tất yếu, tuy nhiên đến nay khái niệm về các biện pháp ngăn chặn vẫn còn có nhiều tranh luận. Theo từ điển nghiệp vụ phổ thông ngành Công an thì: “các biện pháp ngăn chặn trong phòng, chống tội phạm là biện pháp chủ động đối phó kịp thời không để cho bọn phản cách mạng và bọn phạm tội khác thực hiện âm mưu phạm tội của chúng”. Ở đây đã chỉ ra được rằng các biện pháp ngăn chặn là biện pháp thể hiện tính chủ động tấn công, phòng ngừa tội phạm nhưng chưa làm rõ được chủ thể cụ thể, đối tượng bị áp dụng và các căn cứ áp dụng. Theo các tác giả Phạm Thanh Bình và Nguyễn Vạn Nguyên nêu ra trong quyển: “Những điều cần biết về bắt người tạm giữ, tạm giam… đúng pháp luật” thì các biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế cần thiết trong Tố tụng hình sự do các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo và trong một số trường hợp được pháp luật quy định, có thể áp dụng đối với cả người chưa bị khởi tố (bắt trong trường hợp 11
  20. khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang) nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội và ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh hoặc có những hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án. Trong khái niệm này, các tác giả đã làm rõ đối tượng bị áp dụng và mục đích của việc áp dụng. Tuy nhiên chỉ nêu ra các chủ thể là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án là chưa đủ vì việc bắt người phạm tội quả tang, người có quyết định truy nã thì bát kỳ người nào cũng có quyền bắt hoặc lực lượng quản lý giáo dục phạm nhân tiến hành công tác thi hành án phạt tù, nhưng cơ quan đó không phải là cơ quan tiến hành tố tụng. Trên cơ sở trên có thể đưa ra khái niệm về các biện pháp ngăn chặn như sau: Các biện pháp ngăn chặn là các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự do những người có thẩm quyền theo luật định áp dụng đối với những người trong những trường hợp cụ thể do pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm ngăn chặn tội phạm, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và việc chấp hành bản án hình sự một cách đúng đắn, khách quan. 1.1.2. Đặc điểm của các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra theo luật tố tụng hình sự Việt Nam Một số nét về giai đoạn điều tra trong tố tụng hình sự Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự cơ bản và quan trọng để tăng cường pháp chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân trong các giai đoạn trước khi khởi tố của Viện kiểm sát và xét xử của Tòa án, cùng với các giai đoạn tố tụng hình sự khác góp phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội. Về khái niệm: Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự thứ hai mà trong đó cơ quan Điều tra căn cứ vào các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và dưới sự kiểm sát của Viện kiểm sát tiến hành các biện pháp 12
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2