intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thông qua cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn huyện Thanh Trì - Hà Nội

Chia sẻ: Cẩn Ngữ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:106

27
lượt xem
7
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài được nghiên cứu nhằm đạt được các mục đích cơ bản sau đây: Hệ thống hóa, phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng các quy định về giải quyết tranh chấp đất đai do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện; làm tài liệu tham khảo có giá trị cho các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của huyện Thanh Trì và là tài liệu tham khảo bổ ích cho sinh viên đại học và học viên sau đại học của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội nghiên cứu, tìm hiểu về hệ thống pháp luật đất đai nói chung và các quy định về giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Luật học: Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thông qua cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn huyện Thanh Trì - Hà Nội

  1. Đại học Quốc gia Hà nội Khoa luật Trần Thanh Thủy Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thông qua cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn huyện thanh trì - Hà nội Luận văn Thạc sĩ luật học Hà nội - 2009
  2. Đại học Quốc gia Hà nội Khoa luật Trần Thanh Thủy Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thông qua cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn huyện thanh trì - Hà nội Chuyên ngành : Luật kinh tế Mã số : 60 38 50 Luận văn Thạc sĩ luật học Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Quang Tuyến Hà nội - 2009
  3. MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH 6 CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THÔNG QUA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH 1.1. Những vấn đề lý luận chung về tranh chấp đất đai thông qua 6 cơ quan hành chính 1.1.1. Khái niệm về tranh chấp đất đai 6 1.1.2. Các dạng tranh chấp đất đai phổ biến 9 1.1.2.1. Tranh chấp về đòi lại đất đai 9 1.1.2.2. Tranh chấp liên quan đến bồi thường, giải phóng mặt bằng 14 và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 1.1.2.3. Tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện quyền và 15 nghĩa vụ của người sử dụng đất hợp pháp 1.1.2.4. Tranh chấp về ranh giới sử dụng đất 15 1.1.2.5. Tranh chấp về mục đích sử dụng 16 1.1.3. Nguyên nhân của tranh chấp đất đai 16 1.1.3.1. Nguyên nhân khách quan 17 1.1.3.2. Nguyên nhân chủ quan 18 1.2. Tổng quan về giải quyết tranh chấp đất đai 24 1.2.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai 24 1.2.2. Mục đích, ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp đất đai 27
  4. 1.2.3. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai 29 1.3.4. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai 31 1.3. Một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp đất đai của cơ 35 quan hành chính 1.3.1. Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước 35 1.3.2. Phân loại cơ quan hành chính nhà nước 38 1.3.2.1. Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung 38 1.3.2.2. Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền riêng 39 1.3.2. Hệ thống cơ quan hành chính ở nước ta 39 1.4. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định thẩm quyền giải 40 quyết tranh chấp đất đai cho cơ quan hành chính nhà nước 1.4.1. Cơ sở lý luận 40 1.4.2. Cơ sở thực tiễn 42 1.5. Đặc điểm của việc giải quyết tranh chấp đất đai do cơ quan 44 hành chính nhà nước thực hiện Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GIẨI QUYẾT 46 TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THÔNG QUA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH TRÌ 2.1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện 46 Thanh Trì 2.1.1. Điều kiện tự nhiên về đất đai 46 2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế, xã hội 47 2.1.2.1. Về kinh tế 48 2.1.2.2. Về y tế, văn hóa - xã hội 50 2.1.3. Vị trí và vai trò của huyện Thanh Trì trong sự phát triển của 51 Thủ đô Hà Nội 2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai 53 thông qua cơ quan hành chính trên địa bàn huyện Thanh Trì
  5. 2.2.1. Thực trạng chung về giải quyết tranh chấp đất đai trên địa 53 bàn huyện Thanh Trì 2.2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp đất 57 đai tại huyện Thanh Trì 2.2.2.1. Thực trạng áp dụng các quy định về thẩm quyền giải quyết 57 tranh chấp đất đai 2.2.2.2. Thực trạng áp dụng các quy định về trình tự, thủ tục giải 59 quyết tranh chấp đất đai 2.3. Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp 64 đất đai thông qua cơ quan hành chính trên địa bàn huyện Thanh Trì 2.3.1. Những thành công 64 2.3.2. Những hạn chế, tồn tại 71 2.3.3. Nguyên nhân dẫn đến hạn chế, tồn tại 74 2.3.3.1. Những nguyên nhân khách quan 74 2.3.3.2. Những nguyên nhân chủ quan 76 Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH 79 CHẤP ĐẤT ĐAI THÔNG QUA VIỆC NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG ÁP DỤNG TẠI HUYỆN THANH TRÌ 3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp 79 đất đai thông qua cơ quan hành chính 3.1.1. Hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai phải dựa 79 trên sự quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng về lĩnh vực đất đai 3.1.2. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính 81 quyền đối với công tác giải quyết tranh chấp đất đai 3.1.3. Hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp đất đai phải gắn 82 liền với việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai
  6. 3.1.4. Về tổ chức, chỉ đạo giải quyết tranh chấp, khiếu kiện về đất đai 84 3.1.4.1. Tăng cường việc tổ chức công tác tiếp dân ở các cấp chính quyền 84 3.1.4.2. Nâng cao trách nhiệm của cơ quan giải quyết tranh chấp 85 3.1.4.3. Nâng cao năng lực, trình độ cho đội ngũ cán bộ làm công 86 tác giải quyết tranh chấp 3.1.4.4. Cần thành lập hệ thống cơ quan tài phán hành chính về đất đai 86 3.1.4.5. Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật, nâng cao 87 nhận thức 3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai 87 3.2.1. Sửa đổi, bổ sung quy định hiện hành về hòa giải tranh chấp 87 đất đai 3.2.2. Sửa đổi, bổ sung quy định về thẩm quyền giải quyết tranh 89 chấp đất đai 3.3. Giải pháp tăng cường và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh 90 chấp đất đai của các cơ quan hành chính 3.3.1. Tập trung xử lý dứt điểm các vụ việc tranh chấp đất đai tồn 90 đọng không để phát sinh trở thành "điểm nóng" gây mất ổn định chính trị 3.3.2. Hạn chế phát sinh những vụ tranh chấp, khiếu kiện đất đai mới 91 KẾT LUẬN 92 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
  7. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT HTX : Hợp tác xã GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GPMB : Giải phóng mặt bằng QSDĐ : Quyền sử dụng đất SDĐ : Sử dụng đất TAND : Tòa án nhân dân UBND : Ủy ban nhân dân
  8. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Tranh chấp đất đai là một hiện tượng xã hội tồn tại phổ biến. Nó là những bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ đất đai. Tranh chấp đất đai để lại các hệ lụy xấu phá vỡ sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân, là nguy cơ tiềm ẩn sự mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và là điều kiện để các thế lực thù địch tuyên truyền kích động, xuyên tạc, chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam v.v... Để ngăn ngừa nguy cơ tiềm ẩn sự mất ổn định chính trị và duy trì khối đại đoàn kết toàn dân, vấn đề giải quyết tranh chấp đất đai được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Trong các đạo luật đất đai được ban hành như Luật đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 đều có các quy định về giải quyết tranh chấp đất đai. Theo đó, tranh chấp đất đai được giải quyết thông qua hòa giải ở cơ sở do các tổ hòa giải thôn, xóm, tổ dân phố và chính quyền xã, phường, thị trấn thực hiện. Chỉ khi hòa giải ở cơ sở không thực hiện được thì tranh chấp đất đai mới do Tòa án nhân dân (TAND) hoặc Ủy ban nhân dân (UBND) cấp huyện trở lên giải quyết. Để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp đất đai đã có nhiều công trình nghiên cứu, tìm hiểu việc giải quyết tranh chấp đất đai do UBND các cấp thực hiện. Tuy nhiên việc đi sâu tìm hiểu việc giải quyết tranh chấp đất đai do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện trên phạm vi địa bàn một huyện như huyện Thanh Trì (Hà Nội) thì dường như còn ít có công trình nghiên cứu. Hơn nữa trong điều kiện kinh tế thị trường, đất đai ngày càng có giá trị cao thì các tranh chấp, khiếu kiện đất đai ngày càng gia tăng; đặc biệt tại Thủ đô Hà Nội - nơi có vị trí địa chính trị vô cùng quan trọng. Để góp phần tháo "ngòi nổ" của các điểm nóng do tranh chấp, khiếu kiện đất đai gây ra trên địa bàn Thủ đô Hà Nội thì việc nghiên cứu, tìm hiểu và đưa ra các giải pháp nâng cao 1
  9. chất lượng công tác giải quyết tranh chấp đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước xem xét trong phạm vi một huyện ngoại thành cụ thể như huyện Thanh Trì là một việc làm có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Với ý nghĩa đó, tôi lựa chọn đề tài "Pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thông quan cơ quan hành chính Nhà nước trên địa bàn huyện Thanh trì - Hà Nội" làm luận văn thạc sĩ luật học. 2. Tình hình nghiên cứu Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai tiếp cận dưới góc độ pháp luật là một vấn đề không mới nước ta. Thời gian qua đã có nhiều công trình khoa học đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề này được công bố; có thể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau: 1. Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật đất đai, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2008; 2. Giải quyết tranh chấp đất đai bằng tòa án qua thực tiễn tại một địa phương, của Mai Thị Tú Oanh, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 8, 2009; 3. Đặc san về Luật đất đai năm 2003, Tạp chí Luật học, 2005; 4. Loại tranh chấp đất đai nào phải qua thủ tục hòa giải tại cơ sở, của Phan Gia Ngọc, Tạp chí TAND, số 18, 2009; 5. Tài liệu Hội thảo khoa học: Cải cách pháp luật và cải cách tư pháp nhìn từ vấn đề tranh chấp đất đai, do Viện Nhà nước và Pháp luật (Viện Khoa học xã hội Việt Nam) tổ chức tại Hà Nội, tháng 5 năm 2004; 6. Pháp luật Tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử, của Tưởng Duy Lượng, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009; 7. Tài liệu Hội thảo Khoa học: Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai, do Trung tâm Thông tin, Tư liệu và Nghiên cứu Khoa học - Văn phòng Quốc hội và Ủy ban nhân dân tỉnh Đắc Lắc tổ chức tại Buôn Mê Thuột, tháng 10 năm 2008; 8. Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Bộ: Cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân, Viện Khoa học xét xử - Tòa án nhân dân tối cao, Hà Nội, 2004 v.v...; 2
  10. Các công trình khoa học đã được công bố nêu trên nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai dưới các góc độ thực tiễn áp dụng, cơ sở lý luận v.v... mà chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của việc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua cơ quan hành chính nhà nước và đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thông qua cơ quan hành chính nhà nước; đồng thời đưa ra định hướng và các giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định giải quyết tranh chấp đất đai xem xét trên phạm vi địa bàn của một huyện cụ thể của Thủ đô Hà Nội là huyện Thanh Trì. Trên cơ sở kế thừa những thành quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã được công bố về giải quyết tranh chấp đất đai xem xét dưới góc độ pháp luật, luận văn đi sâu, tìm hiểu pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thông qua cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn huyện Thanh Trì - Hà Nội trên cả hai phương diện: phương diện lý luận và phương diện thực tiễn. 3. Mục đích nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu nhằm đạt được các mục đích cơ bản sau đây: - Hệ thống hóa, phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng các quy định về giải quyết tranh chấp đất đai do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện; - Là tài liệu tham khảo có giá trị cho các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của huyện Thanh Trì và là tài liệu tham khảo bổ ích cho sinh viên đại học và học viên sau đại học của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội nghiên cứu, tìm hiểu về hệ thống pháp luật đất đai nói chung và các quy định về giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng. 4. Nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm các vấn đề chủ yếu sau đây: 3
  11. - Lý giải những vấn đề lý luận chung về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai thông qua các cơ quan hành chính nhà nước; - Đánh giá thực trạng pháp luật đất đai thông qua việc tìm hiểu, phân tích thực trạng áp dụng trên địa bàn huyện Thanh Trì - Hà Nội; - Đưa ra định hướng và đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai ở nước ta. 4.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là: - Các quy định hiện hành về giải quyết tranh chấp đất đai; - Thực tiễn áp dụng các quy định hiện hành về giải quyết tranh chấp đất đai trên địa bàn huyện Thanh Trì - Hà Nội. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đặt ra; trong quá trình nghiên cứu Luận văn đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau đây: (i) Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin; (ii) Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: - Phương pháp bình luận, diễn giải, phương pháp lịch sử… được sử dụng trong chương 1 khi nghiên cứu tổng quan những vấn đề lý luận về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai thông qua cơ quan hành chính nhà nước; - Phương pháp so sánh luật học, phương phương pháp đánh giá v.v... được sử dụng trong chương 2 khi tìm hiểu thực trạng áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thông qua cơ quan hành chính trên địa bàn huyện Thanh trì; 4
  12. - Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp… được sử dụng ở chương 3 khi xem xét, tìm hiểu về hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thông qua việc nghiên cứu thực trạng áp dụng tại huyện Thanh Trì. 6. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Tổng quan những vấn đề lý luận về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai thông qua cơ quan hành chính nhà nước. Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thông qua cơ quan hành chính trên địa bàn huyện Thanh trì. Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai thông qua việc nghiên cứu thực trạng áp dụng tại huyện Thanh Trì. 5
  13. Chương 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THÔNG QUA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH 1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI THÔNG QUA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH 1.1.1. Khái niệm về tranh chấp đất đai "Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng" (Lời nói đầu Luật Đất đai năm 1993). Trong điều kiện nền kinh tế nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước đổi mới cơ chế quản lý đất đai cho phù hợp với đòi hỏi của sự phát triển đất nước trong tình hình mới; đất đai ngày càng trở lên có giá. Người sử dụng đất (SDĐ) ngày càng nhận thức được giá trị to lớn của đất đai. Họ gắn bó lâu dài với đất, chú trọng đến đầu tư, cải tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng. Tuy nhiên do đất đai có giá trị lớn là một trong những nguyên nhân khách quan làm phát sinh những bất đồng, mâu thuẫn trong SDĐ, khi các chủ thể SDĐ không tìm được "tiếng nói chung" về chia sẻ lợi ích do đất đai mang lại. Khoa học pháp lý nước ta gọi những bất đồng, mâu thuẫn này là tranh chấp đất đai. Vậy tranh chấp đất đai là gì? Tranh chấp đất đai là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các sách, báo pháp ở nước ta. Thuật ngữ này được một số công trình nghiên cứu dưới đây đi sâu tìm hiểu: Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng do Nguyễn Như Ý (chủ biên): "Tranh chấp: 1. Giành giật, giằng co nhau cái không rõ thuộc về bên nào; 2. Bất đồng, trái ngược nhau" [42, tr. 808]; 6
  14. Theo Giáo trình Luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội: "Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai" [32, tr. 455]; Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội: "Tranh chấp đất đai: Tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai" [29, tr. 74]; Theo Luật đất đai năm 2003:"Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai" (khoản 26 Điều 4); Từ các quan niệm về tranh chấp đất đai trên đây, chúng ta có thể nhận diện loại tranh chấp này dựa trên một số đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, về bản chấp pháp lý. Tranh chấp đất đai trước hết là những bất đồng, mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ nhân dân. Song đây không phải là những bất đồng, mâu thuẫn nói chung mà là những bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ của người SDĐ. Điều này có nghĩa là tranh chấp đất đai là những bất đồng, mâu thuẫn liên quan đến những việc người SDĐ được làm (quyền) và những việc không được làm hoặc phải thực hiện (nghĩa vụ) do pháp luật quy định trong quá trình SDĐ. Hay nói cách khác, đối tượng của tranh chấp đất đai là những bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ của người SDĐ trong quan hệ đất đai; Thứ hai, chủ thể của tranh chấp đất đai. Do chế độ sở hữu đất đai ở nước ta mang tính đặc thù: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Người SDĐ (bao gồm tổ chức, hộ gia đình, cá nhân; cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư; tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài) không có quyền sở hữu đất đai. Họ chỉ được quyền SDĐ khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất và công nhận quyền SDĐ. Nên chủ thể của tranh chấp đất đai là người SDĐ bao gồm hai hoặc nhiều bên 7
  15. trong quan hệ đất đai. Hay nói cách khác, tranh chấp đất đai không phải là tranh chấp về quyền sở hữu đất đai mà chỉ là các tranh chấp về quyền chiếm hữu, quyền quản lý hoặc quyền SDĐ giữa những người SDĐ với nhau hoặc giữa họ với các bên liên quan trong quan hệ đất đai; Thứ ba, đối tượng của tranh chấp đất đai. Đối tượng của tranh chấp đất đai không phải là đất đai (vật) mà là các quyền và nghĩa vụ của người SDĐ (quyền và nghĩa vụ sử dụng vật); Đối tượng của tranh chấp đất đai được nhận diện trên hai khía cạnh: (i) Về khía cạnh pháp lý. Đối tượng của tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người SDĐ giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai; (ii) Về khía cạnh kinh tế. Đối tượng của tranh chấp đất đai là tranh chấp về lợi ích kinh tế (các lợi ích vật chất được tạo ra từ đất đai trong quá trình sử dụng) giữa các chủ thể trong quá trình quản lý và SDĐ; Thứ tư, về nội dung của tranh chấp đất đai. Tranh chấp đất đai có nội hàm rất đa dạng và phức tạp. Nó phong phú về thể loại: Tranh chấp về thừa kế quyền SDĐ; tranh chấp về phân chia tài sản nhà, đất khi vợ chồng ly hôn; tranh chấp về các giao dịch về quyền SDĐ; tranh chấp về đòi lại đất cho ở nhờ, cho mượn... Tranh chấp đất đai đa dạng về chủ thể tranh chấp: Các bên tranh chấp đất đai có thể là hộ gia đình, cá nhân; tổ chức (tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài); cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo v.v...; Thứ năm, Việt Nam là một nước nông nghiệp có khoảng 70% dân số là nông dân, tỷ lệ diện tích đất canh tác trên một đầu người vào loại thấp trên thế giới; nên đất đai có vai trò rất quan trọng trên các khía cạnh kinh tế, xã hội, chính trị. Hơn nữa, đất đai là vấn đề rất nhạy cảm về mặt chính trị; vì vậy tranh chấp đất đai dễ gây ra sự mất ổn định về chính trị và làm đảo lộn trật tự các quan hệ xã hội đã được xác lập; Mặt khác, đất đai liên quan trực tiếp đến lợi ích của mọi thành viên trong xã hội (đặc biệt là người nông dân) nên tranh chấp đất đai xảy ra đã lôi 8
  16. kéo rất đông người tham gia. Họ không chỉ là các thành viên trong hộ gia đình mà còn cả người của các dòng họ, dân cư trong thôn, xóm. Tranh chấp đất đai phản ánh phong tục, tập quán, nếp suy nghĩ, hành vi ứng xử, trình độ văn hóa khác nhau của cư dân ở các địa phương, các vùng miền trong cả nước. Điều này làm cho tính chất tranh chấp đất đai rất phức tạp, việc giải quyết gặp nhiều khó khăn, vướng mắc và kéo dài. 1.1.2. Các dạng tranh chấp đất đai phổ biến1 Tranh chấp đất đai là một hiện tượng xã hội gây ảnh hưởng tiêu cực đến sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Việc tìm hiểu, nhận diện các tranh chấp đất đai là việc làm rất cần thiết nhằm loại bỏ những nguyên nhân phát sinh tranh chấp góp phần duy trì sự ổn định chính trị. Thời gian qua đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tranh chấp đất đai trên các khía cạnh khác nhau như xã hội, văn hóa, pháp lý, lịch sử v.v... đã được công bố. Trên cơ sở tiếp cận kết quả các công trình khoa học này và tìm hiểu thực tiễn về tranh chấp đất đai hiện nay, chúng ta có thể nhận diện một số dạng tranh chấp phổ biến sau đây: 1.1.2.1. Tranh chấp về đòi lại đất đai Đây là một dạng tranh chấp xuất hiện ngày càng nhiều; đặc biệt khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, với những thay đổi về cơ chế quản lý đất đai thông qua việc Nhà nước giao quyền sử dụng đất (QSDĐ) ổn định lâu dài và người SDĐ được chuyển QSDĐ trong thời hạn giao đất, cho thuê đất v.v... đã khiến người dân nhận thức được giá trị to lớn của đất đai. Mặc dù, Hiến pháp năm 1992 và các đạo luật đất đai được ban hành đều khẳng định quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý song nhận thức của một bộ phận không nhỏ người dân vẫn không đoạn tuyệt với hình thức sở hữu tư nhân về đất đai. Họ vẫn quan niệm rằng 1 Xem từ bài viết của TS. Doãn Hồng Nhung. 9
  17. đất đai mà Nhà nước giao cho sử dụng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) là của mình. Hơn nữa trong điều kiện kinh tế thị trường, đất đai được trả lại những giá trị ban đầu vốn có; nên người dân ngày càng ý thức sâu sắc được giá trị của đất đai. Chính vì vậy, dạng tranh chấp về đòi lại đất vẫn cứ tiếp tục diễn ra với những tình tiết phức tạp, khiếu kiện đông người và kéo dài. Nghiên cứu về vấn đề này có thể nhận dạng một số dạng tranh chấp phổ biến sau đây: Thứ nhất, tranh chấp về đòi lại đất đai mà trước đây ông cha đã hiến tặng cho Nhà nước, cho các tổ chức hoặc hộ gia đình, cá nhân (thực hiện chính sách "nhường cơm - sẻ áo") khi thực hiện chính sách đất đai qua các thời kỳ của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Thứ hai, tranh chấp về đòi lại đất nông nghiệp trước đây đã góp vào hợp tác xã (HTX) nay HTX giải thể hoặc chuyển đổi phương thức hoạt động; Sau cải cách ruộng đất, nông nghiệp, nông thôn bước vào thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp. Đặc biệt từ năm 1958, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp theo mô hình sản xuất tập thể, quản lý tập trung: Nhà nước thành lập các HTX, tập đoàn sản xuất với chính sách đưa đất của người dân vào tập đoàn và sau đó phân bổ, giao khoán lại cho các thành viên của tập đoàn theo nguyên tắc bình quân khẩu (cào bằng), trong đó có cả những hộ dân thiếu đất hay không có đất. Trong một thời gian dài do duy trì Sau một thời gian dài duy trì cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp và chậm thay đổi cơ chế quản lý mới khi đất nước chuyển sang kinh tế thị trường nên nhiều HTX, tập đoàn sản xuất hoạt động không hiệu quả, làm ăn thua lỗ kéo dài bị buộc phải giải thể. Để giải phóng năng lực sản xuất của người lao động trong sản xuất nông nghiệp, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết Trung ương 10/TW năm 1988 về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông 10
  18. nghiệp; theo đó, đất đai được phân chia đến hộ gia đình, cá nhân để sản xuất. Do việc phân chia đất đai không hợp lý, một số cán bộ xã, huyện đã làm sai như chia đất sản xuất cho những người không phải là nông dân tạo điều kiện cho họ đem bán, cho thuê, trong khi đó nông dân không có đất sản xuất. Một số hộ trước khi vào tập đoàn sản xuất, HTX có đất, đến khi HTX giải thể họ không có đất để canh tác. Nhiều người trở lại đòi lại đất gây nên tình trạng mất ổn định trong sản xuất, đời sống, làm cho tâm lý người đang sử dụng ổn định bất an. Dạng tranh chấp này rất phức tạp và thường kéo dài, Nhà nước lại không thừa nhận việc đòi lại đất trong trường hợp đã góp vào HTX (bởi các tư liệu sản xuất trở thành tài sản chung của tập thể- sở hữu tập thể). Thứ ba, tranh chấp về đòi lại đất cho ở nhờ hoặc cho mượn đất. Dạng tranh chấp này phát sinh do việc một bên cho bên kia mượn đất, thuê đất, cho ở nhờ. Có vụ cho mượn, thuê gần đây, có vụ cho mượn, thuê cách đây vài chục năm (nhất là ở miền Nam). Trong nhiều trường hợp không làm hợp đồng, chỉ giao kết bằng miệng dẫn đến khi bên cho mượn, cho thuê, cho ở nhờ hoặc hết hạn hợp đồng, hoặc đòi lại, bên mượn, thuê, ở nhờ đã xây dựng nhà kiên cố, một số có tên trong sổ địa chính hoặc được cấp GCNQSDĐ thì việc tranh chấp này càng trở nên phức tạp, dẫn đến việc công dân khiếu kiện lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc cấp GCNQSDĐ. - Tranh chấp giữa những người làm nghề thủ công, nay thất nghiệp trở về đòi lại ruộng của những người làm nông nghiệp: Những người làm nghề thủ công trước đây đã được phân ruộng để sản xuất, để ở. Sau đó họ không sản xuất nông nghiệp nữa hoặc chuyển đi nơi khác để làm nghề, đến nay họ trở về đòi lại đất để sản xuất, để ở. - Tranh chấp về đòi lại đất có nguồn gốc khai hoang; đất vô chủ, đất vắng chủ do Nhà nước quản lý. Dù các quy định hiện hành đã có nhiều hướng gợi mở để tháo gỡ vướng mắc trong quá trình sử dụng đối với loại đất này 11
  19. nhưng vẫn còn nhiều bất cập. Ví dụ: người dân tự khai hoang nhưng không đóng thuế sử dụng, chưa tiến hành xây dựng, không có bằng chứng, giấy tờ thể hiện việc sử dụng ổn định; khi Nhà nước lấy đất thực hiện dự án thì không được xem xét bồi thường hoặc không được bồi thường thỏa đáng, hoặc không có quy định về việc hợp thức QSDĐ cho người dân, cũng dẫn đến tranh chấp, khiếu kiện. - Tranh chấp đòi lại đất, tài sản của nhà thờ, các dòng tu, chùa chiền, miếu mạo, nhà thờ họ. Dạng tranh chấp này thường xảy ra như sau: Trước đây do hoàn cảnh lịch sử, chính quyền địa phương đã mượn đất của các cơ sở nói trên để sử dụng hoặc tịch thu một số cơ sở để làm trụ sở cơ quan, trường học... đến nay các cơ sở đó đòi lại nhưng Nhà nước không trả lại được nên dẫn đến khiếu kiện của các cơ sở đó (ví dụ: Vụ đòi lại đất tại 178 Nguyễn Lương Bằng, đòi lại đất tại 42 Nhà Chung của giáo xứ Thái Hà và Tòa Giám mục Hà Nội… trong thời gian vừa qua). Ngoài ra, một số người được các nhà thờ, dòng tu, chùa chiền, nhà thờ họ cho đất để ở họ đã xây dựng nhà kiên cố, hoặc lấn chiếm thêm đất của các cơ sở nói trên dẫn đến việc các cơ sở nói trên đòi lại đất, nhà. - Tranh chấp về đòi lại đất của ông cha đã được Nhà nước chia cấp cho người khác sử dụng khi thực hiện chính sách đất đai qua các thời kỳ. Do một số người bỏ đi nơi khác ở, ra nước ngoài sinh sống cũng trở về đòi lại đất đai, tài sản trước đây của họ đã được giao cho người khác quản lý, sử dụng. - Tranh chấp về đòi lại đất giữa đồng bào dân tộc thiểu số với đồng bào ở các địa phương khác di cư đến khai hoang, làm kinh tế mới: Việc di dân (đặc biệt là di dân tự do) không phải trường hợp nào cũng được chính quyền sở tại cấp đất, dẫn đến việc người mới đến phá rừng, lấn chiếm đất đai dẫn đến tranh chấp với đồng bào dân tộc sở tại. Các tranh chấp này thường xảy ra ở các vùng kinh tế mới ở Tây Nguyên và một số tỉnh miền núi phía Bắc,... 12
  20. - Tranh chấp giữa các nông trường, lâm trường, các đơn vị bộ đội, các tổ chức SDĐ khác với nhân dân địa phương. Do cơ chế trước đây nên dẫn đến tình trạng các nông trường, lâm trường, các đơn vị quân đội bao chiếm một lượng lớn đất đai, không sử dụng hết để đất bỏ hoang hoặc cho người dân sử dụng theo hình thức "phát canh, thu tô". Việc SDĐ không hiệu quả, quản lý lại lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng người dân chiếm đất để sử dụng. Các tranh chấp diễn ra gây mất đoàn kết địa phương, tình cảm quân dân. - Tranh chấp về QSDĐ, tài sản gắn liền với QSDĐ khi vợ chồng ly hôn: Đây là trường hợp tranh chấp đất hoặc tài sản gắn liền với QSDĐ khi vợ chồng ly hôn. Đất tranh chấp có thể là đất nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc đất để ở; có thể là giữa vợ chồng với nhau hoặc giữa một bên ly hôn với hộ gia đình vợ hoặc chồng. Nhiều trường hợp cha mẹ cho con đất ra ở riêng, đến khi ly hôn thì cha mẹ đòi lại với lý do là cho ở nhờ. Bởi vì khi cho, cha mẹ không thể hiện bằng văn bản, không có xác nhận của chính quyền địa phương. Dạng tranh chấp này cũng khá phổ biến và thường kéo dài, khó giải quyết. - Tranh chấp về quyền thừa kế QSDĐ, tài sản gắn liền với QSDĐ. Dạng tranh chấp này rất phức tạp bởi trong một vụ tranh chấp thường liên quan đến nhiều đời, nhiều thế hệ. Trường hợp người SDĐ chết mà không để lại di chúc và những người thừa kế không tự thỏa thuận được với nhau về phân chia thừa kế hoặc không hiểu rõ những quy định pháp luật về thừa kế đất đai nên tranh giành nhau. Hoặc người sử dụng có lập di chúc nhưng do di chúc có một phần trái pháp luật hay hình thức không đúng theo quy định pháp luật. Ngoài ra, việc lập di chúc không rõ ràng, cụ thể cũng gây ra tranh chấp đất đai. Dạng tranh chấp này gây ảnh hưởng không tốt đến quan hệ gia đình nói riêng và quan hệ xã hội nói chung. Trước đây, do chiến tranh hoặc do điều kiện sinh hoạt, người SDĐ vì một lý do nào đó không tiếp tục sử dụng nữa, đất đai bị bỏ hoang. Sau đó, anh 13
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2