intTypePromotion=1
ADSENSE

Luận văn Thạc sĩ Luật học: Thủ tục tố tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm theo Luật tố tụng hình sự Việt nam trước yêu cầu cải cách tư pháp (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn Tỉnh Đắk lắk)

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:112

6
lượt xem
1
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về thủ tục tại phiên tòa hình sự sơ thẩm và thực tiễn áp dụng các quy định về thủ tục phiên tòa hình sự sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Đắklắk. Từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về thủ tục tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn Thạc sĩ Luật học: Thủ tục tố tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm theo Luật tố tụng hình sự Việt nam trước yêu cầu cải cách tư pháp (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn Tỉnh Đắk lắk)

  1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN VĂN CHUNG THñ TôC Tè TôNG T¹I PHI£N TßA XÐT Xö S¥ THÈM THEO LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM TR¦íC Y£U CÇU C¶I C¸CH T¦ PH¸P (trªn c¬ së sè liÖu thùc tiÔn ®Þa bµn tØnh §¾k L¾k) LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2015
  2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN VĂN CHUNG THñ TôC Tè TôNG T¹I PHI£N TßA XÐT Xö S¥ THÈM THEO LUËT Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM TR¦íC Y£U CÇU C¶I C¸CH T¦ PH¸P (trªn c¬ së sè liÖu thùc tiÔn ®Þa bµn tØnh §¾k L¾k) Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự Mã số: 60 38 01 04 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN NGỌC CHI HÀ NỘI - 2015
  3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nguyễn Văn Chung
  4. MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC PHIÊN TÒA SƠ THẨM HÌNH SỰ ............................................................... 8 1.1. THỦ TỤC PHIÊN TÒA SƠ THẨM HÌNH SỰ .................................. 8 1.1.1. Phiên tòa sơ thẩm hình sự .................................................................... 8 1.1.2. Vai trò của thủ tục phiên tòa sơ thẩm hình sự .................................... 19 1.2. THỦ TỤC PHIÊN TÒA SƠ THẨM HÌNH SỰ CỦA MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI ................................................................... 22 1.2.1. Phiên tòa sơ thẩm một số nƣớc trong mô hình tố tụng hình sự tranh tụng ............................................................................................ 23 1.2.2. Phiên tòa sơ thẩm một số nƣớc trong mô hình tố tụng hình sự thẩm vấn ............................................................................................. 26 1.2.3. Phiên tòa sơ thẩm một số nƣớc trong mô hình tố tụng hình sự đan xen ............................................................................................... 28 1.3. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ THỦ TỤC PHIÊN TÒA SƠ THẨM TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM (NĂM 1945) CHO ĐẾN NAY ....................................................................... 30 1.3.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám (năm 1945) đến trƣớc năm 1988 ............................................................................................ 31 1.3.2. Giai đoạn từ khi ban hành BLTTHS (năm 1988) đến năm 2003 .......... 33 KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 35
  5. Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN VỀ THỦ TỤC PHIÊN TÒA SƠ THẨM HÌNH SỰ TẠI TỈNH ĐĂKLĂK .......................................................................................... 36 2.1. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC PHIÊN TÒA SƠ THẨM HÌNH SỰ ................................................................................ 36 2.1.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về thủ tục phiên tòa sơ thẩm ...... 36 2.1.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về chủ thể tham gia phiên tòa sơ thẩm ............................................................................... 49 2.1.3. Quy định của pháp luật về các thủ tục khác tại phiên tòa sơ thẩm hình sự ....................................................................................... 58 2.1.4. Những bất cập, hạn chế của BLTTHS năm 2003 về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự ..................................................... 62 2.2. THỰC TIỄN VỀ THỦ TỤC PHIÊN TÒA SƠ THẨM HÌNH SỰ TẠI TỈNH ĐẮKLẮK .................................................................. 65 2.2.1. Tình hình ............................................................................................ 65 2.2.2. Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân ............................................. 71 KẾT LUẬN CHƢƠNG 2................................................................................ 79 Chƣơng 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ THỦ TỤC PHIÊN TÒA SƠ THẨM HÌNH SỰ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƢ PHÁP .......80 3.1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 2003 VỀ THỦ TỤC PHIÊN TÒA SƠ THẨM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƢ PHÁP ....................................................................... 80 3.1.1. Đòi hỏi của thực tiễn xét xử ............................................................... 80 3.1.2. Yêu cầu bảo đảm quyền con ngƣời .................................................... 81 3.2. NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VỀ THỦ TỤC PHIÊN TÒA SƠ THẨM .................................................................................. 82
  6. 3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về thủ tục phiên tòa sơ thẩm .................................................................................................... 82 3.2.2. Hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến thủ tục phiên tòa sơ thẩm ............................................................................... 89 3.3. NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHIÊN TÒA SƠ THẨM .......................................................................................... 92 3.3.1. Đối với thẩm phán và hội thẩm nhân dân .......................................... 92 3.3.2. Đối với kiểm sát viên ......................................................................... 94 3.3.3. Đối với ngƣời bào chữa, ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đƣơng sự.............................................................................. 95 3.3.4. Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục, pháp luật ......................... 96 KẾT LUẬN CHƢƠNG 3................................................................................ 98 KẾT LUẬN .................................................................................................... 99 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 101
  7. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự CCTP: Cải cách tƣ pháp HĐXX: Hội đồng xét xử TAND: Tòa án nhân dân TANDTC: Tòa án nhân dân Tối cao TTHS: Tố tụng hình sự VKS: Viện kiểm sát VKSND: Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân Tối cao XHCN: Xã hội chủ nghĩa
  8. DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu bảng Tên bảng Trang Bảng 2.1: Số vụ án đã giải quyết trên số án thụ lý của các loại tội từ năm 2009 đến năm 2013 69 Bảng 2.2: Kết quả xét xử phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đắklắk năm 2009- 2013 7068 Bảng 2.3: Kết quả xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đắklắk năm 2009- 2013 71 Bảng 2.4: Nhân thân các bị cáo đã xét xử từ 2009 đến 2013 71 Bảng 2.5: Số lƣợng và trình độ công chức của hai cấp Tòa án nhân dân tỉnh Đắklắk 70
  9. MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cải cách tƣ pháp nói chung, cải cách Tòa án nói riêng là những nhiệm vụ quan trọng trong tiến trình đổi mới hệ thống chính trị và xây dựng, củng cố Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đã đƣợc khẳng định trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng, nhƣ: Nghị quyết Trung ƣơng 8 khóa VII; Nghị quyết Trung ƣơng 3 và 7 khóa VIII; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng; Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ chính trị ngày 02/01/2002 về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”. Đặc biệt, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”; Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/07/2010 của Bộ Chính trị; Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI… đã đề ra nhiệm vụ đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, với mục tiêu là xây dựng nền tƣ pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bƣớc hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tƣ pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử đƣợc tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao. Ngày 28/11/2013, Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Hiến pháp mới, trong đó quy định Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tƣ pháp, thể hiện sự phân công quyền lực Nhà nƣớc mạch lạc, đề cao trách nhiệm của Tòa án trong việc thực hiện quyền tƣ pháp; Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con ngƣời, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến của nƣớc ta, trong Hiến pháp đƣợc quy định rõ “Tòa án thực hiện quyền tư pháp”. 1
  10. Trong hoạt động tố tụng nói chung và tố tụng hình sự nói riêng, Tòa án giữ vai trò là trung tâm. Có thể nói, hoạt động xét xử tại phiên tòa đƣợc xem là hoạt động quan trọng nhất, đƣợc coi là trung tâm của quá trình tố tụng hình sự. Thông qua phiên tòa, các chức năng cơ bản của tố tụng đƣợc bảo đảm thực hiện một cách rõ nét, công khai, dân chủ và bình đẳng. Hội đồng xét xử thực hiện chức năng của mình bằng việc đƣa ra những phán quyết khách quan, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan ngƣời vô tội. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa”. Sau đó, trong chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị một lần nữa yêu cầu: “Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp…” [4]. Mới đây nhất, tại Nghị quyết số 37/NQ-QH13 ngày 23 tháng 11 năm 2012 của Quốc hội khoá XIII tiếp tục khẳng định: “Toà án nhân dân tối cao chỉ đạo các Toà án tiếp tục đẩy mạnh việc tranh tụng tại phiên toà”. Tuy nhiên, trong thời gian qua việc thực hiện chủ trƣơng này còn nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó nguyên nhân chủ yếu là do những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003 (BLTTHS) còn bộc lộ nhiều khiếm khuyết dẫn tới những bất cập, vƣớng mắc trong thực tiễn áp dụng, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của công cuộc cải cách tƣ pháp hiện nay. Trên thực tiễn, hiện tƣợng vi phạm các quy định về thủ tục tố tụng vẫn xảy ra ở nhiều phiên tòa gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của những ngƣời tham gia tố tụng, ảnh hƣởng tới kết quả xét xử. Tình trạng kết án oan cho ngƣời vô tội vẫn còn xảy ra gây bất bình trong dƣ luận, điển hình nhƣ: Vụ ông 2
  11. Nguyễn Minh Hùng bị Tòa án nhân dân Tỉnh Tây Ninh kết án tử hình về tội mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy; vụ ông Trần Văn Chiến bị Tòa án nhân dân Tỉnh Tiền Giang kết án chung thân về tội giết ngƣời; vụ ông Bùi Minh Hải bị Tòa án Tỉnh Đồng Nai kết án chung thân về tội giết ngƣời, cƣớp tài sản và hiếp dâm... và gần đây nhất là vụ ông Nguyễn Thanh Chấn bị Tòa án Tỉnh Bắc Giang kết án chung thân về tội giết ngƣời vừa đƣợc trả tự do sau hơn 10 năm thụ án.... Là một tỉnh nằm ở trung tâm của Tây nguyên, Đắklắk có vị trí chiến lƣợc về quân sự, có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh vững mạnh của đất nƣớc. Mặt khác là địa bàn có diện tích tự nhiên rộng (13.125km2), thành phần và cơ cấu dân cƣ phức tạp (gồm 44 dân tộc khác nhau), trình độ dân trí thấp, giao thông khó khăn, dân di cƣ tự do đến xâm canh, xâm cƣ thƣờng xuyên gây nên các tranh chấp về đất đai với đồng bào tại chỗ, đã tạo ra những mâu thuẫn, xung đột, điểm nóng về an ninh nông thôn. Bên cạnh đó công tác quản lý hành chính, kinh tế, xã hội của địa phƣơng còn có những hạn chế nhất định, đây là những nguyên nhân, điều kiện góp phần làm cho tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Đắklắk diễn biến phức tạp, nghiêm trọng. Số vụ án hình sự bình quân hàng năm mà Tòa án nhân dân tỉnh Đắklắk đã thụ lý xét xử chiếm số lƣợng cao nhất so với các tỉnh thuộc khu vực miền Trung - Tây nguyên. Xuất phát từ những đòi hỏi của công cuộc cải cách tƣ pháp và thực trạng xét xử các vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Đắklắk, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Thủ tục tố tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm theo Luật tố tụng hình sự Việt nam trước yêu cầu cải cách tư pháp (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn Tỉnh Đắk lắk)” để làm Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Luật học - chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự. 3
  12. 2. Tình hình nghiên cứu Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến những khía cạnh khác nhau về thủ tục phiên tòa sơ thẩm hình sự trƣớc yêu cầu cải cách tƣ pháp của các nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhƣ: - Luận án tiến sĩ: "Giám đốc thẩm trong Tố tụng hình sự Việt Nam" của tác giả Phan Thị Thanh Mai (năm 2007) có đề cập tới việc nâng cao hiệu quả xét xử sơ thẩm nhằm hạn chế số lƣợng án bị kháng nghị giám đốc thẩm. - Luận văn thạc sĩ: “Thủ tục xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự - lý luận và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Thừa thiên-Huế” của tác giả Tôn Thất Cầm Đoàn (năm 2003). - Luận văn thạc sĩ: “Thủ tục tố tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm” của tác giả Nguyễn Quỳnh Trang (năm 2008). - Đề tài nghiên cứu khoa học “Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự nhằm nâng cao hiệu quả xét xử theo tinh thần cải cách tư pháp” của nhóm tác giả do TS. Hoàng Thị Minh Sơn làm chủ nhiệm đề tài (năm 2009). Ngoài ra còn có nhiều bài viết có liên quan đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân, tạp chí Kiểm sát... Tuy nhiên hầu hết các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một cách đơn thuần và riêng lẻ các quy định pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng pháp luật về từng giai đoạn xét xử mà chƣa đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện các quy định về thủ tục phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự trƣớc yêu cầu cải cách tƣ pháp cũng nhƣ chƣa có đề tài, bài viết nào về thủ tục phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự trƣớc yêu cầu cải cách tƣ pháp trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Đắklắk. Vì vậy việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thủ tục phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự trƣớc yêu cầu cải cách tƣ pháp trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Đắklắk sẽ không trùng lặp với các công trình đã đƣợc nghiên cứu và công bố, đồng thời nghiên cứu đề tài trong thời điểm hiện nay là rất cấp thiết và vẫn có tính thời sự. 4
  13. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu - Mục đích nghiên cứu: Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về thủ tục tại phiên tòa hình sự sơ thẩm và thực tiễn áp dụng các quy định về thủ tục phiên tòa hình sự sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Đắklắk. Từ đó luận văn đƣa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về thủ tục tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, cũng nhƣ đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo tinh thần cải cách tƣ pháp. - Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt đƣợc mục tiêu trên trong quá trình nghiên cứu phải thực hiện đƣợc các nhiệm vụ sau: + Nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống những vấn đề lý luận về thủ tục tại phiên tòa hình sự sơ thẩm nhằm đƣa ra những khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển, khái quát các quy định của pháp luật nƣớc ta cũng nhƣ của một số nƣớc trên thế giới. + Nghiên cứu những quy định cụ thể về thủ tục tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trong Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành của Việt Nam, từ đó rút ra những tồn tại, hạn chế của các quy định về thủ tục tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trong luật thực định Việt Nam cần khắc phục; + Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về thủ tục tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Đắklắk, đồng thời phân tích làm rõ những tồn tại, hạn chế xung quanh việc áp dụng và những nguyên nhân của nó; + Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo tinh thần cải cách tƣ pháp trên địa bàn tỉnh Đắklắk. 4. Phạm vi nghiên cứu Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh về thủ tục tại phiên tòa hình sự sơ thẩm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, kết hợp với 5
  14. việc nghiên cứu đánh giá tình hình áp dụng trong thực tiễn xét xử của Tòa án các cấp trên địa bàn tỉnh Đắklắk và những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện luật thực định và nâng cao hiệu quả công tác xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trƣớc yêu cầu cải cách tƣ pháp trên địa bàn tỉnh Đắklắk. Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực tiễn công tác xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trƣớc yêu cầu cải cách tƣ pháp trên địa bàn tỉnh Đắklắk trong 5 năm (2009 - 2013). 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về Nhà nƣớc và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền, về vấn đề cải cách tƣ pháp đƣợc thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X, XI và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 về Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị. Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phƣơng pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật tố tụng hình sự nhƣ: phƣơng pháp phân tích và tổng hợp; phƣơng pháp so sánh, đối chiếu; phƣơng pháp thống kê... 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phƣơng diện lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trƣớc yêu cầu cải cách tƣ pháp trên địa bàn tỉnh Đắklắk. Đồng thời luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc 6
  15. chuyên ngành Tƣ pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật. Về phƣơng diện thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nói chung và trên địa bàn tỉnh Đắklắk nói riêng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đảm bảo tính khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thủ tục phiên tòa sơ thẩm hình sự. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự tại Tỉnh Đăklăk. Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tƣ pháp. 7
  16. Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC PHIÊN TÒA SƠ THẨM HÌNH SỰ 1.1. THỦ TỤC PHIÊN TÒA SƠ THẨM HÌNH SỰ 1.1.1. Phiên tòa sơ thẩm hình sự 1.1.1.1. Khái niệm Tố tụng hình sự là một quá trình giải quyết vụ án hình sự, bao gồm toàn bộ hoạt động của các chủ thể, trong đó mỗi loại chủ thể góp phần vào việc giải quyết một chức năng của TTHS hƣớng tới việc giải quyết vụ án khách quan, công bằng, góp phần đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, bảo vệ quyền con ngƣời. Giải quyết vụ án hình sự là một quá trình phức tạp. Từ khi phát hiện ra những dấu hiệu của tội phạm cho đến khi ngƣời phạm tội phải chịu hình phạt về hành vi gây nguy hiểm cho xã hội mà mình đã thực hiện, các chủ thể TTHS phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau phù hợp với tính chất, đặc điểm của các cơ quan tiến hành tố tụng. Các giai đoạn TTHS là những bƣớc trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, có nhiệm vụ riêng, mang những đặc thù về phạm vi chủ thể và hành vi tố tụng. Có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia các giai đoạn trong TTHS, tuy nhiên quan điểm truyền thống có vẻ hợp lý nhất và đƣợc nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ là quá trình TTHS đƣợc phân chia thành bốn giai đoạn tƣơng ứng với chức năng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự: giai đoạn đầu của quá trình giải quyết vụ án hình sự, bắt đầu từ khi cơ quan có thẩm quyền nhận đƣợc tin báo, tố giác về tội phạm và kết thúc bằng việc ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Giai đoạn điều tra và truy tố: là giai đoạn đƣợc bắt đầu sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi có 8
  17. quyết định truy tố bị can trƣớc Tòa án bằng bản cáo trạng, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Giai đoạn xét xử vụ án hình sự: là giai đoạn đƣợc bắt đầu khi Tòa án nhận đƣợc hồ sơ vụ án và quyết định truy tố bị can cùng bản cáo trạng của VKS và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Giai đoạn thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án: là giai đoạn mà các cơ quan có trách nhiệm đƣa bản án và quyết định của Tòa án ra thi hành nhằm đảm bảo hiệu lực trên thực tế. Nhƣ vậy, có thể nhận thấy, mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về các giai đoạn TTHS, nhƣng có thể khẳng định giai đoạn xét xử là giai đoạn không thể thiếu và đóng vai trò trung tâm của hoạt động TTHS. BLTTHS năm 2003 ghi nhận: “Không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt nếu không có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án” [25, Điều 9], đồng thời Hiến pháp năm 2013 đã minh định một cách rõ ràng hơn: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [29, Điều 31, Khoản 1]. Thông qua hoạt động xét xử mới có thể xác định đƣợc ngƣời thực hiện hành vi nguy hiểm có phải là tội phạm hay không, các chứng cứ thu thập tại các giai đoạn trƣớc đƣợc đƣa ra xem xét một cách khách quan, công khai và toàn diện tại phiên tòa. Bản án của Tòa án khẳng định bị cáo có tội hay không có tội, nếu có tội thì phạm tội gì và phải chịu hình phạt ra sao theo quy định tại điều khoản nào của BLHS, các biện pháp tƣ pháp áp dụng đối với bị cáo nhƣ thế nào…. Hoạt động xét xử vụ án hình sự có thể phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, thông thƣờng xét xử sơ thẩm là giai đoạn bắt buộc đối với mọi vụ án hình sự. Trên cơ sở cáo trạng của Viện kiểm sát chuyển sang, Tòa án cấp sơ thẩm lần đầu tiên đƣa vụ án ra xem xét công khai tại phiên tòa. Trong trƣờng hợp có kháng cáo, kháng nghị, vụ án có thể đƣợc đƣa ra xét xử phúc 9
  18. thẩm và khi có một số điều kiện nhất định, vụ án có thể đƣợc xem xét theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Theo từ điển tiếng Việt năm 2010 của Viện ngôn ngữ học thì “sơ thẩm” là “ Xét xử một vụ án với tư cách là Tòa án ở cấp xử thấp nhất” [44], còn Từ điển luật học của Bộ tƣ pháp thì giải thích: “Xét xử sơ thẩm là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử tại một Tòa án có thẩm quyền” [43]. Nhƣ vậy, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đƣợc hiểu là một giai đoạn TTHS, trong đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành việc xét xử lần đầu, toàn diện vụ án hình sự trên cơ sở bản cáo trạng của VKS. Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đƣợc tiến hành sau khi Tòa án nhận đƣợc bản cáo trạng và hồ sơ vụ án do VKS chuyển sang. BLTTHS quy định một khoảng thời gian nhất định cho tòa án nghiên cứu hồ sơ vụ án và chuẩn bị các công việc cần thiết cho việc mở phiên tòa sơ thẩm. Trƣớc hết Tòa án phải xác định vụ án có thuộc thẩm quyền xét xử của mình hay không. Nếu qua nghiên cứu thấy vụ án không thuộc thẩm quyền thì thẩm phán đƣợc phân công làm chủ tọa phiên tòa đề nghị Chánh án Tòa án chuyển vụ án cho Tòa án có thẩm quyền. Trƣờng hợp vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án sẽ tiếp tục tiến hành các công việc khác và có thể ra một trong các quyết định nhƣ: Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, quyết định tạm đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án hoặc quyết định đƣa vụ án ra xét xử. Cũng theo từ điển tiếng Việt năm 2010 của Viện ngôn ngữ học thì “phiên tòa” là “Lần họp để xét xử vụ án” [44]. Nhƣ vậy khi Tòa án ra quyết định đƣa vụ án ra xét xử, trong quyết định phải ghi rõ thời gian, địa điểm mở phiên tòa và thành phần những ngƣời tiến hành tố tụng, ngƣời tham gia tố tụng. Quá trình xét xử tại phiên tòa hình sự sơ thẩm phải có sự tham gia của những ngƣời tiến hành tố tụng và ngƣời tham gia tố tụng. Trong số những ngƣời này BLTTHS năm 2003 quy định có những ngƣời mà sự có mặt của họ là bắt buộc, không thể thiếu nhƣ các thành viên của Hội đồng xét xử bao gồm 10
  19. thẩm phán và các hội thẩm, tùy theo tính chất vụ án trên cơ sở quy định của BLTTHS mà Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự gồm một thẩm phán và hai hội thẩm hoặc gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm. Các thành viên của Hội đồng xét xử phải có mặt từ khi bắt đầu đến khi kết thúc phiên tòa. Trƣờng hợp có thành viên Hội đồng xét xử không thể tham gia xét xử đƣợc thì phải có thẩm phán, hội thẩm dự khuyết thay thế nhƣng họ cũng phải có mặt tại phiên tòa từ đầu. Trƣờng hợp không có thẩm phán, hội thẩm dự khuyết thay thế hoặc phải thay đổi chủ tọa phiên tòa đối với Hội đồng xét xử có một thẩm phán và hai hội thẩm thì Tòa án phải hoãn phiên tòa và vụ án phải đƣợc xét xử lại từ đầu. Sự tham gia của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm cũng là bắt buộc, nếu Kiểm sát viên vắng mặt hoặc bị thay đổi mà không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa và báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, ngoài việc thực hiện quyền công tố, truy tố ngƣời phạm tội còn có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những ngƣời tiến hành tố tụng, ngƣời tham gia tố tụng nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của ngƣời tham gia tố tụng cũng nhƣ đảm bảo cho việc xét xử đƣợc tiến hành đúng pháp luật. Sự có mặt của bị cáo tại phiên tòa vừa là nghĩa vụ đồng thời cũng là quyền. Họ có nghĩa vụ tham gia phiên tòa vì họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhƣng sự có mặt của họ cũng là quyền để họ trình bày, tự bào chữa cho mình trƣớc lời buộc tội của cơ quan công tố. Theo quy định của BLTTHS thì bị cáo phải có mặt tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án, nếu vắng mặt không có lý do chính đáng thì bị áp giải, nếu vắng mặt có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên tòa. Nếu bị cáo bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo khác thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án cho đến khi bị cáo khỏi bệnh. Đồng thời phải ra quyết định bắt buộc chữa bệnh đối với bị cáo. Nếu bị cáo 11
  20. trốn tránh thì Hội đồng xét xử tạm đình chỉ vụ án và yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị cáo.Tòa án chỉ có thể xét xử vắng mặt bị cáo trong các trƣờng hợp sau: Bị cáo trốn tránh và việc truy nã không có kết quả; bị cáo đang ở nƣớc ngoài và không thể triệu tập đến phiên tòa hoặc bị cáo đã đƣợc giao giấy triệu tập hợp lệ và sự vắng mặt của bị cáo không trở ngại cho việc xét xử. Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hƣớng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “xét xử sơ thẩm” của BLTTHS năm 2003 đã hƣớng dẫn: Tại phiên tòa, bị cáo đang bị tạm giam đƣợc tiếp xúc với ngƣời bào chữa nhƣng phải thực hiện đúng nội quy phiên tòa và tuân theo sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa. Muốn tiếp xúc với ngƣời khác phải nêu rõ lý do và đƣợc chủ tọa phiên tòa cho phép. Trong thời gian Hội đồng xét xử tạm nghỉ hoặc vào phòng nghị án thì chủ tọa phải tuyên bố: “Giao bị cáo đang bị tạm giam cho những ngƣời có nhiệm vụ dẫn giải giám sát trong thời gian Hội đồng xét xử tạm nghỉ (hoặc trong thời gian Hội đồng xét xử vào phòng nghị án thảo luận). Bị cáo không bị tạm giam phải có mặt khi Hội đồng xét xử trở lại phòng xét xử, nếu vắng mặt không có lý do chính đáng và không đƣợc phép của chủ tọa phiên tòa thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung và tuyên án vắng mặt bị cáo”. Ngƣời bào chữa có nghĩa vụ tham gia phiên tòa để làm nhiệm vụ bào chữa cho bị cáo, giúp đỡ bị cáo thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng mà pháp luật quy định. Sự có mặt của ngƣời bào chữa không phải là bắt buộc đối với mọi vụ án. Chỉ trong trƣờng hợp bị cáo là ngƣời chƣa thành niên, ngƣời có nhƣợc điểm về thể chất, tâm thần hoặc trƣờng hợp bị cáo bị truy tố về tội có khung hình phạt cao nhất là tử hình thì bắt buộc phải có sự tham gia của ngƣời bào chữa. Nếu ngƣời bào chữa vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa. Tuy nhiên ngay cả trong trƣờng hợp bị cáo là ngƣời chƣa thành niên hoặc có nhƣợc điểm về thể chất, tâm thần, nếu cả bị cáo và ngƣời đại diện hợp pháp của họ đều từ chối ngƣời bào chữa thì Tòa án vẫn tiến hành xét 12
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2