intTypePromotion=1

Luận văn: Tìm hiểu hoạt động cho vay Ngân hàng VietinBank Đà Nẵng

Chia sẻ: Vũ Thị Hòa | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:64

0
207
lượt xem
62
download

Luận văn: Tìm hiểu hoạt động cho vay Ngân hàng VietinBank Đà Nẵng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tính mục đích của tiền vay gắn liền với hiệu quả kinh tế của khoản vay và ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro có thể xảy đến với khoản vay. Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của bên vay gắn liền với hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng từ đó ảnh hưởng đến tính sinh lời của ngân hàng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Luận văn: Tìm hiểu hoạt động cho vay Ngân hàng VietinBank Đà Nẵng

  1. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại và hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại 1.1.1. Khái niệm Ngân hàng thương mại Luật tín dụng do quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010, định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy đ ịnh c ủa Lu ật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Luật này còn định nghĩa: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân”. Như vậy, NHTM là loại ngân hàng giao dịch trực tiếp với các công ty, xí nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân, bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm, rồi sử dụng số vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và cung ứng dịch v ụ ngân hàng cho các đối tượng nói trên. 1.1.2. Khái niệm hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại Hoạt động cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM để tạo ra lợi nhuận. Đây là hoạt động đem lại khoản thu nhập khá lớn cho ngân hàng. Hoạt động cho vay của NHTM được định nghĩa: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền đ ể s ử d ụng vào mục đích và thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”. 1.1.3. Phân loại hoạt động cho vay 1.1.3.1. Theo thời hạn cho vay - Cho vay ngắn hạn: thời hạn cho vay đến một năm và được sử dụng để bổ sung, bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu tiêu dùng ngắn hạn của các cá nhân. SVTH: Hà Lệ Thu
  2. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - - Cho vay trung hạn: Thời hạn cho vay từ 1 đến 5 năm. Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và th ời gian thu h ồi nhanh. Bên cạnh đó, nó còn được dùng để đầu tư tài sản lưu động thường xuyên của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp mới thành lập. - Cho vay dài hạn: Thời hạn cho vay trên 5 năm. Loại tín dụng này dùng để đáp ứng nhu cầu đầu tư dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới. 1.1.3.2. Theo mục đích sử dụng vốn - Cho vay bất động sản: là loại hình cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản như nhà ở, đất đai hay bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dich vụ. - Cho vay công nghiệp, thương mại, dịch vụ: Loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. - Cho vay nông nghiệp: Loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất nông nghiệp như mua phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nguyên nhiên liệu… - Cho vay cá nhân: Loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng cá nhân như mua sắm các vật dụng đắt tiền. Ngày nay, ngân hàng còn thực hiện các khoản cho vay để trang trải chi phí thông thường của đời sống qua phát hành thẻ tín dụng. - Cho các định chế tài chính khác vay: hình thức phổ biến nhất cho vay trên thị trường liên ngân hàng. - Cho thuê: Cho thuê của các định chế tài chính bao gồm thuê vận hành, thuê và mua lại, thuê tài chính. Tài sản cho thuê thường là bất động sản và động sản chủ yếu là máy móc thiết bị. 1.1.3.3. Theo đối tượng cho vay - Tín dụng vốn cố định: các khoản cho vay để hình thành vố cố định trong các doannh nghiệp. SVTH: Hà Lệ Thu
  3. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - - Tín dụng vốn lưu động: Các khoản cho vay để hình thành vốn lưu động 1.1.3.4. Theo hình thức bảo đảm - Cho vay có bảo đảm đối vật (cho vay có đảm bảo bằng tài sản): là hình thức cho vay mà số tiền được cấp ra dựa trên tài sản đảm bảo (cầm cố, thế chấp). Các tài sản dùng đảm bảo nợ vay phải hội đủ các điều kiện về tính thị trường, ổn định. Các hình thức cho vay có đảm bảo như đảm bảo bằng các chứng khoán( giấy tờ có giá), bằng hợp đồng thầu khoán, bằng vật tư hàng hóa, bằng bất động sản. - Cho vay có bảo đảm đối nhân (cho vay có đảm bảo không bằng tài sản): Là cam kết của một hay nhiều người về việc trả nợ ngân hàng thay cho khách hàng vay vốn khi khách hàng vay vốn không trả được nợ vay đến hạn. Người đứng ra bảo lãnh phải hội t ủ hai điều kiện về năng lực pháp lý và năng lực tài chính. Thông thường, người đ ứng ra bảo đảm là các ngân hàng, tổ chức, tài chính, các doanh nghiệp. Các cá nhân muốn đứng ra bảo đảm thường phải có tài sản bảo đảm nợ vay. 1.1.3.5. Theo phương thức hoàn trả - Cho vay trả góp: Loại hình cho vay mà việc hoàn trả vốn và lãi theo định kỳ. Loại cho vay này thường áp dụng cho các khoản vay có thười gian dài nh ư cho vay b ất đ ộng sản, cho vay tiêu dùng đối với những tài sản có giá trị cao. Ngoài ra, hình th ức này còn áp dụng cho một số loại cho vay có hình thái giá trị nhỏ như cho vay đối với những nhà kinh doanh nhỏ (cho vay chợ), cho vay tài trợ trang thiết bị nông nghiệp. - Cho vay phi trả góp: cho vay thanh toán một lần theo kỳ hạn đã thỏa thuận. - Cho vay hoàn trả theo yêu cầu: chẳng hạn như hình thức thấu chi, cho vay qua thẻ tín dụng. 1.1.3.6. Theo xuất xứ tín dụng - Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu vay, đ ồng thời người đi vay trực tiếp trả nợ vay ngân hàng. - Cho vay gián tiếp: Khoản vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước, chứng minh nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán như chiết khấu thương phiếu, mua các phiếu hàng tiêu dùng, máy móc nông nghiệp trả góp hay mua nợ. SVTH: Hà Lệ Thu
  4. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - 1.1.3.7. Theo hình thức cho vay - Thấu chi: là hình thức cho vay gắn liền sử dụng tài khoản tiền gửi vãng lai c ủa cá nhân hoặc danh nghiệp thông qua việc sử dụng số dư trong một hạn mức cho phép, với một thời hạn, phí do ngân hàng quy định. Quyền thấu chi có thể được chia làm hai loại: + Quyền thấu chi mặc định: Hình thức thấu chi phổ biến nhất. Quyền này được ngân hàng cấp cho khách hàng và ghi rõ điều kiện sử dụng tài khoản. Khách hàng có quyền rút quá số dư một mức cho phép mà không cần thông báo trước cho ngân hàng. + Quyền thấu chi thỏa thuận: Khi khách hàng có quyền rút quá số dư, khách hàng phải xin phép. - Cho vay theo hạn mức tín dụng: Cho vay để tạo thuận lợi cho thanh toán của khách hàng + Tương tự như thấu chi nhưng áp dụng cho khoản vay lớn, quan trọng hơn. + Cho vay rót vốn một lần, thời gian ngắn có thể đi kèm với một khoản vay khác hoặc với một khoản thu khác. + Cho vay đối với những hoạt động kinh doanh theo mùa vụ như khách sạn, nông nghiệp,… - Chiết khấu giấy tờ có giá: như kỳ phiếu thương mại, các chứng chỉ tiền gửi,… - Cho vay tiêu dùng cá nhân: là hình thức cho vay ngắn và trung hạn với lãi suất thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng. Việc trả nợ thường được trả hàng tháng với số tiền cố định. Cho vay tiêu dùng cá nhân thường là cho vay để mua phương tiện đi l ại hoặc du lịch hoặc cho vay đối với sinh viên. Đối với những khách hàng tốt, ngân hàng còn cấp cho khách hàng một tập séc để rút tiền. - Tín dụng tuần hoàn: là hình thức tín dụng mà khách hàng được vay một khoản tiền cố định, khi hoàn trả sẽ được vay lại. - Tín dụng thuê mua: cho vay dưới hình thức cho thuê tài sản mà khách hàng cần sử dụng, sau một thời gian khách hàng có thể mua lại tài sản này. SVTH: Hà Lệ Thu
  5. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - - Tín dụng nhà ở: Bao gồm cho vay thanh toán, cho vay tiết kiệm nhà ở, cho vay tự do. - Mua các khoản nợ của doanh ngiệp: hình thức phổ biến nhất của factoring là mua các hóa đơn bán hàng của doanh nghiệp. 1.1.4. Các nguyên tắc cho vay Khi khách hàng cần vay vốn từ NHTM, ngoài các giấy tờ, chứng từ cần thiết thì khách hàng cần phải đảm bảo ba nguyên tắc cho vay. Các nguyên tắc cho vay có quan h ệ mật thiết, gắn bó với nhau thành một tổng thể thống nhất, có ảnh hưởng rất lớn đến quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các thành phần kinh tế, phòng ngừa được các yếu tố rủi ro đảm bảo an toàn tín dụng, đồng thời gây sức ép buộc các đơn vị kinh tế tìm mọi biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế. 1.1.4.1. Vốn vay phải có mục đích và sử sụng đúng mục đích đã thỏa thuận trong HĐTD Trong nguyên tắc này, vốn vay khi được giải ngân phải được sử dụng đúng cho các mục đích đã được bên xin vay đưa ra khi đề xuất vay vốn với ngân hàng và được ngân hàng cho vay chấp nhận. Ngân hàng có quyền từ chối hoặc hủy bỏ mọi yêu cầu vay v ốn không sử dụng đúng mục đích đã cam kết trước đó. Quán triệt nguyên tắc này, ngân hàng có quyền yêu cầu buộc bên vay phải sử dụng tiền vay đúng mục đích đã cam kết và thường xuyên giám sát hành động của bên vay về phương diện này. Tính mục đích của tiền vay gắn liền với hiệu quả kinh tế của khoản vay và ảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro có thể xảy đến với khoản vay. Hiệu quả hoạt đ ộng s ản xuất kinh doanh của bên vay gắn liền với hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng từ đó ảnh hưởng đến tính sinh lời của ngân hàng. 1.1.4.2. Vốn vay phải được hoàn trả nợ gốc và lãi tiền vay đúng hạn đã thỏa thuận trong HĐTD Nguyên tắc này bắt nguồn từ bản chất của tín dụng là giao dịch cung - cầu về vốn, chỉ là giao dịch quyền sử dụng vốn trong thời gian nhất định. Trong khoảng thời gian cam kết giao dịch, ngân hàng và bên vay thỏa thuận rằng ngân hàng sẽ cam kết giao quyền sử SVTH: Hà Lệ Thu
  6. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - dụng một lượng giá trị nhất định cho bên vay. Khi kết thúc kỳ hạn vay, bên vay phải hoàn trả quyền này cho ngân hàng (trả nợ gốc) và một khoản chi phí (lợi tức và phí) nhất định cho việc sử dụng vốn vay. Những sai lệch so với dự kiến của việc hoàn trả nợ vay về mức độ trả nợ, thời hạn trả nợ đều phản ánh sự không bình thường trong hoạt động của bên vay ở các mức đ ộ khác nhau. Điều nay có thể gây ra rủi ro tổn thất cho ngân hàng. 1.1.4.3. Vốn vay phải có đảm bảo Việc xác định một cách tương đối chính xác người sử dụng vốn vay có khả năng trả nợ hay không là điều rất khó. Do đó, để đảm bảo nguyên tắc hoàn trả thì khoản tín d ụng đó phải đảm bảo. Có hai hình thức đảm bảo sau: + Đảm bảo bằng tài sản: Cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba, tài sản hình thành từ vốn vay. + Đảm bảo không bằng tài sản dưới hình thức tín chấp hoặc theo chỉ thị, nghị đ ịnh của Chính phủ. Tùy thuộc vào đối tượng vay vốn có quan hệ như thế nào với ngân hàng mà ngân hàng cho vay có đảm bảo bằng tài sản hoặc không có đảm bảo bằng tài sản. 1.1.5. Vai trò của hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại Hoạt động cho vay là một phần của hoạt động tín dụng của ngân hàng. Hoạt động này đã ra đời từ lâu và trở thành một trong hai nhiệm vụ cơ bản. Đây cũng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của ngân hàng bởi vì chỉ có lãi cho vay mới bù đắp lại các chi phí phát sinh như chi phí trung gian, chi phí quản lý, chi phí dự trữ... Trong quá trình phát tri ển c ủa ngân hàng, lợi nhuận từ các khoản cho vay chiếm phần lớn thu nhập. Khi lượng ti ền g ửi tăng lên đáng kể thì các hình thức cho vay cũng phong phú. Khi định nghĩa về hoạt động cho vay, có nhiều quan điểm khác nhau và có thể định nghĩa: “Hoạt động cho vay của ngân hàng là hoạt động cung ứng tiền cho tất cả các khách hàng có nhu cầu về tiền để phục vụ cho mục đích sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng”. Và hoạt động cho vay có những vai trò: SVTH: Hà Lệ Thu
  7. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - - Hoạt động cho vay góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa Phần lớn nguồn vốn của nhiều thành phần trong kinh tế đi vay t ừ ngân hàng để bắt tay vào ngành thương mại dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn (Ví dụ: kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tới trên 70%). Do vậy bằng các chính sách cho vay, định hướng chung của nhà nước góp phần tạo cho nền kinh tế một cơ cấu kinh tế hợp lý, cân đối. Bằng những công cụ tín dụng mà ngân hàng có thể cho vay ưu đãi những nghành nghề cần thiết để phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể. - Hoạt động cho vay góp phần điều hòa cung – cầu dịch vụ, hàng hóa Doanh nghiệp muốn sản xuất kinh doanh, hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh mà thiếu vốn thì doanh nghiệp phải vay vốn của ngân hàng. Nhưng doanh nghiệp chỉ thu được lợi nhuận cũng như có khả năng trả nợ ngân hàng khi doanh nghiệp tiêu thụ được hết số sản phẩm hàng hoá đã sản xuất ra, hay phải có một bộ phận những người tiêu dùng mua và có khả năng mua sản phẩm đó. Về phía người tiêu dùng, với một mức thu nhập nhất định, họ không thể có đ ủ số tiền để mua hàng hoá mình muốn. Họ chỉ đủ khả năng mua sau một thời gian dài tích luỹ. Đó là nguyên nhân dẫn đến chu kì tuần hoàn và luân chuyển vốn của doanh nghiệp bị ngưng trệ. Doanh nghiệp sẽ không thu hồi đủ tiền để thực hiện vòng quay sản xuất. Do đó, ngân hàng cho doanh nghiệp vay sẽ thúc đẩy sản xuất kinh doanh, thì sẽ có nhiều hàng hoá. Ngân hàng cho người tiêu dùng vay sẽ thoả mãn nhu cầu hàng hoá. Như vậy hoạt động cho vay của ngân hàng đã góp phần điều hoà cung - cầu sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cho nền kinh tế. - Hoạt động cho vay góp phần điều tiết và phân phối các nguồn vốn Vốn sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế vận động liên tục và biểu hiện các hình thức khác nhau qua mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất, tạo thành chu kì tuần hoàn và luân chuyển vốn được thể hiện dưới dạng tiền tệ. Trong quá trình đó, để duy trì hoạt động liên tục, đòi hỏi nguồn vốn của doanh nghiệp luôn tồn tại đồng thời ở ba giai đoạn: dự trữ - sản xuất - lưu thông. Từ đó xảy ra hiện tượng thừa, thiếu vốn tạm thời: tại một SVTH: Hà Lệ Thu
  8. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - thời điểm nhất định có những đơn vị kinh tế có vốn tiền tệ nhàn rỗi và có những đơn vị thiếu vốn. Hiện tượng này xảy ra thường xuyên và phổ biến trong bất kì nền kinh tế nào, làm nảy sinh nhu cầu ngày càng bức thiết phải giải quyết được vấn đề điều hoà vốn. NHTM với vai trò là một trung gian tài chính đứng ra tập trung phân phối lại tiền tệ, điều hoà cung - cầu vốn cho các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không bị gián đoạn. - Hoạt động cho vay góp phần giúp các thành phần kinh tế mở rộng ứng dụng công nghệ mới Với những doanh nghiệp trang bị trình độ kĩ thuật còn thấp kém, công nghệ lỗi thời, thiếu đồng bộ làm giảm ưu thế của các doanh nghiệp, làm cho các doanh nghiệp đó kém phát triển. Thông qua vốn vay của ngân hàng, doanh nghiệp dùng đồng vốn này để đầu tư, tìm kiếm những công nghệ hiện đại, đổi mới dây truyền sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều sản phẩm thoả mãn nhu cầu trong và ngoài nước. Như vậy hoạt động cho vay mở rộng ứng dụng công nghệ mới vào các doanh nghiệp, thông qua đó giúp doanh nghiệp sản xuất ngày càng có hiệu quả, mở rộng sản xuất kinh doanh. - Hoạt động cho vay mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng và thúc đẩy các hoạt động khác của ngân hàng Cho vay là một trong những hoạt động lớn của ngân hàng. Ở các nước phát triển, doanh thu từ hoạt động này thường chiếm 70%, hay đến 90% doanh thu của ngân hàng, ở các nước đang phát triển. Hiện nay 80% doanh thu của các NHTM là từ hoạt đ ộng tín dụng, mà hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn. Nhờ có hoạt động cho vay, mà các đơn vị kinh tế có thể vay của ngân hàng để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được không những đủ tiền trả cho ngân hàng mà còn có tiền gửi vào ngân hàng, nghĩa là làm tăng hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Mặt khác, khi sản xuất kinh doanh phát triển, xã hội phát triển thì các hoạt động dịch vụ của ngân hàng cũng phát triển. 1.2. Hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.2.1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa SVTH: Hà Lệ Thu
  9. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - Theo quy định tại điều 3 - Nghị định 56/2009/NĐ-CP: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, đ ược chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đ ương t ổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”, cụ thể như sau: Quy định về quy mô của DNNVV theo từng khu vực Doanh nghiệp Doanh nghiệp Doanh nghiệp vừa Quy mô siêu nhỏ nhỏ Tổng nguồn Tổng nguồn Số lao động Số lao động Số lao động Khu vực vốn vốn 1. Nông, lâm Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 10 người trở 20 tỷ đồng trở nghiệp và thủy người - 200 đồng - 100 tỷ người - 300 xuống xuống sản. người đồng người Từ trên 10 Từ trên 20 tỷ Từ trên 200 2. Công nghiệp 10 người trở 20 tỷ đồng trở người - 200 đồng - 100 tỷ người - 300 và xây dựng xuống xuống người đồng người Từ trên 10 Từ trên 10 tỷ Từ trên 50 3. Thương mại 10 người trở 10 tỷ đồng trở người - 50 đồng - 50 tỷ người - 100 và dịch vụ xuống xuống người đồng người 1.2.2. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Hiện nay, các DNNVV xuất hiện ngày càng nhiều trong nền kinh tế Việt Nam dưới nhiều hình thức: Doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần,… và dần trở thành lực lượng đáng kể, góp phần không nhỏ vào sự phát triển của đất nước. Vì vậy, cần hiểu rõ về DNNVV để có thể có những phương án, chính sách thích hợp nhằm phát triển DNNVV hơn nữa. Đặc điểm của DNNVV: - DNVVN năng động, nhạy bén, dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường Đây là một trong những ưu thế nổi bật của DNNVV mà các doanh nghiệp lớn khó có thể có được. Thể hiện ở bộ máy quản lý gọn nhẹ, số vốn ít, cơ sở vật chất không nhiều, … nên các DNNVV có thể dễ dàng đáp ứng được nhu cầu của thị tr ường nếu n ắm bắt được xu thế tiêu dùng của khách hàng hiện nay. Bên cạnh đó, với quy mô nhỏ nên SVTH: Hà Lệ Thu
  10. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - DNNVV có khả năng phản ứng nhanh và thích nghi với sự thay đổi của môi trường kinh tế, có thể nhanh chóng chuyển đổi hoặc thu hẹp quy mô sản xuất trong khi doanh nghi ệp lớn không thể thực hiện chuyển đổi vì có thể gây ra tổn thất lớn. - DNVVN được tạo lập dễ dàng, hoạt động có hiệu quả với chi phí cố định thấp Để thành lập một doanh nghiệp lớn, điều tất yếu cần có là số vốn ban đầu l ớn, tuy nhiên, đối với các DNNVV thì điều này là không cần thiết. Với nguồn vốn ban đ ầu thấp, mặt bằng sản xuất nhỏ, dễ quản lý nên các DNNVV linh hoạt hơn trong việc huy động nguồn vốn từ gia đình, bạn bè, người quen dẫn đến giảm được chi phí cố đ ịnh và tận dụng tốt nguồn lực sẵn có. - DNVVN tạo điều kiện duy trì tự do cạnh tranh DNNVV thường là những doanh nghiệp ngoài quốc doanh, không có sự bảo hộ của Nhà nước. Mặt khác, hiện nay các DNNVV phát triển rộng rãi và có sự đa dạng trong cung cấp hàng hóa. Vì thế, để tồn tại và phát triển, các DNNVV phải biết tận dụng, tìm tòi các cơ hội, cạnh tranh với nhau để dành được thị trường tiềm năng hơn. Từ đó tạo nên sự sôi động cho nền kinh tế. - DNVVN có khả năng tài chính hạn chế và thường gặp khó khăn trong việc mua máy móc, thiết bị nên thường gắn với công nghệ lạc hậu, thủ công Công nghệ, máy móc sản xuất đổi thay từng ngày nhưng vì số vốn ban đầu thấp nên lợi nhuận của DNNVV cũng có phần hạn chế. Từ đó, việc mua các máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ gặp khó khăn nên các doanh nghiệp còn phải sử dụng công nghệ lạc hậu hoặc đi theo hướng sản xuất thủ công. - DNVVN thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn vay của ngân hàng và thị trường tài chính Từ trước đến nay, Nhà nước ta luôn chú trọng, quan tâm đến tình hình hoạt động kinh doanh, sản xuất của DNNVV, luôn đưa ra các giải pháp, phương án nhằm đưa nguồn vốn đến doanh nghiệp. Tuy vậy, các doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn. Nguyên nhân ở đây là do năng lực tài chính của các DNNVV còn hạn chế, quá trình sản xuất, kinh doanh dễ gặp rủi ro gây ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cho ngân SVTH: Hà Lệ Thu
  11. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - hàng. Mặt khác, các TCTD vẫn chưa tin cậy vào các DNNVV nên thường cho doanh nghiệp vay vốn khi có tài sản thế chấp, trong khi phần lớn DNNVV thiếu tài s ản c ố đ ịnh giá trị lớn. Đây chính là những rào cản lớn đối với việc tiếp cận vốn của DNNVV. - DNNVV tạo lập sự phát triển cân bằng giữa các vùng trong một quốc gia Ở các thành phố, điều kiện phát triển kinh tế có phần thuận lợi hơn, vì thế, các doanh nghiệp, tập đoàn lớn thường tập trung tại đây. Trong khi đó, vùng nông thôn, miền núi, hải đảo chỉ phát triển nông – lâm – ngư nghiệp. Điều này khiến cho sự cân bằng kinh tế giữa các vùng miền có phần không đồng đều. Và loại hình DNNVV xuất hiện đã giải quyết vấn đề này. Ở bất cứ khu vực nào, chỉ cần có nguồn tài nguyên và nguồn l ực phù hợp thì đều có các DNNVV. Vì vậy, có thể nói rằng DNNVV tạo lập sự phát triển cân bằng giữa các vùng trong một quốc gia. 1.2.3. Vai trò của DNNVV đối với phát triển kinh tế - DNNVV có thể len lỏi sâu rộng vào ngõ ngách của nền kinh tế, là giải pháp tạo ra nhiều việc làm cho nhiều đối tượng lao động + Do đặc tính phân bố rải rác, phân tán nên các DNNVV thường có thể đ ảm bảo c ơ hội việc làm cho nhiều vùng địa lý và nhiều đối tượng lao động, đ ặc biệt là các vùng sâu vùng xa, vùng kinh tế mới,… với các đối tượng lao động có trình đ ộ tay nghề thấp. Nhờ đó, nạn thất nghiệp giảm xuống, đồng thời cũng giảm lượng người di chuyển lên thành phố tìm việc làm. + Do tính linh hoạt, dễ thích nghi với các thay đổi trên thị trường của DNNVV. Khi có biến động xảy ra, các doanh nghiệp lớn sẽ khó xoay trở nhanh, vì thế sẽ phải sa thải b ớt lao động để cắt giảm chi phí đến mức có thể tiếp tục tồn tại và phát triển. Trong khi đó, các DNNVV vẫn có thể tồn tại được mà không phải sử dụng biện pháp cắt giảm lao động nhờ khả năng linh hoạt, thích ứng nhanh của mình. - Các DNVVN cung cấp lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đa dạng cho nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu của thị trường SVTH: Hà Lệ Thu
  12. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - Các loại hàng hóa của DNNVV thường thiên về sự đa dạng về chất lượng và chủng loại, tạo ra nhiều sự lựa chọn cho người tiêu dùng. Như thế các doanh nghiệp này mới có thể cạnh tranh với các công ty và tập đoàn lớn mạnh hơn. Bên cạnh đó, các DNNVV cũng tiến vào nhiều thị trường nhỏ mà các doanh nghiệp lớn bỏ qua vì doanh thu từ đó quá nhỏ. - Nâng cao khả năng quản lý điều hành, từng bước phát triển, hình thành các doanh nghiệp lớn Trong nền kinh tế hiện nay, nhiều người trẻ tuổi muốn mở công ty riêng để có thể tự do sáng tạo, năng động hơn là làm việc trong công ty lớn. Và các DNNVV rất thích hợp đối với họ trong việc thử sức mình. Bên cạnh đó, các công ty tư nhân lớn đều có tiền thân từ những công ty nhỏ. Các DNNVV là nơi thích hợp để tạo ra nguồn nhân lực trẻ, năng đ ộng, nhiều kinh nghiệm làm việc cho các công ty, tập đoàn lớn. Tại những doanh nghiệp này, nhân viên sẽ được học các kỹ năng cần thiết cho công việc ở các công ty lớn. Khi có đ ầy đ ủ kinh nghiệm, năng lực, nhân viên công ty nhỏ sẽ được công ty lớn tiếp nhận. - Các DNVVN có vai trò tích cực đối với sự phát triển kinh tế địa phương, khai thác tiềm năng thế mạnh của từng vùng Thường là khi các DNNVV được thành lập tại địa phương nào thì đều có công nhân và chủ doanh nghiệp là người ở địa phương đó. Như vậy, lao động ở địa phương sẽ có công ăn việc làm, có nguồn thu nhập. Kết quả là quỹ tiền tiết kiệm – đ ầu tư c ủa đ ịa phương đó được bổ sung. Mặt khác, các công ty lớn thường bỏ qua các khu vực địa lý hoặc các thị trường có quy mô nhỏ, kém phát triển, xa tuyến giao thông, thiếu tài nguyên,… vì cho rằng nguồn lợi thu từ đó thấp, không thể bù đắp được phần chi phí đã bỏ ra. Nhưng đối với các DNNVV thì lại khác, vì chi phí bỏ ra thấp hơn nên nguồn lợi thu lại là có thể chấp nhận được. Mặt khác, một nền kinh tế chỉ có các công ty với quy mô lớn sẽ dẫn đến sự phát triển không đồng đều giữa các vùng, không tận dụng hết nguồn lao động và tài nguyên, gây ra các thiệt hại tiềm tàng cho nền kinh tế. - Làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quả hơn SVTH: Hà Lệ Thu
  13. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - Các công ty, tập đoàn lớn không có được tính linh hoạt, năng động như các công ty nhỏ hơn vì một nguyên nhân đơn giản là quy mô của chúng quá lớn nên thiếu khả năng phản ứng, thiếu linh hoạt khi môi trường trong nền kinh tế thay đổi. Khi đó, nếu một tỷ lệ lớn nguồn lao động và tài nguyên nằm trong tay các công ty có quy mô l ớn thì công ty sẽ trở nên chây ì, chậm chạp, không phản ứng kịp với các thay đổi trên thị trường. Vì vậy, nền kinh tế không chỉ có các doanh nghiệp lớn mà cũng cần có một tỷ lệ thích h ợp các DNNVV để tính hiệu quả của nền kinh tế được nâng cao. - Giữ gìn, phát huy các ngành nghề truyền thống, thể hiện bản sắc dân tộc Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, các ngành nghề truyền thống đang đứng trước nguy cơ bị quên lãng vì những công nghệ sản xuất dây chuyền hàng loạt. Ví dụ như: Ngày trước, mọi gia đình đều sử dụng đồ dùng được làm thủ công như chén bát, giày dép,... Nhưng ngày nay, khi khoa học – kỹ thuật phát triển, nhiều sản phẩm ra đời với giá thành thấp, mẫu mã đẹp hơn thì đồ thủ công gần như không còn được nhiều người sử dụng vì giá thành cao hơn và không được phù hợp với xu thế hiện thời nữa. Muốn tồn tại được thì các thợ thủ công phải tập hợp lại và thành lập doanh nghiệp, sau đó quảng bá rộng rãi đến các khách hàng tiềm năng của sản phẩm thủ công. Và loại hình thích hợp để sản xuất thủ công là DNNVV. Việc sản xuất thủ công, tổ chức, thành lập các làng nghề truyền thống để đáp ứng cho một bộ phận nhỏ người tiêu dùng khá khó khăn. Vì thế, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tiên tiến, những DNNVV nên sử dụng các phương tiện truyền thông đ ể quảng bá sản phẩm của mình đến người tiêu dùng trong và ngoài nước. Bên cạnh đó cũng nên tiếp cận và làm quen với công nghệ nhằm giúp ích cho công việc như tạo hình,… đ ể sản phẩm thủ công không còn bị lỗi thời so với các sản phẩm dây chuyền. 1.3. Hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 1.3.1. Vai trò cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa - Bảo đảm cho hoạt động của các DNNVV được liên tục SVTH: Hà Lệ Thu
  14. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - Nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp luôn cần phải cải tiến kỹ thuật thay đổi mẫu mã mặt hàng, đổi mới công nghệ máy móc thiết bị để tồn tại đứng vững và phát triển trong cạnh tranh. Trên thực tế, không một doanh nghiệp nào có thể đảm bảo đủ 100% vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh. Vốn vay từ ngân hàng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm máy móc thiết bị cải tiến phương thức kinh doanh. Từ đó góp phần thúc đẩy tạo điều kiện cho quá trình phát triển sản xuất kinh doanh đựơc liên tục. - Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của DNNVV Khi sử dụng vốn tín dụng ngân hàng, các doanh nghiệp phải tôn trọng hợp đồng tín dụng phải đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn và phải tôn trọng các điều kho ản của hợp đồng cho dù doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hay không. Do đó đòi hỏi các doanh nghiệp muốn có vốn tín dụng của ngân hàng phải có phương án sản xuất khả thi. Không chỉ thu hồi đủ vốn mà các doanh nghiệp còn phải tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh chóng vòng quay vốn, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả được nợ và kinh doanh có lãi. Trong quá trình cho vay , ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giải ngân buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả. - Góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Trong nền kinh tế thị trường, hiếm doanh nghiệp nào dùng vốn tự có để sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn vay chính là công cụ đòn bẩy để doanh nghiệp tối ưu hoá hiệu quả sử dụng vốn. Đối với các DNNVV, do hạn chế về vốn nên việc sử dụng vốn tự có để sản xuất là khó khăn vì vốn hạn hẹp, nếu sử dụng thì giá vốn sẽ cao và sản phẩm khó được thị trường chấp nhận. Để hiệu quả thì doanh nghiệp phải có một cơ cấu vốn tối ưu, kết cấu hợp lý, nhất là nguồn vốn tự có và vốn vay nhằm tối đa hoá lợi nhuận tại mức giá vốn bình quân rẻ nhất. - Tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của các DNNVV Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, muốn tồn tại và đứng vững thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh. Đặc biệt đối với các DNNVV, do có một số hạn chế nhất định, việc chiếm lĩnh ưu thế trong cạnh tranh trước các doanh nghiệp lớn trong nước và nước ngoài là một vấn đề khó khăn. Xu hướng hiện SVTH: Hà Lệ Thu
  15. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - nay của các doanh nghiệp này là tăng cường liên doanh, liên kết, tập trung vốn đ ầu t ư và mở rộng sản xuất, trang bị kỹ thuật hiện đại để tăng sức cạnh tranh. Tuy nhiên để có một lượng vốn đủ lớn đầu tư cho sự phát triển trong khi vốn tự có lại hạn hẹp, khả năng tích luỹ thấp thì phải mất nhiều năm mới thực hiện được. Và khi đó cơ hội đ ầu tư phát tri ển không còn nữa. Như vậy để có thể đáp ứng kịp thời, các DNNVV chỉ có thể tìm đến tín dụng ngân hàng để giúp doanh nghiệp thực hiện được mục đích của mình là mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh. - Góp phần phát huy các ngành nghề truyền thống, là công cụ tài trợ cho các ngành nghề kinh tế kém phát triển Các làng nghề truyền thống, ngành kém phát triển thường không thu hút sự đầu tư, sản xuất từ các doanh nghiệp lớn nên chủ yếu phát triển theo hướng DNNVV. Khi các NHTM cho doanh nghiệp vay vốn, có nghĩa ngân hàng đã góp phần khuyến khích, thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp. 1.3.2. Các nhân tố tác động đến mở rộng cho vay DNNVV 1.3.2.1. Từ phía ngân hàng - Chiến lược kinh doanh của ngân hàng Chiến lược phát triển sẽ tạo ra một định hướng chung về khách hàng mục tiêu, từ đó xây dựng nên các chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với đối tượng khách hàng đó. - Chính sách tín dụng Chính sách tín dụng của một NHTM được xem như là kim chỉ nam trong hoạt đ ộng cho vay của ngân hàng đó. Chính sách tín dụng đúng đắn, đồng bộ, khoa học và thống nhất sẽ xác định cho các cán bộ tín dụng phương hướng đúng đắn khi thực hiện nhiệm vụ của mình, từ đó nâng cao được hiệu quả của hoạt động cho vay. - Quy mô nguồn vốn của NHTM Quy mô nguồn vốn, đặc biệt là quy mô vốn chủ sở hữu là nhân tố quan trọng quyết định đến khả năng cho vay của một ngân hàng. Các ngân hàng lớn thường cung cấp các khoản cho vay có giá trị lớn cho các doanh nghiệp, còn các ngân hàng nhỏ thường tập trung cho vay các khoản có quy mô nhỏ - nghiệp vụ tín dụng bán lẻ. SVTH: Hà Lệ Thu
  16. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - - Chất lượng và tính đa dạng của các hình thức cho vay Đây là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động cho vay của NHTM. Một ngân hàng sẽ ít có khả năng lớn mạnh, khả năng mở rộng hoạt động cho vay nếu những sản phẩm cho vay mà nó cung cấp cho khách hàng là đơn điệu, chất lượng không cao. - Thông tin tín dụng Là tất cả các thông tin về tài chính, quan hệ tín dụng, đảm bảo tiền vay, tình hình tín dụng và thông tin pháp lý của khách hàng. Hệ thống này được đ ưa ra nhằm hình thành cơ sở dữ liệu về khách hàng để phục vụ cho quá trình cấp tín dụng, phân tích và quản lý tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng. Mục đích quan trọng nhất là tìm kiếm, phát hiện ra sớm các khoản tín dụng có vấn đề để đánh giá đúng mức độ rủi ro của khoản nợ đồng thời dự báo trước khả năng một khoản tín dụng có thể chuyển sang nợ xấu. - Trình độ cán bộ công nhân viên Trình độ của cán bộ làm công tác cho vay có ảnh hưởng trực tiếp đ ến chất l ượng hoạt động tín dụng của ngân hàng. Khi các cán bộ tín dụng có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kiến thức và hiểu biết sâu rộng thì sẽ có thể phân tích, nắm bắt được tình hình của khách hàng. Từ đó đưa ra được quyết định tín dụng chính xác. 1.3.2.2. Từ phía DNNVV - Năng lực tài chính của DNNVV Năng lực tài chính là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp hoạt động hiệu quả thì tình hình tài chính sẽ vững mạnh, từ đó mới có thể đáp ứng được những yêu cầu và tiếp cận đ ược nguồn v ốn của ngân hàng. - Phương án sản xuất kinh doanh Đây là một vấn đề liên quan đến tính hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp khi sản xuất kinh doanh một sản phẩm nào đó. Khi tiến hành phương án sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sẽ tính toán doanh thu thu được, các chi phí liên quan và lỗ lãi. Từ đó sẽ đưa ra các quyết định là có tiến hành thực hiện dự án hay không. - Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ SVTH: Hà Lệ Thu
  17. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - Khi doanh nghiệp có đội ngũ quản lý tốt thì sẽ có chiến lược kinh doanh tốt, khả năng kinh doanh cao và có thể quản lý vốn tốt. Nó được thể hiện ở cách thức tổ chức hoạt động chung, tổ chức hoạt động sổ sách kế toán, quản lý tài chính hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật, môi trường kinh doanh. - Đạo đức kinh doanh của chủ doanh nghiệp Đây là một trong những yếu tố quyết định đến khả năng tiếp cận vốn ngân hàng và thiện chí trả nợ của chủ doanh nghiệp. Đạo đức kinh doanh được thể hiện ở việc doanh nghiệp trung thực, sử dụng vốn đúng mục đích, quản lý tốt, báo cáo thật, đảm bảo hoạt động kinh doanh được lành mạnh, đảm bảo trả được nợ cho ngân hàng. 1.3.2.3. Từ môi trường bên ngoài - Chính sách phát triển kinh tế của đất nước Chính sách phát triển kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến việc mở rộng tín dụng c ủa ngân hàng đối với DNNVV. Sự thay đổi các chính sách vĩ mô của Nhà nước sẽ gây nên những biến động lớn đối với hoạt động cho vay của ngân hàng. - Môi trường pháp lý Môi trường pháp lý là một hệ thống văn bản liên quan đến toàn bộ các hoạt đ ộng của NHTM nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng. Khi một hệ thống pháp luật đồng bộ thì sẽ tạo sự an toàn cho hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và hoạt động c ủa các ngân hàng nói riêng. Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà n ước, pháp luật có vai trò cực kỳ quan trọng, nó như một hành lang pháp lý tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, an toàn, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể kinh tế và có tính chất bắt buộc đối với tất cả các chủ thể kinh tế đó. Khi hệ thống pháp luật xảy ra rắc rối, không đồng bộ thì sẽ gây ra những khó khăn cho ngân hàng trong việc thực hiện các hợp đồng tín dụng và sẽ ảnh hưởng đến khả năng mở rộng cho vay đối với các thành phần kinh tế. - Môi trường chính trị - xã hội Đây là một nhân tố quan trọng trong việc đưa ra quyết định đ ối với các nhà đ ầu t ư. Khi nền chính trị ổn định thì nó sẽ tạo ra được sự tin tưởng lớn đối với các nhà đ ầu tư, SVTH: Hà Lệ Thu
  18. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - đặc biệt là đầu tư dài hạn. Khi đầu tư tăng lên, các doanh nghiệp sẽ có cơ hội để mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh từ đó hoạt động tín dụng của ngân hàng sẽ đ ược thúc đ ẩy mạnh mẽ. 1.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá phát triển hoạt động cho vay 1.3.3.1. Mức tăng trưởng doanh số cho vay - Chỉ tiêu này dùng để so sánh sự tăng trưởng tín dụng qua các năm đ ể đánh giá khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tín dụng của ngân hàng. - Chỉ tiêu càng cao thì mức độ hoạt động của ngân hàng càng ổn định và có hiệu quả, ngược lại ngân hàng đang gặp khó khăn, nhất là trong việc tìm kiếm khách hàng và thể hiện việc thực hiện kế hoạch tín dụng chưa hiệu quả. 1.3.3.2. Mức tăng trưởng dư nợ - Chỉ tiêu này dùng để so sánh sự tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm để đánh giá khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và đánh tình hình thực hiện kế hoạch tín dụng của ngân hàng. - Chỉ tiêu càng cao thì mức độ hoạt động của ngân hàng càng ổn định và có hiệu quả, ngược lại ngân hàng đang gặp khó khăn, nhất là trong việc tìm kiếm khách hàng và thể hiện việc thực hiện kế hoạch tín dụng chưa hiệu quả. 1.3.3.3. Tỷ lệ nợ xấu (nhóm 3 – 5) - Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu để phân tích thực chất tình hình chất lượng tín dụng tại ngân hàng, tổng nợ xấu của ngân hàng bao gồm nợ quá hạn, nợ khoanh, nợ quá hạn chuyển về nợ trong hạn, chính vì vậy chỉ tiêu này cho thấy thực chất tình hình chất lượng tín dụng tại ngân hàng, đồng thời phản ánh khả năng quản lý tín dụng của ngân hàng trong khâu cho vay, đôn đốc thu hồi nợ của ngân hàng đối với các khoản vay. SVTH: Hà Lệ Thu
  19. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - - Tỷ lệ nợ xấu càng cao thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng càng kém, và ngược lại. 1.3.3.4. Vòng quay vốn tín dụng Trong đó: - Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của Ngân hàng, thời gian thu hồi nợ của Ngân hàng là nhanh hay chậm. Vòng quay vốn càng nhanh thì được coi là tốt và việc đầu tư càng được an toàn. SVTH: Hà Lệ Thu
  20. KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP - CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 2.1. Khái quát về sự hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng 2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Tên pháp lý: Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam - Tên đầy đủ tiếng Anh: Vietnam Joint Stock Commercial Bank for Industry and Trade - Tên thương hiệu: VietinBank - Câu định vị thương hiệu: Nâng giá trị cuộc sống - Website: www.vietinbank.vn - Mẫu logo: Ngày 26 tháng 3 năm 1988, Ngân hàng chuyên doanh Công thương Việt Nam đ ược thành lập theo nghị định số 53/NĐ-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức bộ máy NHNN Việt Nam, và chính thức được đổi tên thành Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam theo quyết định số 402/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ngày 14 tháng 11 năm 1990. Ngày 27 tháng 9 năm 1993, Thống đốc NHNN Việt Nam đã ký Quyết định số 67/QĐ- NH5 về việc thành lập lại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam thuộc NHNN Việt Nam. Ngày 21 tháng 9 năm 1996, được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc NHNN Việt Nam đã ký quyết định số 285/QĐ-NH5 về việc thành lập lại Ngân hàng SVTH: Hà Lệ Thu
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2