
Nguyễn Bình Phương - Lục
Đầu giang tiểu thuyết
Phần 2
1. Phương thức huyền thoại
Nguyễn Bình Phương là nhà văn có ý thức rất sớm trong việc sử dụng các yếu tố
huyền ảo và vô thức. Tiểu thuyết Bả giời, dù chủ yếu triển khai ở đời sống hữu thức,
nhưng những yếu tố huyền ảo nhiều khi đã tỏ ra khá đắc dụng. Cái huyền ảo được toát
lên trước hết từ không khí của làng Phan, sau đó, là những sự kiện kỳ lạ, khác thường:
hai cha con Tượng vẫy được tai, Tượng bị rắn mào quấn quanh người mà không bị cắn
chết,… Ngay nhân vật chính của tiểu thuyết cũng có nhiều yếu tố ảo. Người đọc không
biết được quá khứ của anh, không lý giải được mối liên hệ giữa anh với người cha bị coi
là điên khùng hình như chưa từng một lần ra khỏi làng. Bởi anh được đẩy vào tác phẩm
hết sức đột ngột: trong một buổi chiều muộn, khi đã là một thanh niên. Cái tên cùng hình
dáng cũng như hành vi của anh đều mang giá trị biểu trưng. Tên Tượng và sự tương
đồng giữa việc trong cùng một hôm cả Tượng và nhũ đá hình Bụt mọc trong chùa Hang
bị rắn mào quấn quanh, việc Tượng như vượt lên hẳn so với dân làng, việc cả làng luôn
hướng đến một lời tiên tri nào đó… làm tác phẩm mang không khí của huyền thoại, như
có sự nhập thân của Đức Phật vào Tượng dù ở nhân vật này vẫn có rất nhiều hành vi
“dung tục”. Hiện thực vì thế bị nhạt nhòa đi rất nhiều. Người đọc không thể không thắc

mắc, nghi ngại về thực tại. Nghĩa là nhờ vào việc tạo dựng hiện thực huyền ảo, tiểu
thuyết đã đặt người đọc vào trạng thái buộc phải thức nhận cuộc sống và ý nghĩa của
cuộc sống.
Vào cõi hướng đến một thể nghiệm khác trong phương thức thể hiện hiện thực
huyền ảo. Thứ nhất là ở việc làm xuất hiện một “cõi” ảo. Cõi đó gồm những giấc mơ của
Tuấn, những ám ảnh của nhân vật hắn, cái bản năng tàn tạ của những con người sớm rơi
vào cảnh đáng thương, khốn cùng như hai chị em Vang, Vọng. Thứ hai, để cho “cõi ảo”
chi phối “cõi thực” mà các nhân vật đang hiện sống. Tuấn hướng về tình yêu thánh thiện
đã mất thuở nào mà phá phách để tìm quên hoặc đau đớn vì những hành động đã làm.
“Hắn” phát điên vì luôn luôn sống trong ám ảnh kẻ ăn cắp vô tình hắn giết chết sẽ quay
lại trả thù. Vang thì buông xuôi tất cả, cam phận tự diệt theo như cách mà số phận định
đoạt cho những người bị rơi vào tình cảnh của cô. Vọng có lúc đã dám đương đầu với
quá khứ đau thương về cái chết của người cha để nhận làm việc ở chính chợ tỉnh nhưng
cuối cùng vẫn không thoát được ám ảnh đó phải bỏ về quê… Với Vào cõi, Nguyễn Bình
Phương đã đặt những dấu chân đầu tiên vào việc khai thác khía cạnh vô thức của con
người, tìm lấy trong nó những điều khả dĩ có thể góp phần lý giải hiện tại. Nhưng phải
đếnNhững đứa trẻ chết già, Người đi vắng, đặc biệt là Thoạt kỳ thủy phương thức huyền
thoại mới được Nguyễn Bình Phương khai thác triệt để.
Việc đưa thêm những đoạn Vô thanh vào Những đứa trẻ chết già đã thể hiện tham
vọng mới của Nguyễn Bình Phương trong cách tiếp cận trực diện vào các vấn đề huyễn
ảo. Nguyễn Bình Phương đã khai triển ở phần Vô thanh như là một sự tỉnh lược thế giới
hiện thực bác tạp, biến nó thành một thế giới linh ảo của sự phóng chiếu ý niệm về dục
vọng của con người. Trong cái bối cảnh không thời gian, không địa điểm, con đường
của chiếc xe trâu đồng nhất với hành trình đi tìm kho báu của những người đang sống.
Họ là những người (ở một kiếp trước nào đó) đã thất bại và giờ đây, ở thế giới bên kia,
thức nhận ra sự phi lý của những dục vọng ấy nhưng hình như đang gánh chịu hình phạt
(kiểu như Sisyphe trong thần thoại Hy Lạp) phải tiếp tục cuộc hành trình tìm kho báu dù
đã biết trước kết quả là chẳng có gì. Với ý nghĩa ấy, phần Vô thanh thực sự đã là sự bổ
trợ cần thiết cho việc hiểu phần hiện thực trong thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Không
có sự xuất hiện của phần này, không có sự đan bện giữa phần này với các yếu tố huyễn

ảo trong các chương, ý định giải mã và nhận chân cái giả dối, vô nghĩa của dục vọng con
người nhiều phần sẽ trở nên khuyết thiếu.
Người đi vắng tiếp tục khẳng định vai trò của các huyền thoại trong sự định hình
và phát triển nhân cách con người. Các yếu tố huyền ảo và vô thức đã được nhà văn sử
dụng ở mức độ tương đối đậm đặc. Cả quá khứ và hiện tại đều được hiện hình qua lăng
kính này. Hầu như tất cả đều nhằm vào việc tường minh sự quy chiếu của cái huyền ảo,
vô thức vào những biểu hiện cá tính. Có chung một dòng chảy từ công chúa Diên Bình
qua cha con Lưu Nhân Chú đến Đội Cấn, Lập Nham, người đàn bà đi giữa cuộc đời họ;
phát tán trong cụ Điển, ông Bính, vợ chồng Thắng, Cương, Thư… Họ đều dấn thân vào
việc giải mã bản thể mình. Nhưng con đường giải mã ấy không bao giờ được tiến hành
một cách triệt để. Nó luôn vướng mắc bởi hoàn cảnh: Diên Bình phải thuận theo lời cha
để lấy thủ lĩnh phủ Phú Lương; Cha con Lưu Nhân Chú dắt díu nhau tìm đường vào với
Lê Lợi để cuối cùng phải chịu chết dưới lưỡi kiếm của lộng thần Lê Sát; Lập Nham gạt
tình riêng để vời được Đội Cấn về cùng chiến tuyến; Đội Cấn có vợ yêu nhưng luôn ý
thức được rằng tình cảm vợ giành cho mình luôn có cả trách nhiệm thầy Ba giao phó…
Các nét tính cách của họ luôn ẩn hiện trong các nhân vật thuộc thời hiện tại. Quan hệ
của Đội Cấn với Lập Nham thỉnh thoảng sống lại trong cụ Điển và ông Bính, trong mối
quan hệ của Thắng và Cương. Con đường thức nhận ý nghĩa cuộc sống của Lưu Nhân
Chú cũng để lại dáng nét trong nhiều nhân vật.
Riêng có Hoàn hiện lên như một trường hợp vừa đặc biệt vừa tiêu biểu. Hoàn vừa
yêu Thắng vừa tìm đến Cương để thỏa mãn những dục vọng của mình. Ở đâu đó trong
chiều sâu vô thức, Hoàn nhận thấy sự vênh lệch giữa mình và chồng nhiều lúc không thể
vượt qua. Chính trong mối tình tay ba ấy, Hoàn đã bung nở hết ý thức về cá tính. Hoàn
vượt qua tất cả những câu thúc để hưởng niềm vui sống trọn vẹn không đắn đo, không
hối hận. Hoàn dám sống một cuộc sống tận hiến cho riêng mình. Nhưng chính trong sự
thỏa mãn ấy, dục vọng căng tràn báo hiệu nảy sinh bi kịch. Sau đêm để cho Thắng được
sống trong cảm xúc ân ái của ngày mới cưới sau biết bao rạn vỡ, Hoàn chủ động tìm đến
Cương rồi bất ngờ tìm đến một hành động tự hủy. Hoàn bỏ đi, tai nạn và rơi vào hôn mê.
Và chính trong trạng thái này, Hoàn có những mộng du gợi mở cho người đọc chiều sâu
trong tâm thức của cô. “Mày là tao kiếp trước phải không?”, câu hỏi như vết vấp rãnh

trong cuộn băng tâm thức Hoàn đã khẳng định cô vẫn là một bóng hình nào đó trong quá
khứ. Thậm chí, trong cô có cả dáng nét của Yến và Thư…, tức những người cùng thời
và thế hệ tiếp theo. Hoàn đã cố sống một cuộc sống cá nhân tròn đầy, song không ngờ,
cái tròn đầy mà cô cô gắng tạo lập cũng chỉ là một biểu hiện của sự khuyết thiếu. Tìm
đến tình dục như một sự hiện diện của vô thức con người, Nguyễn Bình Phương vừa
biểu đạt nó như một đối tượng thẩm mỹ độc lập vừa cấp cho nó phẩm tính của cái biểu
đạt. Nghĩa là qua trạng thái bất an trong Người đi vắng nói chung và vấn đề tính dục nói
riêng, Nguyễn Bình Phương muốn xác tín ý niệm về sự hiện hữu thiếu vắng của con
người.
Có thể nói, so với các sáng tác cùng thời, Nguyễn Bình Phương đã sớm đi từ vấn
đề sử dụng các yếu tố huyền ảo sang cấp độ sử dụng các yếu tố vô thức. Từ trong chiều
sâu vô thức, Nguyễn Bình Phương đã mạnh dạn đem đến nhiều biểu hiện khác lạ trong
thế giới nghệ thuật của mình. Biểu hiện trên phương diện ngôn ngữ và trên văn bản tác
phẩm, là những đoạn được tách ra in nghiêng, hàng loạt những giấc mơ, những chùm
ngôn ngữ mơ tưởng, điên loạn. Nó làm nên sự mờ nhòe, sự phái nghĩa của các biểu
tượng nghệ thuật. Trong sự xuất hiện và đứt gãy của các mạch sự kiện, nó còn biểu hiện
tính chất phức điệu của hiện hữu sống.
Đi từ bản thể con người đến bản thể đời sống, mở rộng diện phản ánh, ở cấp độ
này, tiểu thuyết Thoạt kỳ thủy ghi một dấu mốc quan trọng trên hành trình sáng tạo của
Nguyễn Bình Phương. Thể hiện những con người ở phương diện toan tính, hiếu sát, điên
dại… như một hiện hữu bất thường, Nguyễn Bình Phương đã đặt ra vấn đề tiếp cận vô
thức tập thể như là tư tưởng chủ chốt của tác phẩm. Trong tác phẩm, không chỉ nhân vật
Tính hiện lên như một kẻ điên mà tất cả con người trong làng Phan đều hiện lên ở thế
rộn rạo của một sự nhập cuộc vào thế điên loạn. Nguyễn Bình Phương đã sử dụng đậm
đặc các biểu tượng ám ảnh để biểu hiện dấu hiệu của sự tha hóa ấy. Tác phẩm mang
dáng dấp của một cấu trúc vòng tròn xoáy trôn ốc quanh biểu tượng con cú. Trong vòng
tròn ấy, là tất cả những vận động dần đẩy con người đến trạng huống “thoạt kỳ thủy”
của một xã hội tha hóa, phi nhân tính. Bởi cú mèo là loài vật sống về đêm, ngày ẩn ấp
yên lặng. Ở khía cạnh đầu tiên, nó tượng trưng cho sự yên tĩnh, thanh lặng. Về sau, do
chỗ thường xuất hiện khi có người chết, nó biểu trưng cho cái chết, cái ác. Vì vậy, mở

đầu tác phẩm bằng sự tác động vào cái yên lặng, tiểu thuyết khởi đầu cho một quá trình;
mở đầu bằng sự tác động vào cái chết, cái ác và kết thúc bằng hình ảnh con cú đạp nước
bay lên kéo dòng sông tuột khỏi đôi bờ bằng đôi móng sắc, tác phẩm báo hiệu sự thắng
thế của cái chết và sự hủy diệt. Tuy vậy, ở chiều sâu nhân bản, Nguyễn Bình Phương
cũng cố gắng đem đến cho tác phẩm một hồi quang hy vọng. Đó là việc để cho cấu trúc
tác phẩm có sự song hành hai biểu tượng con cú và ánh trăng. Tính sinh ra trong ánh
trăng, nhưng là thứ ánh trăng đã bị lệch lạc, đã mất đi tính nữ (trăng lạnh, trăng vàng
như mắt chó (- ác)…). Tính sống cả cuộc đời trong nỗi ám ảnh về ánh trăng. Cái lạnh
lẽo của ánh trăng, rộng ra là cái nhạt nhẽo của nhân tình, khiến Tính tìm đếnmáu
nóng (ám ảnh về máu) như một phản ứng, một khát vọng đạp đổ nên cũng là một bi
kịch. Cái bi kịch của con người phải dùng đến cái điên riêng mình chống lại cái “điên”
chung của cả cộng đồng như một biểu hiện của sự băng hoại. Nói cách khác, sự điên dại
của của Tính (phần nào đó của cả Hiền và ông Phùng) chính là biểu hiện của tỉnh thức
giữa sự bao vây của cộng đồng vô thức cho mình là tỉnh thức. Vì vậy, kết cục tất yếu là
Tính sẽ bị loại bỏ hoặc tự loại bỏ. Hai khả năng này kéo theo hai hệ quả tương ứng. Tính
bị loại bỏ nghĩa là cái ác sẽ bao trùm, thống trị. Tính tự loại bỏ nghĩa là hoặc cái thiện bị
triệt tiêu hoặc nó đã vượt trên cái ác để tồn tại bằng hành động dứt khoát chối từ chung
sống. Cái chết trên ngưỡng cửa nhận thức, khi bắt gặp ánh trăng tỏa ngời từ Hiền, như
tính nữ hằng thường, đã đưa Tính hòa vào cái thiện. Cái chết của Tính mang trong nó
tính chất của sự tái sinh. Cái thiện, cái đẹp dù nhỏ nhoi nhưng sẽ phát triển, sẽ lấn át cái
ác và ngự trị.
Phương thức huyền thoại có phần nhạt hơn trong Trí nhớ suy tàn và Ngồi. Thứ
nhất là do đối tượng thể hiện có phần đặc biệt. Cả hai tác phẩm đều hướng đến một
phạm vi thể hiện tương đối nhỏ, hẹp là trí nhớ và sự suy tàn của trí nhớ trong Trí nhớ
suy tàn hay trạng thái lưng chừng, lừng khừng của xã hội Việt Nam trong Ngồi. Điều
này hẳn nhiên đã thu hẹp khá nhiều mảnh đất làm nảy sinh cái kỳ ảo và vô thức. Vì vậy,
sự hiện diện của phương thức kỳ ảo trong các tác phẩm này tuy chỉ ở mức độ là cái phụ
trợ, bổ trợ như phần vô thức (có thể hình dung như vậy qua hình ảnh cây điệp vàng và
người điên canh giữ cây điệp vàng) là sự nhắc nhớ việc giữ gìn mối tình cũ hay cái ám
ảnh nhược tiểu luôn luôn hiện diện như những tràng mõ trong tâm trí những nhân vật

