intTypePromotion=1

Nhận xét tương quan giữa hình dạng cung răng với hình thể răng cửa giữa hàm trên của một nhóm sinh viên trường Đại học Y Dược Thái Nguyên

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
46
lượt xem
0
download

Nhận xét tương quan giữa hình dạng cung răng với hình thể răng cửa giữa hàm trên của một nhóm sinh viên trường Đại học Y Dược Thái Nguyên

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình dạng cung răng, hình thể răng cửa giữa hàm trên và khảo sát mối liên quan giữa hình dạng cung răng với hình thể răng cửa giữa hàm trên của một nhóm sinh viên trường Đại học Y Dược Thái Nguyên.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nhận xét tương quan giữa hình dạng cung răng với hình thể răng cửa giữa hàm trên của một nhóm sinh viên trường Đại học Y Dược Thái Nguyên

Nguyễn Thị Hạnh và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 119(05): 129 - 133<br /> <br /> NHẬN XÉT TƢƠNG QUAN GIỮA HÌNH DẠNG CUNG RĂNG<br /> VỚI HÌNH THỂ RĂNG CỬA GIỮA HÀM TRÊN CỦA MỘT NHÓM<br /> SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÁI NGUYÊN<br /> Nguyễn Thị Hạnh, Hoàng Tiến Công*<br /> Trường Đại học Y Dược - ĐH Thái Nguyên<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Mục tiêu: Mô tả đặc điểm hình dạng cung răng, hình thể răng cửa giữa hàm trên và khảo sát mối<br /> liên quan giữa hình dạng cung răng với hình thể răng cửa giữa hàm trên của một nhóm sinh viên<br /> trƣờng Đại học Y Dƣợc Thái Nguyên. Phƣơng pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thực hiện trên<br /> 88 sinh viên từ 18-25 tuổi (gồm 53 nữ và 35 nam) có bộ răng vĩnh viễn đầy đủ, chƣa điều trị phục<br /> hình hoặc chỉnh nha và không có tiền sử chấn thƣơng hàm mặt. Kết quả: Dạng cung răng hình ô<br /> van và hình vuông chiếm đa số (83,0%) và hình thuôn dài là 17,0%. Răng cửa giữa hàm trên chủ<br /> yếu có hình ô van là 77,3%, hình vuông 20,4% và hình tam giác chỉ chiếm 2,3%. Sự tƣơng quan<br /> giữa hình dạng cung răng và hình thể răng cửa giữa hàm trên tƣơng ứng là 56,8%, trong đó sự<br /> tƣơng quan giữa cung răng có dạng hình ô van và răng cửa giữa hàm trên tƣơng ứng là 81,1%. Kết<br /> luận: Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy kết quả không phù hợp với các nghiên cứu của ngƣời<br /> châu Âu, có thể cung răng ngƣời Việt có những đặc trƣng về mặt hình thái cần đƣợc nghiên cứu<br /> sâu hơn để từ đó có những lƣu ý thực hành phù hợp trong chẩn đoán và điều trị.<br /> Từ khóa: Hình dạng cung răng, răng cửa giữa hàm trên, cung răng hình vuông, cung răng hình ô<br /> van, mẫu hàm<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ*<br /> Khuôn mặt đẹp là khuôn mặt ở trạng thái cân<br /> bằng và hài hòa giữa các nét trên mặt, điều<br /> này chịu ảnh hƣởng của nhiều yếu tố. Khái<br /> niệm khuôn mặt đẹp ngày càng đƣợc nhiều<br /> ngƣời quan tâm. Sự ổn định về hình dạng,<br /> chức năng cung răng đƣợc xem là yếu tố tham<br /> khảo chính, là một yêu cầu cần thiết để nhanh<br /> chóng đạt đƣợc những kết quả mong muốn<br /> trong điều trị, tạo đƣợc sự cân đối thẩm mỹ<br /> trên khuôn mặt. Với mục tiêu đó, các nghiên<br /> cứu về hình thái để mô hình hóa hình dạng<br /> răng và cung răng đã đƣợc tiến hành nhằm cải<br /> thiện việc chẩn đoán và lên kế hoạch điều trị.<br /> Trong những năm đầu thế kỷ 20, hình dạng<br /> răng cửa giữa hàm trên đƣợc phân loại theo<br /> hình dạng đảo ngƣợc của khuôn mặt và hình<br /> dạng cung răng [1]. Các yếu tố này liên quan<br /> mật thiết với nhau và đƣợc nhóm lại theo các<br /> dạng hình học khác nhau: hình vuông, hình<br /> tam giác và hình ô van. Phân loại này đã góp<br /> phần cho việc lập kế hoạch điều trị chỉnh hình<br /> răng mặt, tạo sự hài hòa trên khuôn mặt.<br /> *<br /> <br /> Tel: 0913 351248, Email: Conghoangt60@gmail.com<br /> <br /> Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu về răng<br /> và bộ răng liên quan không những đến can<br /> thiệp lâm sàng, mà còn về hình thái học ở<br /> nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau [1], [2],<br /> [3]. Một số nghiên cứu tuy đã đề cập đến<br /> những vấn đề cơ bản nhƣ các chỉ số cắn khớp<br /> cơ bản, đặc điểm hình thái cung hàm nhƣng<br /> các nghiên cứu đó cũng chỉ dừng lại ở nghiên<br /> cứu mô tả về hình thái, chƣa đi sâu về tỷ lệ<br /> giữa các dạng cung răng theo phân loại khớp<br /> cắn cũng nhƣ mối liên hệ của chúng với các<br /> thành phần giải phẫu khác của mặt (hình dạng<br /> khuôn mặt hay hình thể răng cửa giữa hàm<br /> trên). Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu<br /> đề tài: “Nhận xét tƣơng quan giữa hình dạng<br /> cung răng với hình thể răng cửa giữa hàm trên<br /> của một nhóm sinh viên trƣờng Đại học YDƣợc Thái Nguyên” với các mục tiêu sau:<br /> + Mô tả đặc điểm hình dạng cung răng và<br /> hình thể răng cửa giữa hàm trên của một<br /> nhóm sinh viên trƣờng Đại học Y-Dƣợc Thái<br /> Nguyên.<br /> + Khảo sát mối tƣơng quan giữa hình dạng<br /> cung răng với hình thể răng cửa giữa hàm trên<br /> của đối tƣợng nghiên cứu.<br /> 129<br /> <br /> Nguyễn Thị Hạnh và Đtg<br /> <br /> ĐỐI TƢỢNG<br /> NGHIÊN CỨU<br /> <br /> VÀ<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> PHƢƠNG<br /> <br /> PHÁP<br /> <br /> Đối tƣợng nghiên cứu<br /> - Mẫu nghiên cứu gồm 88 sinh viên y chính<br /> quy đang học tại trƣờng Đại học Y-Dƣợc<br /> Thái Nguyên năm học 2012-2013.<br /> - Tiêu chuẩn lựa chọn: Độ tuổi từ 18-25, có<br /> bộ răng vĩnh viễn đầy đủ, không mất, thiếu<br /> hay thừa răng, chƣa đƣợc điều trị phục hình,<br /> chỉnh nha, đồng ý tham gia nghiên cứu.<br /> - Tiêu chuẩn loại trừ: Có tiền sử chấn thƣơng<br /> hoặc dị tật bẩm sinh hàm mặt, có răng sâu, vỡ<br /> lớn trên ½ thân răng, mẫu hàm không đạt tiêu<br /> chuẩn hoặc răng mòn nhiều không còn rõ các<br /> mốc đo.<br /> Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên<br /> theo các khối, lớp sinh viên Y chính quy từ<br /> năm thứ nhất đến năm thứ năm.<br /> Phƣơng pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.<br /> Chỉ tiêu nghiên cứu: Giới tính, hình dạng cung<br /> răng trên, hình thể răng cửa giữa hàm trên.<br /> <br /> 119(05): 129 - 133<br /> <br /> lên trên mẫu sao cho thƣớc nằm trên mặt<br /> phẳng cắn của răng, đối chiếu với đƣờng nối<br /> rìa cắn răng cửa, răng nanh và đỉnh núm<br /> ngoài của các răng hàm.<br /> Cách xác định hình thể răng cửa giữa hàm<br /> trên: Dựa theo phƣơng pháp của Célebie và<br /> Jerolimov, xác định hình thể răng cửa giữa<br /> hàm trên dựa vào mối tƣơng quan giữa ba<br /> kích thƣớc ngang của răng, đó là chiều rộng<br /> vùng cổ răng, chiều rộng của thân răng giữa<br /> hai điểm tiếp xúc với răng bên cạnh và chiều<br /> rộng vùng rìa cắn.<br /> Phƣơng pháp xử lý số liệu: Số liệu đƣợc<br /> nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0.<br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU<br /> Mẫu nghiên cứu của chúng tôi gồm 88 đối<br /> tƣợng có độ tuổi từ 18-25,<br /> Mẫu nghiên cứu gồm 35 nam (39,8%) và 53<br /> nữ (60,2%).<br /> <br /> 60.2%<br /> <br /> Kỹ thuật thu thập số liệu:<br /> <br /> 39.8%<br /> <br /> + Ghi các thông tin cá nhân và khám lâm<br /> sàng xác định loại khớp cắn vào phiếu nghiên<br /> cứu, loại những sinh viên không đủ tiêu chuẩn<br /> lựa chọn.<br /> + Lấy dấu bằng Alginate và đổ mẫu thạch cao<br /> hai hàm của những sinh viên có đủ tiêu chuẩn<br /> lựa chọn.<br /> + Tiến hành đo đạc, xác định các kích thƣớc<br /> và hình thể của răng cửa giữa hàm trên, xác<br /> định hình dạng cung răng hàm trên trên các<br /> mẫu thạch cao và ghi lại vào phiếu nghiên<br /> cứu các thông số đo đƣợc.<br /> Cách xác đinh hình dạng cung răng: Sử dụng<br /> bộ thƣớc OrthoForm cúa hãng 3M, đặt thƣớc<br /> <br /> Nam<br /> Nữ<br /> <br /> Biểu đồ 1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới<br /> <br /> Dạng cung răng hình ô van có 53 trƣờng hợp<br /> (60,2%), 20 trƣờng hợp có dạng cung răng<br /> hình vuông (22,8%), còn lại 15 trƣờng hợp có<br /> dạng cung răng hình thuôn dài. Nhƣ vậy, đa<br /> số các trƣờng hợp nghiên cứu có dạng cung<br /> răng hình ô van.<br /> Kiểm định 2 cho thấy sự phân bố hình dạng<br /> cung răng theo giới không có sự khác biệt với<br /> p>0,05 (= 0,345).<br /> <br /> Bảng 1. Phân bố các dạng cung răng (CR) theo giới<br /> Giới<br /> Nam<br /> <br /> Dạng CR<br /> <br /> Ô van<br /> n, (%)<br /> 18(51,4)<br /> <br /> Vuông<br /> n, (%)<br /> 9 (25,7)<br /> <br /> Thuôn dài<br /> n, (%)<br /> 8 (22,9)<br /> <br /> Tổng<br /> n, (%)<br /> 35 (100)<br /> <br /> Nữ<br /> <br /> 35 (66,0)<br /> <br /> 11(20,8)<br /> <br /> 7 (13,2)<br /> <br /> 53 (100)<br /> <br /> Tổng<br /> <br /> 53 (60,2)<br /> <br /> 20(22,8)<br /> <br /> 15 (17,0)<br /> <br /> 88 (100)<br /> <br /> 130<br /> <br /> p<br /> p=0,345<br /> <br /> Nguyễn Thị Hạnh và Đtg<br /> <br /> Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ<br /> <br /> 119(05): 129 - 133<br /> <br /> Bảng 2. Sự phân bố hình dạng răng cửa giữa hàm trên theo giới<br /> Dạng răng<br /> Giới<br /> Nam<br /> Nữ<br /> Tổng<br /> <br /> Ô van<br /> n, (%)<br /> <br /> Vuông<br /> n, (%)<br /> <br /> Tam giác<br /> n, (%)<br /> <br /> Tổng<br /> n, (%)<br /> <br /> p<br /> <br /> 26(74,3)<br /> 42(79,2)<br /> 68(77,3)<br /> <br /> 7 (20,0)<br /> 11(20,8)<br /> 18(20,4)<br /> <br /> 2 (5,7)<br /> 0 (0,0)<br /> 2 (2,3)<br /> <br /> 35 (100)<br /> 53 (100)<br /> 88 (100)<br /> <br /> p=0,212<br /> <br /> Có 68 trƣờng hợp có hình thể răng cửa dạng hình ô van (77,3%), 18 trƣờng hợp có dạng hình<br /> vuông (20,4%) và hình thể răng cửa hình tam giác chỉ chiếm 2,3%. Không có sự khác biệt về giới<br /> với p>0,05 (= 0,212).<br /> Bảng 3. Tương quan giữa hình dạng cung răng trên và hình thể răng cửa giữa hàm trên<br /> Dạng răng<br /> Dạng cung răng<br /> Hình ô van<br /> Hình vuông<br /> Hình thuôn dài<br /> Tổng<br /> <br /> Hình ô van<br /> (n,%)<br /> 43 (81,1)<br /> 15 (75,0)<br /> 10 (66,7)<br /> 68 (77,3)<br /> <br /> Hình vuông<br /> (n,%)<br /> 10 (18,9)<br /> 5 (25,0)<br /> 3 (20,0)<br /> 18 (20,4)<br /> <br /> OR<br /> <br /> χ2 ,(p)<br /> <br /> 1,54 (0,54-4,38)<br /> 0,7 (0,23-2,39)<br /> 0,86 (0,21-3,53)<br /> <br /> 11,74; (p
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2