Phỏng vấn tướng lĩnh Việt
Nam
Trung tướng Đồng Văn Cống
Là một thanh niên yêu nước sinh ra từ ruộng dồng sông rạch miền Tây Nam Bộ, trưởng
thành trong Cách mạng tháng Tám, Đồng Văn Cống đã trở thành một người lính, một vị
tướng mà chiến tích không tách rời mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình. Chín năm
kháng Pháp,Bđội ông Cống” đã gắn liền với những chiến thắng Bến Tre, Long Châu
Tiền. Nếu như nữ tướng Nguyễn Thị Định, cùng đồng hương Bến Tre, góp công khai mở
con đường chiến lược Hồ Chí Minh trên biển, t tướng Đồng Văn Cống lại có công tổ
chức, củng cố vững chắc và hiệu quả con đường lịch sử mang mật danh 55B này. Trở v
quê hương, ông được giao trọng trách tư lnh Quân khu 9, phó tư lnh Quân giải phóng
miền Nam; giữ quyền chỉ huy sở kiêm tư lệnh Quân đoàn dự bị chiến lược trong Chiến
dch Hồ Chí Minh. Ông cũng là tướng tư lệnh tiền phương Quân khu 7, dẫn đầu một cánh
quân sang đập tan tập đoàn diệt chủng Pol Pot giải phóng Phnôm Pênh. Đồng Văn Cống
được phong quân hàm Thiếu tướng năm 1974, thăng Trung tướng năm 1981 và được Nhà
nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh. Trước khi lui về an nghỉ, vị tướng chiến
trường một thi vang danh còn được giao trng tch phó tổng thanh tra quân đội. Chúng
i không thnào ngmt con người hơn nửa cuộc đời nắm rng, đầm mình sông rạch
như ông, mà gần ở tuổi bát tuần, sức vóc vẫn còn vạm vỡ, cường tráng. Trước sự ngạc
nhiên của chúng tôi, bng cử chỉ giản dị thân tình, ging nói đĩnh đạc đậm chất Nam Bộ,
Trung tướng Đồng Văn Cống mở đầu câu chuyện:
-Rất nhiều bn bè ngạc nhiên trước sức khoẻ của i và hi tôi các quyết (cười). Chẳng
quyết nào đâu. Tôi vốn được cha mẹ và trời ban cho một sức vóc khỏe mạnh. Thời
tri từng lặn rất sâu nhiều lần dướing để vớt súng, từng đi bộ hàng trăm cây số hành
quân mà chẳng hề hấn gì. Tôi ch chơi thể thao thường xuyên thôi. Tôi từng là tuyển
thđi A bóng đá tnh hi trước Cách mng tháng Tám.
-Bây giờ Trung tướng còn chơi môn ththao nào không?
-Bóng chuyền, bóng bàn và cờ tướng tôi cũng rất thích, nhưng nay không còn chơi nữa.
Sáng sáng tôi ch đi b3-4 cây số, t nhà ra công viên Lê Văn Tám tập thể dục, rồi về.
-Trung tướng có còn nghiên cứu về công tác quân sự?
-Tôi mới nhận một tập tài liệu dày n trăm ngàn trang đánh máy để đọc và báo cáo
trước mt cuộc hội nghị. Hàng ny tôi vẫn đọc sách báo, nghiên cứu tư liệu để góp ý
cho Quân khu 7.
-Thưa Trung tướng, từ bưng biền Nam Bộ thời chín năm chống Pháp, “Bộ đội Ông
Cống” đã là ni kinh hoàng cho quân thù. Rồi những năm đánh Mỹ cái tên Đồng Văn
Cng với cách lệnh Quân khu 9, phó tư lnh Quân giải phóng min Nam li thường
xuyên xuất hin cả trên báo đài chính quyền Sài Gòn. Không ít giai thoi được truyền
tụng quanh cái tên y. Để thế hệ trẻ hình dung hơn về cuộc đời binh nghiệp của Trung
tướng, xin Trung tướng vui lòng cho biết đôi nét vmình?
-Tôi tuổi Ngọ, sinh năm 1918 ti Bến Tre. Gia đình tôi là nông dân. Ông c tôi quê
Vĩnh Phúc, vì điều kiện mưu sinh năm Tự Đức thứ hai đã di cư vào Nam làm thuê,
kiếm sống. Ông nội và cha tôi cũng phải đi ở đợ làm tá đin cho địa chủ. Đời cha i thì
đỡ hơn. Nhờ ông ngoại là mt trung nông, nên khi cha mẹ tôi lấy nhau, ông ngoại đã
mua cho ruộng đất, làm lng đủ ăn. Cuộc sống cơ cực, không điều kiện đến trường, nên
cả dòng họ tôi chẳng có ai biết chữ. Chỉ đến đời tôi, nhlà con trai út nên được gia đình
cho ăn học. Nhưng chẳng được bao lâu thì bmẹ tôi ln lượt qua đời. Tôi phải nghỉ học
nhày cấy, rồi được giác ngộ và tham gia hu cần cách mạng.
Khi Cách mng tháng m bùng nổ, tôi làm Bí thư chi bộ xã kiêm tng uỷ viên, lãnh đạo
nhânn đa phương ni dậy cướp chính quyn. Giặc Pp tái chiếm Nam Bộ. Tôi cùng
anh em tìm được bn cây súng lửa, cùng giáo gươm, tổ chức trừ gian diệt tề; tôi thường
dùng một cây gươm cướp được của quân Nhật để đi đánh địch. Quân số tăng dần, chúng
i tự thành lập tiểu đội, rồi trung đội do tôi chỉ huy và đến tháng 6 năm 1946 thì thành
lập đại đội.
Chúng tôi vừa đánh giặc vừa cướp vũ k của giặc để trang bị cho mình. Lúc y chưa có
bộ đội chính qui, chỉ có dân quân du kích. Mọi thứ đều tự túc, chchưa có chế đọ về khí
tài, quân trang. Đơn vị tôi phát trin sớm nhất và mạnh nhất tỉnh và khu. Sau đó, cấp trên
giao tôi đi thuyết phục anh em, tổ chức biên chế các lực lượng quân sự ở Bến Tre thành
bảy trung đội, rồi tách bốn trung đội thành lập Chi đội 19 do tôi chỉ huy hoạt động ở Bến
Tre-Gò Công, ba trung đội còn lại thành lập Chi đội 20 hoạt động ở Trà Vinh-Vĩnh Long.
Sang năm 1947, bộ đội phát triển nhanh, khu tổ chức thành lp Trung đoàn 99 với 2 tiểu
đoàn. Tôi trực tiếp làm Trung đoàn trưởng và phụ trách Tnh đội Bến Tre. Tôi cùng anh
em liên tục chiến đấu cho tới khi tập kết ra Bắc 1954. Lúc tập trung quân tập kết, tôi là
Tham mưu trưởng kiêm thường vtrực của Quân khu miền Đông.
-Thời gian ở miền Bắc, được biết, Trung tướng từng được phân công tổ chức con đường
chiến lược 559B…
-Vâng. Ra Bắc, tôi làm sư đoàn phó kiêm thư Đản uỷ Sư đoàn 330, sau đó sang Trung
Quốc hc quân sự hai năm. Năm 1961, tôi trở về làm Phó tư lnh Quân khu 3, rồi được
điều về Cục Tác chiến lo tổ chức, củng cố đường 559A và 559B (tức con đường chiến
lược Hồ Chí Minh trên Trường Sơn và trên bin). Tôi vn dân Nam Bộ, rành từng cù lao,
con rạch nên được giao trực tiếp tổ chức, chỉ huy con đường 559B trên bin để đưa vũ
khí về Nam B. Con đường này được tổ chức hết sức bí mật. Ở Bộ chính trị chỉ có các
anh Lê Dun, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ biết. Còn ở Bộ Quốc phòng thì anh Võ
Nguyên Gp, Văn Tiếnng, Nguyễnn Vịnh và Trần Văn Trà biết. Cho đến khi i
o Nam chiến đấu, mới giao con đường này lại cho anh Nguyễn Chánh trực tiếp lo liệu.
-Trung tướng trở vNam lúc nào?
-Tháng 4 năm 1963. Sau ba tháng vượt Trường Sơn, tôi về đến Nam Bộ. Theo dự kiến,
i vào Nam lãnh nhiệm vụ Tham mưu trưởng Bộ tư lệnh Miền. Tuy nhiên, vừa đến nơi
t đin của Bộ Quốc phòng quyết định thành lp các quân khu nhằm đáp ứng tình
hình mi trên chiến trường. i được điều về làm lệnh Quân khu 9 ở miền Tây Nam
Bộ.
-Như vậy Trung tướng lại có dp tái ngộ vi bưng biền Đồng Tháp Mười lng lẫy năm
xưa.
-Miền Tây quê hương, cũng là nơi tôi được trui rèn trong máu lửa với bao kỷ niệm hào
hùng và đau thương của chín năm kháng chiến chống Pháp. Rất nhiều người thân và đồng
đôi của tôi đã ngã xuống trên chiến khu này. Đến năm 1964, tôi được phân công làm P
tư lnh Miền kiêm Tư lnh Quân khu 9. Mấy năm sau, do yêu cầu mới, tôi mi về hn Bộ
tư lnh Miền để chuyên tráchng tác quân sự chung.
-Hình như Bộ tư lnh Quân giải phóng miền Nam bấy giờ có sự điều chỉnh, bổ sung liên
tục.
-Đó là do yêu cầu của chiến trường. Khi lnh Trần Văn Quang ra Bắc, anh Trần Văn
Trà t Bắc vào làm Tư lệnh, anh Nguyễn Chí Thanh là Chính u, anh Trần Độ là Phó
chính u, còn tôi cùng anh Lê Trọng Tấn, anh Nguyn Hữu Xuyến là Phó tư lệnh. Lúc
M tiến hành chiến tranh cục bộ, anh Hoàng Văn Thái được bổ sung vào giữ nhiệm v
Tư lệnh Min một thời gian. Anh Thái vì sc khỏe yếu phi về li Bộ tổng tham mưu,
anh Trà lên thay. Và chị Nguyn Thị Định cùng các anh Hoàng Cm, Đức Anh lần
lượt được đề bạt làm Phó tư lệnh Min. Trước đó, khi anh Nguyễn Chí Thanh ra Bắc rồi
đột ngột qua đời, anh Phạm Hùng là Bí thư Trung ương Cục được phân công kiêm Chính
u, anh Lê Văn Tưởng là phó chính u kiêm cục trưởng Cục chính trị.
Mỗi người một nhiệm vụ khác nhau, đoàn kết như anh em mt nhà, đã đóng góp tất cả
công sức và trí tuệ của mình cho sự nghiệp thống nhất đất nước.
-Tất nhiên khi đó không có đố kỵ quyn lực…
-Tquốc ln là trên hết. Mi người đều ở tư thế sẵn sàng hy sinh tới git máu cuối
cùng. Hin tượng đố kỵ, công thần, tham nhũng không thể tồn tại trên chiến trường máu
lửa!
-Trung tướng còn nhớ gì vnhng ngày tiến quân vào gii phóng Sàin?
-Tôi không trực tiếp tham gia các mũi tiến công. Nhưng trước đó, tôi đã t chức chu đáo
cánh quân pa Nam chuẩn bị tiến vào giải phóng Sàin. Anh Trần Văn Trà cùng mt
sđng chí trong B Tư lệnh Min được cử tham gia Bộlệnh Chiến dịch Hồ Chí
Minh. Tình hình lúc y theo tin tức ta nm được, địch có âm mưu: nếu thất thủ Sàin
sẽ rút về bên kia sông Tin, cố thủ ở Cần Thơ, để củng cố lực lượng, thành lập chính phủ
bốn thành phần. Tôi là người duy nhất trong Bộ Tư lệnh Miền vốn gốc dân đồng bằng
sông Cửu Long. Do đó, Quân uỷ Miền hp phân công ilại chỉ huy sở để trực, chỉ huy
hoạt đng phi hợp tác chiến giữa các quân khu, tỉnh đội; đồng thi tôi kiêm tư lệnh
Quân đoàn dự bị, anh Nguyễn Văn Sĩ-tham mưu phó Miền làm phó tư lnh, anh Nguyễn
Văn Tòng-cục phó Cục Chính tr làm phó tư lnh về chính tr, chuẩn bị đối phó vi âm
mưu mới của đch, nếu chúng rút về cố thở min Tây.
-Trung tướng có mặt trung tâm Sàin lúc nào?
-Sau khi Tng thống Dương Văn Minh tuyên bđầu hàng, B Tư lnh Chiến dịch Hồ
Chí Minh điện tôi xuống chỉ huy sở. Anh Văn Tiến Dũng nói rằng, Sài Gòn đã được go
nên không cần đến Quân đoàn d b nữa. Anh phân công tôi chỉ huy mt s bộ phận Bộ
Tư lệnh Min đi tin trạm vào thành phố tiếp quản, kiểm kê tài sản và sắp xếp ch ở cho
các đơn vị, để chuẩn bị đón Bộ Tư lnh chiến dch và BTư lệnh Miền. Sáng ngày 1
tháng 5 năm 1975, tôi o dinh Độc Lập.
Nhìn cảnh quần chúng xuống đường đón mừng thành ph gii phóng, đất nước hoà bình,
Nam Bắc thống nhất mt nhà, lòng tôi xúc động vô cùng. Sức mạnh của quần chúng lớn
lắm. Với sự thâm nhập vận động của cán bộ hoạt đng thành, khi tướng Dương Văn
Minh chưa tuyên bđầu hàng thì quần chúng cách mạng đã ni dậy làm chhơn bn
mươi khu vc trong thành phố. Gii phóng Sài Gòn là sự kết hợp giữa tấn công của bộ
đội chlực với sự ni dậy của các lực lượng quần chúng. Nhìn từng con đường, từng góc
phố, tng ngôi nhà rợp bóng cờ sao, tôi cảm thấy rất mãn nguyện. Nhiệm vụ của người
lính chiến đấu vì nền độc lập tự do của Tổ quc đã hoàn thành. Có thể nói, đó là những
gi phút đẹp nhất trong cuộc đời binh nghiệp mà i mơ ước.
-Nhưng Trung tướng vẫn chưa được ngh ngơi, khi cuộc chiến biên giới Tây Nam Tổ
quc xảy ra…
-Là người nh thì chng bao giờ có quyền nghỉ ngơi. Sau gii phóng, tôi về nhận nhiệm
vụ Phó tư lệnh Quân khu 7. Khi anh Trần Văn Trà ra Bắc làm Tng tham mưu phó Bộ
tổng tham mưu, thìi là quyền tư lệnh quân khu. Chiến tranh biên giới Tây Nam xảy ra,
i là tư lnh tin phương Quân khu 7, anhm Ngà và anh Năm Thành là phó tư lệnh,
đưa mt cách quân sang giúp cách mạng Campuchia giải phóng nước bạn thoát khỏi nạn
diệt chủng Pol Pot. Tháng 2 năm 1978, lực lượng Quân khu 7 bắt đầu chiến dch phản
công, m rộng địa bàn đến sông Mêkông. Tiếp theo là chiến dịch giải phóng các tỉnh
Xoài Riêng, Krachê và một phần Kompong Chàm. Cuối cùng, tiến vào gii phóng Phnôm
Pênh ngày 7 tháng 1 năm 1979 và truy quét tàn quân Pol Pot đến tận biên giới Thái Lan.
Về nước, tôi tiếp tục làm tư lnh Quân khu 7, rồi được điều ra Hà Ni làm phó tng thanh
tra quân đội, cho đến khi về nghỉ an dưỡng chờ quyết định hưu trí.
-Trong suốt cuộc đời binh nghiệp của mình, tn cương vị người chỉ huy, Trung tướng đã
tham gia bao nhiêu chiến dịch?
-Có mười bốn chiến dịch tôi tham gia với tư cách chỉ huy trưởng hoặc chỉ huy phó chiến
dch. Chẳng hạn, trong chín năm chống Pháp, tôi chỉ huy Chiến dịch Bến Tre từ ngày 3
đến 31 tháng 7 năm 1950, rồi Chiến dịch Sa Đéc-Long Châu Tiền vào tháng 3 năm 1951
mà tôi là ch huy trưởng cánh Long Châu Tiền. Còn trong chống M thì : Chiến dịch
Xẻo Rô phá ấp chiến lược năm 1963; Chiến dch Đông Bắc Campuchia năm 1971 giải
phóng bốn tỉnh biên giới nước bạn; Chiến dch Chen La Hay cuối năm 1971 tiêu diệt và
làm tan rã lc lượng chlực nòng cốt của quân đội Lon Nol; Chiến dch tổng hợp Đồng
bằng sông Cửu Long giữa năm 1972 mở thông biên giới Tây Nam; Chiến dịch Nguyn
Huệ năm 1972-1973 giải phóng toàn bLộc Ninh và vùng biên giới thuộc Khu 8, Chiến
dch Phước Long đợt hai cuối năm 1974,
-Trong đó chiến dịch nào Trung tướng gặp khó khăn nhất?
-Các chiến dịch của bộ đội chlực đánh lớn, thi gian ngắn. Còn như chiến dch phá ấp
chiến lược Xẻo ở Bến Tre chẳng hạn, li hết sức phức tạp, kéo dài thời gian. Xẻo
là con rạch dài gn mt trămy số, địch xây dựng hthống ấp chiến lược rất kiên c. Để
phá được ấp, tôi phải cho tiến hành ba bước. Đầu tiên là phá lng, bằng cách cho cán b
dân vn thâm nhập vận động quần chúng trong các ấp đấu tranh. Bước hai là phá rã dần.
Bước thứ ba là huy động lực lượng tổng hợp dứt điểm. Chiến dịch Xẻo Rô gii phóng
năm xã với hơn mt trăm ngàn dân.
-Trung tướng có thnói vài nét về Chiến dịch Đông Bắc Campuchia?
-Được Mỹ bật đèn xanh, Lon Nol đã lật đổ Sihanouk lên nm chính quyền ở Phnôm
Pênh. Trung tướng chủ trương ủng hSihanouk, tn công Lon Nol. Với dã tâm chng
cộng, Lon Nol liền khchặt mi con đường từ Campuchia dẫn đếnn cứ Lộc Ninh, thủ
đô kháng chiến miền Nam bấy giờ, trong đó có con đường 13 huyết mạch nối Lộc Ninh
với miền Bắc. Trong tình hình đó, cui năm 1971 Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở Chiến
dch Đông Bắc Campuchia, dôi tôi m tư lệnh, hạ quyết tâm khai thông con đường 13
ni căn cứ Lộc Ninh với Hạ Lào để chuyển một ngàn thương binh ra Bắc. Để hỗ trợ cho
chúng tôi, mt cánh quân do anh Trần Văn Trà chỉ huy đã tiến đánh Kompong Chàm,
khai thông mt con đường khác trên đất bạn. Sau gần mt tháng chiến đấu, chiến dịch kết