intTypePromotion=3

Sáng kiến kinh nghiệm: Một vài biện pháp nhằm duy trì sĩ số học sinh

Chia sẻ: Quang Huy | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:22

0
104
lượt xem
25
download

Sáng kiến kinh nghiệm: Một vài biện pháp nhằm duy trì sĩ số học sinh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm "Một vài biện pháp nhằm duy trì sĩ số học sinh" giới thiệu những kinh nghiệm quý báu trong việc duy trì sĩ số học sinh, cùng với những trăn trở về thực trạng một số học sinh bỏ học học hiện nay. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm: Một vài biện pháp nhằm duy trì sĩ số học sinh

  1. PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TP. PLEIKU TÊN ĐỀ TÀI: MỘT VÀI BIỆN PHÁP NHẰM DUY TRÌ SĨ SỐ  HỌC SINH  NĂM HỌC : 2011 ­ 2012 1                                           
  2. MỘT VÀI BIỆN PHÁP NHẰM DUY TRÌ SĨ SỐ HỌC SINH PHAÀN THÖÙ NHAÁT: ÑAËT VAÁN ÑEÀ           Trong bối cảnh kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn như hiện nay,   việc học sinh, nhất là học sinh người dân tộc thiểu số  bỏ  học đã trở  thành nỗi bức xúc của toàn xã hội. Việc thực hiện chủ trương phổ cập   giáo dục trung học cơ sở của Đảng và Nhà nước đúng kế hoạch có lẽ là  vấn đề nan giải đối với một tỉnh miền núi điều cv``kiện phát triển kinh   tế  còn gặp nhiều khó khăn như  Gia Lai. Vì vậy, vấn đề  duy trì sĩ số  ở  trường phổ  thông trong giai đoạn hiện nay có một tầm quan trọng hết  sức đặc biệt. Dư luận xã hội, ý kiến của những người có tâm huyết với  sự  nghiệp giáo dục hết sức lo lắng trước tình trạng nghỉ  học, bỏ  học   của học sinh phổ thông.  Nền kinh tế  thị  trường tạo những tiền đề  thuận lợi cho sự  phát  triển toàn diện của nền kinh tế  nước ta. Tuy vậy, một số nhược điểm  của nó cũng đã bộc lộ, đó là sự  cạnh tranh kinh tế, quy luật phát triển   không đồng đều đã tạo ra sự  phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc.   Khoảng cách của mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa người giàu  và người nghèo ngày càng lộ  rõ, mặc dù Đảng và Nhà nước ta luôn có  những chủ trương và chính sách để hỗ trợ người nghèo.  Mặt khác những hạn chế của nền kinh tế thị trường đã và đang tác  động đến suy nghĩ, lối sống thực dụng của  một số bộ phận thanh thiếu   niên, học sinh. Nhà trường, đặc biệt là các trường phổ thông đang đứng  trước những thách thức lớn vì phải đối mặt với những thách thức lớn vì  phải đối mặt với những mâu thuẫn lớn cần phải giải quyết. Một bên là   chất và một bên là lượng. Làm sao để vừa đảm bảo được số lượng học  sinh không ngồi nhầm lớp vừa đảm bảo được học sinh không bỏ  học,  nghỉ học.  Thực tế hiện nay ở các trường phổ thông, các thầy cô giáo đang cố  gắng thực hiện đảm bảo yêu cầu: dạy đúng, dạy đủ  nội dung, chương   trình sách giáo khoa hiện hành. Thực hiện được yêu cầu này cũng đã  đáng biểu dương. Còn việc duy trì sĩ số  học sinh, vẫn  được nghiễm  nhiên xem đó là việc của lãnh đạo nhà trường và của các cấp quản lý   ngành giáo dục. Đây là một nhận thức không đúng và  ở  trong suy nghĩ  2
  3. của không ít giáo viên. Nói như thế, không có nghĩa là phủ nhận công lao   và hoạt động nỗ  lực của thầy cô để  góp phần động viên học sinh đến   trường, đến lớp.  Xuất phát từ  thực tế  nêu trên, trong quá trình giảng dạy và làm  công tác chủ  nhiệm lớp, tôi đã mạnh dạn tập trung tìm hiểu, sử  dụng   những giải pháp cụ  thể  để  thực hiện mục tiêu làm sao duy trì tốt sĩ số  học sinh ở những lớp mình được nhà trường phân công phụ trách tôi luôn   xác định rõ phương hướng và nhiệm vụ  của hai mặt giáo dục là  “Dạy   chữ” và “Dạy người”, việc giáo dục đạo đức cho học sinh là việc làm   vô cùng quan trọng và cần thiết đối với từng cấp học, nó là cơ  sở  để  giúp học sinh phát triển toàn diện. Với mong muốn làm tốt công tác chủ  nhiệm lớp và có thêm  những kinh nghi ệm quý báu trong việc duy trì sĩ   số  học sinh, cùng với những trăn trở  về  thực trạng một số  học sinh   bỏ  học học hiện nay, tôi xin mạnh dạn đưa ra đề  tài: “ Một vài biện  pháp nhằm duy trì sĩ số  học sinh ”  hy vọng qua quá trình thực hiện  đó có thể  rút ra những bài học nhằm đóng góp một phần kinh nghiệm   nhỏ trong việc hạn chế tình trạng học sinh bỏ học, nghỉ học hiện nay. 3
  4. PHẦN THỨ HAI NỘI DUNG NGHIÊN CỨU I.Vị trí vai trò, tầm quan trọng của công tác chủ nhiệm lớp với vấn   đề duy trì sĩ số học sinh:                  Đất nước đang ở vào thời kỳ chuyển mình mạnh mẽ để hội   nhập vào trào lưu phát triển chung của toàn cầu. Sự  hội nhập và phát  triển của đất nước đang đặt ra cho từng địa phương từng gia đình và  từng cá nhân những cơ  hội lớn lao để  phát triển. Bên cạnh cơ  hội là  những yêu cầu hết sức khó khăn mà từng đối tượng phải nỗ lực để vượt  qua. Nhà trường trong tình hình phát triển mới của ngành giáo dục và của  đất nước rõ ràng mang trên mình trách nhiệm càng lớn lao hơn .           Trường học không những chỉ phải đào tạo những thế hệ học sinh  học giỏi, đạo đức tốt mà còn phải là những con người năng động, sáng   tạo. Do đó công tác giáo dục trong bối cảnh mới cũng phải có những yêu   cầu mới phù hợp hơn.        Sự nghiệp giáo dục nước nhà đang ở vào giai đoạn cải cách, đang   gặp những khó khăn nhất định. Tuy nhiên, như Bác Hồ đã nói “ Dù khó   khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt, trên nền   tảng giáo dục chính trị  và lãnh đạo tư  tưởng tốt, phải phấn đấu nâng   cao chất lượng văn hoá và chuyên môn, nhằm thiết thực giải quyết các   vấn đề  do cách mạng nước ta đề  ra và trong thời gian không xa đạt   những đỉnh cao của khoa học và kỹ thuật” (Trích “ Thư của Bác Hồ gửi  ngành giáo dục nhân dịp khai giảng năm học 1968 ­1969”. Dạy học là nhiệm vụ  quan trọng của nhà trường phổ  thông. Cụ  thể, nhiệm vụ vinh quang này được trao cho đội ngũ thầy cô giáo; nhưng   4
  5. để thực hiện tốt việc dạy của thầy thì điều trước tiên phải có là sự hiện  diện của trò, bởi vì nếu không có trò thì thầy dạy ai? Một thực trạng   hiện nay là học sinh, nhất là học sinh người dân tộc thiểu số, bỏ  học   nhiều. Người thầy giáo sẽ phải làm gì để  hạn chế, ngăn chặn việc học  sinh bỏ học? Học sinh bỏ học thì trách nhiệm thuộc về ai? Gia đình, nhà   trường hay xã hội ? Trách nhiệm của gia đình và xã hội chắc chắn là rất   lớn nhưng vai trò của nhà trường cũng không nhỏ. Trong nhà trường, ai  sẽ  có vai  trò lớn trong việc giúp học sinh không bỏ  học ? Các thầy cô  giáo bộ môn thông qua việc dạy học bộ môn (nhiệm vụ chuyên môn) để  bồi dưỡng kiến thức khoa học theo từng môn cho học sinh. Đoàn Thanh   niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh  thông qua các sinh hoạt tập thể  để  nhằm thu hút, tập hợp các em, giáo  dục lý tưởng và các kỹ năng hoạt động xã hội cho các em. Với các hoạt  động thi đua có tính phong trào, Đoàn và Đội thực hiện mục tiêu xây   dựng môi trường sinh hoạt vui, khỏe, lành mạnh để  tập hợp lôi kéo các  em tham gia, giúp các em có thêm niềm vui khi đến trường, đến lớp.  Đoàn Thanh niên và Đội Thiếu niên không thể  theo sát từng học sinh.  Không thể  nắm rõ từng mặt tích cực và hạn chế, những khó khăn và   thuận lợi trong sinh hoạt, học tập của các em để  có thể  có những biện   pháp giáo dục, động viên các em một cách sát thực và kịp thời khi các em  có ý bỏ học. Các thầy cô bộ môn, trên một chừng mực nào đó có thể nói  rằng: thông qua dạy chữ  để  dạy người. Việc dạy dỗ  tận tình, chu đáo   của các thầy cô có một tác dụng lớn đối với việc giáo dục nhân cách cho  các em, giúp các em có tấm lòng hiếu học. Các em sẽ  cố  gắng đi học  đều đặn nếu đến lớp các thầy cô giảng dạy dễ  hiểu, giúp các em dễ  tiếp thu bài, ham thích việc học. Nhiệm vụ chuyên môn vẫn là hàng đầu   và trong từng tiết dạy, hoàn thành kế  hoạch lên lớp (giáo án không bị  cháy ) đã là điều chấp nhận được.  Ngoài mức độ trên, chúng ta không thể đòi hỏi người giáo viên bộ  môn có trách nhiệm cao hơn được nữa. Nhất là trong hoàn cảnh ngành   giáo dục cả nước vừa mới thay đổi chương trình, sách giáo khoa, người  thầy giáo đang còn phải tận lực để  tiếp cận, thâm nhập chương trình  với khối lượng kiến thức lớn để vận dụng tốt những phương pháp dạy  học mới. Giáo viên chủ  nhiệm ­ người có vị  trí quan trọng ­ trước hết là   người thay mặt Hiệu trưởng nhà trường triển khai cụ  thể  và đôn đốc  học sinh thực hiện các chủ trương hoạt động của trường; là người phối  hợp trách nhiệm của các giáo viên bộ môn dạy  ở lớp; còn là người lãnh  đạo, tổ chức và hướng dẫn tất cả mọi hoạt động của lớp; là người làm  5
  6. cầu nối cho mối quan hệ gia đình ­ nhà trường ­ xã hội; chính vì vậy nên  công tác chủ  nhiệm được quy đổi tương đương một số  tiết dạy nhất  định. Do những đặc điểm về  vai trò đó, giáo viên chủ  nhiệm luôn phải  theo sát học sinh, nắm bắt kịp thời những diễn biến tư tưởng, tâm lý các   em để có thể giúp đỡ, giáo dục các em kịp thời và có hiệu quả.  II .Tìm hiểu tình hình nghỉ, bỏ  học của học sinh và các biện pháp  ngăn ngừa, vận động: 1. Đặc điểm tình hình của lớp:      Năm học 2011 – 2012 tôi được nhà trường giao chủ nhiệm lớp 8N,  một trong những lớp yếu nhất của trường. Theo tình hình ban đầu:           ­ Tổng số học sinh của lớp 42 em        ­  Hạnh kiểm:     Tốt:   19 em  Khá:  16 em  Trung bình:  7 em         ­   Học tập:  Giỏi: 5 em  Khá:  12 em  Trung bình: 17 em  Yếu:  8 em        Qua một quá trình thu thập, tập hợp các thông tin về  lớp và học  sinh, tôi đã rút ra những đặc điểm tình hình tư  tưởng, về việc học  của   các em.        Tư  tưởng, ý thức về  việc học của học sinh và của gia đình học  sinh được thể hiện phần nào qua tác phong của các em như cách ăn mặc,  cách trang phục và việc thực hiện nội quy của trường và các quy định   của lớp.        Xét về mặt lý luận cũng như thực tế: những gia đình (có mức sống  trung bình) mà cha mẹ có ý thức chăm lo đến việc học thì con cái họ luôn  đến trường với tác phong mẫu mực, đúng nghĩa học trò: đồng phục, áo   quần gọn gàng, sạch sẽ, sách vở được bao bìa cẩn thận. Những học sinh   ở  nhóm này thường là học sinh chuyên cần, chăm chỉ, hầu như  không  bao giờ vắng, nghỉ học không có lý do chính đáng.  Ngược lại, những gia đình cả  cha lẫn mẹ  thiếu sự  quan tâm về  việc học của con thì tác phong đến trường của các em này cũng khác: áo  quần luộm thuộm, sách vở  lôi thôi, không có được thái độ, ý thức học   6
  7. tập tốt. Hay bỏ  buổi, bỏ  giờ, nhất là giờ  các môn học khó.   Lớp chủ  nhiệm của tôi có 24 học sinh nam, trong đó 5 em để  tóc dài và rẽ  ngôi,  chải chuốt và ý thức học tập của các em này rất thấp. Về  ăn mặc, số  nam sinh này thường không mặc đồng phục và không bỏ  áo vào trong  quần, không đeo khăn quàng theo quy định của nhà trường.  Một vấn đề quan trọng khác cũng nói lên ý thức tư tưởng học tập   của các em, đó là việc chấp hành nội quy học tập. Có em thỉnh thoảng  nghỉ học không  lí do, đến lớp không chịu học bài và làm bài tập do giáo   viên giao về nhà. Đặc biệt tinh thần đoàn kết trong lớp không được như  các lớp khác. Vì ở lứa tuổi lớp 8 nên tâm lí các em có những thay đổi lớn.   Xu hướng muốn vươn lên làm người lớn đã gây ra những bất đồng, mâu  thuẫn, xích mích giữa các em trong lớp. Sự chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ,  bè phái đã diễn ra.  Khối đoàn  kết,   tình  thân  ái  giữa học sinh  trong   lớp  không  cao,  niềm vui của lứa tuổi học trò bị  thiếu. Đây chưa phải là nguyên nhân  chính, nhưng nó chính là chất dính quan trọng để  tạo nên sự  gắn kết  giữa các thành viên trong lớp, giúp các em có thêm niềm vui để  đến   trường sinh hoạt và học tập tốt hơn.       Sau khi tìm hiểu tình hình tư  tưởng của lớp, và nắm được những   yếu tố  tác động đến ý thức, tác phong học tập của các em cùng những   đặc điểm cụ thể của lớp, tôi đã đề ra những biện pháp phù hợp để thực   hiện quá trình giáo dục của mình. 2. Tổ chức hoạt động nắm tình hình và tư tưởng nghỉ học của học  sinh. a. Tìm hiểu hoàn cảnh của học sinh: Vị trí vai trò của người giáo viên chủ  nhiệm rõ ràng hết sức quan   trọng đối với chiều hướng duy trì sĩ số  của một lớp. Để  có thể  đề  ra   những giải pháp đúng đắn nhằm thực hiện trọn vẹn vai trò của mình,  việc tìm hiểu và nắm chính xác các thông tin về  tình hình mọi mặt của   lớp, nhất là vấn đề bỏ học của học sinh là một công việc tốn nhiều công  sức. Trong quá trình tìm hiểu tình hình chung cần tập trung chú ý đến   khả năng học tập và hoàn cảnh gia đình của các em; đặc biệt lưu ý đến  những em học sinh vốn đã học yếu lại có hoàn cảnh gia đình khó khăn . Để  nắm tình hình về  học sinh một các toàn diện, sâu sắc, tôi đã  tiến hành nhiều hoạt động.  Trước hết, tôi yêu cầu các em lập cho tôi một bản “sơ yếu lý lịch”  trích ngang. Nội dung của lý lịch ngắn gọn nhưng phản ánh đầy đủ  các  7
  8. thông tin về  tình hình gia đình (nghề  nghiệp của cha mẹ, số nhân khẩu  trong nhà…), quan hệ  gia đình ­ xã hội (tôn giáo, diện chính sách xã  hội…). Sau đó tôi lập một phiếu điều tra để  tìm hiểu về  khả  năng, sở  trường, các tâm tư, nguyện vọng và một số  nội dung liên quan tới cuộc   sống của các em  ở gia đình. Tập hợp lý lịch và phiếu điều tra của từng   em, xem xét nghiên cứu và tôi đã có thể nắm những nét khái quát về từng   em và gia đình (những em có hoàn cảnh đặc biệt được tôi lưu ý nhiều  hơn, tôi đánh dấu sao ( *) ở đầu danh sách để ghi nhớ).  Công tác điều tra, thu thập thông tin được tôi hết sức quan tâm.  Qua tập hợp nội dung sơ yếu lý lịch, phiếu điều tra, tôi thống kê, phân   loại được các số liệu về lớp tôi phụ trách công tác chủ nhiệm như sau: Về thành phần gia đình, xã hội: Lớp có 07 học sinh người dân tộc  JaRai, 03 em thuộc đối tượng con thương binh. Có 03 em học sinh lưu   ban . Về  tôn giáo có 12 em gia đình theo đạo Phật, 05 em theo Thiên   Chúa Giáo. Địa bàn cư  trú của đa số  các em thuộc vùng Trà Bá, Phù  Đổng Pleiku.           Về thành phần kinh tế: 16 em thuộc gia đình sinh sống bằng nghề  nông, 14 em thuộc thành phần buôn bán nhỏ  và cán bọ, công chức nhà  nước, 12 em có cha, mẹ  làm các nghề  tự  do (thợ  nề, thợ  mộc, chạy xe   ôm, làm nghề theo thời vụ…). Trong số những học sinh có cha mẹ, làm  nông, buôn bán, tôi tiếp tục phân loại cụ thể hơn và xác định được: có 12  em thuộc gia đình nông dân nghèo hoặc buôn bán hàng rong mà số  nhân   khẩu trong nhà lại đông.          Về đặc điểm tình hình chung của lớp: Ban cán sự lớp có tinh thần  làm việc tốt, nhiệt tình. Tuy vậy, lớp vẫn còn những hạn chế  về  nề  nếp, ý thức học tập chưa cao. Đặc biệt là tình trạng học yếu của một số  em ở trong diện gia đình nghèo. Một số em có nhà ở cách trường rất xa,   gia đình lại khó khăn, không mua được xe đạp nên việc đi lại học tập   của các em lại càng khó khăn hơn (như em Hoan, em Minh). Bên cạnh đó  còn có một số  em thiếu sự  quan tâm lo lắng của gia đình. Những phụ  huynh của các em này hầu như  giao khoán việc học của con em họ cho   nhà trường (em Mai, Hà, Thái, Dung). Có em, dù còn ít tuổi nhưng ngoài   các buổi đi học ở trường còn phải tự làm việc để kiếm tiền lo cho việc  học và phụ giúp gia đình.         Thực hiện công tác điều tra nêu trên, đã giúp tôi có một bức tranh   tổng thể  về  lớp chủ  nhiệm và những công việc mà tôi phải thực hiện   trong năm học.  Sau đó, để  hiểu về  các em một cách rõ ràng và có tính  chính xác cao hơn tôi đã tìm gặp trao đổi với những người liên quan đến  8
  9. các em (giáo viên chủ nhiệm năm học trước, một số giáo viên bộ môn có   tâm huyết và dạy môn học có số  tiết được phân bố  nhiều như  Toán,  Văn…; bạn cùng xóm, cùng trường…). Ngoài ra, để tìm hiểu và đánh giá   các em một cách khách quan, chân thực hơn tôi còn phải để thời gian và   tập trung chú ý quan sát các em qua các hoạt động như  lao động, sinh  hoạt văn nghệ, kể cả  cách chơi đùa của các em trong giờ  giải lao. Qua   tìm hiểu tôi thấy có em sống trong gia đình rất nghèo nhưng lại được sự  quan tâm chu đáo của bố mẹ. Có em sống trong gia đình rất sung túc nhưng  bố mẹ lại thờ ơ đến việc giáo dục con em. Có em phải làm việc nhiều hơn   là học. Và cũng có em sống trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt như mồ côi,  gia đình không hạnh phúc… và như  vậy cứ  mỗi một hoàn cảnh đều liên  quan đến đạo đức, học tập của các em từ đó có nguy cơ dẫn đến các em bỏ  học, vi phạm đạo đức hoặc giao du với những phần tử xấu của xã hội.   Công việc cực kỳ quan trọng (không thể bỏ qua) tiếp theo là thăm  hỏi gia đình học sinh. Vì không thể bố trí đủ  thời gian để  đi đến tất cả  mọi gia đình của các em trong lớp, tôi phải ưu tiên chọn ra một số em để  đi thăm,  ưu tiên số  một là học sinh có hoàn cảnh kinh tế  gia đình khó  khăn, cha mẹ làm nông hoặc làm các nghề tự do, buôn bán nhỏ lẻ ở chợ.   Sau đó là các em thuộc gia đình chính sách xã hội và các thành phần khác.   Với trình tự như thế, tôi bố trí lịch đến thăm vào các ngày chủ nhật hoặc   các ngày tôi rảnh rỗi. Có em tôi báo trước thời gian nhưng cũng có em tôi  đi bất chợt để tạo sự bất ngờ cho các em, đồng thời cũng nhằm giúp tôi  nắm tình hình cuộc sống, sinh hoạt của các em chính xác hơn. Qua tìm hiểu tôi được biết trong lớp có em Hậu thường hay đi học  muộn, nghỉ  học vô lý do, đến lớp không thuộc bài hay ngủ  gục, hay cáu  gắt, nổi nóng, có tư tưởng bỏ học. Tìm hiểu cụ thể, tôi được biết gia đình  Hậu rất nghèo, bố  phải đi làm xa, mẹ  hàng ngày phải chở  hàng lên tận   huyện Chưprông, sáng đi sớm tối mịt mới về. Mọi công việc hàng ngày em   phải tự lo liệu, như sáng đưa em đến nhà trẻ xong em đi học, trưa về tự lo  ăn uống ...Vì thế  nên có lúc em không ăn, để  số  tiền mẹ  cho  đi chơi điện  tử, dẫn đến cơ thể em ngày càng xanh sao, người lờ đờ, lên lớp em cứ nằm  dài ra bàn không muốn học. Đó là chưa kể  đến em không làm bài không  thuộc bài thường xuyên và ở tất cả các môn học, bị nhắc nhở nhiều nên em   có tâm lý chán nản, muốn bỏ  học.  Tôi đã đến gia đình trao đổi, phân tích   cho bố mẹ Hậu biết rõ tình hình của em trên trường và tìm cách giải quyết:   vào ban ngày đưa em về  gửi  ở  nhà một người cô để  được chăm sóc ăn  uống và quản lí giờ  học. Dần dần cùng với sự  kèm cặp của bạn lớp phó   học tập và sự theo dõi, nhắc nhở của tôi em đã có nhiều tiến bộ.         Hoạt động sau cùng của nội dung điều tra nắm tình hình là tiếp  xúc, tâm sự bằng việc bố trí thời gian nói chuyện riêng với các em. Việc   9
  10. này tôi xếp sau cùng; vì đây là khâu cuối của tìm hiểu nhưng là khâu mở  đầu cho hoạt động sư  phạm của tôi. Xác định rằng, việc trao đổi, đàm  thoại với các em sẽ giúp tôi hiểu cụ thể hơn những suy nghĩ, tâm tư, tình   cảm của các em, cho nên tôi chuẩn bị kỹ từng nội dung trao đổi với từng  em. Đặc biệt là những em tôi đã ghi dấu (*) để  ghi nhớ, tôi càng chuẩn   bị kỹ hơn. Không những chuẩn bị nội dung các vấn đề cần tìm hiểu mà  tôi còn dự kiến luôn những tình huống các em sẽ trả lời hoặc có thể hỏi  lại tôi.  b. Tìm hiểu diễn biến tâm lý của học sinh Như  chúng ta đã biết đối với học sinh  ở  lứa tuổi thiêu niên đã có  những biến đổi đáng kể  về  đời sống tâm lý, các em thích được làm người  lớn, muốn được người lớn tôn trọng và xác nhận việc làm của mình.Vì thế  chúng ta phải hết sức khéo léo và ứng xử phù hợp với lứa tuổi các em. Nếu   không các em dễ dàng bị tự ái hoặc bị tổn thương. Trường hợp ở lớp có em Thịnh. Thịnh  sinh ra trong một gia đình khá  giả và trí thức. Bố là kỹ sư cầu đường làm việc tại Hoàng Anh. Mẹ là y tá  của bệnh viện đa khoa thành phố. Bản thân em học giỏi nhưng thường hay   cúp giờ, đánh nhau, bỏ  nhà đi. Tìm hiểu kỹ  tôi được biết bố  em là người  rất nguyên tắc và cứng nhắc. Mọi hoạt động của em được bố quản lý một   cách chặt chẽ, sáng đưa đi học, trưa đón về… Còn mẹ em là người đàn bà  yếu đuối quá nuông chiều con, chăm sóc cho em từng ly từng tý. Mỗi khi  em yêu cầu gì mẹ em đều đáp ứng: nào là mua cho xe đạp xịn, điện thoại di   động... Khi em vi phạm tôi gọi điện, có khi gặp trực tiếp trao đổi thì chị  luôn tỏ  ra bênh vực con, cho con mình là ngoan và luôn giấu ba em về  những sai phạm hay những đòi hỏi quá đáng của em.  Trong một lần tâm sự, em đã thổ  lộ  với tôi, em nghĩ rằng bố  em  không tin em, còn mẹ em cứ xem em như một đứa bé. Tôi biết em đã bị tổn   thương vì nghĩ bố  không tin mình và tự  ái vì không được làm người lớn.  Tôi đã trao đổi với gia đình nên thay đổi cách giáo dục em, nên động viên  giúp đỡ  em là chính, không nên áp đặt con theo cách nghĩ của mình hoặc   quá nuông chiều con. Từ đó Thịnh đã dần dần thay đổi. 3. Các giải pháp thực hiện:        Việc xây dựng tập thể lớp vững mạnh, đoàn kết thân ái là vấn đề  hết sức cần thiết trong công tác của một giáo viên chủ  nhiệm. Vì sống  và sinh hoạt trong tập thể tốt các em sẽ học được tinh thần làm chủ, tình   nhân ái đoàn kết yêu thương nhau. Những tình cảm tốt đẹp giữa các em  sẽ nảy sinh trong cộng động lớp hoà hợp. Đó là lí do khiến tôi phải khẩn   trương tiến hành các hoạt động để xây dựng lớp thành tập thể đoàn kết,  thân ái và vững mạnh. 10
  11.        Vào học hơn một tháng, lớp có một bạn bị ốm khá nặng (em tên là   Thái ­ một trong 5 học sinh thuộc diện học yếu lại hay vi phạm v ề tác  phong tôi đã nêu trên), em phải nghỉ học trong ba ngày liên tiếp. Nhân cơ  hội này tôi động viên, bố  trí cán bộ  lớp và một nhóm học sinh tổ  chức   đến thăm và phân công thay nhau ghi chép lại những bài mà em Thái   thiếu trong thời gian nghỉ   ốm. Việc đến thăm và ghi chép bài giúp bạn  khi bạn nghỉ học vì đau ốm là vấn đề bình thường trong các lớp học phổ  thông. Nhưng  ở  đây, qua điều tra thăm dò đầu năm, tôi đã biết về  khả  năng và ý định nghỉ học của em Thái. Gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó   khăn, cha làm thợ mộc, mẹ bán rau ở chợ, nhà có 5 anh em, em là con lớn  nhất. Thu nhập kinh tế  thấp và thất thường của cha mẹ  cũng đã  ảnh  hưởng đến ý thức và kết quả học tập của em. Qua kiểm tra hồ sơ, học   bạ ở các lớp 6, 7 của em, tôi được biết, em đã hai năm học yếu và cũng  đã hai lần thi lại để lên lớp. Với một lần đến thăm gia đình, tôi đã gặp  cha của em, sau một hồi trao đổi, tuy chưa nói rõ, nhưng tôi cũng nắm  bắt được ý định của cha em Thái là: cho con nghỉ học để đi làm phụ giúp  gia đình. Như thế, nếu không có sự giúp đỡ, tác động của nhà trường và  các thầy cô giáo, chắc chắn em Thái  sẽ phải nghỉ học.Việc tổ chức các   bạn trong lớp đến thăm và giúp em Thái là một trong các giải pháp tác   động của tôi nhằm ngăn chặn khả  năng bỏ  học của em. Tôi cử  ban cán  sự  lớp và 5 học sinh (do tôi chọn lựa sau khi đã suy nghĩ cẩn thận) tổ  chức đi thăm. Những học sinh tôi chọn đi đều là những em có hoàn cảnh   tương tự  như  em Thái. Các em nhiều lần đến thăm, trò chuyện và phân   công nhau ghi chép những bài học mà em Thái đã mất trong thời gian  nghỉ  học. Tôi chọn em có khả  năng học tốt nhất (trong số  các em đi  thăm) giảng giải lại những bài khó cho em Thái. Sự thân thiện, quan hệ  tốt giữa những người bạn học cùng lớp, cùng cảnh ngộ  đã tác động   không những đến bản thân em Thái mà còn có tác động phụ đến gia đình,  làm thay đổi dần suy nghĩ của cha em Thái.       Sự quan tâm giúp đỡ chu đáo và tận tình của ban cán sự lớp không   những đã giúp cho em Thái nhanh chóng khỏi bệnh mà còn có tác dụng   khác lớn hơn. Em Thái, sau khi đi học trở  lại đã trở  nên thân thiện, cởi   mở hơn với bạn bè trong lớp. Em vui vẻ, gần gũi và nghe lời góp ý của   các bạn, em mặc đồng phục gọn gàng khi đến trường. ý thức và thái độ  học tập của em tiến bộ rõ rệt.          Để  đảm bảo hiệu quả  vững chắc trong việc giúp em Thái không  bỏ học, cần có sự tác động phối hợp giúp đỡ  của các bạn đồng nghiệp,   những thầy cô giáo dạy các bộ môn văn hóa trong lớp. Tôi trình bày hoàn  cảnh của em với những giáo viên có tâm huyết và đề  nghị  họ  quan tâm  11
  12. giúp đỡ  em Thái. Tôi được sự  đồng tình của các bạn đồng nghiệp. Em  Thái được động viên lên bảng giải những bài tập, trả  lời những câu hỏi  từ  dễ  đến khó. Đạt được những điểm số  khá cao tương  ứng, em càng  phấn khởi và ý thức ham học càng được khơi gợi rõ hơn.        Sau khi em Thái đi học một thời gian, tôi lại đến thăm gia đình em,   gặp mẹ  em và tôi nêu về  tiến bộ  trong việc học tập của em đồng thời   thăm dò thái độ, suy nghĩ của gia đình về  việc học của em. Mẹ em hết   sức vui mừng, với tâm trạng phấn khởi, mẹ  em bộc lộ  với tôi: “Chúng  tôi nghĩ rằng, cháu nó học quá yếu, gia đình lại hết sức khó khăn, trước   đây cha cháu định xin phép nhà trường cho cháu nó nghỉ  học đi phụ  thợ  hồ với  bác của cháu, kiếm thêm thu nhập đỡ gánh nặng cho gia đình. Vì   cháu có học nữa, chắc cũng không làm nên cơm cháo gì”. Sự  vui mừng  và lời tâm sự chân tình của mẹ em đã giúp tôi khẳng định được hiệu quả  của giải pháp tôi thực hiện.          Biện pháp phối hợp với các lực lượng xã hội (Chi hội phụ huynh  học sinh, hội khuyến học, chính quyền địa phương): Đây là nhóm giải  pháp có tầm quan trọng đặc biệt và có cơ sở để thực hiện tốt. Trên danh  nghĩa, các tổ  chức này đều đã được thành lập và hoạt động, còn hiệu  quả  hoạt động thực tế  của nó đạt được như  thế  nào còn tùy thuộc vào  nhiều nhân tố  tác động khác. Nếu nhà trường (cụ  thể  là giáo viên) biết   kết hợp tốt phương thức giáo dục “gia đình ­ nhà trường – xã hội” thì  các lực lượng xã hội sẽ phát huy tốt vai trò của mình trong lĩnh vực giáo   dục. Bởi, trong 3 yếu tố  nêu trên, nhà trường (mà trách nhiệm chính là  giáo viên) được đặt ở vị trí trung gian. Nhà trường có vai trò làm cầu nối  giữa gia đình và xã hội . Nói cụ  thể: Giáo viên chủ  nhiệm là người xây  dựng mối quan hệ giáo dục giữa xã hội với từng gia đình học sinh.          Trong buổi họp phụ huynh đầu năm, với chủ ý đã định, tôi đề xuất  thành lập Ban chấp hành chi hội, ngoài 3 người thường trực theo quy   định của nhà trường thì còn cử thêm 3  ủy viên khác. Tôi chọn cử 3 phụ  huynh có hoàn cảnh và con em có nguy cơ  nghỉ học vì lý do kinh tế gia   đình hoặc vì lý do về khả năng học tập thấp của các em. Tôi vận động  đưa 3 người này vào Ban chấp hành chi hội phụ  huynh của lớp với tư  cách  ủy viên không thường trực. Giữa giáo viên và Ban chấp hành chi  hội có sự  cam kết thống nhất về nhiệm vụ và hoạt động. Trong đó, tôi  hết sức lưu ý đến việc đảm bảo mục tiêu duy trì sĩ số  của lớp, trách  nhiệm của Hội khi có học sinh bỏ học.        Trong quá trình diễn biến của năm học, gần cuối học kỳ I có một   học sinh do hoàn cảnh kinh tế  gia đình quá khó khăn, đã nghỉ  học. Tôi   12
  13. báo với Thường trực của Hội phụ huynh biết và Hội đã phát huy vai trò  của mình. Họ  đã tập hợp Ban chấp hành, liên hệ  với cán bộ  Khuyến  học, chính quyền địa phương, tổ chức đi đến nhà em Huệ, học sinh nghỉ  học, trao đổi nói chuyện với gia đình em. Được biết, nhà em Huệ  có 4  anh chị em, Huệ là con thứ hai. Kinh tế  khó khăn, mẹ bán rau ở chợ, cha  làm thợ  nề, thu nhập của gia đình rất bấp bênh, vì vậy, mặc dù muốn   con được học hành để  có được vốn văn hóa làm hành trang cho cuộc   sống sau này, nhưng gia đình bất lực, không đủ  lo cho con. Trước tình  hình đó, Ban chấp hành chi hội quyết định tổ chức cuộc vận động quyên  góp trong phạm vi các phụ  huynh của lớp. Số  tiền quyên góp được tuy   không nhiều nhưng cũng đủ  mua cho em Huệ 1 chiếc xe đạp cũ nhưng   còn rất tốt và một số tiền để em mua sách vở, dụng cụ học tập. Trở lại   thăm nhà em Huệ lần thứ hai, với món quà đầy ý nghĩa, Hội phụ huynh  đã làm cho cha, mẹ  em Huệ rất xúc động. Gia đình em cảm kích trước   hoạt động năng động và tấm lòng của Hội phụ huynh. Việc làm này đã  tiếp thêm sức mạnh cho họ và họ đã động viên em Huệ đi học trở lại. Sự  tham gia của nhiều lực lượng, nhiều tiếng nói khác nhau kết  hợp với một sự  giúp đỡ  nhỏ  và chân tình về  vật chất của Hội đã tác   động mạnh đến tư  tưởng, tình cảm và suy nghĩ của gia đình em Huệ.  Việc em Huệ trở lại trường học đã khẳng định điều này. Biện pháp phát huy vai trò của cộng đồng: Đây là giải pháp khó  thực hiện nhưng sẽ phát huy hiệu quả tốt nếu vận dụng đúng trong bối  cảnh cụ thể, đặc biết đối với những vấn đề liên quan tới học sinh người   dân tộc thiểu số  tại địa phương. Tập tục và luật tục của đồng bào các  dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói chung, Gia Lai nói riêng từ trước đến   nay vẫn luôn tin tưởng và tôn trọng già làng. Uy tín và  ảnh hưởng của  già làng đối với các thành viên trong làng rất lớn, xét về  góc độ  cộng   đồng và xã hội thì tiếng nói của họ có lúc còn có tác dụng mạnh hơn cả  tiếng nói của chính quyền địa phương. Hiểu rõ tập tục này, tôi hết sức  quan tâm vận dụng nó khi có những trường hợp học sinh người dân tộc   thiểu số bỏ học.  Lớp tôi chủ nhiệm có 7 em học sinh người dân tộc JaRai. Các em  sống ở làng Plei Ngõ. Kết thúc học kỳ I của năm học, em Rơ Mah Khan   nghỉ học. Qua tìm hiểu, tôi được biết: Sở dĩ em nghỉ học vì kết quả học   kỳ I của em quá thấp, xếp loại học lực kém. Kiểm tra lại sơ yếu lý lịch   trích ngang, tôi xác định được: em là con thứ  3 trong gia đình. Cha, mẹ  làm nông. Anh và chị  của em đã học xong chương trình trung học phổ  thông, đang làm việc cho một cơ sở chế biến lâm sản. Tình hình kinh tế  13
  14. gia đình không đến mức khó khăn. Tôi đến làng em Khan và tìm gặp già   làng. Tôi trình bày việc học của các em học sinh dân tộc  ở  lớp tôi hiện  đang sống  ở  làng đồng thời cho già làng biết về  trường hợp nghỉ  học   của em Khan, sau đó đề nghị già làng giúp đỡ tôi, cùng tôi vận động gia  đình và em Khan để  em đi học lại. Nhằm bảo đảm hiệu quả  của công  việc, tôi gợi ý với già làng một số nội dung cần trao đổi với gia đình em.  Trong đó, tôi nhấn mạnh ý: có học thì mới có việc làm và có cuộc sống   tốt như anh chị của em Khan. Già làng và tôi cùng đến gặp gia đình em.   Tại đây, tôi không còn thể hiện vai trò của giáo viên chủ nhiệm. Tất cả  đều do già làng chủ  động nói chuyện với cha mẹ  và anh chị  của em  Khan.   Họ   nói  chuyện   với  nhau   bằng   tiếng   JaRai.   Tôi  không  hiểu   gì   nhưng qua cử chỉ và thái độ của những người tham gia đối thoại, tôi biết  chắc chắn rằng em Khan sẽ  được yêu cầu đi học lại. Gần cuối buổi  tiếp xúc, tôi mới trao đổi với anh, chị của Khan một số vấn đề  về  khả  năng và ý thức học tập của em Khan. Tôi nói rõ: sở  dĩ em học yếu, kết   quả  thấp là do ham chơi, không chịu học. Qua trao đổi, tôi cũng biết   được em Khan chỉ thích vào các làng bắt chim, bắt cá hơn là học bài, làm  bài. Tôi đề nghị gia đình quản lý tốt hơn việc “bắt chim, bắt cá” của em   Khan, yêu cầu em học cũng phải tốt như “bắt chim, bắt cá”. Biết được  tâm lý học sinh người dân tộc rất dễ tự ái, mặc cảm, khi em Khan đi học   trở  lại, tôi không nói gì, chỉ  lặng lẽ  đề  nghị  các giáo viên bộ  môn quan  tâm giúp đỡ  em hơn. Nhưng để  bảo đảm chắc chắn hơn, qua em Khan   tôi gửi lời cám  ơn đến với già làng kèm theo một món quà nhỏ  của tôi  nhờ  em Khan trao giúp. Thực hiện việc này, tôi đã xây dựng được một  chỗ dựa của mình ở làng và đó chính là nhân tố góp phần ngăn chặn việc   bỏ học trở lại của em Khan.         Cũng qua nhiều năm làm công tác chủ  nhiệm, tôi rút được kinh  nghiệm: Để  hỗ  trợ  tốt cho giáo viên trong việc quản lý lớp nói chung,  duy trì sĩ số của lớp nói riêng thì việc có một Ban cán sự lớp năng động,   tích cực và học tốt, có uy tín là điều không thể  thiếu được. Biết được  điều này, trong quá trình tổ chức bộ máy cán bộ lớp tôi hết sức quan tâm   việc chọn nhân sự và luôn theo dõi quá trình, cung cách làm việc của các  em. Nhờ xây dựng bộ  máy cán bộ  lớp tốt, các em đã giúp tôi thực hiện   tốt nhiều việc. Thực tế   ở  lớp tôi chủ  nhiệm, có học sinh bỏ  học vì  những lý do tế nhị mà em không bao giờ nói được với thầy cô giáo hoặc   với cha mẹ. Những vấn đề tế nhị đó chỉ được trao đổi hẹp trong nội bộ  các em với nhau. Vì vậy, qua các thành viên trong Ban cán sự  lớp, tôi   luôn tìm cách tìm hiểu, nắm thông tin về  hoàn cảnh, suy nghĩ của học   sinh khi có em bỏ  học, nghỉ  học. Trên cơ  sở  hiểu rõ nguyên nhân nghỉ  14
  15. học của các em, tôi mới có cách xử  lý phù hợp. Cụ  thể,  ở  lớp tôi chủ  nhiệm có em Mai, một học sinh nữ, có hoàn cảnh gia đình khá khó khăn,  học lực trung bình, hạnh kiểm tốt bỏ học ngay sau khi sơ kết học kỳ I.   Việc em Mai bỏ học nằm ngoài dự kiến của tôi. Gia đình của em có khó   khăn nhưng không phải quá khó đến mức phải nghỉ  học. Với lực học  của em thì lý do em bỏ  học chắc chắn không phải vì học yếu. Tôi gọi  em Đức, lớp trưởng và là một học sinh được bạn bè yêu mến, tin cậy.   Tôi bảo em tìm hiểu và cho tôi biết lý do em Mai bỏ  học. Bằng cách   thăm dò các bạn trong lớp, em Đức báo cho tôi rõ: Mai bỏ học vì gia đình   khó khăn. Suốt cả  học kỳ I, Mai đến trường chỉ  với một bộ đồng phục  (quần xanh, áo trắng) duy nhất. Tôi dự đoán: Em Mai là một học sinh nữ,  tính tình hiền lành, ít nói, không đua đòi ăn diện nhưng ở lứa tuổi các em,   các em dễ  buồn và mặc cảm với bạn bè trong cách ăn mặc nên đã bỏ  học.       Đây là trường hợp bỏ học vì một lý do tế nhị, vì vậy, đầu tiên   tôi gặp và nói chuyện tâm tình với em như  một người bạn cùng cảnh  ngộ  để  giải tỏa một phần tư  tưởng mặc cảm của em. Sau đó, tôi đến  thăm gia đình, hỏi về việc bỏ học của em. Cha mẹ em cũng không hiểu  rõ vì sao em bỏ học. Họ bảo rằng: em chán học, nghỉ  học vì học không  nổi, theo không kịp bạn bè. Tôi tìm cách gặp riêng mẹ  em và trình bày   cho mẹ  em biết về  khả  năng, lực học của em đồng thời nêu rõ những  điều tôi biết được về  nguyên nhân bỏ  học của em (qua tìm hiểu  ở  các   học sinh trong lớp và qua tâm sự của em). Mẹ em, với bản năng của một  người phụ nữ, nhận thức nhanh được vấn đề  và tìm cách khắc phục tế  nhị  theo hướng gợi ý của tôi. Kết quả  thật đáng phấn khởi, em Mai đi   học trở lại với bộ quần áo mới và nụ cười tự tin hơn .         Trong thời gian làm công tác chủ  nhiệm lớp, tôi đã có lần thực  hiện không thành công việc vận động học sinh bỏ học đi học trở lại. Đó   là trường hợp của   em Sơn, một học sinh nam, v ới hoàn cảnh cá nhân  khá đặc biệt: do kinh tế  gia đình khó khăn, nhà  ở  xa trường, bước vào   học lớp 1 muộn 01 tuổi, dù tuổi lớn so với bạn bè cùng lớp nhưng khả  năng tư duy của em rất chậm, do đó em không theo kịp bạn bè. ở lớp 4,   bậc Tiểu học, em bị lưu ban. Bước vào bậc Trung học cơ sở, em lại tiếp   tục lưu ban ở lớp 7. Năm học lớp 8 do tôi chủ  nhiệm, qua khảo sát đầu   năm, lực học của em rất kém, đến hết học kỳ 1, kết quả vẫn không thay  đổi. Kinh tế gia đình thuộc diện rất khó khăn. Tôi biết rõ, em đã cố gắng   hết mình để  theo học. Thế nhưng, lực học và tình hình kinh tế  gia đình  em không thể đáp ứng được. Sau khi sơ kết học kỳ I, em tìm gặp tôi và  xin nghỉ học. Việc này không tạo cho tôi một sự ngạc nhiên nào cả, bởi  15
  16. vì tôi đã xác định trước điều này. Biết việc nghỉ học của em là điều tất   yếu, nhưng với lương tâm và trách nhiệm của một giáo viên, tôi cũng  thử  sử  dụng hết tất cả  các giải pháp có thể  sử  dụng (huy động sức  mạnh của Ban chấp hành Hội phụ huynh, Hội khuyến học, tập thể lớp,   trao đổi với gia đình...). Tất cả  đều không hiệu quả. Em vẫn nghỉ học.  Tại sao như thế?       Thực tế  nêu trên  làm  cho tôi  suy nghĩ rất nhiều  để  rồi đi đến  khẳng định: Em nghỉ học là điều không thể thay đổi, bởi vì, với độ  tuổi   của em, các bạn cùng lứa đã ngồi học  ở lớp 11 bậc THPT, nếu có tiếp   tục học, em cũng có khả năng tiếp tục lưu ban ở năm lớp 8 và khả năng  này là rất lớn. Tình hình kinh tế  gia đình không cho phép em được lưu  ban một lần nữa. Qua phân tích, nhận định như thế, tôi quyết định dừng  các cố  gắng tác động của mình, chấp nhận thất bại với lời động viên  cuối cùng của tôi với em: “Có nhiều con đường để bước vào đời, không   học  ở nhà trường phổ thông, em có thể  vừa đi làm giúp cha mẹ, vừa đi  học ở các lớp bổ túc văn hóa vào ban đêm để có vốn văn hóa trang bị cho   đời sống sau này”. Em đã thực hiện đúng như  lời khuyên của tôi, ban  ngày đi phụ thợ hồ, ban đêm đi học bổ túc văn hóa.        Việc giúp đỡ, động viên em tiếp tục học  ở  nhà trường phổ  thông   đã vượt quá khả  năng của nhà trường và tầm của một giáo viên chủ  nhiệm lớp như  tôi. Mặc dù đã thất bại trong việc ngăn chặn tình trạng  bỏ  học của em Sơn nhưng tôi vẫn xin được nêu ra  ở  đây để  các đồng  nghiệp cùng suy nghĩ và có thể  có những giải pháp hiệu quả  để  thực  hiện thành công.   16
  17. PHAÀN THÖÙ BA : KEÁT QUAÛ VAØ VIEÄC PHOÅ BIEÁN  ÖÙNG DUÏNG  NOÄI DUNG VAØO THÖÏC TIEÃN I.KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:  Qua một số biện pháp thực hiện như  đã nêu trên tôi thu được kết  quả  thực tế  đáng phấn khởi: sau ba năm học làm công tác chủ  nhiệm  lớp, tôi đã vận động được 4/5 học sinh bỏ  học và có nguy cơ  bỏ  học   quay trở  lại lớp, con số  không lớn nhưng đó cũng là niềm vui, phần  thưởng vô giá của tôi.  Từ kinh nghiệm năm học trước, với các biện pháp trên, tôi tiếp tục  áp dụng cho năm học này để  hoàn thành tốt công tác chủ  nhiệm của  mình. Từ một lớp có học sinh dân tộc yếu – kém trong học tập lớp tôi đã  có sự tiến bộ rõ rệt. Kết quả cụ thể học kỳ 1 năm học 2011 ­ 2012 như sau: ­ Hạnh kiểm: Sĩ  Tốt Khá Trung bình Yếu số TS % TS % TS % TS % 42 30 71,4 12 28,6 0 0 ­ Học lực: Sĩ  Giỏi Khá Trung bình Yếu số TS % TS % TS % TS % 42 15 35,7 13 31 12 28,6 2 4.7 ­ Danh hiệu của lớp : Tiên tiến ­ Chi đội đạt   : Vững mạnh xuất sắc ­ Duy trì sĩ số         : 100% 17
  18. II/ BÀI HỌC KINH NGHIỆM Qua nhiều năm trực tiếp làm công tác chủ  nhiệm lớp. Đặc biệt   trong năm học 2011­2012 đến thời điểm này lớp tôi có nhiều tiến bộ rõ  rệt, các em học sinh dân tộc thiểu số, các em học sinh có hoàn cảnh đặc  biệt, hoàn cảnh khó khăn... đã đi học đầy đủ, chuyên cần và vươn lên  học khá, tốt không có em nào bỏ  học giữa chừng. Nhiều học sinh tiến   bộ, ý thức đạo đức, tự  giác trong học tập, có học sinh giỏi, có học sinh  khá, học sinh trung bình, không còn học sinh yếu kém. Bản thân tôi rút ra   được những bài học kinh nghiệm sau: + Đối với giáo viên:                Trước tiên, cần phải có tình thương yêu chân thành với học trò,  hiểu những chuyển biến về  thể  chất và tâm lý của các em trong giai   đoạn chuyển tiếp từ  trẻ  con sang người lớn. Thật sự  hiểu sâu sắc và  thông cảm với những suy nghĩ, tâm tư  của phụ  huynh học sinh, nhất là   đối với những người  ở  trong gia cảnh mà kinh tế  gặp khó khăn, điều   kiện lo cho con ăn học bị  hạn chế. Đây là tiền đề  và cũng là động lực  thúc đẩy người thầy có những suy nghĩ và giải pháp hoạt động đúng đắn   để góp phần ngăn chặn tình trạng bỏ học.        Từ  tiền đề  và động lực nêu trên, ngay từ  những ngày đầu, khi  nhận trách nhiệm làm công tác chủ  nhiệm, giáo viên phải thực sự  quan  tâm đến vấn đề  duy trì, đảm bảo sĩ số  của lớp. Phải đặt mục tiêu duy  trì, đảm bảo sĩ số lớp ngang tầm với các mục tiêu giáo dục khác. Có kế  hoạch thực hiện, cùng những giải pháp được tính toán, cân nhắc, lựa  chọn cẩn thận.        Thường xuyên quan tâm, theo dõi sĩ số của lớp, hết sức lưu ý đến  những đối tượng học sinh  ở trong diện có khả năng bỏ học. Khi có học  sinh nghỉ học 2 ngày mà không có phép, không có lý do thì giáo viên chủ  nhiệm phải đến nhà học sinh này để  tìm hiểu nguyên nhân từ  đó vận  động học sinh và gia đình để  em này tiếp tục đi học lại càng sớm càng   tốt,   không  nên  để   các   em   nghĩ  học  nhiều   ngày  vì   nếu   nghĩ   lâu   việc  thuyết phục các em trở lại trường sẽ gặp nhiều khó khăn. Phải làm cho  các em thấy việc học vừa là nghĩa vụ  vừa là quyền lợi lại vừa là niền   vui. Tuyệt đối tránh tình trạng để các em nghỉ với thời gian quá lâu giáo  viên mới xử lý nhằm hạn chế tư tưởng e ngại và mặc cảm của các em.  18
  19.         Các giải pháp tuyên truyền, vận động học sinh (khi có học sinh bỏ  học) đi học trở lại, phải được suy nghĩ, chọn lựa thật thận trọng và tùy   theo nguyên nhân bỏ  học, đặc điểm, hoàn cảnh cụ  thể  của từng em để  có giải pháp cụ  thể. Khi học sinh đi học trở  lại, giáo viên không chủ  quan, cần có những giải pháp hỗ  trợ  cần thiết giúp học sinh củng cố  niềm tin, an tâm học tập, vì có thể có tình trạng tái bỏ học. Nếu để hiện   tượng tái bỏ học xảy ra thì có lẽ  sẽ không có biện pháp nào có thể  làm  cho học sinh đi học lại một lần nữa. Hãy giúp đỡ  các em để  các em tiếp thu được kiến thức một cách   đúng nghĩa, phải bám lấy học sinh để có những biện pháp thật phù hợp  cho từng đối tượng, từng hoàn cảnh cụ thể của từng em chứ không phải   chỉ giúp các em bám lớp, có như vậy các  em mới có hứng thú trong học   tập, các em sẽ  thực sự bám lớp. Là một giáo viên chủ  nhiệm lớp với học sinh dân tộc địa phương  chúng ta phải thật tế nhị và phải  nhiệt tình dành nhiều thời gian và công  sức kết hợp với địa phương, với già làng, với hội khuyến học trường   của phường và với gia đình các em nếu thấy các em có nguy cơ  bỏ lớp.  Công việc này có nhiều khó khăn nhất định nhưng với tình thương đối   với các em và lòng quyết tâm của giáo viên chúng ta nhất định chúng ta   sẽ thành công trong việc thuyết phục các em không bỏ lớp.   + Đối với tập thể lớp:          Phải xây dựng tập thể lớp trở thành một tập thể đoàn kết, thân ái   có một không gian thân thiện, hòa hợp, thật sự trở thành một địa chỉ  mà  các thành viên  có thể cảm nhận được sự chia sẻ niềm vui, nỗi buồn cá   nhân.   + Đối với các lực lượng phối hợp:     Biết kết hợp chặt chẽ với các giáo viên bộ môn để  có thông tin  đầy đủ  và chính xác hơn về  học sinh của mình tạo điều kiện giúp đỡ  kèm cặp những học sinh yếu kém. Kết hợp với đoàn đội để  kiểm tra và theo dõi thường xuyên, phát  hiện kịp thời những em vi phạm để có hướng giúp đỡ các em tiến bộ.      Kết hợp với địa phương phát hiện và ngăn chặn kịp thời những em  giao du với phần tử xấu của xã hội, động viên những học sinh có tư tưởng  bỏ học. Giáo viên chủ  nhiệm là người đóng vai trò trung tâm trong hoạt  động duy trì sĩ số học sinh. Các lực lượng khác (giáo viên bộ môn, Đoàn   Thanh   niên,   Đội   Thiếu   niên,   Hội   cha   mẹ   học   sinh,   chính   quyền   địa  19
  20. phương, già làng, trưởng thôn…) là những lực lượng hết sức quan trọng.   Giáo viên chủ  nhiệm không thể  nào thực hiện được mục tiêu duy trì sĩ   số  nếu không thực hiện  được vai trò trung tâm của mình, không tạo  được sự hỗ trợ tổng hợp và tận tình của các lực lượng này. III.KẾT LUẬN : Việc duy trì sĩ số học sinh là nhiệm vụ quan trọng trong công tác dạy   và học của các nhà trường. Đặc biệt làm tốt công tác duy trì sĩ số học sinh   (đặc biệt là học sinh dân tộc) là góp phần nâng cao chất lượng dạy và học  của nhà trường góp phần phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở địa phương. Từ  thực tế  tôi nhận thấy, duy trì sĩ số  học sinh hơn hết đòi hỏi  người giáo viên phải có sự  đam mê nghề  nghiệp, tinh thần trách nhiệm  cao,   hết   lòng   vì   học   sinh.   Cảm   nhận   và   chia   sẻ   với   những   tâm   tư,   nguyện vọng và hoàn cảnh mà các em học sinh phải vượt qua. Người  làm   nghề   dạy   học   như   chúng   ta   ngoài   chữ   “tâm”   còn   phải   có   chữ  “nhẫn”. Dạy học sinh không phải chỉ  bằng những quy định hà khắc mà  phải bằng sự  thuyết phục, cảm hóa , động viên, khích lệ. Muốn chinh   phục học sinh có hiệu quả, bản thân giáo viên phải là tấm gương sáng,   mẫu mực trong từng lời ăn tiếng nói, trong cách  ứng xử  với học sinh.  Đối xử với học sinh phải công bằng khách quan nhưng vẫn đảm bảo sự  tế nhị cần thiết. Đồng thời, giáo viên phải tạo được sự  gần gũi, thân thiết với học   sinh, làm sao phải xoá bỏ được cảm  giác e ngại của các em, có như thế  thì các em sẽ mạnh dạn bày tỏ  những điều các em chưa biết hoặc biết  chưa sâu để  từ  đó giáo viên dễ  dàng giúp các em tự  giác học tập, yêu   mến thích thú khi được đến trường, “mỗi ngày đến trường là một ngày  vui”. Để có một nền giáo dục phát triển không phải chỉ là nhiệm vụ và  do nhà trường quyết định mà còn phải có sự  phối hợp chặt chẽ với các  cấp ngành và phụ huynh học sinh, của toàn xã hội. Giáo viên chủ nhiệm  phải   tranh   thủ   được   sự   giúp   sức   về   mọi   mặt   của   chính   quyền   địa  phương và sự  đồng tình  ủng hộ  của tất cả  các bậc phụ  huynh, nhất là   phụ huynh học sinh dân tộc. Bởi thời gian các em  ở  nhà nhiều hơn đến  lớp, những tác động từ  gia đình và địa phương  ảnh hưởng không nhỏ  đến nhận thức và quá trình phát triển nhân cách của các em.  Trên đây chỉ  là một vài kinh nghiệm mà bản thân tôi đã rút ra sau   nhiều năm làm công tác chủ nhiệm lớp.  Trong quá trình trình bày không   20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản