intTypePromotion=3

Sáng kiến kinh nghiệm: Một vài hướng tiếp cận Đọc - hiểu văn bản thơ ở trường trung học phổ thông

Chia sẻ: Thanhbinh225p Thanhbinh225p | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:38

0
62
lượt xem
12
download

Sáng kiến kinh nghiệm: Một vài hướng tiếp cận Đọc - hiểu văn bản thơ ở trường trung học phổ thông

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong những năm học gần đây, một thực trạng đáng buồn xảy ra là học sinh rất thờ ơ, lãnh đạm với môn Ngữ văn. Đa số các em chưa có ý thức học, thậm chí xem nhẹ môn học này. Vậy phải làm thế nào để các em học sinh có thể yêu thích môn học này? Mời thầy cô và các bạn cùng tham khảo tài liệu Sáng kiến kinh nghiệm: Một vài hướng tiếp cận Đọc - hiểu văn bản thơ ở trường trung học phổ thông.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm: Một vài hướng tiếp cận Đọc - hiểu văn bản thơ ở trường trung học phổ thông

  1. MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG MỤC LỤC Mục Nội dung Trang I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3 II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3 1. Cơ sở lý luận 3 2. Cơ sở thực tiễn 5 III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP 6 1. Khai thác tác phẩm phải nắm chắc về kiến thức lịch sử, hiểu 7 biết về tác giả, tác phẩm. 2. Lựa chọn những yếu tố then chốt (nhan đề, lời đề từ, hình 9 ảnh, hình tượng …). 3. Khai thác tính nhạc, tính họa. 15 4. Lựa chọn những yếu tố được lặp đi lặp lại nhiều lần. 17 5. Khai thác các yếu tố mang tính đối lập. 21 6. Khai thác vấn đề thời sự của tác phẩm. 24 THIẾT KẾ GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 27 IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI 36 V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG 37 VI. KẾT LUẬN 37 VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO 38 VIII. PHỤ LỤC 38 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT SKKN: Nguyễn Thị Liên - Trang 1 -
  2. MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NXB : Nhà xuất bản ĐHQG, HN : Đại học Quốc gia, Hà Nội GD& ĐT : Giáo dục và đào tạo THPT : Trung học phổ thông SKKN : Sáng kiến kinh nghiệm SGK : Sách giáo khoa VD : Ví dụ CM : Cách mạng CMT8 : Cách mạng tháng 8 GV : Giáo viên HS : Học sinh & : Và Ph.G. Lor-ca : Phê-đê-ri-cô Gar-xi-a Lor-ca 1,2,3,4,5 : Một, hai, ba, bốn, năm MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC- HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG SKKN: Nguyễn Thị Liên - Trang 2 -
  3. MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Trong những năm học gần đây, một thực trạng đáng buồn xảy ra là học sinh rất thờ ơ, lãnh đạm với môn Ngữ văn. Đa số các em chưa có ý thức học, thậm chí xem nhẹ môn học này. Tôi xin lấy một ví dụ: Ở sách ngữ văn 10 tôi ra đề bài viết số 2 về bài văn tự sự như sau:“Em hãy tưởng tượng mình là quyển sách văn học và kể về chính mình?”.Tôi xin dẫn nguyên văn đoạn viết của học sinh: “Bạn có biết tôi là ai không?Tôi là quyển sách văn học đây. Tôi buồn quá! chẳng có ai quan tâm đến tôi cả. Các bạn học sinh chẳng ngó ngàng gì tới tôi, trong giờ học Ngữ văn các bạn học sinh đâu có mang tôi theo tới lớp, vứt tôi ớ một xó xỉnh, mạng nhện bám đầy mình tôi. Nếu như các thầy cô giáo có bắt học sinh mang sách đến lớp, thì tôi mới được đút vào cặp một cách vội vàng. Ngày hôm đó tôi mừng lắm vì được đến trường nhưng nghĩ cũng tủi, trong khi các bạn sách toán, lý thơm tho mùi giấy in còn tôi toàn mùi ẩm mốc, rồi khi về đến nhà tôi lại bị vứt vào một xó…” Hay trong một bài viết: Cảm nghĩ của em về vẻ đẹp trong đoạn thơ sau: Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi. Đèo cao ánh nắng dao gài thắt lưng … Rừng thu trăng rọi hòa bình. Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.” ( Việt Bắc – Tố Hữu) Học sinh viết cảm nghĩ như sau: “Trên một đại ngàn của rừng núi Việt Bắc trùng điệp, một màu xanh bao phủ nhưng do hiện thực phũ phàng, tội ác của bọn Thực dân Pháp đã rải chất độc hóa học biến màu xanh ngút ngàn của cây chuối thành màu đỏ của máu, của khói lửa đao binh....” Đây là một thực tế đau lòng! Bản thân tôi là giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn, khi đọc những bài làm này của học sinh tôi rất băn khoăn, trăn trở. Phải làm gì đây để khơi dậy tình yêu, niềm đam mê, hứng thú học văn nơi học sinh? Đó là một câu hỏi khiến tôi suy nghĩ rất nhiều. Qua những năm đứng lớp, tôi đã tâm đắc một điều:“Chỉ có hiểu biết mới gợi được sự hiểu biết và chỉ có tình yêu mới gợi được tình yêu”. Người giáo viên văn phải hiểu và yêu văn học mới làm cho học sinh hiểu và yêu văn học. Từ những những trải nghiệm của bản thân và thực tế giảng dạy, tôi xin mạnh dạn đưa ra trao đổi Một vài hướng tiếp cận Đọc- hiểu văn bản thơ ở trường trung học phổ thông. Đó là lí do tôi chọn đề tài này. II.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.Cơ sở lý luận: Tác phẩm văn học là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà văn. Là bức tranh về hiện thực đời sống được nhìn qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ. Trong đó, thơ tiêu biểu cho loại hình trữ tình, là tấm gương phản chiếu của tâm hồn, chú trọng đến cái đẹp, cái thi vị trong đời sống tâm hồn con người, là SKKN: Nguyễn Thị Liên - Trang 3 -
  4. MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG tiếng nói của tình cảm con người, của những rung động trái tim. Hay nói như : nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi cho rằng: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” (Từ điển thuật ngữ văn học, NXB- ĐHQG, HN, 1999). Mỗi bài thơ có nét gì độc đáo, sáng tạo trong hình thức biểu hiện? Tứ thơ, cảm hứng, tư tưởng bài thơ có ý nghĩa như thế nào với cuộc sống và con người? Cần nhớ: “Thơ là người thư kí trung thành của những trái tim” (ĐuyBe-lây) và con đường ngắn nhất để đến đích của người đọc thơ là: “Đi từ trái tim để đến với trái tim” (Plê-kha-nôp) Vì thế, dạy môn Ngữ văn nói chung, đặc biệt là việc hướng dẫn học sinh Đọc - hiểu văn bản thơ nói riêng, đòi hỏi người giáo viên dạy văn không chỉ là người nghiên cứu khoa học mà còn phải là người nghệ sĩ, đạo diễn phải truyền cho học sinh mình ngọn lửa nhiệt huyết nghề nghiệp để hướng các em đến sự đồng cảm với thế giới văn học biết yêu, ghét, buồn, vui... hiểu rõ cái hay, cái đẹp ẩn chứa trong từng câu thơ, câu văn, có cảm xúc thực sự đồng điệu với cảm xúc của tác giả. Từ đó mở mang tri thức, hình thành nhân cách của học sinh, giúp cho các em sự hiểu biết phong phú về mọi mặt của cuộc sống con người, xã hội và đất nước. Bồi dưỡng cho các em một cuộc sống tâm hồn tươi đẹp, phong phú, rộng mở. Từ đó khơi dậy niềm tự hào về đất nước, dân tộc mình và tình yêu cuộc sống. Hơn nữa, những bài thơ hay, những văn bản hấp dẫn đã giúp cho giờ văn không chỉ là giờ học mà còn là những giờ giải trí, khám phá biết bao điều kỳ diệu của cuộc sống con người. Vậy, đứng trước một văn bản thơ giàu ý nghĩa và hình tượng được chọn lọc đưa vào chương trình phổ thông, người giáo viên cần phải lựa chọn những yếu tố nào là cần thiết để đi vào khai thác văn bản. Nếu lựa chọn không phù hợp hay không đúng trọng tâm sẽ không thể đi vào chiều sâu văn bản, từ đó sẽ ảnh hưởng đến việc tiếp nhận kiến thức của học sinh. Những năm gần đây, Bộ Giáo dục tiếp tục triển khai cho giáo viên trên toàn quốc một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn, trong đó phương pháp giảng dạy Đọc – hiểu văn bản được chú trọng nhiều nhất cũng đã mở ra nhiều hướng suy nghĩ mới, giúp giáo viên giảng dạy tốt hơn nếu biết tự nghiên cứu và vận dụng sáng tạo hơn. Trong chuyên đề này tôi nhận thấy có một số điểm mà những chuyên đề trước chưa được chú ý, đề cập đến hoặc có đề cập nhưng chưa được quan tâm đúng mức và có chiều sâu. Vì vậy, với đề tài này tôi xin đưa ra một vài ý kiến đóng góp của bản thân để vấn đề được hoàn thiện hơn. 2.Cơ sở thực tiễn: 2a.Thuận lợi:  Về phía giáo viên: SKKN: Nguyễn Thị Liên - Trang 4 -
  5. MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp Dạy – Học của Ngành và của toàn xã hội. Được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp, Sở GD & ĐT Đồng Nai đã tổ chức cho toàn thể giáo viên THPT trong tỉnh học tập về phương pháp giảng dạy mới; tổ chức những báo cáo chuyên đề về văn học, cập nhật những nội dung chương trình mới, những hướng tiếp cận bài mới để giáo viên trong tỉnh có cơ hội trao đổi kinh nghiệm, học tập và trau dồi kiến thức để cùng nhau tiến bộ, góp phần phát triển nền giáo dục nước nhà. Bên cạnh đó, giáo viên trong tổ văn hưởng ứng tích cực việc đổi mới phương pháp để mang lại hiệu quả thực sự trong việc nâng cao chất lượng Dạy - Học bộ môn Văn.Tích cực tham gia dự giờ, thảo luận, học tập kinh nghiệm của các đồng nghiệp và thực tế giảng dạy của bản thân. Bản thân tôi đã vận dụng phương pháp này trong quá trình giảng dạy và nhận thấy: Học sinh phát huy được tính chủ động và sáng tạo trong việc tìm hiểu, khám phá tác phẩm giúp các em khắc sâu kiến thức bài học.  Về phía học sinh: Một số học sinh có tinh thần cầu tiến, ham học hỏi, thích tiếp cận cái hay, cái đẹp của văn bản thơ. 2b. Khó khăn  Về phía giáo viên: Chất lượng học sinh đầu vào khá thấp so với mặt bằng chung của huyện Long Thành nói riêng và thành phố Biên Hòa nói chung. Việc thay đổi sách giáo khoa về nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy có nhiều đổi mới, nên ít nhiều gây sự lúng túng cho giáo viên. Trước đây, giáo viên giảng dạy theo lối truyền thống, sử dụng phương pháp thuyết giảng là chủ yếu. Hiện nay, theo yêu cầu đổi mới về phương pháp giảng, giáo viên giữ vai trò chủ đạo, hướng dẫn học sinh lĩnh hội tri thức, “học sinh là trung tâm”, “học sinh tích cực”. Chương trình cũng như nội dung bài học có sự thay đổi về thời lượng tiết dạy, cách ghi bảng, hướng tiếp cận bài dạy. Những yêu cầu đó đòi hỏi người giáo viên phải sáng tạo, chọn lọc tri thức trong tiết dạy để kích thích sự ham học, tạo tâm thế chủ động lĩnh hội kiến thức mới, giúp học sinh ngày càng tự tin và hoàn thiện bản thân mình hơn. Bên cạnh đó, tài liệu tham khảo dành cho giáo viên trên thị trường hiện nay quá nhiều, giáo viên gặp không ít khó khăn trong việc lựa chọn sách tham khảo.Trang thiết bị phục vụ cho việc dạy học của nhà trường còn hạn chế.  Về phía học sinh: Học sinh ở trường tôi học lực trung bình chiếm tỉ lệ cao, khả năng tư duy, ý thức học tập của các em còn hạn chế mà phải thích ứng với phương pháp học tập mới – “học sinh tích cực, chủ động” nên đã ảnh hưởng đến việc học tập của các em. Nhiều em còn nhút nhát, chưa mạnh dạn phát biểu ý kiến, chưa dám chủ động trình bày cách cảm thụ, cảm nhận của riêng mình. SKKN: Nguyễn Thị Liên - Trang 5 -
  6. MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Phương pháp này khó đạt được kết quả như mong muốn nếu học sinh không tích cực chủ động chuẩn bị bài trước khi đến lớp. Theo kết quả điều tra của bản thân tôi vào đầu năm học bằng phiếu lấy ý kiến: Câu 1. Em có hứng thú học trong giờ Đọc- hiểu văn bản thơ không? Có Không Câu 2. Trước khi học Đọc- hiểu văn bản thơ em có tìm hiểu về lịch sử tác giả, tác phẩm đó không? Có Không Kết quả khảo sát cho thấy, trong tổng số phiếu điều tra học sinh khối 11, 12. Số phiếu phát ra: 72 ; số phiếu không hợp lệ: 04 ; số phiếu hợp lệ: 68.Trong đó có 23 phiếu trả lời: Có, chiếm tỉ lệ 33,8% ; 45 phiếu trả lời: Không, chiếm tỉ lệ 66,2%. Như vậy, qua Phiếu thăm dò có thể khẳng định được một cách chắc chắn là học sinh không có hứng thú học Đọc- hiểu văn bản thơ vì:  Không coi trọng bộ môn, nên không đầu tư, chưa có thói quen chuẩn bị bài trước khi đến lớp, nếu có soạn bài chỉ để đối phó chép ở sách học tốt, chép xong quên ngay sau khi chép. Có khi còn nhờ người khác soạn bài hộ.Vì thế, dẫn đến sự hiểu biết của học sinh về lịch sử, tác giả cũng như tác phẩm thơ được học trong chương trình còn nhiều hạn chế.  Các em cho rằng đọc thơ phát ra âm thanh thì được còn hiểu được nội dung cũng như nghệ thuật của thơ thì quá khó đối với các em. Cho nên, khả năng tiếp thu và cảm nhận những tác phẩm thơ chưa cao.  Kỹ năng phân tích và cảm thụ những giá trị đặc sắc về nghệ thuật và nội dung các tác phẩm thơ còn hời hợt, chưa sâu sắc.  Kỹ năng phân tích các yếu tố then chốt, yếu tố lặp đi lặp lại nhiều lần trong tác phẩm...của học sinh còn thiếu sót. Như vậy, việc tìm ra một giải pháp thích hợp để gây hứng thú học môn Ngữ văn nói chung và Đọc- hiểu văn bản thơ nói riêng là điều cần thiết. III.TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP Giáo sư Trần Đình Sử đã viết “Đọc- hiểu văn bản một khâu đột khá trong nội dung và phương pháp dạy học hiện nay”. Vì thế, Đọc - hiểu văn bản thơ là hoạt động đọc văn một cách nghiêm túc có nghiền ngẫm, cảm xúc, tưởng tượng và liên tưởng. Bản chất đọc hiểu là tìm hiểu phân tích để chiếm lĩnh văn bản bằng nhiều phương pháp và hình thức dạy học văn. Chúng ta, đều biết phương pháp hướng dẫn học sinh tiếp cận và tìm hiểu văn bản thơ vô cùng phong phú, đa dạng và mỗi giáo viên dạy văn đều có cách nhìn và cảm nhận riêng của mình. Tuy nhiên, trong khuôn khổ chuyên đề này, tôi nhận SKKN: Nguyễn Thị Liên - Trang 6 -
  7. MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG thấy rằng, để việc dạy Đọc - hiểu văn bản thơ có hiệu quả, cần đi sâu khai thác một số các yếu tố trọng tâm sau: - Khai thác tác phẩm phải nắm chắc về kiến thức lịch sử, hiểu biết về tác giả, tác phẩm. - Lựa chọn những yếu tố then chốt (nhan đề, lời đề từ, hình ảnh, hình tượng …). - Khai thác tính nhạc, tính họa. - Lựa chọn những yếu tố được lặp đi lặp lại nhiều lần. - Khai thác các yếu tố mang tính đối lập. - Khai thác vấn đề thời sự của tác phẩm. 1. Khai thác tác phẩm phải nắm chắc về kiến thức lịch sử, hiểu biết về tác giả, tác phẩm. Đây là yêu cầu chung trong dạy văn đối với giáo viên, yếu tố này thiết thực trong việc Đọc - hiểu văn bản, làm cho việc cảm nhận bài thơ có tính xác thực, sâu sắc hơn và bài dạy được mở ra nhiều chiều, nhiều hướng. Ngoài những thông tin trong sách giáo khoa về tác giả và tác phẩm giáo viên cung cấp thêm những thông tin tư liệu về tác giả, tác phẩm: Phim ảnh về tiểu sử cuộc đời , lời nhận định về tác giả, lời bình hay về tác phẩm...,hoàn cảnh ra đời của bài thơ giúp học sinh nắm chắc hơn và tích lũy được những tư liệu quý về tác phẩm. Mỗi tác phẩm thơ là thế giới nội tâm của nhà thơ, thể hiện tư tưởng, thái độ, tình cảm của nhà thơ đối với cuộc sống, thể hiện khát vọng Chân - Thiện - Mỹ của nhà thơ. Mỗi nhà thơ đều sinh ra trong một hoàn cảnh gia đình, với những sở thích, lối sống nào đó và sống trong một bối cảnh lịch sử - xã hội nhất định. Môi trường gia đình và xã hội, với những biểu hiện đa dạng của nó về chính trị, kinh tế, văn hoá, ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng và tình cảm của nhà thơ, và điều này được phản ánh trong tác phẩm ở một phạm vi nào đó. Vì thế, mỗi một bài thơ bao giờ cũng mang dấu ấn thời đại, tư tưởng tình cảm và phong cách tác giả. Cho nên khi dạy Đọc – hiểu văn bản thơ nếu giáo viên không tái hiện lại được những nét lịch sử đặc trưng nhất có liên quan đến bài học thì không thể dấy lên được không khí thời đại và sẽ làm giảm giá trị của bài thơ. VD: Một bài thơ hay đều được ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt bởi chính hoàn cảnh đã gợi cảm hứng cho người nghệ sĩ. Tây Tiến của Quang Dũng cũng không phải là một ngoại lệ. Sau khi CMT8 thành công, Quang Dũng gia nhập bộ đội. Năm 1947, ông tham gia đoàn quân Tây Tiến với chức vụ đại đội trưởng. Tây Tiến là đơn vị bộ đội được thành lập mùa xuân năm 1947: “Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi” Tây Tiến có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt- Lào và đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ở Thượng Lào cũng như ở miền Tây Bắc Bộ Việt Nam. Địa bàn đóng quân và hoạt động của Tây Tiến khá rộng, gồm các SKKN: Nguyễn Thị Liên - Trang 7 -
  8. MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hoà Bình, miền Tây Thanh Hoá và cả Sầm Nưa( Lào). Chiến sĩ Tây Tiến chủ yếu là những thanh niên trí thức Hà Thành đã xếp bút nghiên lên đường chiến đấu trong những hoàn cảnh rất gian khổ, vô cùng thiếu thốn về vật chất, bệnh sốt rét rừng hoành hành dữ dội. Tuy vậy, họ sống rất lạc quan và chiến đấu rất dũng cảm “Quyết tử choTổ quốc quyết sinh” như lời bài hát Đoàn Vệ Quốc Quân vang lên thời đó: “Đoàn vệ quốc quân một thời ra đi Toàn thắng vinh quang ghi ngày trở về Ra đi ra đi bảo tồn sông núi Ra đi ra đi thà chết chớ lui.” . Cuối năm 1948 Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác, một buổi chiều mưa ở Phù Lưu Chanh, bao nhiêu kỉ niệm của một thời trận mạc ùa vào trong tâm hồn của Quang Dũng và ông đã xúc động viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến” – tên ban đầu của tác phẩm. Sau đó đổi thành Tây Tiến rút trong tập “Mây đầu ô”. Hoặc khi dạy phần Tác giả Tố Hữu. Giáo viên phải gợi ý cho học sinh những hiểu biết về tác giả.Từ đó có thể đặt ra những câu hỏi gợi mở để học sinh suy nghĩ và mở rộng đến phong cách sáng tác, ngôn ngữ trong tác phẩm…Tố Hữu là một nhà thơ cách mạng tiêu biểu, ngọn cờ đầu của thơ ca trữ tình - chính trị trong văn học Việt Nam hiện đại. Một nhà thơ được đánh giá là người mở đường, là cánh chim đầu đàn của thơ ca cách mạng. Năm 13 tuổi Tố Hữu vào học tại trường Quốc học Huế, tại đây ông được tiếp xúc với lí tưởng cộng sản qua các sách báo tiến bộ của Mác và Awngghen; kết hợp với sự vận động giác giác ngộ của các Đảng viên ưu tú lúc bấy giờ như đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Phan Đăng Lưu, người thanh niên Nguyễn Kim Thành đã sớm nhận ra lí tưởng đúng đắn. Năm 1938 được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Thơ ông là lời tâm huyết say mê khi bắt gặp lí tưởng cộng sản: Ông sẵn sàng dấn thân cho lí tưởng cách mạng giải phóng dân tộc: “Sống đã vì cách mạng anh em ta Chết cũng vì cách mạng chẳng phiền hà” (Trăng trối) . Hay: “Sống cùng Đảng, chết không rời Đảng SKKN: Nguyễn Thị Liên - Trang 8 -
  9. MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Tấm lòng son chói sáng nghìn thu, Mặt trời có lúc mây mù Trái tim kia vẫn đỏ bầu máu tươi” ( Ba mươi năm đời ta có Đảng) Cho nên Chế Lan Viên nhận xét:“Với Tố Hữu, tả tình hay tả cảnh, kể chuyện mình hay kể chuyện người, viết về các vấn đề lớn hay các sự việc nhỏ là để nói cho được cái lí tưởng cộng sản ấy thôi”.Vì vậy, các chặng đường thơ của Tố Hữu gắn bó và phản ánh chân thật những chặng đường cách mạng đầy gian khổ hi sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi vinh quang của dân tộc. Như vậy, giáo viên cần giới thiệu, hướng dẫn cho học sinh những kiến thức về tác giả, tác phẩm và về hoàn cảnh lịch sử ra đời của bài thơ. Trong thực tế khi dạy tôi đã cho các em xem một đoạn Video clip khoảng 2 đến 5phút về hoàn cảnh lịch sử của Tây Tiến và cuộc đời của Tố Hữu kết quả cho thấy, các em rất hào hứng trong giờ học vì thế mà các em tiếp cận bài thơ dễ dàng hơn,tốt hơn và quá trình cảm nhận, phân tích cũng trở nên thuận lợi hơn rất nhiều đối với các em. 2. Lựa chọn những yếu tố then chốt (nhan đề, lời đề từ, hình ảnh, hình tượng…): Bài thơ hấp dẫn người đọc ngay từ nhan đề. Vì vậy, khi người nghệ sĩ sáng tác ra một thi phẩm nghệ thuật họ thường trăn trở, băn khoăn cho cách đặt nhan đề. Nhan đề thường chứa đựng nội dung tư tưởng của tác phẩm. VD: Khi dạy bài “Vội vàng” của Xuân Diệu. Giáo viên dẫn dắt học sinh tìm hiểu nhan đề bằng cách đặt câu hỏi. - Nêu ý nghĩa nhan đề bài Vội vàng? Nhan đề “Vội vàng” ngắn gọn, ấn tượng mà bao quát được nội dung bài thơ, thể hiện một cách sống, một quan niệm sống của Xuân Diệu. Ông quan niệm "Cuộc đời như một chuyến tàu tốc hành, trong đó trở đầy những toa thời gian cứ vùn vụt vùn vụt trôi đi". Ý thức thời gian trôi chảy, cuộc đời con người thì ngắn ngủi, Xuân Diệu đã từng bộc bạch: Già sẽ đến, giơ tay xua ánh sáng, Đuổi bướm chim, làm sợ cả hoa hương; Và dần dà càng rõ rệt bộ xương Mà bạn hữu sẽ đặt nằm dưới đất. (Thanh niên- Xuân Diệu) Không thể níu kéo bước đi của thời gian, con người buộc phải chạy đua với nó, sống cuồng nhiệt đam mê, sống vội vã, sống gấp gáp để tận hưởng hết những vẻ đẹp chốn trần gian, để từng giây phút trôi qua không bị lãng phí, để sự hiện diện của con người trên đời không là vô nghĩa. Nhan đề còn thể hiện phong cách thơ Xuân Diệu: trẻ trung, yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt. Hoài Thanh từng nhận định: "Thơ Xuân Diệu là một nguồn SKKN: Nguyễn Thị Liên - Trang 9 -
  10. MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG sống dạt dào chưa từng thấy ở chốn non nước lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết". Nhan đề cũng là lời kêu gọi với bạn đọc, những người "trẻ tuổi, trẻ lòng" hãy biết quý trọng từng phút giây của cuộc sống, sống tận hiến, tận hưởng để khỏi phải ân hận, xót xa vì những năm tháng đã sống hoài sống phí. Trong một bài thơ của mình, Xuân Diệu viết: Mau với chứ, vội vàng lên với chứ, Em, em ơi, tình non đã già rồi; (Giục giã- Xuân Diệu) Vì vậy, Vội vàng là một bản tuyên ngôn sống bằng thơ trình bày một quan niệm nhân sinh vô cùng mới mẻ về lẽ sống. Bên cạnh việc giúp học sinh phát hiện nội dung văn bản thơ qua nhan đề, giáo viên cũng có thể giúp học sinh hiểu sâu hơn nội dung văn bản qua lời đề từ trong bài thơ. Bài thơ "Đàn ghi ta của lor-ca" của Thanh Thảo có sử dụng câu thơ đề từ : “khi tôi chết, hãy chôn tôi với cây đàn” Ph.G. Lor-ca Muốn hiểu được lời đề từ này giáo viên có thể giúp học sinh hiểu thêm về Lor-ca (1898- 1936) là một trong những tài năng sáng chói của nền văn học hiện đại Tây Ban Nha. Sống dưới chế độ độc tài và già cỗi về nghệ thuật. Lor-ca nồng nhiệt cổ vũ nhân dân đấu tranh với mọi thế lực áp chế và thúc đẩy mạnh mẽ những cách tân trong lĩnh vực nghệ thuật. Hoảng sợ trước ảnh hưởng của Lor-ca, năm 1936 chế độ độc tài phát xít đã bắt giam và giết chết ông. Lấy cảm hứng từ sự ngưỡng mộ về nhân cách, tài năng và từ cái chết của Lor-ca, nhà thơ Thanh Thảo đã sáng tác bài thơ " Đàn ghi ta của Lor-ca". SKKN: Nguyễn Thị Liên - Trang 10 -
  11. MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Mở đầu bài thơ Thanh Thảo đã trích lời đề từ hay cũng là di chúc nghệ thuật của Ph.G. Lor-ca“khi tôi chết, hãy chôn tôi với cây đàn”: Thể hiện tình yêu say đắm với nghệ thuật, khát vọng cách tân nghệ thuật mãnh liệt của Lor-ca và tình yêu nồng nàn tha thiết với đất nướcTây Ban Nha. Nhưng ẩn ý sâu xa của lời di chúc hay lời đề từ lại là Lor-ca biết thi ca của mình một ngày nào đó sẽ ngăn cản những người đến sau trong sáng tạo nghệ thuật nên đã dặn lại cần phải biết chôn nghệ thuật của ông để đi tới. Đó cũng là mong muốn xóa bỏ ảnh hưởng của bản thân để dọn đường cho thế hệ sau vươn tới của Lor-ca.Thật là vĩ đại. Hoặc bài thơ “Tiếng hát con tàu ” của Chế Lan Viên có lời đề từ bằng bốn câu thơ : Tây Bắc ư ?Có riêng gì Tây Bắc Khi lòng ta đã hoá những con tàu Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Tâm hồn ta là Tây Bắc, chứ còn đâu. Chế Lan Viên Con tàu tâm tưởng- Chế Lan Viên Khi cảm nhận lời đề từ chúng ta phải giúp học sinh hiểu bài thơ Tiếng hát con tàu được khơi nguồn cảm hứng từ sự kiện: 1958- 1960 có phong trào vận động thanh niên, nhân dân miền xuôi đi xây dựng kinh tế mới ở vùng Tây Bắc: Tuổi hai mươi, khi hướng đời đã thấy Thì xa xôi biết mấy cũng lên đường. (Bùi Minh Quốc - Lên miền Tây) SKKN: Nguyễn Thị Liên - Trang 11 -
  12. MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Bài thơ được in trong tập thơ Ánh sáng và phù sa (1960). Chế Lan Viên sáng tác bài thơ không tuyên truyền một cách thuần túy cho sự kiện chính trị ấy mà đã diễn tả được tình cảm của con người, của người nghệ sĩ mang tính trường tồn: Khát vọng về với kỉ niệm về với nhân nhân về với ngọn nguồn sáng tạo nghệ thuật. Xuyên suốt bài thơ là hình ảnh “con tàu” lên Tây Bắc. Hình ảnh con tàu gợi nghĩ đến những chuyến đi xa. Nhưng sự thật lúc đó chưa có đường tàu và con tàu lên Tây Bắc. Do vậy trong bài thơ này, hình ảnh con tàu chủ yếu mang nghĩa biểu tượng: nó tượng trưng cho khát vọng lên đường, khát vọng đi xa, khát vọng hòa nhập vào cuộc sống rộng lớn của đất nước, nhân dân. Đó chính là con tàu tâm tưởng, con tàu của khát vọng khám phá và sáng tạo. Tây Bắc ư ?Có riêng gì Tây Bắc Con tàu tâm tưởng của hồn thơ Chế Lan Viên hướng đến Tây Bắc.Câu thơ vừa là câu hỏi vừa có tính chất khẳng định Tây Bắc là mảnh đất cụ thể cũng là đất nước thân yêu. Bởi vì đất nước Việt Nam có biết bao mảnh đất xa xôi như thế đang cần có những bàn tay xây dựng của con người. Và một khi nhà thơ – người nghệ sĩ – công dân đã cảm nhận hết được tình yêu và trách nhiệm của mình là phải đóng góp vào sự nghiệp xây dựng kiến thiết Tổ quốc bằng những sáng tác nghệ thuật "miêu tả chân thật và hùng hồn cuộc sống mới, con người mới”, thì lúc đó tâm hồn nhà thơ đã : Khi lòng ta đã hoá những con tàu Đây lại là một sự chuyển hóa trong nhận thức tình cảm của nhà thơ. Đó là khát vọng ra đi để hòa nhập với nhân dân đã tràn ngập tâm hồn nhà thơ, đó chính là động lực thôi thúc từ bên trong. Đúng là sự hòa nhập tư tưởng, tình cảm, tâm hồn của người nghệ sĩ với cuộc đời rộng lớn của nhân dân, đất nước. Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát Một khi hoà nhập với không khí náo nức, tưng bừng với niềm vui chung của nhân dân trong công cuộc xây dựng đất nước thì cũng là lúc soi vào lòng mình, có thể thấy được cả cuộc đời rộng lớn: Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu Đúng là sự hóa thân giao cảm kì diệu giữa cá nhân và cộng đồng, giữa cái tôi và cái ta . Trong tâm tưởng của nhà thơ có hình ảnh của đất nước, có cuộc đời rộng lớn của nhân dân.Ông đã mở rộng cõi lòng để đón nhận âm vang mới của đất nước “ Tâm hồn tôi khi tổ quốc soi vào- Thấy nghìn núi trăm sông diễm lệ ” Hóa thân vào cuộc sống của nhân dân, đất nước. Khi ấy đất nước sẽ có ở mỗi người . Đất nước không chỉ ở bên ta, không chỉ ở ngoài ta mà ở cả trong ta. Khổ thơ đề từ đã bộc lộ một cách cô đọng nhất khát vọng lên đường, hòa nhập vào cuộc sống rộng lớn của đất nước của nhân dân trong nhà thơ Chế lan viên nói riêng và mỗi người của giai đoạn mới nói chung. Ra đi với thái độ tự nguyện, cống hiến cho đất nước. Tình yêu tổ quốc như thấm vào máu thịt của nhà thơ chính là ngọn lửa hồng thắp sáng cả bài thơ Tiếng hát con tàu. Lời đề từ nói riêng bài thơ nói chung đến nay vẫn còn nguyên giá trị và sống mãi trong lòng người đọc. SKKN: Nguyễn Thị Liên - Trang 12 -
  13. MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Hình tượng thơ là bức tranh sống động và tương đối hoàn chỉnh về cuộc sống được xây dựng bằng một hệ thống các đơn vị ngôn ngữ có tính chất vần cộng với trí tưởng tượng sáng tạo và đánh giá của người nghệ sĩ. Chính vì thế khi phân tích hình tượng thơ ta có thể đứng ở nhiều góc độ khác nhau để làm sáng tỏ nội dung và quan niệm của người sáng tác. VD: Khi dạy bài “ Đàn ghi ta của Lorca” Thanh Thảo Giáo viên có thể đặt câu hỏi: - Thanh Thảo đã xây dựng trong bài thơ những hình tượng nghệ thuật nào? - Những hình tượng nghệ thuật đó được tác giả khắc họa bằng những biểu tượng nào? Ý nghĩa khơi gợi từ những biểu tượng đó? Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca được cấu trúc trên hai hình tượng cơ bản: Hình tượng Tiếng đàn: Trong bài “Đàn ghita của Lorca”, tiếng đàn không trực tiếp miêu tả âm thanh tiếng đàn mà tập trung miêu tả một thế giới của tưởng tượng và cảm xúc mà tiếng đàn ấy gợi lên. Dường như trong quan niệm của Thanh Thảo, tiếng đàn là âm thanh tiếng lòng của Lorca, phản chiếu cuộc sống và tâm hồn của Lorca Hệ thống hình ảnh mà Thanh Thảo sử dụng để gợi ra tiếng đàn ghi ta của Lorca là những hình ảnh có khả năng gợi mở một bức tranh cuộc sống muôn màu muôn vẻ mà cũng có sức ám ảnh lạ lùng.“tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan”: tiếng đàn tượng trưng cho nghệ thuật, bọt nước gợi cái mong manh hữu hạn, cái phù du trôi nổi, bọt nước lại hình tròn gọi khát vọng đẹp về nghệ thuật. Nốt nhạc li-la li-la li-la: Âm thanh (tiếng đàn ghi ta),Hoa“li-la”(hoa Tử Đinh Hương).“tiếng ghita nâu/ / bầu trời cô gái ấy”: Đó là âm vang và màu sắc của tình yêu, tiếng ghi ta đã chứa đựng trong nó thế giới của những rung động tình yêu say mê đắm đuối, mở ra một khoảng trời, một phần đời sống riêng tư với tình yêu dành cho “cô gái ấy” rạo rực say mê.“tiếng ghita lá xanh biết mấy”: thiên nhiên tươi tắn, cỏ cây với cuộc sống tự nhiên làm xao xuyến cả tâm hồn. Đó là tiếng ghi ta mang màu xanh của sự sống và niềm thiết tha khắc khoải với sự sống.“tiếng ghita tròn bọt nước vỡ tan”: “tròn” gợi sự hoàn tất, “bọt nước vỡ tan” gợi sự mất mát, kết thúc của cái sự tồn tại mong manh - khi tiếng ghi ta vang lên những âm thanh cuối cùng của giai điệu cuộc sống cũng là khi sự sống đột ngột chấm dứt.“tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy”: khát vọng cách tân nghệ thuật, khát vọng đấu tranh vì tự do dang dở, tiếng đàn cũng tượng trưng cho thân phận đau đớn của người nghệ sĩ.“không ai chôn cất tiếng đàn/ tiếng đàn như cỏ mọc hoang”: sức mạnh lan tỏa của nghệ thuật, sự bất diệt và niềm tin bất tử của tiếng đàn Lor-ca. Hình tượng Lor-ca: Cuộc hành trình đơn độc: Lối thơ tượng trưng, siêu thực khiến ngòi bút nhà thơ đầy ngẫu hứng trong lựa chọn hình ảnh. Hình ảnh "áo choàng đỏ ngắt" gợi liên tưởng đến lễ hội đấu bò tót và còn giúp người đọc liên tưởng đến khung cảnh của một đấu trường bởi màu "đỏ ngắt" là màu máu tươi nếu lưu ý gắn với cụm từ Tây Ban Nha ở đầu câu thì sẽ thấy tình hình chính trị với những cuộc đàn áp khốc liệt của chính quyền độc tài ở đây. Như vậy có thể hiểu ,cả Tây Ban Nha đang trở SKKN: Nguyễn Thị Liên - Trang 13 -
  14. MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG thành một đấu trường nhưng không phải cuộc đấu giữa các võ sĩ với bò tót mà giữa người với người giữa dân chủ và độc tài giữa tự do bị bóp nghẹt và thể chế chính trị hà khắc. Và đó cũng là một đấu trường quyết liệt giữa công dân Lor-ca cùng khát vọng dân chủ với nền chính trị độc tài, giữa nền nghệ thuật già nua của Tây Ban Nha với nghệ thuật cách tân của Lor-ca. Thế nhưng nhìn ở góc độ nào cũng chỉ thấy Lor-ca lẻ loi “lang thang, đơn độc, mỏi mòn” trong cuộc đấu đó. Số phận thảm khốc: Hình ảnh “áo choàng bê bết đỏ” lại gợi tấm thảm kịch của con người mang khát vọng tự do. Thanh Thảo không đi sâu miêu tả sự kiện Lorca bị giết mà chỉ gợi một ấn tượng dữ dội về nó để biểu hiện cảm xúc đau đớn của chính mình và gợi nỗi đau trong lòng người đọc. Sự bất tử: Kết hợp giữa hình ảnh tả thực và tượng trưng: “giọt nước mắt vầng trăng long lanh trong đáy giếng” Đó là sau khi sát hại Lor-ca, bọn giết người đã vứt thi thể ông xuống giếng để hòng giấu giếm tội ác của chúng. Ông nằm đó, chở nên “long lanh” trong làn nước giếng.“Vầng trăng” cũng đến bên ông.“Vầng trăng” bây giờ không “chếnh choáng” nữa mà nó “long lanh” soi tỏ một con người đã chết cho quê hương, cho sự hồi sinh của nền dân chủ. Lorca bơi sang ngang trên chiếc ghita màu bạc Chiếc đàn ghi ta đã chở sự sống và linh hồn Lorca vượt qua giới hạn ngắn ngủi của đời người để đến với cõi vô cùng của cuộc sống. Đó vừa là thực tế, vừa là niềm tin tuyệt đối của Thanh Thảo vào sự bất tử của Lorca. Dòng tưởng tượng tiếp tục trào dâng mạnh mẽ về sự sống bất diệt và niềm kiêu hãnh của Lorca. Ném “lá bùa” vào “xoáy nước” là sẵn sàng đối mặt với hiểm hoạ và định mệnh trong cuộc đời, hành động làm bật lên tư thế đầy kiêu hãnh. Ném“trái tim” lại là sự dâng hiến trọn vẹn trong thanh thản và vô tư những rung cảm trong sáng, chân thành và thiêng liêng nhất của chính mình, hành động làm bật lên sự cao cả của tấm lòng, sự cao thượng trong tình cảm. Người nghệ sĩ sẵn sàng và tự nguyện dâng trọn tâm hồn mình cho cuộc đời để ra đi trong yên lặng. Hai hình tượng trữ tình này hài hoà, gắn kết với nhau để làm nổi bất chủ đề tư tưởng của tác phẩm và hệ thống những biểu tượng nghệ thuật trong bài thơ đã giúp tác giả đặc biệt thành công trong việc thể hiện chủ đề tư tưởng ấy. Như vậy, một văn bản thơ thường chứa đựng những yếu tố then chốt (nhan đề, lời đề từ, hình ảnh,hình tượng… ) nên khi hướng dẫn học sinh tiếp cận tác phẩm, nếu người giáo viên xác định đúng những yếu tố then chốt và xoáy sâu vào các yếu tố đó thì trọng tâm vấn đề sẽ trở nên nổi bật, nội dung bài học cũng được làm rõ, không tràn lan. Nếu chỉ phân tích chung chung, dàn trải, không thể hiện được nốt nhấn đậm nhạt thì khó mang lại hiệu quả trong một giờ đọc hiểu văn bản thơ. Chính vì thế, áp dụng hướng tiếp cận như trên tôi thấy kết quả thu được rất khả quan học sinh dễ dàng tiếp thu và khắc sâu kiến thức của bài học. SKKN: Nguyễn Thị Liên - Trang 14 -
  15. MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 3.Khai thác tính nhạc, tính họa Nhà thơ Tản Đà đã từng nói : “Đàn là đàn ,thơ là thơ - Thơ có nhạc đàn có tơ”còn Chế Lan Viên lại khẳng định: “Thơ đi giữa ý và nhạc”. Đúng vậy, Nhạc trong thơ được cấu tạo bằng nhịp điệu tiết tấu và sự thay đổi thanh. Đã là thơ phải có vần, có nhịp điệu, có tiết tấu và khi đọc thơ người đọc phải tuân thủ điều đó. Nếu đọc sai nhịp, sai từ, nhấn giọng không đúng chỗ thì sẽ phá vỡ âm thanh của thơ, sẽ làm mất hình tượng trong thơ. Nhịp thơ dù tính theo đơn vị nào cũng tính đến cảm xúc và tư duy được diễn đạt qua lời thơ. Các nhà thơ luôn tạo cho mình những biến nhịp độc đáo để thể hiện ý đồ nghệ thuật của mình. Quả thật là cách ngắt nhịp trong thơ đem lại cho người đọc những ấn tượng, cảm xúc đặc biệt. Vì vậy, khi dạy bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu, giáo viên cần hướng dẫn học sinh đọc thơ với cách ngắt nhịp cho đúng đoạn thơ sau : Ta muốn ôm/ Cả sự sống/ mới bắt đầu mơn mởn Ta muốn riết / mây đưa và gió lượn Ta muốn say / cánh bướm với tình yêu Ta muốn thâu / trong một cái hôn nhiều Giáo viên có thể đặt câu hỏi: + Đoạn thơ được ngắt nhịp như thế nào? + Tác dụng của cách ngắt nhịp đó? Đoạn thơ ,với nhịp thơ (3/5) nhanh dồn dập, mãnh liệt, giọng điệu thơ gấp gáp tạo nên âm hưởng sự “Vội vàng” của một tình cảm nồng cháy diễn tả lòng ham sống nồng nàn, mê say với non nước, thiên nhiên tươi đẹp, với tuổi trẻ mùa xuân và tình yêu. Điều đó, chứng tỏ Xuân Diệu nồng nhiệt đến rối rít, cuống quýt, như muốn cùng lúc dang tay ôm hết cả vũ trụ, cả cuộc đời, mùa xuân vào lòng mình. Sống như thế với Xuân Diệu mới thực là sống, mới đi đến tận cùng của niềm hạnh phúc được sống. Thể hiện một tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt của nhà thơ. Đó chính là hiệu quả thẩm mỹ mà tính nhạc mang đến cho lời thơ. Trong sáng tạo nghệ thuật, ta thường nghe nói: “Thi trung hữu họa - họa trung hữu thi” (trong thơ có họa - trong họa có thơ)… Đây là sự dung hòa trong hai loại hình nghệ thuật trong cùng một tác phẩm. Quang Dũng đã tả lại sự vật bằng cảm nhận thi - họa như vậy. Và khi họa sĩ vẽ tranh và khi thi sĩ làm thơ thì hình ảnh trong tác phẩm có một phần tình cảm của người nghệ sĩ. “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống. SKKN: Nguyễn Thị Liên - Trang 15 -
  16. MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” Chỉ bằng bốn câu thơ, Quang Dũng đã vẽ ra một bức tranh hoành tráng diễn tả rất đạt sự hiểm trở và dữ dội, hoang vu và heo hút núi rừng Tây Bắc, qua những từ đầy giá trị tạo hình khúc khuỷu, thăm thẳm… Hình ảnh “Súng ngửi trời” là hình ảnh nhân hoá diễn tả được độ cao của núi rừng, đồng thời khắc hoạ tư thế tầm vóc của người lính trước thiên nhiên ấy:Trên đỉnh non cao mây trắng, những người lính Tây Tiến như đang đi trên mây trời, trèo lên lưng mây, cây súng quàng trên vai khiến Quang Dũng có cảm giác “Ngửi trời”. Chữ “Ngửi” được coi là nhãn tự của câu thơ, vừa biểu hiện khát vọng vươn tới mạnh mẽ, vừa bộc lộ tư thế ngang tàng kiêu hùng và đời sống tâm hồn tinh nghịch hào hoa, lãng mạn của người lính Tây Tiến. Câu thơ thứ ba như bẻ đôi, diễn tả dốc núi vút lên, đổ xuống gần như thẳng đứng, nhìn lên cao chót vót, nhìn xuống sâu thăm thẳm. Nếu ba câu đầu được vẽ bằng những nét vẽ gân guốc, sắc nhọn thì ở câu thứ tư được vẽ bằng một nét vẽ rất mềm mại. Quy luật này cũng giống như cách sử dụng những gam màu trong hội họa: giữa những gam màu nóng, tác giả sử dụng một gam màu lạnh làm dịu lại, giúp người đọc hình dung cảnh người lính tạm dừng chân bên một sườn dốc núi, phóng tầm mắt ra xa, thấy một không gian mịt mùng sương rừng, mưa núi, thấy thấp thoáng những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển khơi. Đây chính là nét tài hoa của thi sĩ. Vì vậy, nếu khi khai thác đoạn thơ không đi sâu tìm hiểu, hình ảnh như hội họa (tính họa) của câu thơ thì sẽ không thấy được hết vẻ đẹp của thiên nhiên Việt Bắc và hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ. Nói chung, khi khai thác Đọc- hiểu văn bản thơ, giáo viên cần phải hướng dẫn học sinh chú ý đến tính nhạc, tính họa để cảm nhận đầy đủ giá trị nội dung của văn bản cũng như của tiếng lòng tác giả gửi gắm vào đứa con tinh thần của mình. Sau khi đã áp dụng vào bài dạy tôi thấy học sinh bước đầu đã tiếp nhận được cách ngắt nhịp cũng như giọng điệu, âm hưởng chủ đạo của bài thơ. Đặc biệt các em cũng đã tưởng tưởng và hình dung ra bức tranh được nhà thơ vẽ ra hình ảnh nào? (tính họa) trong những câu thơ của bài học. SKKN: Nguyễn Thị Liên - Trang 16 -
  17. MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 4. Lựa chọn những yếu tố lặp đi, lặp lại nhiều lần trong tác phẩm. (Lặp từ, lặp kết cấu): Trong một văn bản thơ việc sử dụng yếu tố lặp lại của một tác giả thường nhằm mục đích nghệ thuật nào đó để góp phần biểu đạt nội dung. Và chính việc lặp lại đó góp phần gây ấn tượng và dễ khắc sâu vào tâm trí người đọc. Giáo viên cần quan tâm đến giá trị tích cực của nó để giúp học sinh cảm nhận được ý nghĩa của cái hay, cái đẹp đó. Khi dạy bài thơ Đất nước” (trích trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm) Giáo viên có thể sử dụng những câu hỏi: + Em hãy phát hiện trong bài thơ từ nào được lặp đi lặp lại nhiều lần ? +Từ Đất Nước được viết hoa một cách trang trọng ở mỗi dòng thơ và được lặp lại nhiều lần có gì đặc sắc? Đất Nước được viết hoa trang trọng và đi vào các dòng thơ với phép lặp như một điểm nhấn nghệ thuật lung linh. Từ Đất Nước được lặp lại như một lời khẳng định, để mô tả, phân tích và giãi bày về Đất nước. Đất Nước không phải là những gì trìu tượng, xa lạ mà bắt nguồn từ những hình ảnh gần gũi, thân thiết, bình dị nhất trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người Việt Nam : "Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa..” mẹ thường hay kể Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc .....Đất Nước có từ ngày đó + Đất Nước gắn với những câu chuyện cổ tích mẹ kể “Đất Nước có trong những cái ''ngày xửa ngày xưa … “mẹ thường hay kể”cụm từ " ngày xửa ngày xưa" là một cách nói không xác định thời gian bởi thời gian mang sắc màu huyền thoại ,cổ tích xa xưa. Nguyễn Khoa Điềm đã vận dụng một cách tài hoa, sáng tạo từ cái nhịp điệu đò đưa ngàn đời của lời ca, lời kể bên cánh võng. Vừa gợi lên cái xa xăm của chiều dài lịch sử, vừa gần gũi thân quen trong kí ức và đời sống của mỗi người. Bởi ai cũng lớn lên từ một vành nôi với lời kể, lời ru trầm bổng ngân nga của bà, của mẹ. SKKN: Nguyễn Thị Liên - Trang 17 -
  18. MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Lạc Long Quân & Âu Cơ + Đất Nước gắn với truyền thống văn hoá của người Việt Nam: miếng trầu bà ăn, bới tóc của mẹ.... Hình ảnh “miếng trầu” gợi nhớ tới những câu tục ngữ, ca dao như “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, “Gặp đây ăn một miếng trầu - Không ăn cầm lấy cho nhau bằng lòng”. Đến đây chắc hẳn trong mỗi chúng ta ai cũng nhớ tới “Sự tích trầu cau”, một câu chuyện cổ tích mang ý nghĩa nhân bản sâu sắc về tình người, cũng là để giải thích tục ăn trầu, một phong tục đẹp, mang đậm bản sắc văn hóa của người Việt xưa và nay. Theo câu chuyện này, tục ăn trầu có từ thời các vua Hùng. Như vậy, “Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn”, cũng có nghĩa là đất nước có từ thời các vua Hùng. Quả đúng như vậy, theo truyền thuyết thì chính là các vua Hùng , những người con của Lạc Long Quân và Âu Cơ đã dựng nên nước Văn Lang, nước Việt cổ xưa, Bác Hồ cũng từng căn dặn: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã thật tinh tế và sâu sắc khi sử dụng chất liệu này để diễn tả về sự ra đời của đất nước. Bới tóc của mẹ & Miếng trầu bà ăn + Đất Nước gắn với sự nghiệp chiến đấu hi sinh bảo vệ tổ quốc: “Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc” Câu thơ nhắc nhở ta trở về với SKKN: Nguyễn Thị Liên - Trang 18 -
  19. MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG cội nguồn, với truyền thuyết Thánh Gióng, hình ảnh cậu bé vươn vai thành tráng sĩ, oai phong lẫm liệt, nhổ tre đánh đuổi giặc Ân ra khỏi bờ cõi. Nhưng điều sâu sắc hơn có lẽ là, nhà thơ đã khái quát được sự "lớn lên" của đất nước, luôn gắn liền với quá trình đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta, đó là trang sử vinh quang nhưng cũng đầy máu và nước mắt của biết bao thế hệ con dân nước Việt đã ngã xuống. Truyền thuyết Thánh Gióng + Đất Nước gắn liền với cuộc sống lao động vất vả; trong tình cảm sâu nặng của cha mẹ: " Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn…Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng" .Tác giả đã lấy độ cay của gừng và độ mặn của muối để nói lên tình nghĩa thủy chung của cha mẹ. Người Việt Nam ta là thế đó, tình nghĩa con người cần phải trải qua gian nan, thử thách thì mới đậm đà, gắn bó sắt son thủy chung hơn. Chỉ bằng một câu thành ngữ "gừng cay muối mặn" gợi nhớ tới những câu ca dao: “Muối ba năm muối đương còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Đôi ta nghĩa nặng tình dày Có xa nhau đi nữa cũng ba vạn sáu nghìn ngày mới xa” Hay: “Tay bưng đĩa muối chén gừng Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau” SKKN: Nguyễn Thị Liên - Trang 19 -
  20. MỘT VÀI HƯỚNG TIẾP CẬN ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN THƠ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Đất Nước - một cách nhận thức mới mẻ, sâu sắc, độc đáo về Đất Nước trong thời đại mới: Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao, thần thoại Nhân dân chính là chủ nhân của đất nước. Ca dao thần thoại chính là ngọn nguồn văn hoá, bản sắc văn hóa dân tộc. Viết Đất Nước và lặp từ Đất Nước, Nguyễn Khoa Điềm thể hiện cách cảm nhận mới về đất nước, qua đó khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tự hào về nền văn hoá đậm đà bản sắc Việt Nam.Từ đó nhằm thức tỉnh, động viên, cổ vũ thế hệ trẻ sống trong vùng địch tạm chiếm nhận thức một cách sâu sắc về Đất nước và có nghĩa vụ, trách nhiệm với Đất Nước thiêng liêng là như thế. Như vậy, nếu bỏ qua không hướng dẫn học sinh khai thác, cảm nhận các yếu tố nghệ thuật sẽ là một hạn chế không nhỏ, làm ảnh hưởng đến hiệu quả giờ dạy. Ở bài thơ “ Nhớ Đồng”, Tố Hữu đã vận dụng phép lặp kết cấu để diễn tả tiếng lòng da diết đối với cuộc sống bên ngoài nhà tù của người chiến sĩ cộng sản.Vì vậy, khi khai thác bài thơ này, người giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh nhận thức được tình cảm của tác giả với quê hương mình thông qua việc sử dụng thủ pháp nghệ thuật này. Những ngày bị giam hãm trong tù, tâm hồn nhà thơ luôn hướng ra cuộc sống bên ngoài với tất cả nỗi nhớ thương và tình yêu mến. Tiếng hò ngân dài trên sông nước, văng vẳng lúc gần lúc xa đã làm sống dậy bao hình ảnh của cuộc sống mến thương trong tâm tưởng nhà thơ. Nỗi nhớ thương ấy cứ lặp đi lặp lại như một điệp khúc, thể hiện khao khát tự do cháy bỏng và tình yêu quê hương sâu sắc của người thanh niên yêu nước đang sục sôi nhiệt huyết. Đó cũng là động lực thúc đẩy người chiến sĩ – thi sĩ dấn thân vì sự nghiệp cách mạng giải phóng quê hương đất nước qua phép lặp cấu trúc sau: - “Gì sâu bằng những trưa thương nhớ. Hiu quạnh bên trong một tiếng hò !” - “Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ai !” SKKN: Nguyễn Thị Liên - Trang 20 -

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản