intTypePromotion=1
ADSENSE

Sáng kiến kinh nghiệm THCS: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy môn Mỹ thuật khối 6,7 ở trường THCS

Chia sẻ: Khánh Thành | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:16

20
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Điểm mới của đề tài này là giải quyết một số vấn đề cơ bản để việc giảng dạy mỹ thuật khối 6,7 trong trường THCS hiện nay có hiệu quả hơn, tác động tích cực đến nhận thức của học sinh về việc sáng tạo và cảm nhận cái đẹp và đặc biệt là xu hướng đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THCS: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy môn Mỹ thuật khối 6,7 ở trường THCS

  1. 1. PHẦN MỞ ĐẦU 1.1. Lý do chọn đề tài Như  chúng ta đã biết, mỹ  thuật là môn học nhằm giáo dục cái đẹp,  cung cấp cho học sinh những kiến thức thẩm mỹ, biết nhìn ra cái đẹp, rung  động trước cái đẹp, góp phần phát triển nhân cách toàn diện cho các em,  hướng cho các em tới vẻ đẹp “ chân, thiện, mỹ”. Ngày nay, xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu về thẩm mỹ ngày càng  cao. Chính vì vậy mà vấn đề  giáo dục thẩm mỹ  ngày càng được xã hội coi  trọng và ngành giáo dục đã đưa giáo dục thẩm mỹ  vào mục tiêu quan trọng   của ngành. Khoảng 10 năm trở  lại đây, môn mỹ  thuật đã được đưa vào trở  thành 1 môn học chính khoá trong nhà trường phổ  thông. Đối với cấp học  trung học cơ sở, môn mỹ thuật được đại đa số học sinh ưa thích. Tuy nhiên, không phải em nào cũng có năng khiếu, biết vẽ và vẽ đẹp,   có em rất thích thể hiện trí tưởng tượng của mình nhưng vẽ  không đẹp. Vì  thế  nên đặt ra yêu cầu cho các thầy cô giáo dạy mỹ  thuật phải có phương   pháp phù hợp nhằm giúp các em nắm bắt kiến thức tốt hơn, để những em có  năng khiếu có thể  phát huy được và những em yêu thích môn mỹ  thuật sẽ  học tốt hơn, những em chưa yêu thích sẽ yêu thích môn học này. Mỹ  thuật có 4 phân môn cơ  bản: vẽ tranh, vẽ theo mẫu, thường thức   mỹ  thuật và vẽ  trang trí. Đối với học sinh trung học cơ  sở, lứa tuổi từ  12   đến 13, hay cụ  thể  hơn là khối lớp 6,7 là lứa tuổi ham thích hoạt động nói  chung và hoạt động sáng tạo nói riêng, các phân môn vẽ tranh, vẽ theo mẫu,  vẽ trang trí, thường thức mỹ thuật sẽ giúp các em nhìn nhận về  cái đẹp tốt  hơn, tăng cường khả năng cảm thụ thẩm mỹ. Các em đang ở ngưỡng của sự  hình thành phát triển nhân cách và cuộc sống. Những kiến thức cơ  bản ban   đầu ở nhà trường sẽ giúp các em cách nhìn nhận về cái đẹp trong cuộc sống,   từ đó sáng tạo nên cái đẹp, đưa cái đẹp vào cuộc sống của mình bằng chính  khả năng và sự cảm nhận riêng của các em. 1
  2. Chính vì tầm quan trọng của môn mỹ  thuật trong việc giáo dục thẩm  mỹ cho học sinh trong nhà trường THCS cũng như trong đời sống xã hội nên  bản thân tôi quyết định chọn đề  tài "Một số  giải pháp nhằm nâng cao hiệu  quả  giảng dạy môn mỹ  thuật khối 6,7  ở  trường THCS" làm đề  tài nghiên  cứu cho sáng kiến kinh nghiệm của mình. Nội dung sáng kiến đã được khá nhiều người quan tâm, nghiên cứu.  Bản thân tôi cũng đã nghiên cứu, trăn trở về vấn đề này và đã làm sáng kiến  cách đây mấy năm, song tôi vẫn luôn trăn trở với nó và muốn giới thiệu đến   mọi người một số giải pháp mới hơn, cụ thể hơn cho khối lớp 6,7 áp dụng   phù hợp với xu hướng đổi mới phương pháp dạy học trong những năm gần  đây của toàn ngành giáo dục phù hợp với điều kiện giảng dạy của giáo viên  và điều kiện  học tập của học sinh.  1.2. Điểm mới của đề tài :  Điểm mới của đề tài này là giải quyết một số vấn đề  cơ bản để  việc   giảng dạy mỹ thuật khối 6,7 trong trường THCS hiện nay có hiệu quả hơn,   tác động tích cực đến nhận thức của học sinh về việc sáng tạo và cảm nhận  cái đẹp và đặc biệt là xu hướng đổi mới phương pháp dạy học trong giai   đoạn hiện nay. 1.3. Phạm vi áp dụng của đề tài Dùng cho khối lớp 6,7 của môn mỹ  thuật ở trường THCS mà tôi đang   giảng dạy. 2
  3. 2. PHẦN NỘI DUNG 2.1. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ. Về phía nhà trường. Mỹ  thuật là một môn học độc lập trong chương trình THCS, dạy và   học nghiêm túc, có kiểm tra, thi đánh giá cuối năm và kết quả   là một trong   những tiêu chuẩn để xét lên lớp hay tốt nghiệp bậc học. Song thực tế hiện   nay cho thấy rằng cơ  sở  vật chất cho việc dạy và học mĩ thuật  ở  THCS   thiếu thốn và nghèo nàn, nhà trường chưa có phòng dạy mĩ thuật riêng. Tranh  ảnh tuy đã được nghiên cứu và sản xuất nhưng chưa đủ  đáp ứng cho dạy ­   học mĩ thuật, chỉ có tranh đồ  dùng dạy học của khối 6 nhưng chưa đầy đủ,   khối 7 chưa có, sách đọc thêm và các tài liệu tham khảo khác rất hiếm. Giáo  viên phải tự tìm tài liệu, đồ dùng dạy học phục vụ cho giảng dạy. Mặt khác,   có một số  trường còn xem mỹ  thuật là môn phụ, ít quan tâm đến kiểm tra   đánh giá chất lượng, xem dạy học mỹ  thuật là bề  nổi, có tính chất phong  trào. Không ít giáo viên dạy mỹ thuật theo kiểu chuyên nghiệp, dạy kĩ thuật  vẽ là chủ  yếu, chưa chú ý đến mục tiêu là giáo dục thẩm mỹ  cho học sinh,  đồng thời chưa phát huy được khả năng độc lập suy nghĩ tìm tòi của HS.  Về phía học sinh  Đối với HS trường tôi, các em đã được học mỹ thuật từ tiểu học đến   nay. Tuy nhiên, HS ít được quan sát, tham quan danh lam thắng cảnh và bảo   tàng. Vì thế  hiểu biết về  mĩ thuật, về  cái đẹp chưa sâu rộng, không kích  thích các em học tập. Bên cạnh đó, học sinh chưa thực sự  nhận thức đúng  đắn mục đích, vai trò, vị trí của môn mỹ thuật. Đa phần HS bị chi phối,  ảnh   hưởng về các môn chính, môn phụ của xã hội, nhà trường. Các em phải tập   trung cho các môn chính, lo cho thi, lo đánh giá, phần nào bỏ  qua sao lãng  môn mĩ thuật. Hơn nữa, do thiếu phương tiện học tập, phương pháp thực  hành thiếu linh hoạt, nên bài vẽ  của các em thường khô khan, thiếu phóng  khoáng, đôi khi gò bó, công thức.  3
  4.  Kết quả thực trạng trên: Trong những năm học trước, qua khảo sát  chất lượng phân môn mỹ  thuật, tôi nhận thấy kết quả  chưa được cao, cụ  thể: Khố Năm học Số  Đạt Chưa đạt SL % SL % i lượn g 6 2018­ 2019 107 100 93,5 7 6,5 7 2018­ 2019 119 113 95 6 5 Từ  thực trạng trên, để  việc học mĩ thuật, đặc biệt là phân môn trang   trí đạt hiệu quả  tốt hơn, tôi đã mạnh dạn đưa ra một số  kinh nghiệm của   bản thân nhằm nâng cao hiệu quả của môn mỹ thuật ở bậc THCS, cụ thể là  những giải pháp giảng dạy mỹ thuật áp dụng cho từ lớp 6 và lớp 7. Tôi nhận   thấy đa phần các em đều rất thích hoạt động tạo hình, việc vẽ, xem các tác  phẩm mĩ thuật dần dần đã hình  thành  ở  các em. Các em hứng thú học vẽ  hơn, bài vẽ của các em đẹp hơn, có tiến bộ rõ rệt về cách dùng màu. Qua đó   đã chứng minh khả năng thẩm mĩ của các em. 2.2. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 2.2.1. Giải pháp 1: Giáo viên và học sinh phải có sự  chuẩn bị tốt trước  khi vào tiết học. Đối với học sinh: giáo viên phải đưa ra yêu cầu: đó là phải học bài cũ   và chuẩn bị bài mới, dụng cụ học tập, sách vở đầy đủ trước khi đến lớp, đó  là tất cả đối tượng học sinh. Đối với học sinh khá giỏi, phải đọc thêm kiến   thức tài liệu bên ngoài.  Đối với bài vẽ tranh, học sinh nên tìm trước nội dung đề  tài, tư  liệu   để lên lớp xác định nhanh hơn đề tài để vẽ. 4
  5. Đối với bài vẽ  theo mẫu, phải chuẩn bị  mẫu vẽ  đầy đủ, xem tham  khảo 1 số  bài vẽ  của hoạ  sỹ  và các bạn để  rút ra được kinh nghiệm cho  mình. Đối với bài vẽ  trang trí, phải tìm hiểu kỹ  hơn kiến thức về  màu sắc   để phục vụ tốt hơn cho bài vẽ  trang trí. Đối với phân môn thường thức mỹ  thuật, học sinh phải đọc trước bài và tìm hiểu những kiến thức liên quan đến  bài học, đặc biệt là các họa sỹ và bức tranh trong bài. Còn với giáo viên, việc chuẩn bị  cho tiết học chiếm vị  trí rất quan   trọng trong việc nâng cao chất lượng giờ dạy. Giáo viên cần phải chuẩn bị  tốt những kiến thức cần thiết và tìm hiểu những kiến thức nâng cao để  tiết   dạy phong phú hơn về nội dung. Đặc biệt, đối với những tiết vẽ  tranh, vẽ  trang trí hay vẽ  theo mẫu,  giáo viên cần chuẩn bị nhiều bài vẽ mẫu, tranh ảnh minh hoạ phong phú về  thể  loại, các bước vẽ  chu đáo để  học sinh tham khảo, từ  đó tăng thêm trí   tưởng cho học sinh. 2.2.2. Giải pháp 2: Biết được tầm quan trọng của màu sắc và hướng  dẫn học sinh cách vận dụng những kiến thức đã học về  màu sắc vào  mỗi bài vẽ. Trong quá trình dạy học mỹ thuật, đối với các em học sinh, màu sắc và  cách sử dụng màu sắc rất quan trọng. Đa số học sinh ở vùng miền chúng ta ít   tiếp xúc với tranh vẽ, ít có điều kiện để xem các tác phẩm mỹ thuật, không  có điều kiện để mua đầy đủ các loại chất liệu để học nên ý niệm, kiến thức  của các em về màu sắc vẫn còn yếu. Mặc dù ở lớp 6, chương trình đã đề ra  2 bài học về  màu sắc và màu sắc trong trang trí, nhưng học sinh vẫn chưa   thể nắm bắt cặn kẻ về màu sắc để ứng dụng tốt cho tất cả các bài vẽ  của   mình. Vì vậy mà giáo viên cần phải thường xuyên hướng dẫn giới thiệu kỹ  cách sử dụng màu sắc và cách pha màu. Khi giảng dạy, giáo viên nên đưa ra  các bức tranh phù hợp, đẹp, có chất liệu tương tự để minh hoạ rõ nội dung   5
  6. và màu sắc cho học sinh. Khi chuẩn bị  tranh làm dụng cụ  trực quan, phải  chuẩn bị  nhiều phương án sử  dụng màu sắc khác nhau để  giúp học sinh so   sánh tìm ra gam màu phù hợp nhất. Hướng dẫn các em các khái niệm màu, màu tương phản, màu bổ  túc,   màu nóng, màu lạnh, những gam màu nào nên đi kèm với nhau như  thế nào  cho đẹp. Tìm màu sắc thể  hiện phù hợp với từng nội dung đề  tài, từng bài  trang trí... Ánh   sáng   chiếu   dọi   làm   cho   mọi   vật   có   màu   sắc.   Ngược   lại,   trong bóng tối thì mọi vật đều không có màu. Màu sắc làm cho mọi vật thêm đẹp, cuộc sống thêm vui tươi và trở nên có ý nghĩa hơn. Màu sắc quanh ta rất phong phú và đa dạng. Quan sát   thiên nhiên,ta thấy màu sắc thay đổi và biến ảo khôn cùng của biển trời, mây   nước, núi non....,sắc thái muôn màu muôn vẻ của cỏ cây, hoa, lá, chim, thú...,  và   mọi vật đều được điểm tụ những màu sắc lôi cuốn, hấp dẫn. Đối với học sinh khối 6 Các em bắt đầu tìm hiểu về sự đa dạng của màu sắc trong cuộc sống, hiểu về cácc màu cơ  bản hay gặp, đồng thời biết được vai trò của màu sắc trong trang trí. Giáo viên giới thiệu cơ bản về cách dùng màu và cách đặt các màu cạnh nhau trong một bài vẽ  trang trí. Từ  đó giúp học sinh ban đầu có được những ý thức cảm thụ về màu sắc. Sau khi học sinh có được những cảm thụ ban đầu về  màu sắc, chúng  ta cần hướng các em ý thức hơn đến các khái niệm về màu, cách pha màu đơn giản và cách sử dụng màu trong bài vẽ trang trí. Yêu cầu các em biết liên hệ trực tiếp với những màu sắc trong thiên nhiên nhằm hình thành và phát triển khả năng cảm thụ màu sắc của mình. Nhằm giúp đối tượng này có những cảm thụ  tốt về  màu sắc trong   trang 6
  7. trí, giáo viên cần có những phương pháp sáng tạo, tích cực và linh động đối với lứa tuổi các em; ví dụ: dùng giấy búng màu chồng lên nhau hay dùng lọ thuỷ  tinh đựng nước màu pha trực tiếp cho các em quan sát, nhận biết về  màu nhị hợp (Đỏ + Vàng = Cam; Đỏ + Lam = Tím; Vàng + Lam = Lục). Bên cạnh đó, giáo viên cần sử  dụng tư liệu, bài vẽ, tranh ảnh hợp lý, đúng đối tượng   và hướng   dẫn   học   sinh   vẽ   màu   theo   đúng   yêu   cầu   từng   bài   trang   trí.           Đối với học sinh khối 7: Chương trình khối 7 giúp học sinh biết được sự  phong phú khi sử  dụng màu sắc trong một bài trang trí, từ dđó cần sử dung màu sắc phự hợp với nội dung từng bài như màu sắc trang trí báo tường, màu sắc trang trí bìa lịch, màu sắc trong kẻ chữ trang trí hay trong trang trớ lọ hoa... Ở học sinh lớp 7, chúng ta cần giúp các em căn bản lại những màu gốc (màu cơ  bản), màu nhị  hợp hay cỏc màu bổ  túc đó học  ở  lớp 6. Qua đó   hướng dẫn các em hiểu rõ sự  phong phú, hài hoà của màu sắc khi sử  dụng vào bài  vẽ. đồng thời giúp các em hiểu rõ sự  hài hoà của màu sắc trong trang trí nói chung và trong trang trí ứng dụng núi riêng. Đối với đối tượng học sinh này, chúng ta cần đi sâu vào các bài trang trí  ứng dụng, qua các bài trang trí  ứng dụng trong chương trình, các em sẽ  hiểu rõ hơn về  cách trang trí  ứng dụng phải như thế nào, màu sắc trong các bài trang trí ứng dụng phải phù hợp với thời gian., không gian và thớch hợp với đối tượng cần trang trí. Ví dụ  như trong trang trí đĩa tròn, màu sắc trong trang trí đĩa đựng thức ăn cần nhẹ nhàng, hài hoà. Còn màu sắc trong trang trí đĩa treo tường cần sử  dụng màu phong phú phóng khoáng hơn. Hay màu sắc khi “kẻ  chữ  trang trí” cần rõ ràng, sử  dụng một đến hai màu chứ  không nhất thiết phải sử  dụng nhiều   7
  8. màu, tránh loè loẹt trong bài kẻ chữ dẫn đến chưa phù hợp với yêu cầu bài trang  trí. Để  các em khối lớp này cảm thụ  được màu sắc theo nội dung cần  đạt, giáo viên phải lồng ghép các kiến thức màu sắc có ở lớp 6 vào chương trình bài giảng. Đồng thời, sưu tầm và giới thiệu cho các em các bài vẽ  tranh, vẽ  trang trí  ứng dụng, những đồ  vật trang trí  ứng dụng thực tế  đẹp mắt. Qua   đó,  các em biết phân tích quan hệ các màu sắc đặt cạnh nhau, quan hệ giữa các  mảng chính, mảng phụ của bài vẽ... nhằm tạo tiền đề về khả năng hoà sắc,   khả năng sử dụng gam màu chủ đạo trong một bài vẽ sau này. 2.2.3. Giải pháp 3: Giáo viên có thể  tổ  chức một số  trò chơi trong quá  trình giảng dạy nhằm tạo hứng thú cho học sinh. Ví dụ, khi dạy bài vẽ  tranh đề  tài “mẹ  của em” giáo viên có thể  cho  các em chơi trò chơi thi đọc thơ  hoặc hát các bài hát về  mẹ. Hay trong bài  học “ vẽ  tranh đề  tài ngày Tết và mùa Xuân” giáo viên có thể  cho học sinh  thi hát những bài hát  về ngày Tết và mùa Xuân. Như  thế, học sinh sẽ hứng   thú hơn với bài học. Thông qua các trò chơi giáo viên hướng cho các em về  chủ  đề  sẽ  vẽ  (lúc đầu giờ) trò chơi kết thúc trong giờ  học tạo cho các em  một không khí vui tươi ham học khi xem kết quả học tập của mình và của   bạn, qua việc chọn tranh và giới thiệu (thuyết trình) thì trong các em đã từng  bước một hình thành khả năng cảm thụ thẩm mĩ. 2.2.4.Giải pháp 4: Có sự gợi mở sinh động lôi cuốn khi hướng dẫn học   sinh tìm ý tưởng. Trong 1 tiết học mỹ thuật, cái khó nhất đối với học sinh đó là việc tìm  ra ý tưởng để làm bài và cách thực hiện ý tưởng đó vào bài vẽ. Vậy nên, giáo  viên nên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài và khai thác đề tài bằng sự gợi mở  sinh động, lôi cuốn để các em tự tìm ra đề tài vẽ bằng chính sự tưởng tượng   8
  9. và nhận thức của mình. Ví dụ  khi vẽ  tranh về  đề  tài thể  thao, lúc này học  sinh chưa có ý niệm sẽ  vẽ như thế nào. Lúc đó, giáo viên cần phải gợi mở  cho các em đề  tài. Giáo viên sẽ  hỏi học sinh em biết những môn thể  thao   nào? Em yêu thích môn thể  thao nào? môn thể  thao đó tổ  chức ra sao? Từ  những câu hỏi đó sẽ  hình thành trong các em hình ảnh về  các môn thể thao,  học sinh sẽ  định hình được cho mình môn thể  thao để  đưa vào bài vẽ, đó  chính là môn mà em ưa thích. Giáo viên sẽ gợi ý tiếp cách chon hình ảnh phù   hợp và phác hình mảng chính phụ, chọn hình  ảnh chính  ở  trọng tâm, hình   ảnh phụ  bổ  sung cho hình  ảnh chính. Và lúc này học sinh sẽ  định hình cho  mình bài vẽ như thế nào. Khi vẽ  tranh, mỗi học sinh có mỗi cách cảm nhận, mỗi năng khiếu   khác nhau, có em vẽ  tốt, có em vẽ  chưa tốt, vì thế  giáo viên không hướng   dẫn chung chung mà phải hướng dẫn cụ thể đến từng đối tượng học sinh. Đối với học sinh khá giỏi, giáo viên gợi mở  ít nhưng góp ý những ưu   điểm, nhược điểm để các em rút kinh nghiệm cho bài vẽ. Đối với học sinh yếu kém, giáo viên phải hướng dẫn cụ thể hơn, kiên  nhẫn đến khi nào các em tìm ra đề tài để vẽ mới thôi 2.2.5. Cần có sự khích lệ động viên học sinh kịp thời Trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải khích lệ động viên học sinh,  nếu các em chưa tìm ra đề tài thể hiện hoặc có sai sót thì không được chê bai  học sinh. Giáo viên phải đưa ra những câu hỏi  mang tính khích lệ động viên  nhằm gây sự hứng thú cho các em, câu hỏi không mang tính chất khẳng định  mà mang tính chất phủ định. Ví dụ: Em thấy chỗ này trong tranh cần vẽ thêm gì nữa không..? hoặc   “ giá như ở đây có..... thì tranh của em sẽ đẹp hơn. em thử xem nào...” Như vậy những hệ thống câu hỏi giáo viên đưa ra phải “mềm” và luôn  ở dạng nghi vấn, thí dụ “ vẽ thế này cũng được nhưng có lẽ chưa đẹp lắm”  “ em còn có thể vẽ khác được không?”. 9
  10. Với  học sinh kém tôi gợi mở  cụ  thể cho từng em, nếu chưa đúng thì  chữa ngay. Ví dụ “ có lẽ chỗ này màu chưa đẹp.. em nên sửa như thế này....   như thế này...” Với học sinh trung bình cần gợi  mở cụ thể những chỗ chưa hợp lý và  yêu cầu quan sát suy nghĩ và tự điều chỉnh . Ví dụ “ theo thầy, cách sắp xếp  hình mảng của bài này chưa cân đối, em điều chỉnh lại được không?      Với học sinh khá câu gợi ý nhằm vào chỗ  có vấn đề  hay chưa hợp lý  sau đó để  học sinh tự  tìm. Ví dụ: “ em xem chỗ này, màu này như  thế nào?   em làm sao cho bài được đẹp hơn nữa.  Với học sinh giỏi: Có thể yêu cầu các em tự  tìm ra những chố  khiếm   khuyết, chỗ chưa đẹp về bố cục, màu, đường nét.. ở bài vẽ của mình. Ví dụ:  “ em  thử tìm xem ở bài vẽ của mình chỗ nào chưa hợp  lý còn sửa được nữa   không? “ hay em có thể vẽ khác đi được nữa không?.. 2.2.6. Giải pháp 6: Cần hướng dẫn cho học sinh cách làm bài từng phân  môn cụ thể. Ở tất cả các khối lớp, học sinh đã làm quen được với 4 phân môn của   mỹ thuật và làm quen được với nhiều dạng bài. Giáo viên cần phải định hình  được cho học sinh cách làm bài cho từng phân môn cụ  thể. Ví dụ, vẽ  tranh   đề  tài thì phải tiến hành những bước chung gì, vẽ  trang trí thì cách vẽ  như  thế nào, vẽ theo mẫu thì vẽ các bước vẽ ra sao.  Hướng dẫn cho các em cách vẽ và chỉ  ra ở những tranh minh hoạ về:   cách vẽ khác nhau ở cùng một đề tài, cách sắp xếp ở mảng chính, mảng phụ  dựa vào tranh giáo viên vẽ  phác lên bảng để  học sinh nhận ra các mảng  chính, mảng phụ, theo từng bước một thật tỉ mỉ cho đến lúc hoàn thành. Để  học sinh lam bài, giáo viên làm việc với các em giúp các em tìm ra cách thể  hiện, bố cục giữa các mảng, tìm hình vẽ  và tìm vẽ  màu, dùng phương pháp   gợi mở nhiều cộng với sử dụng đồ dùng trực quan nhận thấy các em làm bài  đạt kết quả cao hơn. 10
  11. Tất  cả  các phân môn  đều có  những cách  làm chung, từ  những cái  chung đó, học sinh sẽ áp dụng vào các đề tài hay các bài vẽ cụ thể, học sinh   sẽ chủ động vẽ được bài vẽ khi không có sự hướng dẫn của thầy cô giáo. 2.2.7.Giải pháp 7: Tận dụng các loại đồ dùng trực quan Mỹ thuật là một môn học rất đa dạng, phong phú về đồ  dùng dạy học   nói chung và đồ  dùng trực quan nói riêng, đồ  dùng trực quan rất quan trọng.  Đồ dùng trực quan được chia làm 2 loại: Vật thật: Mỗi bài học đều có thể  dễ  dàng sưu tầm mẫu vật thật sẵn   có như; lọ  hoa, khăn, dĩa, bìa lịch, báo tường, mặt nạ, bìa sách, quả  táo,  phích…, là loại đồ  dùng rất gần gũi với đời sống hằng ngày của học sinh.   Bởi vậy, giáo viên cần cố gắng động viên học sinh sưu tầm và quan sát mẫu   thật để các em khắc sâu kiến thức và hứng thú với tiết học, làm tiết dạy sinh   động, đem lại hiệu quả cao trong tiếp thu kiến thức của học sinh. Vật   tượng   hình:   là   các   bức   vẽ,   hình   minh   họa,   tranh   ảnh,   phim,   video...nhằm làm các em khắc sâu thêm kiến thức, nắm rõ quy trình thực  hiện, tạo hứng thú và sinh động cho tiết học. Ngoài ra, lời giảng diễn cảm   về  hình  ảnh cũng có tính trực quan, bởi nó dựng lên một hình  ảnh, một  khung cảnh sinh động trước người nghe. Ví dụ: Khi dạy bài “tạo dáng và trang trí lọ hoa” của mỹ thuật 7, giáo  viên yêu cầu học sinh chuẩn bị mỗi tổ khoảng 3 lọ hoa khác nhau để cho cả  lớp cùng quan sát. Ngoài ra giáo viên cần chuẩn bị  thêm 1 số  hình  ảnh, bài  trang trí của học sinh năm trước. Sự chuẩn bị kỹ lưỡng đồ dùng trực quan sẽ  giúp giáo viên cung cấp cho học sinh kiến thức đa dạng và bài dạy phong phú  hơn. Học sinh sẽ có cái nhìn đa dạng về  các loại, các kiểu dáng của lọ  hoa  để từ đó ứng dụng vào bài vẽ và có sự sáng tạo cho bài vẽ của mình. 2.2.8. Giải pháp 8: Có sự  lựa chọn và sử  dụng đồ  dùng dạy học phù  hợp. 11
  12. Đồ  dùng dạy học là phương tiện hết sức quan trọng trong việc cung   cấp kiến thức cho học sinh. Đồ dùng dạy học giúp học sinh lĩnh hội tri thức  nhanh, nhớ lâu và  hứng thú hơn. Bởi vậy người dạy và người học cần có sự  chuẩn bị, sưu tầm trước cho tiết học và phù hợp với nội dung của bài, tránh  trùng lặp. Đặc biệt là với phân môn vẽ trang trí.  Cần phân loại đồ  dùng dạy học: hình  ảnh cung cấp khái niệm, hình  ảnh để phát huy khả năng suy nghĩ, phát huy năng lực sang tạo, khích lệ tinh  thần học tập, hình minh họa để  hướng dẫn học sinh phương pháp làm bài  tập. Biết kết hợp đồ  dùng dạy học như  đồ  trang trí thật, hình ảnh trang trí,  tranh vẽ  trang trí đúng lúc, phù hợp thì chất lượng bài học càng được nâng   cao. Biết kết hợp nhịp nhàng giữa lời giảng và động tác chỉ  đồ  dùng dạy  học, cùng với nét vẽ  nhanh minh họa trên bảng để  cho sự  lĩnh hội của học   sinh đồng thời cả thính giác và thị giác.  Giáo viên cần tránh trường hợp sử  dùng đồ  dùng dạy học chưa có  trọng tâm, không thực sự chú ý về tính thẩm mỹ của nó…, trình bày đồ dùng   chưa khoa học, ít sử  dụng kết quả  học tập của học sinh làm đồ  dùng dạy   học. Ví dụ: Khi dạy bài “ tạo dáng và trang trí lọ  hoa ” trong chương trình  mỹ thuật 7, giáo viên cần chuẩn bị 1 số hình ảnh lọ hoa thật để cho học sinh   quan sát nhận xét. Song hình ảnh lọ hoa thật đó phải có sự lựa chọn cao như  đa dạng về hình dáng, phong phú về hình thức trang trí, không trùng lặp nhau   về kiểu dáng và màu sắc, nhằm mục đích cung cấp cho học sinh những hình  ảnh về  đồ  dùng dạy học sinh động. Từ  những hình  ảnh lọ  hoa  ở  đồ  dùng  dạy học mà giáo viên cung cấp, học sinh có thể  rút ra được cấu tạo của  chậu cảnh, hình dáng của lọ hoa và một số  họa tiết trang trí ở  lọ  hoa, đồng  thời kích thích sự sang tạo và cảm hứng cũng như sự thú vị của học sinh khi   tự mình có thể trang trí nên một lọ hoa như vậy. Chúng ta cũng có thể  đưa ra một lúc nhiều đồ  dùng dạy học để  học  sinh quan sát nhận xét, đối chiếu so sánh các hình ảnh với nhau, có cách nhìn  12
  13. bao quát về  nội dung bài học. Có lúc có thể  trình bày theo thứ  tự  bài giảng   để  học sinh theo dõi từng vấn đề  của nội dung, tránh sự  phân tán tư  tưởng   của học sinh Ví dụ: đối với bài dạy “ trang trí bìa lịch treo tường” trong chương  trình lớp 7, có thể đưa ra cho học sinh tham khảo nhiều hình ảnh về bìa lịch  treo tường, cho học sinh lần lượt tìm hiểu về  cấu tạo của bìa lịch, các họa   tiết trang trí bìa lịch và màu sắc của bìa lịch. Giáo viên cũng cần lưu ý khi sử  dụng đồ  dụng dạy học tránh dùng   những vật, tranh  ảnh quá nhỏ, quá mờ  làm học sinh khó quan sát, nhận xét  đối chiếu. Khi phân tích đồ  dùng dạy học, giáo viên cần rèn luyện phong  cách truyền đạt dễ  hiểu để  thu hút sự  chú ý của học sinh nhằm tang hiệu   quả của việc sử dụng đồ dùng dạy học. Ở đồ dùng tự làm, giáo viên phải biết tìm tòi sáng tạo những đồ dùng  mang tính khác biệt nhưng vẫn đảm bảo chất lượng và đảm bảo chất lượng   và đảm bảo sự thẩm mỹ, như làm đồ  dùng dạy học đa năng, khai thác kiến   thức cho nhiều bài nhằm gây sự hứng thú cho học sinh trong tiết học. 2.3. Kết quả đạt được Áp dụng các giải pháp nêu trên và qua một số bài học cụ thể, tôi khảo   sát và thấy chất lượng học môn mĩ thuật  của HS lớp 6, 7 trường tôi được  nâng lên rõ rệt. So sánh khảo sát kỳ 2 năm học 2018­ 2019 và kỳ1 năm học   2019­ 2020, đối với khối 7, và khảo sát đầu năm và cuối kì 1 đối với khối 6  KHỐ Năm học Số  Đạt Chưa đạt I SL % SL % lượn g 6  2019­2020 107 100 93,5 7 6,5 2019­ 2020 107 107 100% 0 7 2018­ 2019 119 113 95 6 5 2019­ 2020 119 119 100% 0 13
  14. So sánh kết quả, bản thân tôi nhận thấy không những đạt về số lượng  mà chất lượng bài vẽ  của các em cũng được nâng cao rõ rệt, số  lượng bài   khá giỏi tăng cao. 14
  15. 3. PHẦN KẾT LUẬN 3.1. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm. Mỹ thuật là một môn học đòi hỏi HS phải có óc sáng tạo, sự cần cù và  linh hoạt, và để  làm được điều đó thì vai trò của người giáo viên rất quan  trọng, làm được đã khó, làm tốt lại càng khó hơn.  Nói chung, việc áp dụng các giải pháp: giáo viên và học sinh phải có sự  chuẩn bị  tốt trước khi vào tiết học, biết được tầm quan trọng của màu sắc  và hướng dẫn học sinh cách vận dụng những kiến thức đã học về  màu sắc  vào mỗi bài vẽ, giáo viên có thể  tổ  chức một số  trò chơi trong quá trình  giảng dạy nhằm tạo hứng thú cho học sinh, có sự gợi mở sinh động lôi cuốn  khi hướng dẫn học sinh tìm ý tưởng,  có sự khích lệ động viên học sinh kịp  thời, hướng dẫn cho học sinh cách làm bài từng phân môn cụ  thể, tận dụng  các loại đồ dùng trực quan, có sự lựa chọn và sử dụng đồ dùng dạy học phù  hợp, vào quá trình giảng dạy đã giúp cho chất lượng bộ môn được nâng cao  rõ rệt. Nhờ đó, người giáo viên có thể truyền thêm hứng thú cho HS trong khi   học môn mĩ thuật và các môn học khác. Qua đó, HS có thể  nắm bắt kỹ  các   bước, từ đó, có thể trình bày được một bài vẽ đẹp theo cảm nhận riêng của   mình. Thông qua quá trình học tập môn mỹ thuật, có thể nâng cao được hiểu  biết đối với nghề nghiệp, với xã hội, hoàn thiện nhân cách và lối sống trong  sinh hoạt cho HS. Trên đây là toàn bộ  quá trình tìm đọc và nghiên cứu về  một số  giải   pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn mỹ thuật lớp 6,7 trong chương   trình mĩ thuật THCS. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện và viết sáng kiến  kinh nghiệm không tránh khỏi những hạn chế. Rất mong được sự góp ý chân  thành của các bạn đồng nghiệp.  3.2. Kiến nghị, đề xuất Môn học mỹ  thuật ngày càng phát triển sâu rộng, chúng ta cũng biết  rằng lịch sử  phát triển mỹ  thuật gắn liền với lịch sử  phát triển của xã hội   15
  16. loài người. Xã hội ngày càng đi lên, càng văn minh, càng phát triển thì nhu  cầu thẩm mỹ  ngày càng cao. Bởi vậy, mỹ  thuật sẽ  là môn học không thể  thiếu đối với ngành giáo dục trong mục tiêu giáo dục con người toàn diện.   Dạy mĩ thuật lớp 6,7 ở nhà trường THCS là rất cần thiết, nó góp phần hình   thành  ở  HS những phẩm chất tốt đẹp của con người lao động mới ­ người  lao động có tri thức khoa học, dám nghĩ, dám làm, lao động có năng suất cao   và biết thưởng thức cái hay cái đẹp trong cuộc sống. Tuy nhiên dạy mĩ thuật  lớp 6,7 ở THCS còn nhiều vấn đề phải quan tâm, bởi từ lâu chúng ta ít chú ý,  thiếu sự  chuẩn bị  về  trang thiết bị và cơ  sở  vật chất để  phục vụ  cho môn  học này. Vì vậy để tạo điều kiện cho việc dạy và học của thầy và trò thuận   lợi, bản thân tôi là một giáo viên dạy bộ  môn mĩ thuật cần kiến nghị và đề  xuất một số vấn đề sau: phải có phòng học mĩ thuật rộng, đầy đủ ánh sáng,   phương tiện (bàn, ghế, giá vẽ, mẫu vẽ, giấy vẽ, màu vẽ, máy chiếu , tranh  phiên bản, các tài liệu tham khảo …) phải đảm bảo theo đặc thù của bộ  môn. Như  vậy sẽ  nâng cao được chất lượng dạy và học của bộ  môn mĩ  thuật, đồng thời phát triển tối đa được tính sáng tạo của HS trong môn học  và đạt kết quả cao trong học tập. 16
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2