intTypePromotion=1

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Khai thác hình ảnh trực quan vận dụng vào giảng dạy tiết 3 - Bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội - GDCD 12 THPT

Chia sẻ: Nguyễn Biên | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:23

0
215
lượt xem
53
download

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Khai thác hình ảnh trực quan vận dụng vào giảng dạy tiết 3 - Bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội - GDCD 12 THPT

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm đề tài Khai thác hình ảnh trực quan vận dụng vào giảng dạy tiết 3 - Bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội - GDCD 12 THPT được nghiên cứu với mong muốn sẽ góp một phần nhỏ vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn GDCD hiện nay.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Khai thác hình ảnh trực quan vận dụng vào giảng dạy tiết 3 - Bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội - GDCD 12 THPT

  1. PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài. Giáo dục công dân là một môn khoa học xã hội góp phần đào tạo học  sinh thành những người lao động mới, hình thành những phẩm chất tốt đẹp,  tích cực của người công dân tương lai; có thế  giới quan khoa học, nhân sinh  quan tiến bộ, có đạo đức trong sáng, để thực hiện đường lối và nhiệm vụ cách   mạng đúng đắn của Đảng và Nhà nước, sống và làm việc theo Hiến pháp và   pháp luật, có ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc, với nhân dân, với gia đình và  với bản thân mình.             Tuy nhiên, bộ môn Giáo dục công dân ở  trường THPT hiện nay chưa   được phụ huynh, học sinh và một bộ phận giáo viên nhận thức một cách đúng   đắn. Cho đến nay, quan niệm môn GDCD là môn học bổ  trợ, môn học phụ  rất khô khan, trừu tượng, khó học, vẫn còn tồn tại khá nặng nề. Tình trạng  học sinh làm việc riêng, đưa môn khác ra học trong giờ GDCD vẫn còn hoặc  học sinh có học bài nhưng học theo kiểu ngồi “đọc vẹt”, học thuộc lòng còn  rất nhiều, vì thế  mà sau khi học xong các em không nhớ  được nội dung, mà   nếu có nhớ  thì cũng chỉ  nhớ  theo kiểu thuộc lòng, chứ  không hiểu nội dung  của bài học. Đặc biệt, đối với học sinh 12 ­ các em chỉ biết đề cao và chú tâm  những môn học theo khối, những môn liên quan đến thi tốt nghiệp mà coi   thường môn GDCD. Chính vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm  phát huy tính tích cực, tự  giác, rèn luyện thói quen và khả  năng tự  học, tạo   hứng thú học tập của học sinh đối với bộ  môn GDCD, giúp học sinh có thể  hiểu, nắm vững được kiến thức  là vấn đề  quan trọng đang được các cấp  quản lí giáo dục và giáo viên hết sức quan tâm.  Có nhiều phương pháp dạy học phát huy được tính tích cực của học  sinh, trong đó việc khai thác hình ảnh trực quan vào giảng dạy môn GDCD là  phương pháp thực sự  có hiệu quả. Thông qua hình  ảnh trực quan, học sinh   không chỉ  hiểu kiến thức lý thuyết trong từng đơn vị  kiến thức bài học mà  còn nắm được qui luật phát triển của xã hội, hiểu rõ hơn về những hoạt động  thực tiễn cuộc sống đã, đang và sẽ  diễn ra; từ  hình  ảnh, học sinh sẽ  có kĩ  năng tư duy, quan sát, trí tưởng tượng, kĩ năng phân tích, mô tả kiến thức thực   tế từ bên ngoài như: Kdusinxky đã từng nói “Hình ảnh được lưu giữ đặc biệt  và vững chắc trong trí nhớ  là những hình  ảnh mà chúng ta thu thập được từ  bên ngoài” vì trong hình ảnh, nó sẽ phản ánh đầy đủ, sinh động, thực tế cuộc  sống của nhân dân với thành quả  lao động mà người dân đã và đang tạo ra.  Từ đó, góp phần tạo cho bài giảng GDCD trở nên sinh động và hấp dẫn hơn. Trong chương trình GDCD lớp 12 hiện nay, tôi thấy bài “Quyền bình   đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội” (tiết 3) là  một bài học hay thiết thực, cung cấp cho học sinh có vốn hiểu biết ban đầu  về  pháp luật. Trong đó, tiết 3 ­ Quyền bình đẳng trong kinh doanh là một  tiết học có ý nghĩa quan trọng để các em hiểu được quyền và nghĩa vụ trong   1
  2. kinh doanh của bản thân mình, từ đó các em biết tôn trọng, có ý thức bảo vệ  và thực hiện đúng pháp luật trong kinh doanh… Với dung lượng kiến thức   như  thế, nếu giáo viên chỉ  dạy đơn thuần bằng phương pháp thuyết trình,  đàm thoại, vấn đáp thì tiết học sẽ rất nhàm chán, chỉ dừng lại ở việc nhắc lại   những kiến thức đã học mà thôi. Qua thực tiễn giảng dạy trong nhiều năm của bản thân, tôi đã tiến hành  “ khai thác hình  ảnh trực quan”  sử  dụng vào nhiều bài giảng rất có hiệu  quả. Đặc biệt, tôi tiến hành sử  dụng máy tính kết nối máy chiếu để  trình   chiếu hình  ảnh cho học sinh quan sát, sau đó gợi mở  một số  câu hỏi để  học  sinh tìm hiểu kiến thức và đã đem lại hiệu quả cao, gây hứng thú học tập cho   học sinh, học sinh chủ động tìm hiểu kiến thức qua hình ảnh, từ đó góp phần  tạo cho giờ  học GDCD sinh động và hấp dẫn hơn. Bởi vậy, tôi chọn đề  tài  “Khai thác hình  ảnh trực quan  vận dụng  vào giảng dạy  tiết 3 ­  Bài 4:   Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội   ­ GDCD 12 THPT ”  làm đề  tài sáng kiến kinh nghiệm của mình với mong  muốn  sẽ  góp một phần nhỏ  vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy bộ  môn GDCD hiện nay.  2. Mục đích nghiên cứu. Với đề tài này, tôi trình chiếu hình ảnh để học sinh chủ động khai thác  kiến thức. Qua đó, nhằm  khắc sâu kiến thức pháp luật trong lĩnh vực kinh  doanh cho học sinh. Thông qua hình ảnh, ví dụ và bài tập tình huống, học sinh  hiểu khái niệm, nội dung và xác định được trách nhiệm của bản thân mình   đối với việc thực hiện quyền bình đẳng trong kinh doanh. Từ  đó góp phần   giáo dục và định hướng cho việc lựa chọn nghề  nghiệp tương lai của học   sinh sau này. Quá trình thực hiện đề tài, tôi mong muốn giờ học GDCD thực  sự là một giờ học hấp dẫn, có ý nghĩa giáo dục và thực sự tạo được hứng thú  học tập cho học sinh.  3. Phạm vi nghiên cứu. Trong phạm vi của đề tài, tôi chỉ tập trung đưa ra những hình ảnh, ví dụ  và bài tập tình huống về  hoạt động kinh doanh có liên quan đến phần khái   niệm, nội dung để vận dụng vào dạy Bài 4 ­ tiết 3: Quyền bình đẳng trong   kinh doanh, từ đó yêu cầu học sinh xác định trách nhiệm của bản thân để góp  phần thực hiện tốt quyền bình đẳng trong kinh doanh. 4. Thời gian nghiên cứu. Tôi đã tiến hành sử  dụng hình  ảnh trực quan vào giảng dạy bộ  môn  trong nhiều năm nay, với đề tài này, tôi đã tập trung thực hiện trong thời gian   học kỳ II, năm học 2011 ­2012 và tiếp tục nghiên cứu, bổ  sung thực hiện và   hoàn thành trong năm học 2012 ­ 2013 ở trường THPT Bá Thước ­ Thanh hóa..  5. Phương pháp nghiên cứu. 2
  3. Trên cơ  sở  phương pháp luận triết học Mác ­ Lênin, đề  tài được thực  hiện dựa trên phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp tư  duy ­ lôgic,  phương pháp phân tích ­ tổng hợp. Ngoài ra đề  tài còn được thực hiện dựa   trên các phương pháp: Qua thực tiễn giảng dạy và học tập trên lớp (quan sát,   điều tra thực tế), qua các kênh thông tin: Mạng internet, sách, báo, các tài liệu  chuyên ngành có liên quan, qua kinh nghiệm của các đồng nghiệp, đặc biệt là  các đồng nghiệp trực tiếp giảng dạy môn Giáo dục công dân. 6. Khách thể và đối tượng nghiên cứu: ­ Khách thể: Chương trình SGK GDCD lớp 12 (Đã sửa đổi). ­ Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 12 trường THPT Bá Thước. PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHƯƠNG 1: PHƯƠNG PHÁP KHAI THÁC HÌNH ẢNH TRỰC QUAN TRONG  VIỆC GIẢNG DẠY BỘ MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN 1.1.Cơ sở lí luận của khai thác hình ảnh trực quan trong việc giảng  dạy môn giáo dục công dân: Để khai thác hình ảnh trực quan phù hợp với nội dung của mỗi bài dạy,  giáo viên cần phải xác định kiến thức cơ bản và trọng tâm của bài, sau đó vận  dụng khai thác hình ảnh vào bài dạy linh hoạt, hợp lý. Như vậy, để khai thác  hình ảnh trực quan, đòi hỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị chu đáo về mặt kiến  thức, thời gian, lựa chọn, phân loại tranh ảnh phù hợp với nội dung, hình thức  tổ chức dạy học của từng bài, từng tiết, từng phần.  Đặc biệt, giáo viên phải  biết sử dụng máy tính, máy chiếu thành thạo để soạn thảo và trình chiếu hình  ảnh  là yêu cầu hết sức quan trọng, quyết định sự  thành công của mỗi tiết  học.   1.2. Yêu cầu của tranh ảnh trực quan. Mỗi hình  ảnh trực quan phải có mục đích rõ ràng, phải có nội dung  muốn chuyển tải, phải đảm bảo kích cỡ, độ nét tương ứng. Để đưa lại hiệu quả cao, khi khai thác hình ảnh, giáo viên cần kết hợp  với miêu tả, phân tích, đánh giá nôi dung trên hình ảnh.  Sau khi quan sát kĩ hình  ảnh, học sinh sẽ  có kĩ năng tư  duy khái quát,  phân tích, tổng hợp...để  đưa ra kết luận của mình về  nội dung mà hình  ảnh  muốn chuyển tải.  1.3. Nguồn tranh ảnh. Tiết học “Quyền bình đẳng trong kinh doanh” là tiết học có nguồn tư  liệu rất phong phú nên giáo viên phải biết cách lựa chọn hình ảnh chuẩn xác,   gần gũi với học sinh và sát với nội dung kiến thức chuyển tải.Sử  dụng các   loại tranh tải từ mạng Intenet,Các loại tranh sưu tầm từ  các tập san, báo chí  hay giáo viên dùng máy chụp hình ghi lại những hình  ảnh cần thiết, sau đó  phóng theo kích cỡ qui định áp dụng vào bài dạy.  3
  4. 1.4. Sử dụng máy vi tính, máy chiếu. Để  khai thác hình  ảnh có hiệu quả, yêu cầu giáo viên phải có kĩ năng  sử  dụng máy tính kết nối máy chiếu. Trong quá trình sắp xếp hình  ảnh để  trình chiếu, có nhiều cách sắp xếp hình ảnh:   ­ Sắp xếp hình ảnh cùng một nôi dung trên nhiều Slides khác nhau  ­ Sắp xếp hình ảnh cùng một nội dung kiến thức trên cùng một Slides Sau đó, giáo viên cần chọn hiệu ứng phù hợp (nên chọn hiệu ứng Fade) ­ Tránh chiếu nhiều hình ảnh chỉ chuyển tải một nội dung kiến thức  trên nhiều Slides và nhiều loại hiệu ứng khác nhau, như thế sẽ không khắc  sâu trí nhớ cho học sinh, vả lại khiến người quan sát sẽ có cảm nhận giờ học  “rối”, “lướt nhanh”...quá nhiều hình ảnh.  CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG CỦA VIỆC DẠY VÀ HỌC MÔN GDCD NGÀY NAY Theo quan niệm của nhiều giáo viên cũng như học sinh cho rằng, giảng   dạy và học tập môn GDCD là một môn học khô khan, trừu tượng và khó tiếp  thu vì: kiến thức của môn học là kiến thức về  triết học, về  đường lối chính  sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Chính vì thề mà nhiều giáo viên và   học sinh thường chán nản. Trên thực tế, bên cạnh những giáo viên tích cực  đổi mới phương pháp dạy học thì vẫn có nhiều giáo viên không muốn đổi  mới hoặc cũng dạy theo hướng đổi mới nhưng còn mang nặng tính hình thức,   đối phó... Thậm chí nhiều giáo viên cho rằng: Việc phát huy tính tích cực của  học sinh  ở  môn GDCD còn hạn chế  là do vị  trí của bộ  môn ở  trường THPT   nói chung, ở trường THPT Bá Thước nói riêng bị xem nhẹ, không phải là môn   thi tốt nghiệp, do vậy học sinh không chịu học… Xuất phát từ thực tiễn dạy học như vậy và từ chính kinh nghiệm giảng  dạy ở trường THPT Bá Thước của bản thân, tôi nhận thấy rằng với sự phát   triển như  vũ bão của KHCN hiện nay cần đào tạo con người một cách toàn  diện. Muốn vậy,các em phải hứng thú say mê trong học tập. Để  làm được   điều đó, bản thân giáo viên phải kích thích năng lực tư duy sáng tạo của học   sinh qua các bài học bằng các phương pháp mới. Chính vì vậy, tôi đã chọn  phương pháp giảng dạy này làm đề tài nghiên cứu của mình. CHƯƠNG 3: KHAI THÁC HÌNH ẢNH TRỰC QUAN  VẬN DỤNG VÀO GIẢNG  DẠY BÀI 4: QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÔNG DÂN TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC  CỦA ĐỜI SỖNG XàHỘI – TIẾT 3: QUYỀN BÌNH ĐẲNG TRONG KINH DOANH 3.1. Mục tiêu bài học.    Học xong tiết học này học sinh cần nắm được những những yêu cầu  sau: 3.1.1. Về kiến thức:   ­ Hiểu khái niệm kinh doanh, bình đẳng trong kinh doanh,   ­ Nội dung quyền bình đẳng trong kinh doanh. 4
  5.   ­ Từ đó thấy được vai trò của bình đẳng trong kinh doanh với việc xây dựng   nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.    ­ Trách nhiệm của công dân trong việc đảm bảo và thực hiện quyền bình  đẳng trong kinh doanh.     3.1.2. Về kỹ năng:    ­ Biết thực hiện và nhận xét việc thực hiện quyền bình đẳng trong kinh   doanh. 3.1.3. Về thái độ:   ­ Có ý thức tôn trọng quyền bình đẳng của công dân trong kinh doanh.   ­ Phê phán những hành vi vi phạm quyền bình đẳng trong kinh doanh. 3.2. Tài liệu, phương tiện và các kĩ năng sống. 3.2.1. Tài liệu.   ­ Sách giáo khoa GDCD lớp 12, sách chuẩn kiến thức kỹ năng GDCD 12   ­ Sách bài tập tình huống GDCD 12   ­ Hiến pháp 1992, Luật doanh nghiệp, Luật sỡ hữu trí tuệ 3.2.2. Phương tiện.   ­ Máy tính kết nối máy chiếu   ­ Phiếu học tập in sẵn bài tập tình huống để phát cho học sinh   ­ Tranh ảnh có liên quan đến từng đơn vị kiến thức. 3.2.3. Các kĩ năng sống.    ­ Giáo dục kĩ năng tìm kiếm và xử  lí thông tin về  sự  bình đẳng quyền và   nghĩa vụ trong kinh doanh   ­ Giáo dục kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng ra quyết định trong xử lí tình   huống    ­ Giáo dục kĩ năng hợp tác tìm hiểu nội dung quyền bình đẳng trong kinh  doanh   ­ Giáo dục kĩ năng tư duy phê phán những trường hợp vi phạm quyền bình  đẳng trong kinh doanh. 3.3. Tiến trình lên lớp. 3.3.1. Ổn định tổ chức:        Kiểm tra sĩ số lớp. 3.3.2. Kiểm tra bài cũ:        Thế nào là bình đẳng trong lao động? Là học sinh em cần phải làm gì để  góp phần thực hiện tốt quyền bình đẳng của công dân trong lao động? 3.3.3.Giảng bài mới: BÀI 4: QUYỀN BÌNH ĐẲNG CỦA CÔNG DÂN TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC CỦA  ĐỜI SỐNG XàHỘI  (TIẾT 3) ­ PPCT: TIẾT 11 GDCD 12 THPT. Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung chính cần đạt 5
  6. 3. Bình đẳng trong kinh doanh. Hoạt động1:  Tìm hiểu khái niệm kinh   a. Thế nào là bình đẳng trong  doanh, khái niệm bình đẳng trong kinh  kinh doanh? doanh. (Hoạt động này nhằm giáo dục học sinh kĩ   năng tìm kiếm và xử  lí thông tin, kĩ năng   giải quyết vấn đề/ra quyết định trong xử lí   tình huống để  tìm hiểu quyền bình đẳng   trong kinh doanh)  ­ Giáo viên: trình chiếu một số  hình  ảnh  về  hoạt động kinh doanh và phân tích nội  dung   hình   ảnh   để   học   sinh   thấy   được  trong nền kinh tế thị trường, các hình thức  tổ   chức   kinh  doanh  đa dạng,  phong phú,  tham   gia   tích   cực   vào   cạnh   tranh  (mọi   người   được  tự  do  kinh  doanh  theo   pháp   luật); “mọi công dân đều bình đẳng trước   pháp luật”. Buôn Bán mũ bảo hiểm Buôn bán bánh  kẹo SX dệt may Buôn bán hoa quả Sau đó GV hỏi:  1. Những hình  ảnh trên miêu tả  hoạt   động   gì?   Em   hãy   cho   biết   mục   đích   của hoạt động đó? 6
  7. HS trả lời: Những hình ảnh trên miêu tả  hoạt động kinh doanh và mục đích của  hoạt động đó là nhằm đem lại lợi nhuận. GV:  Phân   tích   hình   ảnh   để   HS   thấy  được đó là một quá trình thực hiện liên  tục từ  sản xuất đến tiêu thụ  sản phẩm  trên thị  trường nhằm đưa lại lợi nhuận  => kinh doanh. 2. Vậy em hiểu kinh doanh là gì? HS trả lời. GV nhận xét cho HS lĩnh hội khái niệm: ­ Kinh doanh là việc thực hiên liên  tục một, một số  hoặc tất cả  các  công đoạn của quá trình đầu tư từ  sản xuất  đến tiêu thụ  sản phẩm   3. Động lực nào để thúc đẩy quá trình   hoặc   cung   ứng   dịch   vụ   trên   thị  trường nhằm mục đích sinh lời. kinh doanh phát triển? HS trả  lời: Để  thúc đẩy kinh doanh phát  triển,   chúng   ta   phải   tạo   ra   một   môi  trường kinh doanh tự  do, bình đẳng trên  cơ sở của pháp luật. Sau khi học sinh trả lời động lực để thúc  đẩy kinh doanh phát triển thì GV chuyển  hoạt   động   bằng   việc   tổ   chức   cho   HS  thảo luận bài tập tình huống qua phiếu  học tập sau:  Bài tập tình huống:  Tốt nghiệp THPT,   đã 18 tuổi, Hoàng quyết định bắt đầu sự   nghiệp bằng  nghề  kinh  doanh. Sau  khi   tham dự  khóa đào tạo ngắn hạn về kinh   doanh, Hoàng thưa chuyện với bố mẹ để   xin cấp vốn và đã được bố  mẹ  đồng ý.   Công việc đầu tiên mà Hoàng phải làm   là nộp bộ  hồ  sơ  đăng ký kinh doanh lên   Ủy ban nhân dân huyện. Thế nhưng, anh   cán bộ tiếp nhận hồ sơ thì lại giải thích   rằng, Hoàng không thể  được cấp Giấy   chứng nhận Đăng ký kinh doanh vì mới   tốt  nghiệp  THPT,  vừa  mới  qua  tuổi  vị   thành   niên.   Hoàng   suy   nghĩ:   Pháp   luật   đâu   có   quy   định   người   đã   thành   niên   7
  8. nhưng vừa mới tốt nghiêp THPT không   được đăng ký kinh doanh? Câu hỏi bài tập: 1. Lời giải thích của anh cán bộ  tiếp   nhận hồ sơ có đúng pháp luật không? 2. Hoàng có quyền bình đẳng như mọi   người   đã   thành   niên   khác   trong   việc   được   cấp   Giấy   chứng   nhận   đăng   kí   kinh doanh không? Vì sao? HS: Thảo luận câu hỏi GV: kết luận: Lời giải thích của anh cán  bộ  tiếp nhận hồ  sơ  là không đúng pháp  luật. Hoàng có quyền bình đẳng như mọi  người   đã   thành   niên   khác   trong   việc  được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh  doanh,   vì   vừa   mới   tốt   nghiệp   nhưng   Hoàng   đã   tham   dự   khóa   đào   tạo   ngắn  hạn(có trình độ), được bố  mẹ đồng ý và  cấp vốn và đã đủ tuổi thành niên. 3. Từ  bài tập tình huống trên em hiểu   ­   Bình   đẳng   trong   kinh   doanh   có  bình đẳng trong kinh doanh là gì? nghĩa là mọi cá nhân, tổ  chức khi  HS: Trả lời khái niệm. tham gia vào quan hệ  kinh tế, từ  GV Cho HS lĩnh hội khái niệm: việc   lựa   chọn   ngành   nghề,   địa  điểm,   hình   thức   tổ   chức   kinh  doanh đến việc thực hiện quyền  và   nghĩa   vụ   trong   quá   trình   sản  xuất   kinh   doanh   đều   bình   đẳng  theo quy định của pháp luật. GV: trình chiếu hình ảnh 8
  9. SXKD quần áo SXKD dầu  ăn SXKD hàng gia  SXKD máy tính dụng GV:  Phân tích những hình  ảnh trên cho  HS  thấy   mọi   cá   nhân,   tổ   chức   đều   có  quyền   bình   đẳng   trong   việc   lựa   chọn  ngành,   nghề,   địa   điểm,   hình   thức   kinh  doanh trong khuôn khổ của pháp luật (nói  đến quyền bình đẳng của công dân trước  pháp lu ật về kinh doanh). ­ GV  trình chi ếu hình  ảnh: Hiến pháp  1992, luật doanh nghiệp để khẳng định  cho học sinh tính pháp lí cao của quyền  bình đẳng trong kinh doanh trong xã hội  XHCN. => Quyền này đã được ghi nhận bằng  các văn bản pháp luật (Điều 57 ­ Hiến  pháp   1992;   Điều   7   ­   Luật   doanh  nghiệp)   và   được   đảm   bảo   thực   hiện  bằng sức mạnh của Nhà nước. GV hỏi:  1.Theo   em,   quyền   bình   đẳng   trong   kinh   doanh   được   thực   hiện   theo   nguyên tắc nào? HS  trả   lời:   Nguyên   tắc   tự   do,   bình  đẳng,   cùng   có   lợi   và   cùng   chịu   trách  nhiệm   về   hoạt   động   của   mình   trước   pháp luật 2. Thực hiện tốt các nguyên tắc trên   Sản xuất quầncó ý nghĩa gì? áo HS: Tạo cơSX qu  sở  pháp lí cho các ch ần áo ủ  thể  SX g ạch men SX ô tô kinh   tế   khi   tham   gia   hoạt   động   kinh  doanh   và   thúc   đẩy   hoạt   động   kinh  doanh phát triển. GV phân tích: Chúng ta biết rằng, nền  kinh   tế   Việt   Nam   là   nền   kinh   tế   thị  trườ ng định hướng XHCN cho nên các  b.  Nội   dung SX giày    quyền   bình   đẳng  KD xe  KD sữa  thể thao ổ  chức khi tham gia vào các  trong kinh doanh. cá nhân, t máy quan hệ kinh tế phải bình đẳng và đảm  bảo đúng định hướng XHCN. Vậy quyền bình đẳng trong kinh doanh  9 bao gồm những nội dung cơ bản nào? Hoạt   động   2:  Tìm   hiểu   nội   dung 
  10. GV hỏi:1. Những hình ảnh trên cho em   biết nội dung nào về quyền bình đẳng   trong kinh doanh?   ­   Thứ   hai,   mọi   doanh   nghiệp  HS trả lời nội dung thứ 2: đều có quyền tự chủ đăng ký kinh  doanh   trong   những   ngành,   nghề  mà   pháp   luật   không   cấm   khi   có  2.  Việc doanh nghiệp tự  chủ  đăng ký   đủ   điều   kiện   theo   qui   định   của  kinh doanh trong khuôn khổ  của pháp   pháp luật. luật có tác dụng gì? HS:   ND   này   nhằm   đảm   bảo   sự   bình  đẳng,  an   toàn  nằm   trong   sự   kiểm   soát  của   Nhà   nước..để   mọi   doanh   nghiệp  đều có quyền tự chủ đăng kí kinh doanh.  Từ  đó, họ  sẽ  yên tâm sản xuất và góp  phần   tạo   nên   một   xã   hội   trật   tự   lành  mạnh, bình đẳng. GV: trình chiếu hình ảnh tiếp theo: Giá xăng bình  Dự thảo luật quản lí giá  đẳng cả GV:   Dù   là   Công   ty   xăng   dầu   của   tư  nhân hay của Nhà nước thì giá bán trên  thị trường phải như nhau, bình đẳng với  nhau…có như  thế  mới đảm bảo quyền  kinh doanh lâu dài cho doanh nghiệp. Để  thực hiện quyền bình đẳng trên thị  10
  11. trường nhằm đưa ra khung giá, bình  ổn  giá, tạo ra môi trường pháp lí công khai,  minh bạch, Bộ tài chính đã tổ chức Hội  nghị dự thảo luật quản lí giá cả cho các  doanh nghiệp trong phạm vi cả nước.   GV hỏi:  Những hình  ảnh vừa quan   sát cho các em biết nội dung nào về   quyền bình đẳng trong kinh doanh? ­ Thứ  ba, mọi doanh nghiệp thuộc  HS trả lời nội dung thứ 3.  các thành phần kinh tế  khác nhau  đều   được   bình   đẳng   trong   việc  khuyến khích phát triển lâu dài. GV:   Ví   dụ:   Để   đảm   bảo   việc   kinh  doanh lâu dài, hiện nay ở Thanh Hóa nói  Niêm yết bảng giá quần áo riêng và cả  nước nói chung, tất cả  các  mặt   hàng   kinh   doanh   đều   phải   được  niêm   yết   bảng   giá   công   khai   theo   qui  định của pháp luật. GV:   Nhà   nước   ta   khuyến   khích   mở  rộng sản xuất, kinh doanh dù  ở  bất kỳ  ngành, nghề  nào. Tuy nhiên, trong sản  xuất, kinh doanh không thể  tránh khỏi  cạnh tranh trên thị trường nhưng vấn đề  là cạnh tranh phải diễn ra một cách lành  mạnh, không  được vi phạm pháp luật  mới đảm bảo sự  bình đẳng trong kinh  doanh. GV hỏi: Em hãy lấy ví dụ  về các việc   Niêm yết giá rau củ  làm vi phạm pháp luật của một số cá   quả. nhân, doanh nghiệp… mà em biết? HS: việc làm hàng giả, hàng nhái kém  chất lượng, tình trạng buôn bán phụ  nữ  và trẻ  em, kinh doanh mặt hàng không  rõ nguồn gốc xuất xứ, tình trạng đầu cơ  tích trữ (xăng dầu, gạo…ở TPHCM). GV: trình chiếu hình  ảnh để  minh họa  về  việc kinh doanh trái pháp luật trên  địa bàn Thanh hóa nói riêng, trong phạm  vi cả nước nói chung và đã bị xử lí theo   11
  12. qui định của pháp luật. Buôn bán ngà voi Buôn bán rượu giả Hồ Viết Hiển ­ Nghệ  Xét xử các đối tượng đã buôn bán phụ  An ­ SX 300kg mì chính  nữ và trẻ em tại Hà Giang                   GV  :Ở  hình  ảnh dưới  là anh Hồ  Viết  Hiển, sinh năm 1956 tại Nghệ An đã cho  sản xuất và tiêu thụ  300kg mì chính giả  lấy   nhãn   hiệu   Azinomoto   và   Miwuon.  Với   vai  trò của mình,  đội quản lý thị  trường đã cho tịch thu toàn bộ  mặt hàng  của anh Hiển, đồng thời tiến hành bắt  tạm giam để tiếp tục điều tra sự việc. Còn  ở hình ảnh bên cạnh là việc đã xẩy  ra tại  Hà  Giang  ­  Tình  trạng buôn  bán  phụ nữ và trẻ em bị đưa ra xét xử. =>   Điều   đó   khẳng   định   vai   trò   quan  trọng của pháp luật trong lĩnh vực kinh  doanh hiện nay. GV:   chiếu   hình   ảnh   mở   rộng   qui   mô  kinh doanh.   Vídụ:   Ở   Bá   Thước   có   nhiều   doanh  12
  13. nghiệp, trong đó có doanh nghiệp Hon đa  Cường Nhung. Doanh nghiệp này đã tự  chủ đăng kí kinh doanh để nâng cao hiệu  quả   và   khả   năng   cạnh   tranh   của   mình  bằng cách: phục vụ khách hàng tận tình,  đảm   bảo   chất   lượng,   giá   cả   phù   hợp,  mẫu mã, hình thức đẹp, bền, giữ  uy tín  lâu dài cho khách hàng… Mở rộng quy mô  KD xe máy Mở rộng quy mô  Xuất khẩu KD thủy hải sản 13
  14. Câu hỏi: Thông qua ví dụ và hình ảnh   trên, em hãy cho biết nội dung thứ  4   về quyền bình đẳng trong kinh doanh? HS trả lời nội dung thứ 4.   ­ Thứ  tư, mọi doanh nghiệp đều  bình   đẳng  về   quyền  tự   chủ   kinh  doanh   để   nâng   cao   hiệu   quả   và  khả năng cạnh tranh. GV hỏi: Tương tự, các em hãy cho ví   dụ chứng tỏ việc mở rộng qui mô sản   xuất   kinh   doanh   những   ngành   nghề   khác  trên   địa  bàn  Thanh  Hóa  mà  em   biết? GV:  trình  chiếu hình  ảnh và chỉ  rõ để  HS   biết   được   ở   Thanh   Hóa   có   những  làng  nghề   truyền  thống  như   nghề   đúc  đồng   ở   huyện   Thiệu   Hóa,   nghề   dệt  chiếu   ở   huyện  Nga  Sơn…đã   mở  rộng  cơ  sở  sản xuất kinh doanh trong khuôn  khổ của pháp luật. Hiện nay, những làng  nghề này đang phát triển mạnh và có uy  tín trong tỉnh nói riêng và trong phạm vi  cả nước nói chung. Nghề đúc đồng Thiệu Hóa Nghề dệt chiếu Nga Sơn GV hỏi:  Em hãy nêu nội dung thứ  5   của,   quyền   bình   đẳng   trong   kinh   doanh? HS trả lời nội dung thứ 5   ­   Thứ   năm,   mọi   doanh   nghiệp  đều bình đẳng về  nghĩa vụ  trong  quá trình hoạt động kinh doanh. GV  giảng giải: Bất kỳ  một người kinh   doanh nào ở bất kỳ một ngành nghề nào  đều   bình   đẳng   về   nghĩa   vụ   như   nhau  trong quá trình sản xuất kinh doanh. 14
  15. GV hỏi:  1. Theo em, trong quá trình hoạt động   sản   xuất   kinh   doanh,   mọi   doanh   nghiệp đều bình đẳng về những nghĩa   vụ gì?  HS:  Trong   quá   trình   hoạt   động   kinh  doanh, mọi doanh nghiệp đều bình đẳng  về   những   nghĩa   vụ:   kinh   doanh   đúng  ngành nghề  đã đăng ký, nộp thuế, khai  báo tài chính, bảo vệ  môi trường,  bảo  đảm quốc phòng an ninh.. 2. Thực hiện tốt những nghĩa vụ  trên   có tác dụng như thế nào? HS: Thực hiện tốt những nghĩa vụ  trên  sẽ  đảm bảo quyền bình đẳng cho công  dân trong xã  hội, xã  hội   ổn  định,  phát  triển bền vững, góp phần xây dựng nền  kinh tế  thị  trường định hướng XHCN  ở  Việt Nam. GV: tiếp tục trình chiếu hình ảnh: Câu hỏi:  Quan sát hình  ảnh trên cho   các em biết điều gì?  HS: đó là hình  ảnh Công ty VEDAN và  15
  16. dòng sông Thị Vải.  GV  giải   thích:   Công   ty   này   trong   quá  trình   sản   xuất   kinh   doanh   đã   vi   phạm  pháp   luật   về   bảo   vệ   môi   trường,   xã  nước   thải   ước   tính   mỗi   ngày   4000m3  xuống dòng sông Thị  Vải. Vì vậy cùng  với đợt thực hiện cuộc vận động “người  Việt Nam dùng hàng Việt Nam” người  dân   3   tỉnh:   Vũng   Tàu,   Đồng   Nai,  TPHCM   có   một   thời   gian   đã   cho   “tẩy  chay” mặt hàng của công ty VEDAN để  nhằm cảnh cáo sự  vi phạm môi trường  của công ty...Sau đó, để  lấy lại uy tín,  thương   hiệu   cho   công   ty,   Tổng   Giám  đốc công ty buộc phải xin lỗi và hứa sẽ  bồi thường những thiệt hại mà công ty  đã gây ra cho người dân.  =>Hình ảnh và thông tin trên cũng muốn  nhắc nhở  mọi cá nhân, doanh nghiệp...  khi   tham   gia   hoạt   động   sản   xuất   kinh  doanh phải thực hiện đúng nghĩa vụ theo  quy   định   của   pháp   luật   trong   lĩnh   vực  kinh doanh.  Để   khắc   sâu   kiến   thức   trọng   tâm   cho  HS, GV trình chiếu sơ   đồ  tóm tắt nội  dung quyền bình đẳng trong kinh doanh :  ­ Mọi công dân đều có quyền chọn hình thức tổ chức kinh  doanh tùy theo khả năng, sở thích nếu có đủ điều kiện.   ­ Mọi DN đều có quyền tự chủ đăng kí KD trong những  NỘI  ngành, nghề mà pháp luật không cấm khi có đủ điều kiện  DUNG  theo qui định của pháp luật.  QUYỀN  BÌNH   ­ Mọi DN thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đều  ĐẲNG  được bình đẳng trong việc khuyến khích phát triển lâu dài. TRONG   ­ Mọi DN đều bình đẳng về quyền tự chủ kinh doanh để  KINH  nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh. DOANH  ­ Mọi DN đều bình đẳng về nghĩa vụ trong quá trình hoạt  động kinh doanh .  16
  17. Sau khi tổng kết mục bằng sơ  đồ  kiến   thức trên  GV hỏi:  Em hãy cho biết vai trò bình   đẳng   trong   kinh   doanh   với   việc   xây   dựng   nền   kinh   tế   thị   trường   định   hướng XHCN ở Việt Nam? HS trả lời =>   Thực   hiện   quyền   bình   đẳng  GV nhận xét, kết luận:  trong kinh doanh sẽ tạo điều kiện  kinh tế phát triển lâu dài, ổn định;  tạo sự cạnh tranh lành mạnh; góp  phần   xây   dựng   môi   trường   kinh  doanh bình đẳng trong xã hội, đưa  nền kinh tế  thị  trường phát triển  mạnh   mẽ,   đảm   bảo   đúng   định  hướng XHCN.  Để  khắc sâu tính thực tiễn của bài, GV  nêu câu hỏi liên hệ: Cho biết tình hình   hoạt   động   sản   xuất   kinh   doanh   trên   địa bàn huyện Bá Thước ­Thanh Hóa   diễn   ra   như   thế   nào?   Đã   đảm   bảo   quyền bình đẳng trong kinh doanh cho   mọi   công   dân   và   mọi   doanh   nghiệp   hay chưa? HS tự suy nghĩ trả lời. GV chuyển ý: Để  đảm bảo quyền bình  đẳng   trong   kinh   doanh   cho   cá   nhân,  doanh   nghiệp…Nhà   nước   ta   phải   có  trách nhiệm gì? (GV nói rõ phần này đã   giảm tải theo qui định của Bộ Giáo dục   nên GV chỉ hướng dẫn HS tìm hiểu, đọc   thêm ở nhà ). GV  chuyển ý: Để  góp phần thực hiện  tốt   quyền bình  đẳng trong kinh  doanh,  công dân ­ học sinh cần phải làm gì? c, Trách nhiệm của công dân ­  Hoạt động 3:  Tìm hiểu trách nhiệm  học sinh. 17
  18. của công dân ­ học sinh. (Hoạt   động   này   nhằm   giáo   dục   HS   kĩ   năng tự  nhận thức ý thức, trách nhiệm   của   mình   và   kĩ   năng   hợp   tác   để   thảo   luận   trách   nhiệm   của   công   dân   ­   học   sinh) +  Tích cực nâng cao chất lượng  GV:  Phát   phiếu   học   tập   số   2   cho  HS  học tập. thảo luận chung cả lớp bằng câu hỏi: + Năng  động, sáng tạo trong lao  Là công dân ­ HS, em cần phải làm gì   động. để góp phần thực hiện tốt quyền bình   +   Nắm   bắt   khoa   học   tiên   tiến,  đẳng trong kinh doanh hiện nay?  hiện đại. HS: thảo luận xác định trách nhiệm của  + Tham gia giúp đỡ  gia đình làm  mình. kinh tế. + Tìm hiểu và có ý thức thực hiện  pháp luật. + Tham gia sản xuất kinh doanh  trong bất kỳ  thành phần kinh tế  nào. + Không vi phạm quyền và lợi ích  của   doanh   nghiệp   và   người   tiêu  dùng… 4. Cũng cố, luyện tập:   GV đưa các dạng bài tập để cũng cố bài.  5.Dặn dò:  ­ Về nhà học bài cũ và làm các bài tập trong SGK.  ­ Đọc trước bài 5: Quyền bình đẳng giữa các dân tộc ,tôn giáo. ­   Đọc   tư   liệu   tham   khảo:   Điều   16   Hiến   pháp   1992,   điều   5   luật   Doanh  nghiệp,điều 7 luật Bình đẳng giới. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM Từ  thực trạng giảng dạy môn GDCD  ở  trường THPT Bá Thước, sau  khi tìm hiểu sở  thích, tâm lý của học sinh, chúng tôi đã mạnh dạn vận dụng   một số  phương pháp mới trong đó có Phương pháp khai thác hình  ảnh trực   quan vận dụng vào giảng dạy tiết 3 ­ Bài 4: Quyền bình đẳng của công dân   trong một số  lĩnh vực của đời sống xã hội  ở  một số  lớp 12. Cụ  thể, năm  học 2011 ­ 2012 tôi đã chọn lớp 12A5 và lớp 12A7 (hai lớp có trình độ  tương  đương nhau) để  làm thực nghiệm, năm học 2012 ­ 2013, qua đúc rút kinh   nghiệm của năm học trước, kì I của năm học này, tôi tiếp tục thực nghiệm ở  hai lớp 12A6 và 12A8.  ­ Lớp 12A5 và lớp 12A6 tôi tiến hành dạy bằng phương pháp thuyết   trình, đàm thoại, vấn đáp. 18
  19.  ­ Lớp 12A7 và lớp 12A8 tôi tiến hành dạy bằng phương pháp khai thác  hình ảnh trực quan kết hợp với các phương pháp dạy học khác. Qua điều tra, tôi đã thu được kết quả như sau: 4.1. Về phía giáo viên  ­ Đại đa số giáo viên trong tổ, nhóm dự giờ đều ủng hộ và khích lệ tôi  sử dụng phương pháp này.  ­ Kết quả giờ dạy: Tất cả các giáo viên trong tổ, nhóm đều đồng ý xếp  giờ dạy loại giỏi (17 ­> 19điểm) 4.2. Về phía học sinh. Đối với lớp 12A5 và lớp 12A6, lớp học trầm, tinh thần hợp tác xây   dựng bài của học sinh chưa sôi nổi, một số học sinh cảm thấy nặng nề, mệt   mỏi, nhàm chán, khó tiếp nhận kiến thức.  Đối với lớp 12A7 và lớp 12A8, học sinh làm việc tích cực, xây dựng bài  sôi nổi, học sinh không cảm thấy nhàm chán. Đại đa số  học sinh tiếp nhận   kiến thức tốt, biết thực hiện quyền và nghĩa vụ  của mình trong kinh doanh,   biết liên hệ thực tiễn và biết xác định trách nhiệm của bản thân để góp phần   thực hiện tốt quyền bình đẳng trong kinh doanh. Sau khi học xong, tôi đã tiến hành kiểm tra kiến thức của học sinh ở cả  4 lớp 12A5, 12A6 và 12A7, 12A8 với hình thức là kiểm tra viết trong (15   phút).  Câu  hỏi:  Sau  khi tốt  nghiệp THPT, nếu em có  ý định thành lập   doanh nghiệp tư nhân thì em có quyền thực hiện ý định đó không? Vì sao? Kết quả kiểm tra lớp 12A5 và 12A7 năm học 2011 ­ 2012 như sau: Năm học Đối tượng Giỏi Khá Trung  Yếu Kiểm tra bình 12A5 (35 HS) 0 10 21 4 2011 ­ 2012 (0%) (29%) (60%) (11%) 12A7 (38 HS) 4 22 11 1 (10%) (59%) (29%) (3%) Kết quả kiểm tra lớp 12A6 và 12A8 năm học 2012 ­ 2013 như sau: Năm học Đối tượng Giỏi Khá Trung  Yếu Kiểm tra bình 12A6 (40 HS) 1 15 21` 3 2012 ­ 2013 (3%) (37%) (52%) (8%) 12A8 (35 HS) 6 20 9 0 (17%) (57%) (26%) (0%) PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 19
  20. 1. Kết luận: Đề tài được nghiên cứu từ thực tiễn và kinh nghiệm giảng dạy của bản  thân  ở  trường THPT Bá thước, thực sự  đem lại cho học sinh kết quả  cao   trong quá trình học tập, học sinh không chỉ nắm vững kiến thức lý thuyết mà  còn biết thực hiện tốt pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh, biết tuyên truyền,  phổ  biến pháp luật về  kinh doanh và biết đấu tranh phê phán những hoạt   động kinh doanh trái pháp luật của một số  cá nhân, doanh nghiệp…trong xã   hội. Khai thác hình  ảnh trực quan vận dụng vào giảng dạy tiết 3 ­ bài 4   lớp12 là một phương pháp quan trọng và mang lại hiệu quả  cao trong giờ  dạy. Việc vận dụng phương pháp này làm cho học sinh dễ hiểu, học tập tích   cực, ghi nhớ kiến thức lâu hơn, làm cho giờ dạy GDCD trở nên gần gũi, sinh  động, lôi cuốn các em vào bài giảng, giúp các em tìm hiểu khái niệm, nội  dung quyền bình đẳng của công dân trong lĩnh vực kinh doanh trong đời sống  xã hội. Quan trọng hơn là giáo dục ý thức trách nhiệm công dân ­ học sinh   trong  việc  thực  hiện  pháp   luật  trong  kinh  doanh.  Bản  thân  các   em  không  những thực hiện tốt mà còn góp phần vào việc tuyên truyền cho những người   khác cùng thực hiện. Đồng thời, bài học cũng là hành trang để học sinh bước  vào cuộc sống tương lai sau này. 2. Kiến nghị, đề xuất: Giáo dục công dân là một bộ  môn rất quan trọng bởi nó góp phần   không nhỏ  trong việc giáo dục tư  tưởng, đạo đức cho học sinh; giáo dục ý  thức thực hiện chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, tạo nên những  phẩm chất của một công dân trong chế độ XHCN. Nhưng thực tế bộ môn này   chưa thực sự được coi trọng theo đúng nghĩa của nó. Tài liệu để phục vụ cho   giảng dạy và học tập rất nghèo nàn, do đó giáo viên mất rất nhiều thời gian   để thu thập thông tin, xử lí và sắp xếp hình ảnh. Điều chúng tôi mong muốn   là có nguồn thông tin tư  liệu chính xác, cập nhật từ  những kênh chính thức   của nghành giáo dục. Chúng tôi cũng đề  nghị  Sở  Giáo dục và đào tạo Thanh   Hóa thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng để chúng tôi được tiếp nhận những   thông tin thời sự mới, chính sách mới, văn bản mới để giáo viên không bị lạc  hậu và giảng dạy tốt hơn nữa. Đề  nghị  các cấp lãnh đạo, tạo điều kiện hơn nữa về  cơ  sở  vật chất,   các phương tiện dạy học như: Phòng học bộ  môn, máy chiếu kết nối máy  tính để có thể thiết kế sơ đồ  kiến thức trên phần mềm Power Point, các loại  băng hình, tranh ảnh…để giáo viên có thể thực hiện tốt việc đổi mới phương  pháp dạy học bộ môn GDCD tích cực và có hiệu quả hơn.   Để  có một giờ  dạy thành công, giáo viên phải đầu tư  nhiều về  thời   gian, công sức và sự  say mê nghề nghiệp, tích cực sưu tầm và biết lựa chọn  tranh ảnh tiêu biểu phù hợp với từng bài dạy. Giáo viên phải không ngừng rèn  20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2