intTypePromotion=3

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT

Chia sẻ: Lê Thị Quỳnh Nga | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:47

0
40
lượt xem
10
download

Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm THPT "Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT" được nghiên cứu với các nội dung: Khái quát về biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ, biểu tượng; biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao; ý nghĩa, giá trị của biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao. Mời các bạn tham khảo nội dung chi tiết tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm THPT: Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT

  1. Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT MỤC LỤC SVTH: Phạm Thị Bích Thủy                  1          Lớp: ĐHSP Ngữ Văn – K55
  2. Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, ca dao luôn được coi là viên   ngọc quý long lanh ngời sáng. Đó là viên ngọc toả chiếu vẻ đẹp thuần khiết,   thanh cao trong tâm hồn tình cảm và trí tuệ  con người Việt Nam, trải qua  nhiều thế  hệ. Biểu hiện qua văn hoá  ứng xử  trong cuộc sống; qua tình yêu  thắm thiết đối với thiên nhiên, với quê hương gia đình; qua tình yêu lứa đôi,  hôn nhân ­ hạnh phúc… Ca dao vì thế  thực sự gắn liền và trở  thành một bộ  phận không thể tách rời với đời sống tinh thần của nhân dân ta. Kể từ khi lọt   lòng mẹ  cho tới lúc trưởng thành, có ai trong mỗi chúng ta chưa từng được  một lần lạc vào thế giới của con  “cò bay lả bay la” qua lời ru âu yếm của bà  của mẹ. Những lời ru thấm đẫm yêu thương cứ thế từng ngày bồi đắp trong  ta tình yêu mến, tự hào đối với ca dao dân tộc. Trải qua thời gian với bao thăng trầm, ca dao vẫn tồn tại và giữ  nguyên   sức sống của nó. Đó không chỉ  nhờ  vào nội dung đặc sắc mà còn vì cả  một  thế giới nghệ thuật ngôn từ tinh tuý, trong sáng đến mức tự nhiên. Sức sống mạnh mẽ, bất diệt của ca dao được tạo nên bởi nhiều giá trị,  mà trước hết và chủ  yếu là giá trị  nội dung và nghệ  thuật. Trong các đặc  trưng nghệ thuật của thể loại này phải kể tới biện pháp so sánh. Không phải  ngẫu nhiên mà ca dao có nơi còn gọi là hát ví “ những câu hát ví chất ba đình”   đầy nghệ  thuật so sánh đã tạo ra rất nhiều cách nói, cách diễn đạt với hiều   sắc thái tinh tế khác nhau để biểu thị nội dung ca dao, làm cho việc diễn đạt  trở nên sâu sắc, phong phú, sinh động, bóng bẩy và tế  nhị. Bằng thế giới hình  ảnh so sánh vừa đa dạng, dồi dào vừa thân thuộc, gần gũi, những ý niệm trừu   tượng, mơ hồ như những cung bậc tình cảm: yêu, ghét…chẳng hạn được cụ  thể một cách độc đáo, sâu sắc và bình dị. Chúng ta sẽ  khám phá được những   SVTH: Phạm Thị Bích Thủy                  2          Lớp: ĐHSP Ngữ Văn – K55
  3. Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT liên tưởng độc đáo, bất ngờ  và lối nói quen thuộc nhưng sắc sảo của người  lao động, từ đó cảm nhận được đặc thù về tư tưởng, tình cảm của họ. Chính vì vậy, tìm hiểu và khảo sát các vấn đề  thuộc thi pháp ca dao mà  cụ thể là biện pháp so sánh nghệ thuật ở các bài ca dao, có trong chương trình   giảng dạy phổ thông là cần thiết và rất có ý nghĩa đối với việc giảng dạy thể  loại này. 2. Lịch sử vấn đề Ca dao là một bộ phận chiếm số lượng lớn nhất trong kho tàng văn học  dân gian Việt Nam, đồng thời cũng được xem là một thể  loại độc đáo nhất.   Là sản phẩm của văn học dân gian – khi công bố mới là khi bắt đầu quá trình   sáng tạo, vì vậy công việc nghiên cứu ca dao tuy không đơn giản nhưng rất  thú vị. Chính vì lẽ đó, đã từ lâu, trong giới nghiên cứu phê bình văn học, ca dao  trở  thành một đề  tài hấp dẫn, phong phú. Đã có nhiều công trình nghiên cứu   tìm hiểu phương diện hình thức biểu hiện của ca dao : ­ “Nhận xét đặc điểm câu mở  đầu trong thơ  ca dân gian”­ Đinh Gia   Khánh. ­  “Những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình”­ Đặng Văn Lung. Dưới góc độ thi pháp học, các công trình nghiên cứu : “Thi pháp ca dao”  của Nguyễn Xuân Kính, “Thi pháp văn học dân gian” của Lê Trường Phát…  cũng đã đề cập đến nhiều vấn đề phương thức biểu hiện của ca dao. Ngoài ra, các đề tài khoá luận, luận văn thạc sỹ, luận văn tiến sỹ cũng có  sự  quan tâm đặc biệt đến thể  loại ca dao với những biểu hiện đa dạng về  mặt hình thức của nó. Tuy vậy, dường như  vẫn chưa có một công trình nào  thực sự  đi sâu nghiên cứu so sánh tu từ. Nói đúng hơn, một số  ít công trình  cũng đề  cập đến vấn đề  so sánh nhưng đặt trong mối tương quan với các   biện pháp tu từ và phương tiện tu từ khác như : ẩn dụ, nhân hoá, cường điệu,  chơi chữ… SVTH: Phạm Thị Bích Thủy                  3          Lớp: ĐHSP Ngữ Văn – K55
  4. Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT Trên cơ  sở  kế  thừa và phát huy những công trình đi trước, em đã thực  hiện bài tiểu luận này với hy vọng góp phần làm phong phú thêm những hiểu  biết về biện pháp tu từ nói chung và so sánh tu từ nói riêng trong ca dao. 3. Đối tượng, mục đích nghiên cứu Trên cơ  sở  xác định một số  vấn đề  lí thuyết liên quan đến đề  tài, tiểu  luận tiến hành khảo sát so sánh tu từ  trong các cuốn sách Tiếng việt  ở  bậc   tiểu học, sách ngữ văn ở bậc trung học. Từ đó tiểu luận nhằm tìm ra những đặc điểm về cấu trúc và giá trị nghệ  thuật của so sánh tu từ trong ca dao. 4. Phạm vi của đề tài Tuy số  lượng ca dao rất phong phú nhưng với giới hạn một tiểu luận,   em chỉ  tiến hành khảo sát việc sử dụng so sánh tu từ trong ca dao ở sách ngữ  văn của chương trình trung học phổ thông. 5. Phương pháp nghiên cứu Trong khi làm đề tài, em đã sử dụng những phương pháp chủ yếu sau: ­ Phương pháp thống kê, phân loại . ­ Phương pháp phân tích , tổng hợp : Phân tích các hiện tượng đồng thời  với quá trình tổng hợp để rút ra những nhận định tổng quát. 6. Đóng góp của đề tài Tiểu luận này góp phần làm sáng tỏ biểu hiện của so sánh tu từ trong ca   dao ở chương trình trung học. Đó là cách sử dụng biến hoá các kiểu cấu trúc   so sánh để  phát huy tác dụng biểu đạt một cách tối đa. Tiểu luận này cũng  góp phần thiết thực hơn vào việc nghiên cứu, giảng dạy ca dao ở trường phổ  thông. 7. Cấu trúc của tiểu luận Ngoài các phần mở  đầu, kết luận, nội dung chính của tiểu luận được  triển khai trong 3 chương: SVTH: Phạm Thị Bích Thủy                  4          Lớp: ĐHSP Ngữ Văn – K55
  5. Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT Chương 1 : Khái quát về  biện pháp nghệ  thuật so sánh,  ẩn dụ, biểu  tượng. Chương 2 : Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao Chương 3 : Ý nghĩa, giá trị  của biện pháp nghệ  thuật so sánh trong ca   dao. SVTH: Phạm Thị Bích Thủy                  5          Lớp: ĐHSP Ngữ Văn – K55
  6. Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT NỘI DUNG Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT SO SÁNH, ẨN DỤ, BIỂU TƯỢNG. A.Khái quát về biện pháp nghệ thuật so sánh. I. So sánh là gì ? Âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc, điêu khắc,…mỗi nghành nghệ thuật đều có  những chất liệu sáng tác riêng, ngôn từ  chính là chất liệu cho sáng tác văn  học. Bao giờ cũng vậy, tác phẩm văn học là nơi lưu giữ  những trăn trở, tâm   tư, tình cảm mà người nghệ  sĩ rất cần được chia sẻ. Thế  nhưng, đã là tình   cảm thì nó thuộc về  thế  giới tinh thần vốn trừu tượng, vô hình và khó diễn   đạt. Vì vậy, để  tăng hiệu quả  tiếp nhận thì người nghệ  sĩ không thể  dùng   ngôn từ  để  diễn đạt hay giải thích suông mà phải biến những cái vốn trừu  tượng đó thành những cái hữu hình, cụ thể: Nhớ ai bổi hổi bồi hồi, Như đứng đống lửa, như ngồi đống than. Đây là tâm trạng của một người khi yêu. Đã có ai nhìn thấy được hình  hài của nỗi nhớ  xem nó gầy béo, to nhỏ  như  thế  nào không? Không và sẽ  không bao giờ có chuyện như thế. Nhớ là cái mà nó mà chỉ có cung bậc, mức   độ. Làm sao mới có thể  nói hết những lo âu, thổn thức của nỗi nhớ. Thế  nhưng vừa đọc qua câu ca dao chúng ta đã hình dung ra ngay nỗi nhớ của nhân  vật trữ  tình qua hai hình  ảnh “đứng đống lửa, ngồi đống than”. Ai đã từng  đứng trên đống lửa, ai đã từng ngồi trên đống than mà không có cảm giác khó  chịu bởi sức nóng móng mãnh liệt đó. Điều đó giúp ta liên tưởng ngay đến tâm trạng của nhân vật trữ tình lúc  bấy giờ. Cũng vì nhớ  nhung mà trong lòng như thiêu, như  đốt, luôn có một trạng   thái không yên. Hay câu ca dao: SVTH: Phạm Thị Bích Thủy                  6          Lớp: ĐHSP Ngữ Văn – K55
  7. Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT Đôi ta như thể con tằm, Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong. Ở câu ca dao này chúng ta không thể hiểu nghĩa nào khác hơn ngoài niềm   hạnh phúc, sự xứng đôi. Từ trong thực tế đời sống, hình ảnh “con tằm” luôn   ăn chung một lá, luôn nằm cùng một nong. Dựa vào sự tương đồng đó tác giả  dân gian đã liên tưởng sang tình yêu của mình lúc này cũng luôn gắn bó, quấn   quýt bên nhau. Rõ ràng, để diễn tả tình cảm của mình thì tác giả  dân gian đã thông qua  những hình ảnh rất cụ thể, rất chân thực. Điều mà tác giả dân gian muốn nói  tới ở đây tất nhiên không phải là đứng trên đống lửa, ngồi trên đống than thì  sẽ nóng như thế nào hay con tằm có đặc điểm ra sao mà dựa vào một vài đặc  điểm, tính chất của hình  ảnh để  liên tưởng đến tình cảm của mình. Nhờ  những hình ảnh đó mà tâm trạng của tác giả dân gian như có hình, có khối cụ  thể  trước mắt chúng ta và vì thế  mà dễ  hiểu, dễ  cảm hơn, hiệu quả  tiếp   nhận cao hơn. Vậy là tác giả dân gian đã sử dụng một biện pháp nghệ thuật.   Đó là so sánh. So sánh cũng là một trong những biện pháp tu từ ngữ nghĩa được cấu tạo  theo quan hệ  liên tưởng. Tuy không có sự  chuyển đổi ý nghĩa nhưng so sánh  được xem là cơ sở của những biện pháp tu từ khác. Qua cách đối chiếu giữa  hai hay nhiều đối tượng, so sánh tìm ra một nét tương đồng nào đó về  hình   thức bên ngoài hay tính chất bên trong của đối tượng. So sánh là một biện pháp nghệ  thuật được sử  dụng phổ  biến không  những trong văn học viết mà còn trong văn học dân gian, đặc biệt là ca dao.  Hơn thế  nữa, trong lời ăn tiếng nói hàng ngày chúng ta cũng thường bắt gặp   biện pháp này. Chính đặc điểm dễ vận dụng đó làm cho so sánh trở nên gần   gũi với cuộc sống của chúng ta. Khác với ẩn dụ, do đặc điểm đối chiếu giữa  nhiều đối tượng nên so sánh được công khai hai vế. Nhờ vậy mà cái cần biểu  đạt thì lại rõ ràng hơn, có tính định hướng hơn. SVTH: Phạm Thị Bích Thủy                  7          Lớp: ĐHSP Ngữ Văn – K55
  8. Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT Trong giới ngôn ngữ học cũng đã có những khái niệm về biện pháp tu từ  so sánh của nhiều tác giả. Nhìn chung các tác giả đều đi đến thống nhất cho   rằng việc đối chiếu giữa nhiều đối tượng để  tìm ra một nét tương đồng nào  đó là nhằm gợi ra những hình  ảnh cụ  thể, những cảm xúc thẩm mỹ  trong   nhận thức của người tiếp nhận. Điều này được thể  hiện qua những ví dụ  trên. Tóm lại, so sánh là một biện pháp nghệ  thuật được sử  dụng phổ  biến,  đặc biệt trong ca dao. Vì được cấu tạo theo quan hệ  liên tưởng dựa trên sự  đối chiếu giữa nhiều đối tượng nên so sánh đã đem lại cho ca dao một kho  tàng hình ảnh thật đồ sộ. Với mục đích nhằm tìm ra một nét tương đồng chứ  không hoàn toàn đồng nhất về  hình thức bên ngoài hay tính chất bên trong   giữa các đối tượng, so sánh đã, mang lại những hình ảnh cụ thể, những cảm   xúc thẩm mỹ  thật sâu sắc cho mỗi chúng ta. Bởi lẽ  nhờ  so sánh tu từ  mà  người ta có thể giải thích, đánh giá, miêu tả hoặc biểu lộ tình cảm của mình   một cách hình ảnh, sinh động, cụ thể. II.Đặc điểm của so sánh. 1. Xét về mặt hình thức Có thể có nhiều cách phân loại hình thức so sánh trong ca dao nhưng dựa  vào từ so sánh chúng ta có hai dạng cơ bản như sau: a. So sánh khi có từ chỉ quan hệ so sánh. Trong ca dao, từ chỉ quan hệ so sánh vô cùng phong phú. Nhưng chúng ta   có thể chia chúng ra thành hai dạng thức: ­ Ở  dạng đồng nhất, bao gồm những từ: bằng, cũng tày, như, tỉ  như,   chừng như, khác nào,là,… ­ Ở dạng không đồng nhất: hơn, không bằng Những từ chỉ quan hệ này đã hiện diện trong ca dao bằng các kết cấu cụ  thể hơn. Điển hình ở hai dạng: SVTH: Phạm Thị Bích Thủy                  8          Lớp: ĐHSP Ngữ Văn – K55
  9. Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT a.1. Cấu trúc so sánh triển khai. Như trên đã trình bày, so sánh khác với ẩn dụ bởi so sánh luôn công khai  hai vế: vế  so sánh (A) và vế  được so sánh (B). Trong cấu trúc triển khai này   vế được so sánh (B) bao giờ cũng được triển khai, miêu tả, giải thích rõ ràng,  cụ  thể  (B’) Không ai có thể  phủ  nhận tính chất trữ  tình, ngọt ngào trong ca   dao Việt Nam. Làm nên đặc trưng đó, thể thơ lục bát đã đóng vai trò rất quan   trọng. Trong kết cấu này, câu lục thường nêu lên nhận định có tính chất khái  quát về đối tượng: A như B (A và B là hai đối tượng dị loại). Còn câu bát thì miêu tả  hay giải thích cụ  thể  một đặc điểm nào đó của  đối tượng theo quan hệ tương đồng bởi (B’). Ví dụ: Đôi ta như rắn lìu điu, (A) như (B) Nước chảy mặc nước ta dìu lấy nhau. (B’) Câu bát mang chức năng nêu rõ đặc điểm của đối tượng. Trong rất nhiều  những đặc điểm mà đối tượng được so sánh có, tác giả  dân gian chọn cho  mình một đặc điểm phù hợp với nội dung cần biểu đạt. Rắn lìu điu hay đá  với dao, mỗi đối tượng được so sánh đều có những đặc điểm riêng. Rắn lì  điu có  những  đặc  điểm như: da trơn, không chân, sống trong môi trường  nước,… nhưng tác giả dân gian đã không đi vào tất cả những đặc điểm đó mà  chỉ dùng môi trường sống của đối tượng để bày tỏ lập trường kiên định, tình   yêu chắc chắn. Cho dù hoàn cảnh có những trở lực như thế nào đi chăng nữa   thì đôi ta vẫn luôn ở bên nhau. Hoặc nói về thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ, ca dao có câu: Thân em như ớt chín cây, Càng tươi ngoài vỏ càng cay trong lòng. Tại sao phải có (B’) trong kết cấu này?. Như đã biết, câu bát làm nhiệm   vụ cụ thể hoá đối tượng. Nếu như chỉ dừng lại ở câu lục thì chẳng ai biết tác   SVTH: Phạm Thị Bích Thủy                  9          Lớp: ĐHSP Ngữ Văn – K55
  10. Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT giả  dân gian muốn nói gì. “Thân em như   ớt chín cây” thì vẫn chưa thể  hiện  được điều gì cả. Nhưng khi đọc qua câu bát thì cảm hứng về  thân phận hẩm hiu của  người phụ nữ lại hiện lên ngay. Vì vậy, có thể  thấy rằng, việc chọn lựa đặc điểm của đối tượng để  triển khai, giải thích phải tuỳ vào tình cảm mà tác giả dân gian muốn giãi bày. a.2. So sánh có kết cấu tương hỗ, bổ sung. Từ  bao đời nay, thiên nhiên vốn là đối tượng để  con người chinh phục.  Nhưng thiên nhiên cũng là dòng thác cảm xúc cho những nhà văn, nhà thơ.  Nhân dân ta rất khéo léo trong việc mượn thiên nhiên để  chia sẻ  bầu tâm sự  của mình. Một câu ca dao ngắn gọn nhưng lại chứa đựng nhiều hình  ảnh  thiên nhiên. Dầu vậy nhưng việc bộc bạch tâm trạng vẫn đảm bảo nhu cầu   thẩm mỹ. Điều này được thể hiện rõ qua cấu trúc so sánh triển khai. Vẫn đảm bảo đặc điểm của so sánh là công khai hai vế  nhưng  ở  đây  mỗi vế lại có sự phong phú về đối tượng rất nhiều. Kết cấu bổ sung trong so   sánh được thực hiện khi đối chiếu một hoặc hai đối tượng cùng lúc với nhiều  sự vật khác nhau. Nếu  ở  so sánh triển khai, câu bát miêu tả, giải thích một đặc điểm nào   đó của đối tượng theo dấu hiệu tương đồng thì  ở  kết cấu này có phần mở  rộng hơn. Các sự vật trong kết cấu bổ sung có thể có những nét tương đồng   hoặc đối lập nhau. Việc vận dụng so sánh trong kết cấu bổ  sung, tác giả  dân gian không  cần phải giải thích hay triển khai đặc trưng của đối tượng. Bản thân của các   đối tượng sẽ có sự tương tác lẫn nhau, bổ sung ý nghĩa cho nhau. Sự liệt kê,  điệp ý trong kết cấu này có tác dụng nhấn mạnh đặc điểm tương đồng hoặc   đối lập của các đối tượng. b. So sánh khi không có từ  chỉ  quan hệ  so sánh (kết cấu đối ngẫu,  kết cấu song SVTH: Phạm Thị Bích Thủy                  10          Lớp: ĐHSP Ngữ Văn – K55
  11. Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT hành). Khác với các kết cấu trên, chúng ta hoàn toàn không bắt gặp một từ chỉ  quan hệ nào ở đây cả. Nhưng nếu vậy thì liệu kết cấu này có đồng nhất với  ẩn dụ hay không? Bởi lẽ  khi muốn hiểu được điều tác giả  dân gian muốn nói thì chúng ta  cũng phải thông qua việc liên tưởng dựa trên những nét tương đồng nào đó  như ẩn dụ. Có thể nói, kết cấu này còn được gọi là so sánh chìm. Vì đây là sự  kết hợp giữa ẩn dụ và so sánh chứ không hoàn toàn là ẩn dụ. Ví dụ: Năng mưa thì giếng năng đầy, Anh năng đi lại mẹ thầy năng thương. Chuông già đồng điếu chuông kêu, Anh già lời nói em xiêu tấm lòng. Qua ví dụ  trên ta thấy, mặc dù không có từ  so sánh nhưng chúng ta vẫn  nhận ra có sự so sánh ở đây. Chủ thể so sánh ở đây chưa ẩn hoàn toàn. Vế (A)  nêu lên những đặc điểm có tính bản chất, quy luật của thiên nhiên. Tính bản  chất đó có nét tương đồng với vế  (B) tức là bức tranh tâm trạng của con  người. Dựa vào nét tương đồng đó mà tác giả  dân gian đã làm nên một đột  phá nghệ thuật thật đáng ngờ. Chính quy luật vững vàng đó của thiên nhiên đã làm cho tâm trạng của  tác giả  dân gian càng tăng sức thuyết phục, tăng khả  năng biểu hiện vượt  bậc. Hơn nữa, nó trở nên gần gũi, thân quen nhờ những quy luật vốn tồn tại   trong cuộc sống mà thiên nhiên đem lại. So với kết cấu so sánh có từ  chỉ  quan hệ  thì kết cấu này tạo khả  năng  liên tưởng rộng rãi hơn. Nếu trong so sánh triển khai hay so sánh bổ sung, đối  tượng vốn có rất nhiều đặc điểm nhưng chỉ được chọn một đặc điểm nào đó  phù hợp với nội dung cần biểu đạt thì ở đây lại khác đi. Chúng ta thấy rõ ràng  khi không có từ chỉ quan hệ thì đồng thời nét tương đồng cũng không bị  giới   SVTH: Phạm Thị Bích Thủy                  11          Lớp: ĐHSP Ngữ Văn – K55
  12. Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT hạn. Tuỳ vào sức liên tưởng của mỗi người mà câu ca dao có những nét nghĩa   gần hay xa nhất định dựa trên đặc tính cố  định của thiên nhiên. Chúng ta  không thể  phủ  nhận ý nghĩa nếu mưa thường xuyên thì giếng nước sẽ  mau   đầy. Nhưng chúng ta cũng không nhất thiết hiểu cách được lòng của mẹ thầy   người yêu mà tác giả dân gian đề cập chỉ đơn thuần là việc thường xuyên đi   lại. Trên đây chỉ là những kết cấu mà em cho rằng nó được biểu hiện rõ ràng   nhất trong ca dao. Tuy việc phân định chỉ   ở  một chừng mực nào đó nhưng  nhìn chung, so sánh có kết cấu rất đa dạng. Những kết cấu này luôn vận động  linh hoạt vào những tình cảm cụ  thể  mà tác giả  dân gian muốn biểu hiện.  Giữa nội dung biểu đạt (tâm trạng, tình cảm,…) và phương thức biểu đạt ( so  sánh) có mối quan hệ  mật thiết với nhau, tương tác lẫn nhau. Một mặt, so   sánh giúp tác giả  dân gian bày tỏ  lòng mình một cách tế  nhị, cụ  thể  và hàm  xúc. Mặt khác, chính nhu cầu biểu hiện tình cảm ngày càng cao của mình, tác  giả  dân gian đã đem lại cho so sánh sự  hoàn thiện hơn, phong phú hơn. Hơn  bao giờ  hết, sự  xuất hiện của cả  một hệ thống hình  ảnh cùng với ánh sáng   muôn màu của kết cấu trong ca dao đã chứng minh khả năng liên tưởng phong  phú cùng óc sang tạo mạnh mẽ của nhân dân ta. 2. Xét về mặt nội dung. Các đối tượng nằm trong hai vế  là khác loại nhưng lại có nét tương   đồng nào đó, tạo thành cơ sở cho so sánh tu từ. 3. Chức năng của so sánh. So sánh tu từ có hai chức năng là nhận thức và biểu cảm. Biện pháp này   giúp cho người nói, người viết diễn đạt được một cách sinh động, cụ  thể,  hình  ảnh điều cần biểu hiện. Mặt khác cũng thể  hiện sự  nhận thức sâu sắc  về đối tượng được nói đến cũng như thái độ, tình cảm đối với đối tượng đó. SVTH: Phạm Thị Bích Thủy                  12          Lớp: ĐHSP Ngữ Văn – K55
  13. Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT B.Khái quát về ẩn dụ và biểu tượng. Với đề tài “ Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao” thì tại sao chúng  taphải tìm hiểu về ẩn dụ và biểu tượng?. Như đã biết, so sánh là một biện pháp nghệ  thuật đã mang lại hiệu quả  cao trong việc biểu hiện tình cảm của nhân dân ta. Thế nhưng, để thấy được  so sánh đã góp phần biểu hiện nội dung như  thế  nào thì chúng ta không chỉ  dựa vào kết cấu là đủ. Bởi lẽ, so sánh là sự kết hợp giữa hình ảnh và kết cấu   để thực hiện chức năng biểu đạt.Và hễ nhắc đến hình ảnh được dùng làm so   sánh thì chúng ta lại càng không thể bỏ qua những hình ảnh mang ý nghĩa ẩn  dụ biểu tượng. Mặc dầu vậy nhưng đây chỉ  là những cơ sở lý thuyết cho việc tìm hiểu   đề  tài. Vì thế  chúng tôi chỉ  đi vào những đặc điểm mà đối tượng góp phần   làm sáng tỏ đề tài. I. Ẩn dụ và biểu tượng – con đường khám phá thế giới tâm hồn. Chắc hẳn ai cũng đã biết, nói đến văn chương là nói đến tính hình tượng.  Những tâm tư, trăn trở mà người nghệ sĩ muốn ký thác vào đứa con tinh thần   của mình đều phải thông qua thế giới hình tượng. Trong ca dao, đó là nhu cầu  biểu hiện tình cảm một cách cụ  thể, hàm súc bằng những hình tượng sinh   động. Và lẽ tất yếu, những hình tượng này có thể trở thành ẩn dụ hoặc biểu  tượng. Như đã biết, ẩn dụ là một biện pháp nghệ thuật cũng được sử dụng rất   phổ  biến không chỉ  trong ca dao mà còn trong văn học. Với đặc điểm không   công khai hai vế như so sánh nhưng ẩn dụ cũng dựa trên sự liên tưởng về nét  tương đồng giữa các đối tượng để  thực hiện việc chuyển nghĩa. Nghĩa của  những hình ảnh ẩn dụ thường mang tính chất bóng gió xa xôi. Thế nhưng đây  là những nét nghĩa không cố  định. Cùng là một hình  ảnh  ẩn dụ  nhưng đặt  trong văn cảnh này chúng lại có nghĩa là (A), đặt trong văn cảnh khác chúng   lại có nghĩa là (B). SVTH: Phạm Thị Bích Thủy                  13          Lớp: ĐHSP Ngữ Văn – K55
  14. Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT Ví dụ: Thuyền đi bến ở đợi chờ, Tình đi nghĩa ở bao giờ quên nhau. Chúng ta đã quá quen thuộc với hình  ảnh “thuyền” và “bến”. Thuyền   thường lênh đênh nay đây mai đó nên thuyền  ở là hình  ảnh ẩn dụ  cho người   con trai. Còn bến cố định nên ẩn dụ cho người con gái. Trong câu ca dao, đó là   tâm nguyện của đôi trai gái yêu nhau. Dù có xa xôi cách trở, nhưng lòng vẫn   luôn hướng về nhau. Nhưng ở câu ca dao khác: Thuyền anh mắc cạn trên đây, Mượn đôi dải yếm làm dây kéo thuyền. Thì “ thuyền” ở đây lại là cái cớ để cho người con trai tỏ tình. Hay: Thuyền ai mà đậu giữa dòng, Tuy ngoài ván tốt, trong lòng ván hư. Cũng bằng hình ảnh chiếc ấy nhưng ở đây tác giả dân gian muốn nói lên   phẩm chất thật sự bên trong của người con trai qua vẻ bề ngoài tốt đẹp. Như vậy, nghĩa của ẩn dụ tự do và linh hoạt hơn. Luôn biến đổi tuỳ vào  những ngữ  cảnh nhất  định. Khác với  ẩn dụ, biểu tượng mang những nét  nghĩa cố định hơn, bền vững hơn. Qúa trình hình thành nghĩa biểu tượng là rất lâu dài. Khi hình ảnh ẩn dụ  được sử dụng đi sử dụng lại nhiều lần và dần tạo thành nét nghĩa cố định thì   lúc đó ta có biểu tượng. Nghĩa biểu tượng tồn tại trong tâm trí của chúng ta  rất vững vàng, cố  định. Chẳng hạn khi nói đến hình tượng “rồng – mây”,   “trúc – mai” thì chúng ta liên tưởng ngay đến người con trai và người con gái.  Cho dù ẩn dụ và biểu tượng mang nét nghĩa cố định hay linh hoạt thì đây cũng   là những phương tiện nghệ thuật chủ yếu trong ca dao nói riêng, văn học nói  chung. SVTH: Phạm Thị Bích Thủy                  14          Lớp: ĐHSP Ngữ Văn – K55
  15. Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT Đối với người nghệ sĩ, đây là những con đường thể  hiện tâm hồn mình  một cách cụ thể, thẩm mỹ mà lại không kém phần sâu sắc. Đối với chúng ta,  những người khám phá vẻ  đẹp tâm hồn đó thì  ẩn dụ  và biểu tượng là chìa  khoá để  mở  cách cửa bí mật của trái tim. Những cái vốn rất khó nói hoặc  không thể nói ra bằng lời được thì giờ chẳng những nói ra được mà nó còn đi   vào trong sâu thẳm trái tim của người tiếpnhận. Vì đều là những hình ảnh mang nghĩa bóng nên ẩn dụ  và biểu tượng đã  làm tăng khả năng liên tưởng của con người, đặc biệt là người tiếp nhận. Có  thể  nói, so sánh đã sử  dụng với mật độ  cao những hình  ảnh  ẩn dụ  và biểu   tượng. Từ những hình ảnh đơn lẻ  đến những hình ảnh sóng đôi. Nhờ  những   hình  ảnh này mà so sánh mới có thể giúp tác giả  dân gian thể hiện tình cảm   của mình một cách cụ  thể, bóng bẩy và chân thật như  nó vốn có. Chính vì   không chỉ  có kết cấu mà so sánh còn sử  dụng những hình  ảnh  ẩn dụ  , biểu   tượng nên chúng có mối quan hệ rất mật thiết với nhau. Cùng tương tác vào  nhau nhằm thực hiện một mục đích chung là làm rõ cái cần biểu đạt. II. Nguồn gốc và phân loại biểu tượng. 1. Nguồn gốc của biểu tượng Như chúng ta đã biết, văn học nghệ thuật là tài sản tinh thần vô giá của   bất kỳ  một dân tộc nào. Ca dao Việt Nam nói riêng, là tiếng nói tâm tình, là  lời ca ngọt ngào cất lên từ đồng ruộng, từ luỹ tre làng, từ những cuộc đối đáp   giao duyên,… Ở đó, nhân dân ta đã trao gửi biết bao niềm vui, nỗi buồn hay  sự  vất vả  nhọc nhằn trong cuộc sống. Nhu cầu bộc lộ tình cảm là chủ  yếu   trong ca dao. Nhưng điều đó không có nghĩa là người nghệ  sĩ muốn giãi bày  như thế nào cũng được. Bở lẽ, làm nghệ thuật cũng là một hình thức tư duy.  Họ  phải tìm cho mình cách biểu đạt như  thế  nào thật ngắn gọn nhưng lại   hàm xúc và chuyển tải hết điều muốn nói. Đó không còn cách gì khác ngoài   “hình tượng”. Chúng ta vẫn nhận định, ca dao Việt Nam có hệ  thống hình  SVTH: Phạm Thị Bích Thủy                  15          Lớp: ĐHSP Ngữ Văn – K55
  16. Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT tượng vô cùng phức tạp. Trải qua quá trình sử dụng những hình tượng ấy dần   định hình và trở nên cố định. Vậy thế giới đó có nguồn gốc từ đâu? Theo tác giả  Nguyễn Thị  Ngọc Điệp thì biểu tượng trong ca dao Việt  Nam có thể  xuất phát từ  phong tục tập quán của người Việt Nam, từ  quan  niệm tín ngưỡng dân gian. Ở nhóm này, ta có các biểu tượng: trầu – cau, cây   đa…Trong ca dao, so sánh đã sử  dụng nhiều những biểu tượng thuộc nhóm  này và nhiều hơn hết đó là biểu tượng “trầu – cau”. Với ý nghiã, giá trị truyền   thống bề  vững, nhưng biểu tượng trên đã được so sánh đưa vào ca dao với  những chức năng biểu hiện tình cảm riêng. Mặc dù vậy, nhưng với nguồn   gốc xuất phát đó, biểu tượng “trầu – cau, cây đa” đã góp phần tô đậm màu   sắc dân tộc đậm đà cho ca dao Việt Nam.   Bên cạnh đó, tác giả  cũng cho   rằng, những biểu tượng trong ca dao Việt Nam còn xuất phát từ  văn học cổ  Việt Nam và Trung Quốc. Những biểu tượng thuộc nhóm văn học cổ Việt Nam là tên của các nhân  vật xuất phát từ nền văn học cổ Việt Nam: Thuý Kiều – Kim Trọng (Truyện  Kiều – Nguyễn Du), Lục Vân Tiên – Nguyệt Nga (Lục Vân Tiên – Nguyễn  Đình Chiểu),…Đáng chú ý  ở  nhóm này là Truyện Kiều của Nguyễn Du. Và  cũng như những nhân vật khác, Thuý Kiều – Kim Trọng trở thành biểu tượng   của tình yêu, của lòng thuỷ chung son sắc. Đó còn là những biểu tượng xuất phát từ văn học cổ Trung Quốc. Những   biểu tượng: dây tơ hồng, chỉ thắm, ông Tơ bà Nguyệt,…là những biểu tượng   của tình yêu. Tuy nhiên   những biểu tượng xuất phát từ  sự  quan sát trực tiếp hàng  ngày của nhân dân ta đã được sử dụng với mật độ  cao hơn, chiếm số  lượng  lớn nhất trong những hình  ảnh so sánh dùng làm  ẩn dụ  và biểu tượng. Điều  này làm cho ca dao như một môi trường sống thu nhỏ mà tâm hồn năng động,  tinh tế  của nhân dân ta là mạch sống để  nuôi môi trường  ấy càng xanh tốt.   Như  vậy, tuy giới hạn trong khuôn khổ  của biện pháp so sánh nhưng ca dao  vẫn chứng minh được môi trường sống hàng ngày chính là nguồn cảm xúc vô  SVTH: Phạm Thị Bích Thủy                  16          Lớp: ĐHSP Ngữ Văn – K55
  17. Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT tận để  tác giả  dân gian bày tỏ  lòng mình. Những hình tượng dù bình thường  nhất, đơn giản nhất đều có thể  bước vào ca dao. Việc tìm hiểu nguồn gốc   của biểu tượng được xem như  một phương tiện để  tìm hiểu ca dao. Bởi lẽ  trong so sánh, tác giả dân gian đã su dụng những hình tượng đó với mục đích   gì?. Câu hỏi đó đặt ra nhằm giúp chúng ta đến đích cuối cùng là tâm tư, tình  cảm của nhân dân ta được thể hiện như thế nào qua biện pháp so sánh. 2. Phân loại biểu tượng. Có thể nói, để bộc lộ  cho tâm tình của mình thì nhân dân ta đã sử  dụng   một hệ thống hình tượng đa dạng. Hiện thực khách quan chính là môi trương  màu mỡ  cho thế  giới  ấy phát triển. Cũng đã có nhiều bài viết về  việc phân  loại biểu tượng. Điển hình là cách phân loại của tác giả  Nguyễn Xuân Kính và Nguyễn   Thị Ngọc Điệp. a. Thế giới các hiện tượng thiên nhiên, tự nhiên. ∙ Các hiện tượng tự nhiên (trăng, sao, mây, gió,…) ∙ Những hình ảnh biểu tượng thuộc về thế giới thực vật. ∙ Những hình ảnh biểu tượng thuộc về thế giới động vật b. Thế giới các vật thể nhân tạo. ∙ Các đồ dùng cá nhân. ∙ Các dụng cụ sinh hoạt gia đình. ∙ Các dụng cụ sản xuất. ∙ Các công trình kiến thiết. Bên cạnh đó, từ việc xác định nguồn gốc của biểu tượng mà chúng ta có   nhóm phân loại. c. Những hình ảnh biểu tượng thuộc về thế giới con người. ∙ Những biểu tượng xuất phát từ phong tục tập quán của nười Việt nam ∙ Những biểu tượng xuất phát từ văn học Việt Nam và Trung Quốc. ∙ Bộ phận cơ thể người. ∙ Điển tích, điển cố liên quan đến tên người. SVTH: Phạm Thị Bích Thủy                  17          Lớp: ĐHSP Ngữ Văn – K55
  18. Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT Có thể thấy, đây là cách phân loại có khả  năng bao quát cao. Tuy nhiên,  dù cho chúng ta có những cách phân loại như  thế  nào đi chăng nữa thì mục   đích cuối cùng cũng là nhằm tìm ra cái hay, cái đẹp của ca dao, đặc biệt trong   biện pháp so sánh. Chương 2: BIỆN PHÁP NGHỆ THUẬT SO SÁNH TRONG CA DAO A. Thống kê những bài ca dao có trong chương trình các cấp học I. Thống kê ca dao có sử  dụng biện pháp nghệ  thuật so sánh trong  phân môn tập đọc ở tiểu học 1. Thống kê theo sự xuất hiện trong sách giáo khoa • Tiếng Việt 3, tập 1, trang 97. • Tiếng Việt 5, tập 1, trang 168,169. 2.  Thống kê theo chủ đề của ca dao. • Cảnh đẹp non sông ( Tiếng Việt 3, tập 1, trang 97) − Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.. • Ca dao về lao động sản xuất (Tiếng Việt 5, tập 1, trang 168,169): ­ Cày đồng đang buổi ban trưa Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày. Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần. . SVTH: Phạm Thị Bích Thủy                  18          Lớp: ĐHSP Ngữ Văn – K55
  19. Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT II. Thống kê cao dao có sử dụng biện pháp nghệ thuật so sánh trong  chương trình môn Ngữ văn ở THCS 1. Thống kê theo sự xuất hiện trong sách giáo khoa ∙ Ngữ văn 7, tập 2, trang 35, 37, 38 2. Thống kê theo chủ đề của ca dao ∙ Ca dao, dân ca những câu hát về tình cảm gia đình ( Ngữ văn 7, tập 1,trang 35, 37) ­ Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông. Núi cao biển rộng mênh mông, Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi! − Ngó lên nuộc lạt mái nhà, Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu. − Anh em nào phải người xa, Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân. Yêu nhau như thể tay chân, Anh em hòa thuận, hai tay vui vầy. − Ơn cha nặng lắm ai ơi, Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang. − Cây khô chưa dễ mọc chồi, Bác mẹ chưa dễ ở đời với ta; Non xanh bao tuổi mà già Bởi vì sương tuyết hóa ra bạc đầu. − Con người có cố, có ông, SVTH: Phạm Thị Bích Thủy                  19          Lớp: ĐHSP Ngữ Văn – K55
  20. Biện pháp nghệ thuật so sánh trong ca dao ở chương trình THPT Như cây có cội, như sông có nguồn. − Anh em như chân với tay Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần. − Lên non mới biết non cao Nuôi con mới biết công lao mẹ thầy − Ân cha lành cao như núi Thái, Đức mẹ hiền sâu tựa biển khơi, Dù cho dâng trọn một đời, Cũng không trả hết ân người sinh ta. − Cây xanh thì lá cũng xanh Cha mẹ hiền lành để đức cho con. − Có cha có mẹ thì hơn Không cha không mẹ như đàn đứt dây Còn cha gót đỏ như son, Đến khi cha mất gót con đen sì. Con có cha như nhà có nóc Con không cha như nòng nọc đứt đuôi. −  Con ho lòng mẹ tan tành, Con sốt lòng mẹ như bình nước sôi. −  Đố ai đếm được lá rừng Đố ai đếm được mấy tầng trời cao Đố ai đếm được vì sao SVTH: Phạm Thị Bích Thủy                  20          Lớp: ĐHSP Ngữ Văn – K55

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản