intTypePromotion=3

Sáng kiến kinh nghiệm: Tích hợp giáo dục môi trường cho học sinh thông qua bài tập thực tiễn về môi trường chương Nitơ - Photpho Hoá học 11 nâng cao

Chia sẻ: Nguyễn Tiến Dũng Dũng | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:23

0
182
lượt xem
57
download

Sáng kiến kinh nghiệm: Tích hợp giáo dục môi trường cho học sinh thông qua bài tập thực tiễn về môi trường chương Nitơ - Photpho Hoá học 11 nâng cao

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Giáo dục môi trường là rất cần thiết để làm cơ sở cho nhận thức và hành vi có trách nhiệm của cá nhân và tổ chức trong việc bảo vệ và cải thiện môi trường. Giáo dục môi trường là một trong những biện pháp hiệu quả giúp con người có nhận thức đúng trong việc khai thác, sử dụng và bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường. Nhằm giúp các bạn hiểu hơn về vấn đề này, mời các bạn cùng tham khảo nội dung bài sáng kiến kinh nghiệm "Tích hợp giáo dục môi trường cho học sinh thông qua bài tập thực tiễn về môi trường chương Nitơ - Photpho Hoá học 11 nâng cao". Hy vọng đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho các bạn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm: Tích hợp giáo dục môi trường cho học sinh thông qua bài tập thực tiễn về môi trường chương Nitơ - Photpho Hoá học 11 nâng cao

  1. Sáng kiên kinh nghiệm năm học 2013­2014 MỤC LỤC NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN  TRANG A. ĐẶT VẤN ĐỀ 2 B. NỘI DUNG 3 PHẦN 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3 I.  Giáo dục môi trường 3 1. Quan niệm về giáo dục môi trường  3 2. Mục tiêu giáo dục môi trường ở trường phổ thông  3 3. Nội dung giáo dục môi trường ở trường phổ thông  3 4. Phương pháp giáo dục môi trường  5 II. Dạy học tích hợp và việc vận dụng giáo dục môi trường trong  5 giảng dạy Hoá học  1. Dạy học tích hợp 5 2.   Các   nguyên   tắc   cơ   bản   khi   tích   hợp   giáo   dục   môi   trường  5 thông qua môn hoá học ở trường phổ thông 3. Các hình thức  áp dụng dạy học tích hợp  để  giáo dục môi  6 trường trong dạy học hoá học ở trường phổ thông PHẦN 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ: Sử  dụng bài tập hoá học có nội  dung  liên quan  đến môi trường trong dạy học hóa học   ở  trường  6 trung học phổ thông 1. Mục đích điều tra 6 2. Nội dung điều tra 6 3. Đối tượng điều tra 7 4. Phương pháp điều tra 7 5. Kết quả điều tra 7 6. Đánh giá kết quả điều tra 8 PHẦN 3: GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN: HỆ THỐNG BÀI  TẬP THỰC TIỄN VỀ MÔI TRƯỜNG CHƯƠNG NITƠ ­ PHOTPHO  8 LỚP 11 BAN KHTN 1. Nguyên tắc xây dựng 8 2. Bài tập có nội dung về môi trường chương Nitơ ­ Photpho 9 PHẦN 4: KIỂM NGHIỆM 17 I. Mục đích của thực nghiệm sư phạm 17 II. Nội dung thực nghiệm sư phạm 17 III. Phương pháp thực nghiệm. 17 1. Chọn mẫu thực nghiệm  17 2. Phương pháp kiểm tra và xử lý kết quả thực nghiệm 18 C. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 19 1. Kết quả đạt được của đề tài 19 Nguyễn Tiến Dũng ­ Trường THPT Nga Sơn 1
  2. Sáng kiên kinh nghiệm năm học 2013­2014 2. Kết luận 19 3. Một số đề xuất 19 LỜI KẾT 20 TÀI LIỆU THAM KHẢO 21 A. ĐẶT VẤN ĐỀ Trong mấy thập niên gần đây, sự phát triển kinh tế ồ ạt dưới tác động của  cách mạng khoa học kĩ thuật và sự  gia tăng dân số  quá nhanh đã làm cho môi   trường bị  biến đổi chưa từng thấy: nhiều nguồn tai nguyên thiên nhiên b ̀ ị  vắt   kiệt, nhiều hệ  sinh thái bị  tàn phá mạnh, nhiều cân bằng trong tự  nhiên bị  rối  loạn,… Môi trường trở  thành một vấn đề  đã và đang thu hút sự  quan tâm của   toàn thế giới.   Con người phải làm gì can thiệp để  bảo vệ  cái nôi sinh thành của mình?  Con người phải hành động, thực hiện hàng loạt các vấn đề phức tạp, trong đó có  vấn đề Giáo dục Môi trường (GDMT).  GDMT là rất cần thiết để  làm cơ  sở  cho nhận thức và hành vi có trách   nhiệm   của   cá   nhân  và   tổ   chức   trong   việc   bảo   vệ   và  cải   thiện  môi  trường.  GDMT là một trong những biện pháp hiệu quả    giúp con người có nhận thức   đúng trong việc khai thác, sử dụng và bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ  môi trường.  Việc GDMT trong nhà trường phổ  thông chiếm một vị  trí đặc biệt, nhà  trường là nơi đào tạo ra thế  hệ  trẻ, những người chủ  tương lai của đất nước  thực hiện việc sử dụng các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường. GDMT cho  thế hệ trẻ là việc làm có tác dụng rộng lớn nhất, sâu sắc và lâu bền nhất. Thực tế   ở  nước ta việc lông ghep n ̀ ́ ội dung GDMT vào chương trình các  môn học  ở  trương phô thông  ̀ ̉  còn ít và sơ  sài, vì vậy những hiểu biết về  môi  trường và ý thức BVMT của học sinh còn hạn chế. Hoá học là khoa học thực nghiệm, có liên quan nhiều đến những biến đổi  trong tự  nhiên, thực tiễn sản xuất và đời sống. Vì vậy, hoá học có điều kiện   thuận lợi để giáo dục môi trường cho học sinh. Với những nét đặc thù riêng của  mình hoá học có vai trò rất quan trọng trong việc giải thích và cải tạo các hiện  tượng trong thực tiễn. Qua đó giúp cho mỗi chúng ta có ý thức hơn về việc bảo  vệ môi trường. Trong giảng dạy hoá học ở  trường phổ thông nếu chúng ta khai  thác được kiến thức lồng ghép những hiện tượng trong thực tế, bài tập về  bảo   Nguyễn Tiến Dũng ­ Trường THPT Nga Sơn 2
  3. Sáng kiên kinh nghiệm năm học 2013­2014 vệ  môi trường trong chính bài học sẽ  làm cho giờ  học trở  nên sinh động, học   sinh trở nên yêu và hứng thú với môn học, từ đó có được kiến thức, thái độ  tình  cảm, ý thức BVMT sâu sắc. Với những lí do trên tôi chọn đề tài: “Tích hợp giáo dục môi trường cho   học sinh thông qua bài tập thực tiễn về môi trường chương Nitơ  ­ Photpho   Hoá Học 11 nâng cao” lam đê tai sang kiên kinh nghiêm cua minh ̀ ̀ ̀ ́ ́ ̣ ̉ ̀ B. NỘI DUNG PHẦN 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN I.  Giáo dục môi trường 1. Quan niệm về giáo dục môi trường  Giáo dục môi trường (GDMT) đã có một lịch sử  phát triển lâu dài. Đặc  biệt trong khoảng 10 năm gần đây kể từ  khi Uỷ ban thể giới về môi trường và   phát triển công bố  báo cáo “tương lai của chúng ta” thì GDMT được nhắc đến   một cách thường xuyên trong các diễn đàn quốc tế, quốc gia cũng như tại các địa  phương, cơ sở giáo dục, nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh và cơ quan quản lí. GDMT cũng được quan niệm là: “Một quá trình thường xuyên qua đó con  người nhận thức được MT của họ  và thu được kiến thức, giá trị, kĩ năng, kinh   nghiệm cùng quyết tâm hành động giúp học giải quyết các vấn đề  MT hiện tại  và tương lai, để  đáp  ứng các yêu cầu của thế  hệ  hiện nay mà không vi phạm  khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai”  2. Mục tiêu giáo dục môi trường ở trường phổ thông  GDMT không phân biệt cho từng loại đối tượng, vì thế mục tiêu GDMT ở  cấp học nói chung và trường trung học phổ thông nói riêng có mục tiêu đem lại  cho đối tượng các vấn đề sau: a. Kiến thức:  Hiểu biết bản chất các vấn đề  về  MT như  tính phức tạp, quan hệ  nhiều   mặt nhiều chiều, tính hạn chế  của tài nguyên thiên nhiên và khả  năng chịu tải   của MT, quan hệ  chặt chẽ  giữa MT và phát triển, giữa MT địa phương, vùng,  quốc gia với MT khu vực và toàn cầu. b. Kỹ năng, thái độ ­ Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề  MT như  một   nguồn lực để  sinh sống, lao động và phát triển, đối với bản thân cũng như  đối   với cộng đồng, quốc gia của họ và quốc tế, từ đó có thái độ, cách ứng xử  đúng  đắn trước các vấn đề  MT, xây dựng cho mình quan niệm đúng đắn về  ý thức   Nguyễn Tiến Dũng ­ Trường THPT Nga Sơn 3
  4. Sáng kiên kinh nghiệm năm học 2013­2014 trách nhiệm, về  giá trị  nhân cách để  hình thành các kỹ  năng thu thập số  liệu và   phát triển sự đánh giá môi trường xung quanh. ­ Tri thức, kĩ năng, phương pháp hành động để  nâng cao năng lực trong   việc lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng một cách hợp lí các   nguồn tài nguyên thiên nhiên để họ có thể tham gia có hiệu quả vào việc phòng   ngừa và giải quyết các vấn đề MT cụ thể nơi họ ở và làm việc. 3. Nội dung giáo dục môi trường ở trường phổ thông  a. Các nội dung cơ bản ­ Các nguồn năng lượng với vấn đề môi trường. ­ Chất thải và ô nhiễm môi trường ­ Các vấn đề gay cấn của môi trường toàn cầu (nóng lên toàn cầu, phá hủy   tầng ozon, El Nino và La Nina,…). ­ Các biện pháp bảo vệ môi trường. ­ Ý thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường b. Một số hình thức phổ biến tổ chức các hoạt động GDMT *  Hoạt động ở trên lớp   Thông qua môn học trong chính khoá, có các biện pháp sau: + Phân tích những vấn đề MT ở trong trường học. + Khai thác thực trạng MT đất nước, làm cơ  sở  để  xây dựng bài học   GDMT. + Xây dựng bài tập xuất phát từ  kiến thức môn học, nhưng gắn liền với   thực tế địa phương. + Sử  dụng các phương tiện dạy học làm nguồn tri thức được "vật chất  hoá" như  là điểm tựa, cơ  sở  để  phân tích, tìm tòi, khám phá các kiến thức cần  thiết về MT. + Sử dụng các tài liệu tham khảo (các bài báo, các đoạn trích trong các sách  phổ biến khoa  học, các tư liệu, số liệu mới điều tra, công bố, các ảnh chụp, các  đoạn video…) để làm rõ thêm về vấn đề MT. + Thực hiện các tiết học có nội dung gần gũi với MT  ở  ngay chính trong  một địa điểm thích hợp của MT như  sân trường, vườn  trường,   đồng ruộng,  điểm dân cư tập trung… *  Hoạt động ở ngoài lớp + Tìm hiểu vấn đề BVMT ở địa phương. + Tham gia tuyên truyền, vận động thực hiện BVMT (chiến dịch truyền  thông). + Tham gia các chiến dịch xanh hoá trong nhà trường: thực hiện việc trồng   cây, quản lý và phân loại rác thải. + Tham quan, cắm trại, trò chơi để  có sự  gần gũi và hiểu biết hơn về môi  trường. Nguyễn Tiến Dũng ­ Trường THPT Nga Sơn 4
  5. Sáng kiên kinh nghiệm năm học 2013­2014 + Theo dõi diễn biến của MT tại địa phương (xử lý nước thải, rác thải, vệ  sinh công cộng, bảo vệ thắng cảnh,…). + Tổ chức các câu lạc bộ, thành lập các nhóm hoạt động MT. + Tổ chức các cuộc thi có nội dung GDMT, thi các bài tìm hiểu thiên nhiên,  MT. + Tổ chức thi tái chế, tái sử dụng vật liệu phế thải. + Hoạt động phối hợp với gia đình, cộng đồng và hội cha mẹ học sinh. c. Nội dung và địa chỉ  tích hợp giáo dục bảo vệ  môi trường chương Nitơ  ­   Photpho lớp 11 nâng cao ­ Tính độc hại của một số hợp chất chứa nitơ đối với sức khỏe con người: + Các hợp chất của nitơ: NH3, NOx, NO3­. + Photpho và các hợp chất của photpho. ­ Những chất thải trong quá trình tiến hành thí nghiệm tính chất, điều chế  các đơn chất, hợp chất nitơ, photpho. ­ Vai trò của nitơ và photpho đối với đời sống con người. ­ Các hiện tượng tự nhiên có lợi cho môi trường sinh thái. ­ Tình trạng phá hủy tầng ôzon do các hóa chất như  cloflocacbon (CFC), do   khí thải chứa NO… ­ Trách nhiệm của học sinh và cộng đồng với việc bảo vệ tầng ôzon. ­  Hiện tượng mưa axit và tác hại của nó do trong các khí thải chứa các tác  nhân như: NO, NO2. ­ Sự dư thừa của phân bón hóa học trong đất. 4. Phương pháp giáo dục môi trường  a. Phương pháp tiếp cận ­ Tích hợp các kiến thức về giáo dục bảo vệ môi trường vào môn học theo  mức độ: toàn phần, bộ phận và mức độ liên hệ. ­ Thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp và các chủ đề tự chọn. ­ Thông qua hoạt động ngoại khoá. b. Phương pháp thực nghiệm ­ Phương pháp liên quan, điều tra khảo sát, thực địa. ­ Phương pháp thảo luận, nêu và giải quyết vấn đề. ­ Giảng giải, giải thích – minh hoạ. ­ Phương pháp dạy học thực nghiệm. ­ Phương pháp hợp tác và liên kết giữa các nhà trường và cộng đồng địa  phương trong hoạt động về GDMT. II. Dạy học  tích hợp và việc vận dụng giáo dục môi trường trong   giảng dạy Hoá học  1. Dạy học tích hợp Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có   hệ thống ở những mức độ khác nhau các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác   Nguyễn Tiến Dũng ­ Trường THPT Nga Sơn 5
  6. Sáng kiên kinh nghiệm năm học 2013­2014 nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất dựa trên cơ sở  các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các  hợp phần của bộ môn đó. Quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những   năng lực rõ ràng, góp phần hình thành và phát triển tư duy cho học sinh. Năng lực này  là một hoạt động phức hợp đòi hỏi sự  tích hợp các kiến thức và kĩ năng để  giải  quyết những tình huống cụ thể. Tích hợp giáo dục môi trường trong môn hoá học là kết hợp một cách có  hệ  thống các kiến thức hoá học với giáo dục môi trường, làm cho chúng hoà  quyện vào nhau thành một thể thống nhất. 2. Các nguyên tắc cơ bản khi tích hợp giáo dục môi trường thông qua môn  hoá học ở trường phổ thông Quá trình khai thác các hình thức GDMT cần phải đảm bảo ba nguyên tắc cơ   bản: ­ Không làm thay đổi tính đặc trưng môn học, không biến bài học của bộ  môn thành bài GDMT. ­ Khai thác nội dung GDMT có chọn lọc, có tính tập trung vào những  chương mục nhất định. ­ Phát huy cao độ  các hoạt động tích cực nhận thức của học sinh và các  kinh nghiệm thực tế  các em đã có, vận dụng tối đa mọi khả  năng để  cho học   sinh tiếp xúc trực tiếp với môi trường. 3. Các hình thức áp dụng dạy học tích hợp để  giáo dục môi trường trong   dạy học hoá học ở trường phổ thông a. Thiết kế bài giảng tích hợp giáo dục môi trường ­ GV phải thiết kế cụ thể các thao tác, các hoạt động tổ chức cho học sinh  thực hiện trong giờ  học nhằm hướng dẫn học sinh từng bước tiếp cận, chiếm   lĩnh  kiến thức một cách tích cực, sáng tạo. ­ Chuẩn bị đồ dùng dạy học phù hợp. ­ GV nghiên cứu kĩ và khai thác nội dung có yếu tố môi trường cần truyền  đạt cho học sinh. b.  Xây dựng các bài tập thực tiễn tích hợp giáo dục môi trường Không khí, đất và nước bị  ô nhiễm, không những gây tác hại đến sức   khoẻ  con người và đời sống động thực vật, mà còn phá hoại những công trình  xây dựng như: cầu, cống, di tích lịch sử.... Vấn đề đang đặt ra là phải xử lí khí thải của các nhà máy, các lò đốt, các  phương tiện giao thông, xử lí các nguồn nước của các nhà máy công nghiệp như:   nhà máy bia, nhà máy hoá chất, nước thải sinh hoạt   như  thế  nào để  hạn chế  đến mức thấp nhất việc đưa vào khí quyển, và nước những tác nhân có hại. Bảo   vệ  môi trường nước, môi trường không khí trong sạch là nhiệm vụ  của mỗi  người, của mỗi quốc gia trên hành tinh chúng ta. Chính vì vậy mà giáo dục cho   học sinh ý thức trách nhiệm, bảo vệ  môi trường, không chỉ  có  bộ  môn môi  Nguyễn Tiến Dũng ­ Trường THPT Nga Sơn 6
  7. Sáng kiên kinh nghiệm năm học 2013­2014 trường mà cần thiết có ở  bộ  môn hoá học,vì hoá học giải thích được bản chất,  hiện tượng của ô nhiễm môi trường và cả những phương hướng khắc phục. Bài tập là phương tiện cơ bản để  luyện tập, củng cố, hệ  thống hoá, mở  rộng, đào sâu kiến thức và củng cố  phương tiện để  kiểm tra, đánh giá, nghiên  cứu học sinh về  các khả  năng như: trình độ  tư  duy, mức độ  nắm vững kiến   thức, kỹ năng, tư duy liên hệ kiến thức vào thực tiễn...  Có nhiều hình thức tổ  chức thực hiện, tuyên truyền giáo dục môi trường.   Trong các hình thức đó thì thiết kế những bài tập có nội dung về môi trường là một  trong những cách gắn liền hoá học với giáo dục ý thức tìm hiểu về môi trường và  bảo vệ môi trường. Trong các hình thức trên tôi nhận thấy rằng việc tích hợp, lồng ghép bài   tập hóa học về môi trường vào các tiết dạy là phù hợp và mang lại hiệu quả cao  nhất trong điều kiện các trường phổ thông hiện nay PHẦN 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ: Sử  dụng bài tập hoá học có nội dung liên quan đến môi trường  trong dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông 1. Mục đích điều tra ­ Tìm hiểu hứng thú của học sinh với bộ môn hoá học. ­ Cách và mức độ  sử  dụng bài tập hoá học có nội dung liên quan đến môi  trường. 2. Nội dung điều tra ­ Điều tra hứng thú của học sinh về học hoá học ở trường THPT. ­ Điều tra về việc sử dụng các bài tập hoá học có nội dung liên quan đến  môi trường ở trường THPT. 3. Đối tượng điều tra ­ Các giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn hoá học  ở  trường THPT Nga   Sơn. ­ Học sinh ở trường THPT Nga Sơn. 4. Phương pháp điều tra ­ Gặp gỡ trực tiếp giáo viên và học sinh một số trường THPT. ­ Gửi và thu phiếu điều tra cho giáo viên, học sinh ­ Dự giờ của một số giáo viên dạy hoá ở trường THPT Nga Sơn 5. Kết quả điều tra Tiến hành điều tra học sinh trung học phổ thông theo mẫu Nguyễn Tiến Dũng ­ Trường THPT Nga Sơn 7
  8. Sáng kiên kinh nghiệm năm học 2013­2014 Giáo viên: Nguyễn Tiến Dũng PHIẾU THĂM DÒ Điện thoại: 0966068456 (Sử dụng cho học sinh) 1. Em có thích học môn hóa học không? + Có: + Không: 2. Lí do em thích học môn hóa học? + Vì hoá học gắn liền với thực tiễn:  + Lí do khác 3. Em thích bài tập hoá học có nội dung liên quan đến môi trường không? + Có:                                   + Không * Kết quả được tổng hợp như sau: ­ Thích học môn hoá : (176/187) ­ Lí do thích học môn hoá: Vì hoá học gắn liền với thực tiễn ( 160/187 ) ­ Thích bài tập hoá học có nội dung liên quan đến môi trường: (165/187) Tiến hành điều tra giáo viên theo mẫu: Giáo viên: Nguyễn Tiến Dũng PHIẾU THĂM DÒ Điện thoại: 0966068456 (Sử dụng cho giáo viên) 1. Sử dụng bài tập có nội dung liên quan với môi trường trong giảng dạy của  thầy (cô) ở mức độ nào? + Thường xuyên:  + Thỉnh thoảng:  + Ít khi:    + Chưa bao giờ:  2. Ý kiến của thầy (cô) về việc sử dụng bài tập hoá học có nội dung liên quan  đến thực tiễn, môi trường + Cần thiết:               + Không cần thiết:   + Ý kiến khác: Bảng 1 :  Kết quả điều tra về mưc độ sử dụng loại bài tập có nội dung liên   quan với môi trường của giáo viên Chưa bao  Thường xuyên Thỉnh thoảng ít  khi giờ Kết quả 7/ 15 5/ 15 3/ 15 0/ 15 Tỉ lệ 46,67% 33,33% 20% 0% Bảng 2 : Kết quả về ý kiến sử dụng bài tập hoá học có nội dung liên quan   đến thực tiễn đối với giáo viên THPT Cần thiết Không cần thiết ý kiến khác Nguyễn Tiến Dũng ­ Trường THPT Nga Sơn 8
  9. Sáng kiên kinh nghiệm năm học 2013­2014 Kết quả 15/15 0 0 Tỉ lệ 100% 0 0 6. Đánh giá kết quả điều tra Qua số liệu ở các bảng thu được, chúng tôi nhận thấy: ­ Đối với giáo viên, việc sử dụng bài tập Hoá học có nội dung liên quan đến  môi trường còn hạn chế. Nếu có sử dụng cũng chỉ ở mức độ khiêm tốn. ­ Hầu hết các ý kiến của giáo viên và học sinh cho rằng cần thiết phải có  bài tập Hoá học có nội dung liên quan đến môi trường trong khi giảng dạy hoá  học ở trường trung học phổ thông. ­ Hầu hết các học sinh đều hứng thú với những bài tập có nội dung liên   quan đến môi trường  PHẦN 3: GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN HỆ THỐNG BÀI TẬP THỰC TIỄN VỀ MÔI TRƯỜNG  CHƯƠNG NITƠ ­ PHOTPHO LỚP 11 BAN KHTN 1. Nguyên tắc xây dựng Dựa vào mục đích, nội dung và phương pháp dạy học hoá học, cơ sở tâm  lí học sinh, nội dung chương trình hoá học phổ  thông và đặc điểm của bộ  môn  hoá học có thể thiết kế các bài tập hoá học có nội dung liên quan với thực tế về  môi trường dựa vào các nguyên tắc sau:  * Cơ  sở  lí thuyết :  Trên cơ  sở  các định luật, khái niệm, học thuyết, các   nguyên lí, mệnh đề,... các kiến thức cần truyền thụ, rèn luyện, kiểm tra đánh giá  mà ta phải thiết  kế các bài tập phù hợp. * Cơ sở thực tiễn :  Dựa vào các ứng dụng, các quá trình sản xuất, đời sống   lao động sản xuất, các hiện tượng về thiên nhiên... ­ Như các bài tập hoá học khác, nếu nắm vững được sự phân loại các kiểu  điển hình và các quy luật biến hoá của bài toán, giáo viên có thể biên soạn những   bài tập mới bằng cách vận dụng các quy luật biến hoá. Xuất phát từ  những bài  tập mẫu sơ đẳng điển hình, nội dung bài tập có thể biến đổi thành những dạng   khác nhau.  Nguyên tắc trên giúp ta nắm được cơ  chế  biến hoá nội dung bài tập theo   những hướng có mức độ  phức tạp, khó khăn khác nhau phù hợp với từng mục  đích dạy học. ­ Thiết kế những bài tập hoá học có nội dung liên quan đến thực tế về môi  trường nhưng không quá xa rời nội dung chương trình hoá học. ­ Bài tập hoá học có tính chất tổng hợp kiến thức, phát triển tư duy sáng tạo   và gây hứng thú ham hiểu biết, tìm tòi sáng tạo của học sinh. 2. Bài tập có nội dung về môi trường chương Nitơ ­ Photpho Nguyễn Tiến Dũng ­ Trường THPT Nga Sơn 9
  10. Sáng kiên kinh nghiệm năm học 2013­2014 Xây dựng bài tập dựa trên: cơ sở lí luận về môi trường, nội dung giáo dục   môi trường trong môn hoá học, thiết kế bài tập, khai thác yếu tố môi trường của  chương,…   từ   đó  để  cung  cấp cho  học sinh  những   kiến thức  cơ   sở  về  môi   trường, các quá trình biến đổi và những biện pháp bảo vệ  môi trường, thái độ,   hành vi tích cực trước môi trường chung. a) Bài tập về mối quan hệ giữa các hiện tượng tự nhiên và các quá trình hoá   học Bài tập 1: Hiện tượng “ma trơi” xảy ra  ở các nghĩa địa khi mưa và có gió nhẹ.  Hiện tượng này được giải thích như thế nào? A. Xác chết bị thối rữa do vi sinh vật hoạt động làm giải phóng một lượng   photpho trắng. Photpho trắng tự bốc cháy gây ra hiện tượng “ma trơi”. B.  Khi xác chết bị  thối rữa, photpho có trong cơ  thể  được giải phóng dưới  dạng photphin PH3 có lẫn điphotphin P2H4. Hỗn hợp này bốc cháy gây ra hiện tượng   “ma trơi”. C.  Khi   xác   chết   bị   thối   rữa,   giải   phóng   ra   một   lượng   axit   photphoric   H3PO4. Axit này tự bốc cháy ngoài không khí gây ra hiện tượng “ma trơi”. D. Khi xác chết thối rữa, giải phóng một lượng NH 3. Amoniac bốc cháy  ngoài không khí gây ra hiện tượng “ma trơi”. * Hướng dẫn:  Ở não người chứa photpho, khi xác chết bị thối rữa, photpho được  giải phóng dưới dạng photphin PH3 có lẫn điphotphin P2H4 . Điphotphin P2H4 là chất  lỏng,  dễ  bay hơi và tự  bốc cháy ngoài không khí  ở  nhiệt độ  thường làm cho photphin   cháy theo:                            2P2H4  +   7O2     2P2O5  +  4H2O  + Q  (1) Phản ứng (1) kéo theo PH3 bốc cháy                           2PH3    +  4O2    P2O5   +  3H2O   +  Q'   (2)  Nguyễn Tiến Dũng ­ Trường THPT Nga Sơn 10
  11. Sáng kiên kinh nghiệm năm học 2013­2014 Các phản  ứng (1), (2) toả  năng lượng dưới dạng quang năng. Do đó, khi   cháy hỗn hợp (PH3  và P2H4) có hình ngọn lửa vàng sáng, bay là là di động trên   mặt đất, lúc ẩn, lúc hiện mà người ta gọi đó là hiện tượng “ma trơi”.  Phương   án B. * Ý nghĩa: ­ Bài tập này nâng cao cho học sinh biết thêm được một hợp chất nữa   của photpho là P2H4 và hợp chất này có tính khử rất mạnh có khả năng tác dụng  với không khí ở nhiệt độ thường ­ Một số học sinh cũng biết hiện tượng ma trơi là sự cháy của PH3 nhưng  không giải thích được vì sao PH3 lại cháy ở nhiệt độ thường. Sau khi giải quyết   bài tập này Học sinh đã giải thích cho học sinh vấn đề đó. ­ Làm rõ được hiện tượng “ma trơi” chỉ  là một quá trình hóa học bình  thường, từ đó thay đổi quan điểm mê tín đang tồn tại trong xã hội. ­ Giải thích được hiện tượng tự  nhiên đã từng được xem là “kỳ  bí” này  làm học sinh hứng thú và yêu thích môn hóa học hơn. * Địa chỉ  tích hợp: Bài tập này có thể  lồng ghép vào Bài 14: Phốt pho – Mục   IV.1 hoặc Bài 17: Luyện tập tính chất của photpho và các hợp chất của photpho. Bài tập 2: Sơ đồ phản ứng sau đây cho thấy vai trò của thiên nhiên và con người   trong việc chuyển nitơ từ khí quyển vào đất, cung cấp nguồn đạm cho cây cối. Xác định X, Y, Z…và hoàn thành các phương trình hoá học của sơ đồ trên. * Hướng dẫn:  X: O2;  Y: HNO3;  Z: có thể là: CaO, Ca(OH)2, CaCO3;   M: NH3 * Ý nghĩa: ­ Rèn luyện kỹ năng viết phương trình, hoàn thành sơ đồ phản ứng hóa  học  ­ Giúp học sinh hiểu thêm về chu trình chuyển hóa nitơ trong tự nhiên * Địa chỉ tích hợp:­ Bài 12 – Mục C ­ Bài 13: Luyện tập ­ Sử dụng làm bài tập củng cố trong bài 12 Axit nitric và muối   nitrat Bài tập 3: Giải thích câu ca dao:  “ Lúa chiêm lấp ló đầu bờ                                                                Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên” * Hướng dẫn: ­ Khi có sấm sét (tia lửa điện) khí nitơ tác dụng với khí oxi theo  phương trình phản ứng: N2 + O2   2NO ­Sau đó NO tác dụng với O2 trong không khí: 2NO +  O2 → 2NO2 ­ NO2 tác dụng với O2 và H2O tạo ra HNO3: 4 NO2 + O2 + 2H2O → 4 HNO3 ­ HNO3 hòa tan trong nước mưa rơi xuống thấm vào đất, tác dụng với các  chất vô cơ, hữu cơ  trong đất tạo NO3­ (phân đạm). Nhờ  có lượng phân đạm tự  nhiên mà cây trồng sinh trưởng nhanh chóng, đặc biệt là lá cành… Nguyễn Tiến Dũng ­ Trường THPT Nga Sơn 11
  12. Sáng kiên kinh nghiệm năm học 2013­2014 * Ý nghĩa: ­ Giúp học sinh hiểu thêm về chu trình chuyển hóa N trong tự nhiên ­ Giải thích một số kinh nghiệm dân gian rất có cơ sở khoa học ­ Dựa trên các kiến thức Hóa học, học sinh hiểu được một số kinh nghiệm   dân gian cũng rất có cơ  sở  khoa học, từ  đó học sinh hứng thú và tích cực hơn  trong việc sử  dụng kiến thức hóa học, kết hợp với kiến thức của những môn  học khác để  giái thích các kinh nghiệm này và có sự  vận dụng hợp lí vào cuộc  sống. * Địa chỉ tích hợp: ­ Có thể sử dụng bài tập này để “vào đề” cho  Bài 12: Phân bón  hóa học­Mục I. Thực tế tác giả đã sử dụng bài tập này để mở bài cho Bài 12 và đã  tạo được không khí học tập tích cực, sôi nổi. Từ đấy hiệu quả của tiết học đã tăng   lên đáng kể. Bài tập 4: Giải thích vì sao người ta thường lấy đất trong hang có dơi  ở  (gọi  nôm na là “phân dơi”) về bón cho cây trồng? * Hướng dẫn: Trong quá trình bài tiết của dơi có NH3, dưới tác dụng của một  số vi khuẩn NH3 bị oxi hóa thành NO sau đó chuyển thành NO 2 rồi HNO3. HNO3  tác dụng với CaCO3 tạo Ca(NO3)2. Quá trình này có thể được biểu diễn bằng sơ  đồ:  + O , xt +O +O + H O + CaCO NH3  2 NO  2  NO2  2 2  HNO3  3 Ca(NO3)2 Lấy đất trong hang có Ca(NO3)2 bón cho cây trồng tức là cung cấp đạm cho   cây, làm cây trồng sinh trưởng phát triển nhanh hơn * Ý nghĩa: ­ Học sinh giải thích được kinh nghiệm dân gian ­ Từ đây học sinh cũng  có thể giải thích được quy trình điều chế  KNO 3 từ  tro bếp và “phân dơi”, là phương pháp rất thông dụng thời phong kiến: Người ta   trộn tro bếp (chứa K+ ) và loại đất nói trên (chứa Ca(NO3)2) rồi dội nước nóng  qua, từ nước lọc, kết tinh lại thu được KNO3 * Địa chỉ tích hợp: ­ Bài 13: Luyện tập ­ Bài 16: Phân bón hóa học b) Bài tập về  các quá trình tạo ra sản phẩm  ảnh hưởng đến môi trường và   cách xử lí Bài tập 1: Hoá chất dùng để làm sạch không khí trong phòng thí nghiệm khi bị  nhiễm khí clo là thích hợp nhất: A. Hơi nước B. Ca(OH)2 C. CH4 D.  NH3. * Hướng dẫn: Các phương án A, B, C hoặc không loại bỏ  được khí Cl2 hoặc  sinh ra sản phẩm độc hại với môi trường. Khi dùng NH3 thì xẩy ra phản ứng:  NH3dư  +  Cl2   N2 +  NH4Cl Sản phẩm tạo ra là các chất thân thiện với môi trường     Phương án D Ngoài câu hỏi chính như trên, tùy thuộc vào đối tượng học sinh, đặc thù của  bài dạy, giáo viên có thể đặt thêm các câu hỏi bổ sung như sau Nguyễn Tiến Dũng ­ Trường THPT Nga Sơn 12
  13. Sáng kiên kinh nghiệm năm học 2013­2014 1. Dùng bột Ca(OH)2 rải dưới nền nhà có khả năng loại bỏ Cl 2 hay không? Tại   sao thực tế người ta không dùng Ca(OH)2? Yêu cầu trả lời: Cl2 nặng hơn không khí nên “chìm” xuống phía dưới có thể  tiếp xúc với Ca(OH)2 (ẩm) và xẩy ra phản ứng: Cl2 + Ca(OH)2   CaOCl2 + H2O Từ đấy kết luận dùng Ca(OH)2 có thể loại bỏ được Cl2, tuy nhiên quá trình  loại bỏ Cl2 xẩy ra chậm và không hoàn toàn Thực tế không dùng Ca(OH)2 vì phản ứng xẩy ra chậm và không hoàn toàn,  mặt khác hỗn hợp sau phản  ứng gồm CaOCl 2 và Ca(OH)2  (dư) là những chất có  ảnh hưởng xấu đến môi trường 2. Để  loại bỏ  NH3 trong phòng thí nghiệm có nên dùng khí Cl2 không? Vì sao?   Hãy đề nghị cách xử lý khi trong phòng thí nghiệm có khí NH3? Yêu cầu trả lời: Trong quá trình loại bỏ Cl 2 bẳng NH3, nếu NH3 dư với hàm  lượng nhỏ  thì không  ảnh hưởng đến sức khỏe và môi trường. Tuy nhiên nếu  dùng Cl2 để loại bỏ NH3 thì lượng Cl2 dư dù có nồng độ bé cũng ảnh hưởng đến  sức khỏe. Vì vậy không dùng Cl2 để loại bỏ NH3. Để  loại bỏ  NH3 trong phòng thí nghiệm chúng ta lợi dụng tính chất dễ  tan  trong nước của nó, phun nước dưới dạng sương mù vào phòng, NH 3 sẽ  bị  hòa  tan trong các hạt nước li ti đấy, sau 1 thời gian nước sẽ  ngưng tụ  lại và rơi  xuống. 3. Quá trình loại bỏ Cl2 bằng NH3 sinh ra N2, NH4Cl và NH3 dư.Trong đó NH3 và  NH4Cl (dạng tinh thể  li ti) có  ảnh hướng xấu tới môi trường và sức khỏe con   người. Hãy trình bày phương pháp đơn giản để  loại bỏ  2 chât này sau khi đã   làm sạch Cl2 Yêu cầu trả  lời: 2 chất này đều dễ  tan trong nước nên ta phun nước dưới   dạng sương mù vào phòng, NH3 và NH4Cl sẽ tan trong các hạt nước li ti này, một  thời gian sau các hạt nước này sẽ  ngưng tụ  và rơi xuống, dung dịch này có thể  thải trược tiếp ra môi trường vì NH3 (nồng độ nhỏ) và NH4Cl (phân đạm) không  làm ảnh hưởng đến môi trường * Ý nghĩa: ­ Trang bị cho học sinh kiến thức về thực hành thí nghiệm, từ đó học  sinh có thể sử dụng kiến thức đã học để xử lí các tính huống có thể xẩy ra trong  phòng thí nghiệm hoặc trong thực tế ­ Học sinh nắm được nguyên tắc của việc loại bỏ các chất độc là: Sử dụng   chất không độc, dễ loại bỏ khi dư. Sản phẩm của quá trình này phải không ảnh  hưởng đến môi trường hoặc sức khỏe con người * Địa chỉ tích hợp:­ Bài 13: Luyện tập ­ Bài 18: Thực hành Bài tập 2: Sau khi làm thí nghiệm với photpho trắng, các dụng cụ  thủy tinh đã  tiếp xúc với hoá chất này cần được ngâm trong dung dịch nào để  loại photpho  trắng? A. Dung dịch H2SO4 B. Dung dịch NaOH đặc Nguyễn Tiến Dũng ­ Trường THPT Nga Sơn 13
  14. Sáng kiên kinh nghiệm năm học 2013­2014 C. Dung dịch CuSO4 D. Dung dịch xà phòng * Hướng dẫn: Photpho trắng rất độc nên các dụng cụ tiếp xúc với hoá chất này  cần phải loại bỏ  hết photpho trắng để  tránh nguy hiểm. Dung dịch H2SO4  và  dung dịch xà phòng không có tác dụng làm sạch photpho trắng. Dung dịch NaOH   đặc có thể tác dụng theo phương trình: 3NaOH   +  4P  +    3H2O   PH3 + NaH2PO2 Sản phẩm sinh ra có PH3 rất độc nên không dùng NaOH để loại bỏ photpho  trắng Với dung dịch CuSO4:  2P  +  5 CuSO4 + 8 H2O   2H3PO4  +  5H2SO4  + 5Cu Lọc tách chất rắn không tan, nước lọc được trung hòa bởi dung dịch kiềm   không độc và ảnh hưởng đến môi trường   Phương án C. * Ý nghĩa: ­ Bài tập này cung cấp cho học sinh 2 phản  ứng mới của P (trắng). Trong  dung dịch kiềm đặc P(trắng)  thể hiên khả năng tự oxi hóa khử. Trong phản ứng với   CuSO4 , P(trắng) thể hiện tính khử mạnh. Từ đấy củng cố thêm tính chất hóa học của  photpho * Địa chỉ tích hợp: ­ Bài 14: Photpho ­ Bài 18: Thực hành Bài tập 3:  Nồng độ tối đa cho phép của PO43­ theo tiêu chuẩn nước ăn uống của  tổ  chức sức khỏe thế  giới (WHO) là 0,4 mg/l. Để  đánh giá sự  nhiễm bẩn của   nước máy sinh hoạt ở một thành phố người ta lấy 2 lít nước đó cho tác dụng với  dung dịch AgNO3 dư thì thấy tạo 2,646.10­3 (g) kết tủa. Xác định nồng độ  PO43­  trong nước máy và xem xét có vượt quá giới hạn cho phép không? A. 0,6 mg/l, vượt quá giới hạn cho phép. B. 0,3 mg/l, nằm trong giới hạn cho phép. C. 0,2 mg/l, nằm trong giới hạn cho phép. D. 0,4 mg/l, vừa đúng giới hạn cho phép.. * Hướng dẫn: Phương trình phản ứng: 3Ag+ + PO43­  Ag3PO4 2, 646 3−  nAg 3 PO 4  =  .10­3 = 6,315.10­6 (mol)  nPO 4  = 6,315.10­6 (mol) 419 3− 3− 0, 6 mPO 4  = 0,6.10­3 (g) = 0,6 (mg)  CPO 4  =   = 0,3 (mg/l) 2  Phương án B. * Ý nghĩa: ­ Rèn luyện kỹ năng giải bài tập theo phương trình ion thu gọn ­ Qua bài tập này học sinh biết được ion PO43­  với nồng độ  nhỏ  thì không  ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và sản xuất. Tuy nhiên với nồng độ  lớn, PO 43­  ảnh hưởng đến sức khỏe. Từ bài tập này học sinh cũng biết được nồng độ  cho   phép của PO43­  trong nước sinh hoạt, từ  đấy dựa vào các công bố  về  chỉ  tiêu  nước sinh hoạt thì học sinh xác định được loại nước đấy có đủ  tiêu chuẩn hay  không? Nguyễn Tiến Dũng ­ Trường THPT Nga Sơn 14
  15. Sáng kiên kinh nghiệm năm học 2013­2014 * Địa chỉ tích hợp: ­ Bài 15: Axit photphoric và muối photphat ­ Bài 17: Luyện tập c) Bài tập về tính chất của chất liên quan đến môi trường, sử dụng hoá chất   phục vụ đời sống và sản xuất Bài tập 1: Khử đất chua bằng vôi và bón đạm cho lúa đúng cách được thực hiện  theo cách nào sau đây? A. Bón đạm cùng một lúc với vôi. B. Bón đạm trước rồi vài ngày sau mới bón vôi khử chua. C. Bón vôi khử chua trước rồi vài ngày sau mới bón đạm. D. Cách nào cũng được. *Hướng dẫn:  Bón đạm thường làm cho đất chua thêm  ảnh hưởng đến môi  trường của đất, tác động không tốt đến cây trồng. Vì thế, trước khi bón đạm  cần phải bón vôi trước vài ngày để khử chua đất. Không thể bón cùng một lúc vì  chúng tác dụng với nhau làm tiêu hao một lượng đạm đáng kể: NH4+ + OH­   NH3  + H2O   Cũng không thể bón đạm trước vài ngày rồi mới bón vôi vì khi đó cây chưa   hấp thụ hết đạm.  Phương án C. * Ý nghĩa: Học sinh củng cố và có thêm kiến thức về: ­ Phản ứng trung hòa, phản ứng trao đổi ion ­ Cách làm khử chua đất (thau chua đất) hiệu quả để  cây trồng có thể  hấp   thụ được hàm lượng đạm dinh dưỡng tối đa đồng thời việc bón phân đạm không  tạo ra những hệ quả không có lợi. ­ Học sinh giải thích được quy trình bón phân hóa học trong nông nghiệp, từ  đấy có thể áp dụng các kiến thức đã biết vào đời sống sản xuất. * Địa chỉ tích hợp:  ­ Bài 11: Amoniac và muối amoni                                ­ Bài 16: Phân bón hóa học Bài tập 2:  Hãy giải thích tại sao đối với đất chua (có nhiều ion Fe 3+, Al3+) thì  trước khi bón phân supephotphat phải bón vôi trước? * Hướng dẫn: Do ion Fe3+, Al3+  có thể kết hợp với ion PO43­ tạo ra các kết tủa  AlPO4 và FePO4  làm cho hiệu quả của supephotphat kém đi: 2M3+  + Ca(H2PO4)2   2MPO4   +  Ca2+  + 4H+ Vì vậy phải bón vôi trước đề  loại bỏ  các ion kim loại trên dưới dạng kết  tủa hiđroxit hoặc dạng tan không có khả năng kết hợp với ion PO43­: M3+  + 3OH­   M(OH)3 *Ý nghĩa: Học sinh củng cố và có thêm kiến thức về: ­ Phản  ứng tạo muối kết tủa giữa các ion kim loại hóa trị  III thường có  trong đất (Fe3+, Al3+...) với ion PO43­ ­ Cách bón phân supephotphat vào đất phèn. *Địa chỉ tích hợp: ­ Bài 15: Axit photphoric và muối photphat Nguyễn Tiến Dũng ­ Trường THPT Nga Sơn 15
  16. Sáng kiên kinh nghiệm năm học 2013­2014                               ­ Bài 16: Phân bón hóa học                Bài tập 3:  Khi bón phân hoá học cho đất người ta chú ý đến sự ảnh hưởng đến  pH của đất, làm cho đất kiềm hay chua sẽ gây ô nhiễm môi trường đất. Khi bón  phân hoá học cho đất, loại nào sau đây không ảnh hưởng đến pH của đất? A. NH4NO3 B. NH4Cl   C. (NH2)2CO D. Cả A, B, C *Hướng dẫn:  NH 4 NO3 NH 4+ + NO3− Phương án  A      pH 
  17. Sáng kiên kinh nghiệm năm học 2013­2014 Bài tập 1: Nêu những hiểu biết của em về các hiệu ứng môi trường: mưa axit,  hiệu  ứng nhà kính. Những tác nhân hoá học nào gây ra, nguồn phát thải các tác  nhân đó? Chúng ta cần phải làm gì? * Hướng dẫn:  Mưa axit:  Hiện tượng nước mưa có tính axít với giá trị  pH thấp (pH từ  5,5 trở  xuống).  ­ Tác hại: gây tính ăn mòn mạnh, làm chết các sinh vật, gây bệnh tật.  ­ Tác nhân chính: SO2, NOx.  ­ Nguyên nhân: các khí thải như SO2, NOx bị oxi hoá trong khí quyển khi có ánh  sáng môi trường tạo thành các axit mạnh hoà tan trong nước mưa như  H 2SO4,  HNO3.  ­ Nguồn tác nhân:  đốt nhiên liệu hoá thạch, đặc biệt là than đá, công nghiệp  luyện kim, động cơ đốt trong,….  ­ Giải pháp: tiết kiệm năng lượng, thay thé nhiên liệu hoá thạch bằng các nhiên  liệu sạch hơn, xử lí khí thải trước khi xả vào môi trường. Hiệu ứng nhà kính: Sự tăng nhiệt độ  Trái Đất do sự tăng nồng độ  các khí nhà   kính trong khí quyển.  Nguyễn Tiến Dũng ­ Trường THPT Nga Sơn 17
  18. Sáng kiên kinh nghiệm năm học 2013­2014 ­  Tác hại:  băng tan làm tăng mực nước biển, thay đổi cân bằng sinh thái các  vùng, thay đổi dòng hải lưu làm biến đổi khí hậu, …  ­ Tác nhân: CO2, CH4,…  ­ Nguyên nhân: khí nhà kính có khả năng cho các tia tử ngoại và tia trông thấy đi   qua, nhưng phản xạ các tia nhiệt (hồng ngoại) từ Trái Đất không cho thoát vào  vũ trụ.  ­ Giải pháp: giảm phát thải CO2 (bằng nhiều biện pháp), trồng cây xanh duy trì  cân bằng CO2.  Bài tập 2:     a) Trong các khí sau, những khí nào gây ô nhiễm môi trường: HCl, NO, CO 2,  NO2, SO2, NH3, N2? b) Tại sao nước mưa mùa hè thường có tính ăn mòn mạnh hơn mùa khác? Hướng dẫn:  a) HCl, NO, CO2, NO2, SO2, NH3. b) Tính ăn mòn mạnh của nước mưa mùa hè: do có nhiều sấm chớp, gây ra phản   ứng tạo thành HNO3 – một axit mạnh. 30000 C Các phương trình phản ứng: N2 + O2   2NO 2NO + O2   2 NO2 4NO2 + 2 H2O + O2   4 HNO3 Nguyễn Tiến Dũng ­ Trường THPT Nga Sơn 18
  19. Sáng kiên kinh nghiệm năm học 2013­2014 PHẦN 4: KIỂM NGHIỆM I. Mục đích của thực nghiệm sư phạm Mục đích của thực nghiệm sư phạm nhằm giải quyết các vấn đề sau:  1. Khai thác kiến thức về  môi trường trong giảng dạy các bài của chương 2  trong chương trình hóa học 11 ban KHTN 2. Liên hệ  kiến thức vào thực tế  cuộc sống để  hình thành thái độ  tích cực với   môi trường đối với học sinh, để học sinh thấy được hoá học có nhiều ứng dụng  và gần gũi trong cuộc sống, từ đó gây hứng thú học tập với môn hoá học. 3. Góp phần đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng dạy học hiện nay  ở  phổ thông II. Nội dung thực nghiệm sư phạm Dạy thực nghiệm các tiết: Dạy bài mới, luyện tập có sử dụng câu hỏi bài  tập có nội dung môi trường chương Nitơ ­ Photpho lớp 11 KHTN: ­ Bài tập rèn luyện thao tác, kỹ năng tiến hành thí nghiệm hoá học an toàn,  xử lí trong thực nghiệm. ­ Bài tập củng cố lý thuyết đã học. ­ Bài tập rèn luyện kỹ năng tính toán.  Các bài thực nghiệm : ­ Bài 11: Amoniăc (Tiết 16,17)   ­ Bài 12. Axit nitric và muối nitrat (Tiết 18,19)       ­ Bài 13: Luyện tập. Tính chất của nitơ và các hợp chất của nitơ (Tiết 20) ­ Bài 18: Bài thực hành Tính chất của một số hợp chất nitơ. Phân biệt một  số phân bón hóa học (Tiết 25) III. Phương pháp thực nghiệm. 1. Chọn mẫu thực nghiệm  Để có số liệu khách quan và chính xác, tôi đã tiến hành thực nghiệm  năm   học 2012­2013 tại trường THPT Nga Sơn. Lớp thực nghiệm (TN) và lớp đối  chứng (ĐC) có trình độ tương đương nhau về các mặt: ­ Số lượng học sinh, độ tuổi, nam , nữ.  ­ Chất lượng học tập nói chung và môn Hoá nói riêng. Đặc điểm và  kết quả học tập lớp 10  ở 2 lớp 11G (Lớp TN) và lớp 11E(lớp  ĐC). (Trường THPT Nga Sơn)­ Thực nghiệm năm học 2012­2013 Đặc  Lớ Lớp  Học lực Lớp  Lớp điểm p  ĐC Môn hoá TN ĐC TN Sĩ số 36 41 Khá giỏi 70,2 66,0% Nguyễn Tiến Dũng ­ Trường THPT Nga Sơn 19
  20. Sáng kiên kinh nghiệm năm học 2013­2014 % Nam 15 23 T.Bình 29,8 34,0% % Nữ 21 18 Yếu 0% 0% 2. Phương pháp kiểm tra và xử lý kết quả thực nghiệm a. Phương pháp tổ chức kiểm tra Tôi đã dạy  ở các lớp thực nghiệm và đối chứng 3 bài nghiên cứu tài liệu  mới và 1 bài luyện tập và 1 bài thực hành. Sau khi đã dạy các bài thực nghiệm và  lớp đối chứng, chúng tôi tiến hành kiểm tra kết quả  thực nghiệm để  xác định  hiệu quả khả thi của phương án thực nghiệm. ­ Kiểm tra 15 phút:  Được thực hiện ngay sau giờ  thực nghiệm với mục   đích xác định tình trạng nắm vững bài học và sự  vận dụng kiến thức của học   sinh ở hai lớp thực nghiệm và đối chứng. ­ Kiểm tra 1 tiết: Được thực hiện cuối đợt sau khi đã học xong 2 chương   với mục đích xác định độ  bền kiến thức, thái độ  học tập các nội dung về  môi  trường. Các câu hỏi và bài tập kiểm tra được xây dựng ở các mức độ: Tái hiện  và sáng tạo kiến thức, có sự  vận dụng các thao tác tư duy và kỹ năng thực hành  thí nghiệm. b.  Kiểm tra kết quả thực nghiệm và thảo luận Để  xác định hiệu quả, tính khả  thi của đề  tại. Việc kiểm tra, đánh giá   chất lượng nắm bắt kiến thức của học sinh ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng  được tiến hành bằng các bài kiểm tra, kết quả của một trong các bài kiểm tra đó  như sau: Sĩ  Điểm: 0 ¨ 2 Điểm: 3 ¨ 4 Điểm: 5 ¨ 7 Điểm: 8 ¨ 10 Lớp số SL % SL % SL % SL % Lớp TN  36 0 0 5 13,9 19 52,8 12 33,3 (11G) Lớp ĐC  41 0 0 25 61 10 24,4 6 14,6 (11E) ­ Từ các kết quả trên ta nhận thấy:  + Số  học sinh đạt điểm khá, giỏi  ở  lớp thực nghiệm cao hơn hẳn so với   lớp đối chứng,  + Điểm trung bình của lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng Từ đấy có thể nhận xét rằng lớp thực nghiệm nắm vững và vận dụng tốt  hơn lớp đối chứng, Tóm lại, qua các số liệu đã chỉ ra ở trên chúng ta nhận thấy rằng việc khai   thác nội dung giáo dục môi trường và đưa thêm hệ thống bài tập hoá học có nội   Nguyễn Tiến Dũng ­ Trường THPT Nga Sơn 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản