intTypePromotion=1
ADSENSE

SKKN: Một số biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý khối 9 theo hướng bền vững

Chia sẻ: Lê Thị Diễm Hương | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:18

822
lượt xem
105
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chia sẻ một số biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý khối 9 nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn, tạo hứng thú học tập cho học sinh và góp phần nhỏ bé trong thành tích chung của phong trào bồi dưỡng học sinh giỏi, và đặc biệt với những giáo viên đã và đang bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý có thể xem đây là một tài liệu tham khảo. Mời quý thầy cô tham khảo sáng kiến “Một số biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý khối 9 theo hướng bền vững”.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Một số biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý khối 9 theo hướng bền vững

  1. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI MÔN ĐỊA LÝ KHỐI 9 THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
  2. A/- PHẦN MỞ ĐẦU: I. BỐI CẢNH CỦA ĐỀ TÀI: Trong những năm qua, chất lượng dạy và học của huyện An Phú nói chung và trường trung học cơ sở Đa Phước nói riêng ngày càng được nâng cao. Các phong trào thi đua dạy tốt – học tốt do ngành phát động được đông đảo cán bộ - giáo viên - công nhân viên và học sinh nhiệt tình tham gia hưởng ứng và từng bước đạt được nhiều thành tích khá nổi bật như: phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm, làm đồ dùng dạy học, hội thi giáo viên dạy giỏi, hội thi ca múa nhạc, hội khỏe phù đổng, thi chọn học sinh giỏi … Qua các phong trào đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, đồng thời tạo được niềm tin đối với các bậc phụ huynh học sinh, các cấp chính quyền và đó cũng là động lực để những người làm công tác giáo dục có những định hướng mới cho sự nghiệp đào tạo thế hệ tương lai của đất nước. Trong các phong trào thi đua đó, có thể khẳng định rằng trường trung học cơ sở Đa Phước – huyện An Phú là ngôi trường đạt được kết quả khá toàn diện và mang tính ổn định ; phát triển trong đó có phong trào bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và học sinh giỏi môn Địa lý nói riêng. II. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Năm học 2005 – 2006 là năm học đầu tiên học sinh lớp 9 trên địa bàn toàn tỉnh được học theo chương trình sách giáo khoa mới và cũng là năm học đầu tiên bản thân được Ban giám hiệu nhà trường phân công giảng dạy môn Địa lý khối 9. Với vai trò là người giáo viên giảng dạy lớp 9, bản thân nhận thức được rằng nhiệm vụ khá nặng nề và quan trọng – quan trọng vì phải đảm nhận công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, công việc mà lãnh đạo nhà trường luôn xem là mũi nhọn, là thế mạnh của trường. Từ năm học đầu tiên đó đến nay, công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý của bản thân ít nhiều đạt được một số kết quả nhất định, cụ thể là: hàng năm trường đều có học sinh giỏi đạt giải cấp huyện, cấp tỉnh môn Địa lý và năm học 2010 – 2011 vừa qua trường có một học sinh giỏi đạt giải Nhì và một học sinh giỏi đạt giải Ba môn Địa lý trong kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh. Với những kết quả trên, xin chia sẻ một số biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý khối 9 nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn, tạo hứng thú học tập cho học sinh và góp phần nhỏ bé trong thành tích chung của phong trào bồi dưỡng học sinh giỏi, và đặc biệt với những giáo viên đã và đang bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý có thể xem đây là một tài liệu tham khảo, một kênh thông tin để làm phong phú thêm biện pháp bồi dưỡng học sinh giỏi trên địa bàn An Giang nói chung và huyện An Phú nói riêng.
  3. III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU: Đề tài tập trung phân tích các biện pháp đã thực hiện trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý khối 9 cũng như chia sẻ với quý đồng nghiệp những kinh nghiệm đã tích lũy được từ thực tế những năm qua. IV. ĐIỂM MỚI TRONG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU : Từ thực tế của quá trình giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi đạt hiệu quả bản thân đã không ngừng rút kinh nghiệm, phân tích, so sánh các biện pháp đã tiến hành ở năm sau so với những năm trước để có hướng điều chỉnh ở hiện tại sao cho phù hợp với thực tế. Trên cơ sở tổng kết, rút kinh nghiệm riêng của bản thân đã từng bước hình thành ý tưởng viết đề tài về công tác phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi và qua nhiều năm đề tài được ra đời. Có thể nói công tác bồi dưỡng học sinh giỏi được ngành thực hiện khá lâu nhưng việc tổ chức trao đổi học tập hay chia sẻ kinh nghiệm bồi dưỡng thì chưa thực hiện bao giờ. Do đó, đề tài ra đời là kết quả của quá trình gắn kết giữa lý luận và thực tiễn, đồng thời phần nào đã giải quyết được những đòi hỏi do thực tiễn đặt ra. B/- PHẦN NỘI DUNG: I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI: Qua thực tế bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý khối 9 trong những năm học qua tôi nhận thấy rằng vấn đề quan trọng là người giáo viên bồi dưỡng cần có một quan niệm đúng về học sinh giỏi nói chung và học sinh giỏi môn Địa lý nói riêng. Bên cạnh đó, cần trả lời cho câu hỏi: “việc bồi dưỡng học sinh giỏi nhằm mục tiêu gì ?” để từ đó người giáo viên bồi dưỡng lựa chọn nội dung, chương trình và phương pháp bồi dưỡng sao cho thích hợp và đạt hiệu quả cao nhất. Theo Giáo sư – Tiến sỹ Nguyễn Viết Thịnh, giảng viên khoa Địa lý Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, người được ví như “một trong những cánh chim đầu đàn” của ngành khoa học Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam và cũng là người có nhiều năm tham gia ra đề thi Cao đẳng, Đại học, thi học sinh giỏi quốc gia môn đia lý cho rằng: “Học sinh giỏi môn Địa lý chỉ cần học thuộc là chưa đủ, chưa chính xác vì Địa lý là môn khoa học có đối tượng nghiên cứu phong phú, phức tạp. Các hiện tượng địa lý không chỉ phân bố trên bề mặt đất mà cả trong không gian và trong lòng đất. Hơn nữa, các hiện tượng ấy ở đâu và bao giờ cũng phát sinh, tồn tại và phát triển một cách độc lập nhưng lại luôn có quan hệ hữu cơ với nhau. Chính vì vậy, người dạy và học Địa lý cần có phương pháp tư duy, phân tích, xét đoán các hiện tượng địa lý theo quan điểm hệ thống”. Với quan niệm trên, chúng ta hiểu rằng học sinh giỏi môn Địa lý là những học sinh phải nắm được những kiến thức cơ bản của bộ môn và phải vận dụng được những hiểu biết; những kỹ năng địa lý để giải quyết những nội dung cơ bản theo yêu cầu của đề bài, của thực tiễn cuộc sống và học sinh giỏi môn Địa lý là những học sinh có năng lực độc lập suy nghĩ, vận dụng tốt nhất những kiến thức, kỹ năng chắc chắn về địa lý.
  4. Về mục tiêu bồi dưỡng học sinh giỏi, có nhiều mục tiêu khác nhau tùy theo quan niệm của mỗi giáo viên và tùy theo môn học nhưng dù quan niệm như thế nào chung quy lại có những điểm tương đồng: - Bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và học sinh giỏi môn Địa lý nói riêng nhằm phát triển tư duy ở trình độ cao phù hợp với khả năng trí tuệ của học sinh. - Bồi dưỡng sự lao động và làm việc một cách sáng tạo. - Phát triển các phương pháp, kỹ năng và thái độ tự học suốt đời. - Nâng cao ý thức và khát vọng của học sinh. - Phát triển phẩm chất lãnh đạo. - Có ý thức trách nhiệm trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Với những mục tiêu đó, chúng ta cũng thấy rằng việc bồi dưỡng học sinh giỏi hiện nay của phần lớn giáo viên ít nhiều đã đáp ứng tương đối đầy đủ sáu mục tiêu trên . Điều này được minh chứng qua kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi của giáo viên vì những em đạt giải học sinh giỏi là những em hội đủ các mục tiêu trên. II. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP: Trong thực tế, qua một số năm tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý đạt kết quả khá khả quan: hàng năm trường đều có học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh bản thân luôn bám sát các mục tiêu bồi dưỡng học sinh giỏi, đồng thời áp dụng các biện pháp cụ thể: 1. Xây dựng kế hoạch cụ thể trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi: Vào đầu năm học, lãnh đạo nhà trường chỉ đạo mỗi giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi ở tất cả các môn phải xây dựng kế hoạch chi tiết. Vì vậy, bản thân cũng đã lên kế hoạch cụ thể về: thời gian bồi dưỡng; nội dung; thời lượng; số lượng học sinh bồi dưỡng; chỉ tiêu phấn đấu đạt giải … và bản thân đã thực hiện nghiêm túc theo kế hoạch. Song song đó, Ban giám hiệu – trực tiếp là đồng chí Phó Hiệu trưởng chuyên môn của trường thường xuyên kiểm tra, nhắc nhở việc bồi dưỡng học sinh giỏi của giáo viên để công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của trường đạt được kết quả cao nhất. 2. Chọn đối tượng bồi dưỡng và thường xuyên thực hiện công tác tư tưởng với học sinh tham gia bồi dưỡng: Như chúng ta đã biết theo quy chế thi học sinh giỏi thì đối tượng được thi học sinh giỏi là những học sinh đang học lớp 9 tại trường, có học lực ở học kỳ I của năm đang học đạt từ loại khá trở lên, hạnh kiểm đạt loại tốt và trung bình môn thi học sinh giỏi đạt từ 8,0 trở lên. Những năm qua việc chọn đối tượng bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý ở trường về cơ bản được nhiều thuận lợi do: - Đa số học sinh khối 9 đều có hứng thú và đam mê môn Địa lý. Vì vậy, học sinh đăng ký dự thi khá tương đối, bình quân mỗi năm có trên 05 học sinh.
  5. - Số học sinh khối 9 của trường khá đông. Hàng năm, bình quân trường có trên 150 học sinh khối 9 được bố trí từ 05 đến 06 lớp. Do đó, sức ép về vấn đề chọn số lượng học sinh tham gia bồi dưỡng là không đáng kể so với các trường khác. - Môn Địa lý ở trường là môn có truyền thống đạt giải trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp huyện, tỉnh nên cũng thu hút học sinh đăng ký tham gia bồi dưỡng. Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi bước đầu đó, trong quá trình bồi dưỡng bản thân cũng gặp một số khó khăn từ học sinh (và cũng có thể bắt gặp đối với những giáo viên đang bồi dưỡng học sinh giỏi), đó là: - Do nhiều nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan nên một số học sinh có sự mâu thuẫn, chưa thông suốt giữa học sinh giỏi ở lớp với học sinh giỏi cấp huyện, tỉnh bộ môn: học sinh nghĩ rằng tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi sẽ ảnh hưởng đến thành tích học ở lớp và ngược lại, vì vậy một số em vẫn tham gia bồi dưỡng nhưng mang tính hình thức, thiếu tập trung. - Do nhận thức của phụ huynh còn hạn chế: bồi dưỡng học sinh giỏi không còn thời gian phụ tiếp chuyện gia đình. - Phải đi học bù, học thể dục, học thêm, tham gia các phong trào khác của lớp, trường .v.v. Xuất phát từ những khó khăn trên, bản thân đã thường xuyên động viên, khuyến khích và kiên trì phân tích cho học sinh thấy được phải làm như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất trong công việc mà vẫn sử dụng hợp lý quỹ thời gian. Vì nếu suy cho cùng việc bồi dưỡng học sinh giỏi muốn thành công hay thất bại nhờ vào vai trò của người giáo viên – người giáo viên mới gặp những “lực cản” mà buông xuôi thì khó có thể thành công. Do đó, có ý kiến cho rằng người giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi được ví như đạo diễn của bộ phim, còn học sinh là những diễn viên thực hiện theo ý định của đạo diễn, nhưng đạo diễn cũng cần biết quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng của diễn viên. 3. Giáo viên bồi dưỡng nên biên soạn tài liệu theo từng chuyên đề của nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý: Có thể cho rằng đây là biện pháp mang tính bền vững đối với công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý. Từ thực tế kinh nghiệm bồi dưỡng những năm qua cho thấy nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý rất phong phú được trải đều ở 03 khối lớp 6, 8, 9 và ở mỗi khối lớp lượng kiến thức cần truyền đạt cho học sinh là vô hạn, giáo viên bồi dưỡng rất khó xác định được nội dung kiến thức nào cần bồi dưỡng trước cho học sinh, nội dung nào không quan trọng để giới hạn, đặc biệt là phần Địa lý tự nhiên Việt Nam (khối 8) và Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam (khối 9), bên cạnh đó trong một vài trường hợp người giáo viên không thể bồi dưỡng kiến thức trong sách giáo khoa theo một trình tự cố định hết Bài 1 đến Bài 2, Bài 3 …do không đủ thời gian hoặc do kiến thức được sắp xếp theo từng phần, từng chương theo phương pháp dàn trải. Chính vì thế, bản thân đã tiến hành soạn tài liệu riêng theo từng chuyên đề của nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi. Từ nội dung bồi dưỡng học sinh giỏi các năm qua theo tôi có các chuyên đề cơ bản sau: - Chuyên đề về Trái đất (khối 6). - Chuyên đề Địa lý tự nhiên Việt Nam (khối 8). - Chuyên đề Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam (khối 9). - Chuyên đề về Kỹ năng vẽ, phân tích và nhận xét các loại biểu đồ (chủ yếu ở khối 9).
  6. Như vậy, từ các chuyên đề trên giáo viên cần tìm những tài liệu liên quan để biên soạn, và thông thường các chuyên đề này được giảng dạy chuyên sâu hơn ở chương trình Địa lý lớp 12 – Nâng cao (đối với khối 8, 9) và chương trình Địa lý lớp 10 – Nâng cao (đối với khối 6), hay được tập trung trong các bộ đề thi tốt nghiệp lớp 12, thi Cao đẳng, Đại học môn Địa lý. Đối với bản thân, tài liệu biên soạn chủ yếu dựa vào các nguồn: - Hướng dẫn học và khai thác Atlat Địa lý Việt Nam (Tác giả: GS-TS Lê Thông, PGS- TS Nguyễn Minh Tuệ, Vũ Đình Hòa do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2008). - Ôn tập Địa lý theo chủ điểm (Tác giả: GS-TS Nguyễn Viết Thịnh, PGS-TS Đỗ Thị Minh Đức do Nhà xuất bản Đại học Sư phạm xuất bản năm 2005). - Chuyên đề Địa lý 12: Phần Địa lý tự nhiên - dân cư và phần Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam (Tác giả: PGS-TS Nguyễn Đức Vũ do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam xuất bản năm 2009). - Tuyển chọn những bài ôn luyện thực hành kỹ năng môn Địa lý (Tác giả: Đỗ Ngọc Tiến, Phí Công Việt do Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 2002). - Một số đề thi học sinh giỏi môn Địa lý cấp THCS, THPT và tốt nghiệp CĐ, ĐH (sưu tầm). Khi đã biên soạn được tài liệu giáo viên rất thuận lợi trong việc bồi dưỡng cho học sinh vì lượng kiến thức đã được định trước, đồng thời hạn chế việc mất thời gian và có thể bồi dưỡng theo sở thích của mình. 4. Về nội dung và phương pháp bồi dưỡng: Giáo viên nên bồi dưỡng những chuyên đề cơ bản, trọng tâm trước và ưu tiên thời lượng cho những chuyên đề này, hoặc trên cơ sở “phán đoán” sở trường hay sở thích của người ra đề mà có thể bồi đưỡng trước những chuyên đề đó (đương nhiên điều này chỉ mang ý nghĩa tương đối và thực tiễn những năm qua cho thấy đề thi học sinh giỏi thường tập trung vào phần đặc điểm và ảnh hưởng của khí hậu Việt Nam đến phát triển kinh tế), hay bản thân thích nhất chuyên đề nào thì bồi dưỡng trước, nhưng không nên bồi dưỡng theo phương pháp từ thấp lên cao theo hướng: khối 6 → khối 8 → khối 9 → biểu đồ vì dễ mất thời gian nhưng hiệu quả không cao do các chuyên đề có mối liên hệ với nhau không nhiều (ví dụ: chuyên đề về Trái đất với chuyên đề về Địa lý tự nhiên Việt Nam) . Theo kinh nghiệm của bản thân, tôi áp dụng theo quy trình sau: Trước tiên, tôi phát tài liệu biên soạn của cá nhân phần Địa lý kinh tế - xã hội Việt nam (khối 9) để học sinh tự nghiên cứu vì phần này các em đã và đang được học trên lớp do đó giáo viên có điều kiện mở rộng kiến thức cho học sinh, đồng thời đối với học sinh các em cũng có điều kiện khắc sâu kiến thức, nâng cao khả năng tư duy, các kỹ năng địa lý bước đầu cũng được phát triển. Tiếp theo, giáo viên bồi dưỡng phần Địa lý tự nhiên (khối 8) và Địa lý về Trái đất (khối 6) vì hai phần này học sinh đã được học ở các lớp dưới giáo viên chỉ cần ôn tập lại cho học sinh thông qua nội dung đang học ở khối 9. Sau cùng, giáo viên tập trung vào kỹ năng vẽ và nhận xét các loại biểu đồ. Cũng cần nói thêm rằng, mỗi giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý đều có những điểm giống nhau như: khung chương trình bồi dưỡng, trình độ tay nghề, sự nhiệt tình, trình độ học sinh, phương tiện phục vụ bồi dưỡng (Atlat, compa, thước đo độ, máy tính …) … nhưng kết quả đạt được có sự khác biệt vì mỗi giáo viên có hình thức tổ chức và phương
  7. pháp bồi dưỡng khác nhau. Sau đây xin trình bày một số phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý mà bản thân đã thực hiện trong các năm qua. a). Sử dụng phương pháp sơ đồ hóa trong bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý: Phương pháp sử dụng sơ đồ hay đầy đủ là phương pháp sử dụng sơ đồ Grap được sử dụng khá phổ biến trong dạy học Địa lý để thể hiện mối quan hệ nhân - quả trong địa lý. Do cấu trúc của chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi phân phối trải rộng ở 03 khối lớp nhưng giữa các khối lớp có mối liên hệ hữu cơ với nhau theo một trình tự, đặc biệt là khối 8 với khối 9. Vì thế, giáo viên bồi dưỡng khi sử dụng sơ đồ Grap cần đặt nó trong mối liên hệ mắc xích, không thể tách rời. * Cấu tạo của một sơ đồ Grap gồm: - Các đỉnh: thể hiện bằng các ô vuông chứa đựng các đặc điểm, khái niệm. - Các nhánh: thể hiện bằng các mũi tên thể hiện các mối liên hệ giữa các yếu tố, đối tượng địa lý với nhau. * Các kiểu sơ đồ Grap thường dùng: - Grap chứng minh hay giải thích: dùng để thể hiện, phản ánh nội dung bài dạy một cách trực quan nhất. - Grap tổng hợp: dùng để tổng hợp, ôn tập, tổng kết hay hệ thống một chương, một phần kiến thức các bài học. - Grap kiểm tra, đánh giá: dùng để phản ánh năng lực tiếp thu sự hiểu biết của học sinh, đồng thời giúp giáo viên kịp thời điều chỉnh nội dung truyền đạt. * Cách sử dụng sơ đồ Grap: - Giáo viên vừa giảng bài, tổ chức cho học sinh tìm ra kiến thức và các mối liên hệ chủ yếu vừa xây dựng sơ đồ Grap. Kết thúc buổi bồi dưỡng thì việc xây dựng sơ đồ cũng hoàn thành và nội dung bồi dưỡng (nội dung bài học) được thể hiện một cách trực quan bằng sơ đồ. - Giáo viên có thể xây dựng sẵn sơ đồ câm và đặt câu hỏi hướng học sinh phân tích các mối quan hệ trên sơ đồ để giải thích nội dung học tập đồng thời có các ví dụ cụ thể để chứng minh. - Giáo viên cũng có thể xây dựng sơ đồ câm kết hợp với các phiếu học tập đã chuẩn bị trước rồi yêu cầu học sinh thảo luận nhóm tìm ra kiến thức. Cuối cùng, giáo viên khẳng định lại vấn đề đúng sai và học sinh tự hoàn thiện sơ đồ trên cơ sở kiến thức tìm được. * Ưu điểm của phương pháp sử dụng sơ đồ Grap: Việc sử dụng sơ đồ Grap đã được thực hiện khá lâu trong dạy học địa lý do có nhiều ưu điểm nổi bật và thật sự nổi bật hơn trong giai đoạn hiện nay – giai đoạn toàn ngành đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin thông qua vẽ bản đồ tư duy trong dạy học và thực chất của việc vẽ bản đồ tư duy chính là phương pháp sử dụng sơ đồ Grap trong dạy học địa lý. Phương pháp này có những ưu điểm: - Hạn chế việc mất thời gian của giáo viên so với phương pháp dạy từng tiểu mục, từng phần. - Học sinh có thể mở rộng, đào sâu kiến thức, nhất là các kiến thức mang tính tổng quan, khái quát. - Giúp học sinh đễ nhớ và khắc sâu kiến thức bằng thói quen tư duy logic thông qua sơ đồ.
  8. - Học sinh hứng thú học tập bộ môn. * Một số ví dụ cụ thể: - Câu 1: Bằng những kiến thức đã học hãy trình bày các vận động chính của Trái đất và hệ quả của nó. - Câu 2: Khí hậu nước ta có những đặc điểm gì ? Từ những đặc điểm đó có thuận lợi và khó khăn gì cho phát triển kinh tế của nước ta ? - Câu 3: Hãy chứng minh rằng Việt Nam là nước có tiềm năng đa dạng, phong phú để phát triển du lịch. - …… Với các câu hỏi mang tính tổng hợp như trên, học sinh giỏi môn địa lý không thể học thuộc lòng mà thông qua các phương pháp tư duy (so sánh, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa) và kết hợp vận dụng các kỹ năng địa lý dưới sự hướng dẫn của giáo viên phải trình bày đầy đủ và chính xác yêu cầu của đề bằng con đường ngắn nhất là vẽ sơ đồ Grap.
  9. - Câu 1 Trái đất Tự quay quanh trục Chuyển động quanh mặt trời Thời gian Hướng Vận tốc Thời gian Hướng Trục nghiêng …………. …………. …………. …………. …………. …………. …………. …………. …………. …………. …………. …………. …………. …………. …………. …………. …………. …………. Hệ quả Hệ quả Ngày đêm Giờ khác Lệch hướng Mùa trên Ngày đêm Các vành - kế tiếp nhau ở các vật chuyển trái đất dài ngắn đai nhiệt nhau- nơi động theo mùa trên trái đất
  10. - Câu 2: Khí hậu Việt Nam Nhiệt đới ẩm gió mùa Phân hóa đa dạng Thất thường Nhiệt Ẩm Gió Theo Bắc Tây Nhiệt Lượng đới …… mùa mùa Nam Đông độ mưa …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… Thuận lợi: Thuận lợi: Khó khăn ………………………… ………………………… …………………… Khó khăn: Khó khăn: …………………… ………………………… ………………………… …………………… ………………………… ………………………… - Câu 3: Tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch tự nhiên Tài nguyên du lịch nhân văn Di Vườn Hang Bãi Thắng Di Di Lễ Làng Ẩm sản quốc động biển cảnh sản tích hội nghề thực thiên gia …… …… …… văn lịch …… …… …… nhiên …… …… …… …… hóa sử …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… …… ……
  11. Như vậy, sau khi có được nội dung của đề bài vấn đề đặt ra là học sinh phải tạo được sơ đồ cho từng câu hỏi và dựa vào sơ đồ đó học sinh thuyết trình sơ đồ bằng ngôn ngữ viết vào bài làm kết hợp với quá trình khai thác kiến thức từ Atlat Địa lý Việt Nam. b). Sử dụng Atlat Địa lý Việt Nam trong bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý: Đa số giáo viên giảng dạy địa lý nói chung và giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi nói riêng đều cố gắng rèn luyện cho học sinh những kỹ năng cần thiết để khai thác kiến thức từ bản đồ và Atlat địa lý và thông thường chúng ta tiến hành theo các bước sau: - Bước 1: Nắm vững các ký hiệu chung ở trang bìa của Atlat. - Bước 2: Tùy theo yêu cầu của câu hỏi mà người sử dụng Atlat lựa chọn một trang hay nhiều trang atlat khác nhau, đồng thời các trang atlat này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nên phải nắm vững các ký hiệu riêng ở từng trang atlat. - Bước 3: Thông qua các thao tác tư duy người giáo viên hướng dẫn học sinh tìm vị trí của đối tượng trên bản đồ và tiến hành mô tả đối tượng (hình dáng, kích thước, quy mô, màu sắc), cuối cùng xác định các mối liên hệ giữa các đối tượng trên bản đồ để giải thích, làm sáng tỏ vấn đề. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của bản thân thì đây là các bước khai thác atlat theo phương pháp chung nhất mà người giáo viên dạy địa lý nào cũng phải thực hiện, nhưng đối với giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi môn địa lý ngoài các bước khai thác chung cần có các bước khai thác riêng. Nói cách khác để học sinh khai thác có hiệu quả kiến thức từ Atlat địa lý người giáo viên phải nắm vững các phương pháp biểu hiện các đối tượng địa lý trên bản đồ. Atlat Địa lý Việt Nam hiện nay có các phương pháp biểu hiện chủ yếu sau: - Phương pháp ký hiệu: hình học, chữ, tượng hình. - Phương pháp ký hiệu đường chuyển động như : hướng gió, dòng biển, đường giao thông … - Phương pháp chấm điểm như : điểm dân cư, quy mô đô thị, trung tâm công nghiệp … - Phương pháp khoanh vùng như: bãi cá, bãi tôm, phân bố các dân tộc … - Phương pháp bản đồ - biểu đồ: dùng biểu đồ đặt vào phạm vi của đơn vị lãnh thổ như: biểu đồ thể hiện diện tích và sản lượng lúa của An Giang và các tỉnh khác ở đồng bằng sông Cửu Long … - Phương pháp nền chất lượng (phương pháp thang màu). Các phương pháp biểu hiện trên được thể hiện ở các trang bản đồ của Atlat trong hai phần chính của chương trình bồi dưỡng học sinh giỏi môn địa lý là: phần địa lý tự nhiên và phần địa lý kinh tế - xã hội, trong đó: - Phần Địa lý tự nhiên Việt Nam sử dụng các phương pháp biểu hiện chủ yếu là: phương pháp thang màu, phương pháp ký hiệu và phương pháp ký hiệu đường chuyển động. - Phần Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam sử dụng các phương pháp chủ yếu như: phương pháp bản đồ - biểu đồ và phương pháp ký hiệu. Thế thì vì sao người giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi môn địa lý phải nắm vững các phương pháp biểu hiện các đối tượng địa lý trên Atlat ?
  12. Vì: các đối tượng địa lý trên bề mặt đất thông qua các phương pháp biểu hiện đã hàm chứa một kho kiến thức đồ sộ về địa lý nước nhà chứ không đơn thuần là một ký hiệu sơ cứng: trong ký hiệu có kiến thức và kiến thức thể hiện qua ký hiệu. Khi bồi dưỡng cho học sinh về địa lý của một ngành kinh tế hay một vùng kinh tế nào đó, học sinh không thể học thuộc lòng một cách “máy móc” các số liệu hay đọc “thao thao” về sự phân bố, mà bắt buộc học sinh phải khai thác kiến thức từ atlat kết hợp với các thao tác tư duy đồng thời phải nắm được mối liên hệ lôgic của chúng. Như vậy, ở đây người giáo viên bồi dưỡng phải hướng dẫn học sinh nắm được mối liên hệ lôgic của địa lý ngành kinh tế hoặc vùng kinh tế. Qua thực tế, tôi thấy địa lý một ngành kinh tế có mối liên hệ như sau: - Vai trò của ngành kinh tế đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. - Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố của ngành kinh tế. - Tình hình phát triển và phân bố của ngành. (thông thường được thể hiện đầy đủ trong Atlat qua các biểu đồ và thang màu) - Phương hướng, giải pháp phát triển của ngành trong thời gian tới. Ví dụ: Đối với câu hỏi: Bằng những kiến thức đã học hãy trình bày tình hình phát triển và phân bố ngành thủy sản ở nước ta. Vì sao nước ta có thế mạnh để phát triển ngành thủy sản. Với câu hỏi này người giáo viên bồi dưỡng phải hướng dẫn học sinh nắm được mối liên hệ lôgic của địa lý ngành thủy sản và hướng dẫn học sinh khai thác từ Atlat Địa lý Việt Nam: * Tình hình phát triển và phân bố ngành thủy sản ở nước ta: sử dụng atlat trang 20 Toàn bộ trang Atlat (phần thủy sản) chỉ sử dụng hai phương pháp biểu hiện là: phương pháp bản đồ – biểu đồ và phương pháp nền chất lượng, trong đó: - Phương pháp bản đồ - biểu đồ có biểu đồ sản lượng thủy sản của cả nước qua các năm từ năm 2000 đến năm 2007, biểu đồ sản lượng thủy sản của các tỉnh năm 2007 được đặt trong bản đồ 63 tỉnh, thành của Việt Nam. - Phương pháp nền chất lượng: có 06 thang màu thể hiện 06 mức giá trị sản xuất thủy sản trong tổng giá trị sản xuất nông-lâm-thủy sản ở 63 tỉnh, thành (từ dưới 5% đến trên 50%) Như vậy, trước tiên người giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh biết được có những phương pháp biểu hiện địa lý nào trên Atlat, từ những phương pháp biểu hiện đó xác định có những đối tượng địa lý nào được biểu hiện. Tiếp theo, hướng dẫn học sinh chuyển số liệu từ biểu đồ sản lượng thủy sản của cả nước từ năm 2000 đến năm 2007 trên Atlat thành bảng số liệu sau: Bảng: Sản lượng thủy sản của nước ta từ năm 2000 đến năm 2007. Đơn vị: nghìn tấn. Năm Tổng số Khai thác Nuôi trồng 2000 2250,5 1660,9 589,6 2005 3474,9 1987,9 1487,0 2007 4197,8 2074,5 2123,3 Tiếp theo, học sinh căn cứ vào bảng số liệu (cột dọc, cột ngang) rút ra những nhận xét cần thiết nhất. *Về phân bố thủy sản: giáo viên hướng dẫn học sinh xem chú giải riêng của trang Atlat để trình bày. Kết quả có được là:
  13. - Khai thác: tập trung nhiều ở các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Bà Rịa- Vũng Tàu, Bình Thuận. - Nuôi trồng: tập trung chủ yếu ở các tỉnh Cà Mau, An Giang, Bến Tre. - Những tỉnh trọng điểm về ngành thủy sản tập trung ở hai vùng là: Đồng bằng sông Cửu Long và Duyên hải Nam Trung Bộ (học sinh xem 06 thang màu) * Vì sao nước ta có thế mạnh phát triển ngành thủy sản: Giáo viên hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức đã học (các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố ngành kinh tế) kết hợp với khai thác kiến thức ở Atlat trang 20 để giải thích. Trên đây là một ví dụ tiêu biểu về khai thác kiến thức từ Atlat. Ngoài ra, đối với câu hỏi trên, giáo viên bồi dưỡng có thể áp dụng với những ngành kinh tế khác như: ngành chăn nuôi, cây công nghiệp, lúa (Atlat trang 19); lâm nghiệp – thủy sản (Atlat trang 20); các ngành công nghiệp (trang 21); thương mại (trang 24); du lịch (trang 25); 07 vùng kinh tế (các trang còn lại của Atlat). Bên cạnh phần Địa lý kinh tế - xã hội là phần Địa lý tự nhiên, qua kinh nghiệm bồi dưỡng, tôi thấy các thành phần tự nhiên của thiên nhiên Việt Nam như: địa hình (Atlat trang 6, trang 7); khí hậu (Atlat trang 9); sông ngòi (trang 10); đất (trang 11); thực – động vật (trang 12) và các miền tự nhiên (trang 13; 14) được thể hiện chủ yếu bằng phương pháp ký hiệu, phương pháp ký hiệu đường chuyển động và phương pháp thang màu. Do đó, giáo viên cần tập trung hướng dẫn học sinh phân tích thang màu cùng các ký hiệu chung và ký hiệu riêng ở các trang Atlat nói trên kết hợp với việc sử dụng sơ đồ Grap như đã trình bày thì đã làm sáng tỏ được yêu cầu của đề bài. c). Giáo viên bồi dưỡng phải hình thành các kỹ năng về biểu đồ trong bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý: Trong nội dung thi học sinh giỏi môn địa lý cấp trung học cơ sở có các dạng biểu đồ sau: - Biểu đồ tròn. - Biểu đồ cột (đơn, ghép, thanh ngang, cột chồng). - Biểu đồ đường. - Biểu đồ kết hợp cột với đường. - Biểu đồ miền. Qua thực tế bồi dưỡng, vấn đề khó nhất đối với việc hình thành các kỹ năng về biểu đồ cho học sinh là kỹ năng lựa chọn được biểu đồ thích hợp nhất, còn các kỹ năng khác như: tính toán - xử lý số liệu; kỹ năng vẽ, phân tích và nhận xét các loại biểu đồ đa phần học sinh đều vận dụng thành thạo. Do đó, xin được chia sẻ về kỹ năng làm sao lựa chọn được biểu đồ thích hợp nhất. Các loại biểu đồ rất phong phú, đa dạng. Mỗi loại biểu đồ lại có thể được dùng để biểu hiện nhiều mục đích khác nhau. Vì vậy, khi lựa chọn biểu đồ cần vẽ việc đầu tiên là học sinh phải đọc kỹ câu hỏi, xem câu hỏi yêu cầu vẽ biểu đồ gì. Đây là căn cứ quan trọng nhất. Tuy nhiên, đối với học sinh giỏi thì yêu cầu về mức độ tư duy có cao hơn, nên trong những năm qua đề bài không yêu cầu vẽ dạng biểu đồ cụ thể. Ví dụ: Dựa vào bảng số liệu trên hãy vẽ biểu đồ tròn thể hiện quy mô và cơ cấu các nhóm đất chính ở nước ta năm 2000 và 2005 – với yêu cầu như trên thì không kích thích
  14. được quá trình tư duy, đồng thời không phân hóa được học sinh, chưa thể hiện được năng lực độc lập suy nghĩ và sáng tạo khi vẽ biểu đồ. Tuy vậy, giáo viên và học sinh cũng cần lưu ý: nếu đề bài yêu cầu vẽ dạng biểu đồ cụ thể thì bắt buộc phải đáp ứng theo yêu cầu của đề bài. Ví dụ: Qua bảng số liệu trên hãy vẽ biểu đồ tròn thể hiện sự chuyển dịch cơ cấu khách du lịch ở nước ta qua các năm 2001, 2003, 2005, 2007, 2009: như vậy rõ ràng rằng đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ tròn ( ta hiểu ngầm là 05 biểu đồ), thế nhưng trong một số trường hợp học sinh lại vẽ biểu đồ miền, và điều đó đồng nghĩa với việc học sinh không đọc kỹ yêu cầu của câu hỏi và làm trái yêu cầu của đề. Như trên đã trình bày, đối với học sinh giỏi thì yêu cầu về mức độ tư duy có cao hơn học sinh bình thường, do đó trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp huyện, tỉnh đề bài thường yêu cầu: “hãy vẽ biểu đồ thích hợp thể hiện…” hay “hãy vẽ biểu đồ thích hợp nhất thể hiện…”. Ở đây, đề bài không nói rõ dạng biểu đồ cần vẽ, vì vậy giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích kỹ câu hỏi và bước tiếp theo yêu cầu học sinh xác định được chức năng của các dạng biểu đồ. Mỗi dạng biểu đồ có chức năng không giống nhau. Căn cứ vào chức năng của biểu đồ kết hợp với yêu cầu của câu hỏi trong đề bài phần nào học sinh sẽ lựa chọn được dạng biểu đồ thích hợp hay thích hợp nhất. Từng dạng biểu đồ có các chức năng cơ bản sau: - Biểu đồ cột (đứng, ghép, thanh ngang): thể hiện quy mô, độ lớn, khối lượng, tình hình phát triển. - Biểu đồ cột chồng: thể hiện tương quan về quy mô, độ lớn, khối lượng, tình hình phát triển, cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu. - Biểu đồ đường: thể hiện tình hình phát triển của đối tượng địa lý theo thời gian. - Biểu đồ tròn: thể hiện cơ cấu và quy mô của đối tượng, chuyển dịch cơ cấu ( từ 02 đến 03 biểu đồ). - Biểu đồ miền: thể hiện cơ cấu của đối tượng, chuyển dịch cơ cấu (nhiều năm). - Biểu đồ kết hợp cột và đường: thể hiện quy mô, độ lớn, khối lượng và tương quan giữa các đối tượng. Qua chức năng của các dạng biểu đồ, giáo viên hướng dẫn học sinh như sau: → Nếu yêu cầu của đề có cụm từ: hãy vẽ biểu đồ thích hợp nhất thể hiện “sự phát triển”, “tăng trưởng”, “tốc độ tăng” … thì vẽ biểu đồ đường. → Có cụm từ: “cơ cấu” liên quan đến biểu đồ tròn, “chuyển dịch cơ cấu” liên quan đến biểu đồ miền. Sau khi căn cứ vào yêu cầu của câu hỏi cũng như căn cứ vào chức năng của các dạng biểu đồ nhưng học sinh vẫn chưa chắc chắn, cuối cùng giáo viên hướng dẫn học sinh căn cứ vào bảng số liệu theo quy ước sau: - Đối với bảng số liệu thể hiện thời gian theo khoảng cách (1995- 2000; 2000- 2005; 2005-2010;…) thì không vẽ được biểu đồ đường vì biểu đồ đường chỉ được vẽ trong trường hợp thời gian được thể hiện theo thời điểm (2000, 2002, 2004, 2006, 2008 …). - Đối với bảng số liệu thể hiện theo giá thực tế (đơn vị: tỷ đồng) thì không vẽ được biểu đồ cột vì các cột chênh lệch nhau về độ cao rất lớn và không so sánh với nhau được giá trị theo thời gian vì giá thực tế khác nhau. - Đối với bảng số liệu có thể vẽ được cả biểu đồ cột chồng và biểu đồ miền thì căn cứ vào mốc thời gian để chọn một loại biểu đồ thích hợp nhất: nếu mốc thời gian ít (chẳng hạn 3
  15. năm) thì vẽ biểu đồ cột chồng; nếu mốc thời gian nhiều (thông thường từ 4 năm trở lên) thì vẽ biểu đồ miền (để đảm bảo tính trực quan của biểu đồ). - Đối với bảng số liệu có thể vẽ được cả biểu đồ tròn và biểu đồ cột chồng thì cũng căn cứ vào mốc thời gian để chọn một loại biểu đồ thích hợp nhất: nếu mốc thời gian ít (thông thường 2 năm) thì vẽ biểu đồ tròn; nếu mốc thời gian nhiều (thông thường từ 3 năm trở lên) thì vẽ biểu đồ cột chồng. - Đối với bảng số liệu yêu cầu vẽ biểu đồ kết hợp, cần xác định đúng loại biểu đồ phù hợp với từng loại chỉ tiêu trong bảng. Ví dụ: bảng số liệu yêu cầu vẽ biểu đồ kết hợp cột với đường thì cần xác định chỉ tiêu nào cần thể hiện theo đường, chỉ tiêu nào cần thể hiện theo cột (Biểu đồ thể hiện nhiệt độ và lượng mưa: đường biểu diễn thể hiện nhiệt độ, hình cột thể hiện lượng mưa), hay bảng số liệu yêu cầu vẽ biểu đồ kết hợp cột chồng và đường thì cũng cần xác định chỉ tiêu nào được thể hiện bằng cột chồng, chỉ tiêu nào được thể hiện bằng đường (Biểu đồ khách du lịch và doanh thu từ du lịch ở atlat trang 25. - Trong bảng số liệu có cụm từ “chia ra”, “phân ra”, “trong đó”,… thì liên hệ đến các biểu đồ thể hiện cơ cấu (tròn, cột chồng, miền). - Trong bảng số liệu có hai hoặc ba đối tượng với hai đại lượng khác nhau, có mối quan hệ hữu cơ với nhau thì vẽ biểu đồ kết hợp. - Đối với bảng số liệu mà thời gian cho một năm, hay nhiều năm thì: trường hợp cho 1 năm không vẽ được biểu đồ đường, 2 năm vẽ được biểu đồ tròn hay cột chồng, 4 năm trở lên vẽ biểu đồ miền. Nhìn chung, qua các căn cứ để lựa chọn dạng biểu đồ thích hợp vừa nêu trên phần lớn học sinh do bản thân bồi dưỡng đã vận dụng thành thạo các căn cứ để có thể lựa chọn được biểu đồ thích hợp. Tuy vậy, khi vẽ bất kỳ dạng biểu đồ nào người giáo viên cũng phải đảm bảo được 3 yêu cầu: - Khoa học (chính xác, không được sai số). - Trực quan (rõ ràng, dễ đọc). - Thẩm mỹ (đẹp). III. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC: Từ năm học 2005 – 2006 đến năm học vừa qua 2010 – 2011 bản thân đã thực hiện các biện pháp đã nêu trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý khối 9 và kết quả đạt được là khả quan: hàng năm trường đều có học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh môn Địa lý. Cụ thể theo bảng số liệu sau: Số học sinh đạt giải Năm học Số học sinh dự thi Cấp huyện Cấp tỉnh 2005 - 2006 05 05 04 2006 - 2007 05 02 02 2007 - 2008 Ngành không tổ chức thi học sinh giỏi 2008 - 2009 10 08 / 2009 - 2010 03 01 / 2010 - 2011 03 03 02
  16. C/- PHẦN KẾT LUẬN: I. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM: Từ những kết quả đã đạt được trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi những năm qua, bản thân đúc kết được những kinh nghiệm sau: - Thứ nhất, người giáo viên cần xây dựng kế hoạch cụ thể trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi vì qua kinh nghiệm bản thân thấy rằng: kế hoạch vừa là kim chỉ nam cho người giáo viên thực hiện, đồng thời vừa là động lực để người giáo viên phấn đấu tốt hơn trong quá trình bồi dưỡng. Hơn thế nữa, thông qua kế hoạch còn được lãnh đạo nhà trường kịp thời động viên, khuyến khích, tháo gở những khó khăn khi bồi dưỡng, và điều này đồng nghĩa với việc lãnh đạo nhà trường đã thể hiện sự quan tâm đến việc bồi dưỡng học sinh giỏi của giáo viên. Đây chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến thành công trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. - Thứ hai, người giáo viên phải thật sự có tâm huyết với công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.Từ sự tâm huyết, nhiệt tình đó người giáo viên mới có thể từng bước thực hiện công việc bồi dưỡng như: biên soạn tài liệu, chọn phương pháp bồi dưỡng hay san sẻ những khó khăn của học sinh trong quá trình bồi dưỡng (kể cả khó khăn từ phía gia đình, khó khăn trong học tập của các em) … chỉ có như thế mới mang lại thành công cho giáo viên bồi dưỡng. - Thứ ba, người giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi phải có tinh thần tự học suốt đời, không ngừng tìm tòi, học tập, nghiên cứu tài liệu, cập nhật những kiến thức, thông tin trên tất cả các lĩnh vực qua báo, đài, Internet, thực tiễn cuộc sống … để phục vụ cho việc bồi dưỡng. Tuy nhiên, với vai trò là người giáo viên bồi dưỡng bản thân chưa thật sự hài lòng với kết quả trên vì tuy hàng năm có học sinh đạt giải cấp huyện, tỉnh nhưng số lượng học sinh đạt giải chưa nhiều. Do vậy, trong những năm học tiếp theo bản thân sẽ không ngừng tổng kết, rút kinh nghiệm, không ngừng học hỏi để công tác bồi dưỡng học sinh giỏi ngày càng ổn định, phát triển theo hướng bền vững. II. Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: Với những kết quả trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi những năm qua đã mang lại nhiều ý nghĩa hữu ích, thiết thực cho bản thân nói riêng và cho học sinh, tổ chuyên môn, trường, ngành nói chung. - Đối với tổ chuyên môn, trường và ngành: từ kết quả trên góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của tổ, của trường và đóng góp nhỏ bé vào thành tích chung cho tổ, trường nói riêng và phong trào bồi dưỡng học sinh giỏi của huyện nói chung. - Đối với bản thân: thông qua việc bồi dưỡng học sinh giỏi có điều kiện thuận lợi để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; trau dồi, học hỏi mở rộng thêm kiến thức, đồng thời với thành tích trên đã tạo nền tảng vững chắc để bản thân tiếp tục bồi dưỡng học sinh giỏi trong những năm tiếp theo mà trước mắt là năm học 2011 – 2012 . - Đối với học sinh: học sinh hứng thú học tập môn Địa lý và ngày càng tích cực hơn trong quá trình giảng dạy chính khóa trên lớp. Ngoài ra, các em còn thực hiện thành thạo những kỹ năng địa lý khi được học lên bậc trung học phổ thông, và nhiều học sinh giỏi môn Địa lý ở lớp 9 tiếp tục được bồi dưỡng trong đội tuyển học sinh giỏi môn Địa lý lớp 12.
  17. III. PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA ĐỀ TÀI: Qua một số kinh nghiệm bồi dưỡng học sinh giỏi môn Địa lý khối 9 của bản thân tin tưởng rằng quý thầy; cô đã, đang và sẽ bồi dưỡng học sinh giỏi nói chung và môn Địa lý nói riêng, đặc biệt là quý thầy cô đang công tác ở vùng sâu, vùng xa, biên giới như huyện An Phú có thể xem đây là một tài liệu tham khảo, một kênh thông tin hữu ích để phục vụ cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi để tô thắm thêm kết quả bồi dưỡng học sinh giỏi, góp phần làm rạng rỡ thêm thành tích dạy và học của ngành giáo dục huyện nhà An Phú thân yêu nói riêng và quê hương An Giang nói chung. IV. NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT: - Hàng năm, ngành cần mở các lớp tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ môn Địa lý cho tất cả giáo viên đang dạy Địa lý vì thông qua các lớp tập huấn, đặc biệt là tập huấn về chuyên môn mỗi giáo viên có cơ hội học tập, tiếp thu được nguồn kiến thức mới, bổ ích phục vụ cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi mà năm học 2010 – 2011 vừa qua là một điển hình. (tháng 10/2010 Sở mời PGS – TS Nguyễn Đức Vũ thuộc Đại học Huế về tập huấn chuyên môn cho giáo viên dạy Địa lý cấp THCS). - Cần tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh đạt thành tích trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi được đi tham quan để nâng cao kiến thức thực tế. - Các chế độ khen thưởng và hình thức khen thưởng đối với giáo viên bồi dưỡng và học sinh đạt giải cần kịp thời và đa dạng hơn. Qua đó, động viên, khích lệ kịp thời tinh thần giáo viên và học sinh nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập. Đa Phước ngày 26 tháng 10 năm 2011 Người viết LÊ PHẠM DUY LIÊN
  18. PHỤ LỤC Trang A. PHẦN MỞ ĐẦU: 1 B. PHẦN NỘI DUNG: 2 I/- CỞ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 2 II/- THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 3 III/- KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 13 C. PHẦN KẾT LUẬN: 13 I/- NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM 13 II/- Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 13 III/- PHẠM VI ÁP DỤNG 14 IV/- NHỮNG KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 16
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2