intTypePromotion=1

SKKN: Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép Kĩ năng sống cho học sinh trong phân môn Tập đọc lớp 4

Chia sẻ: Phan Thanh Thảo | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:28

0
81
lượt xem
11
download

SKKN: Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép Kĩ năng sống cho học sinh trong phân môn Tập đọc lớp 4

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đề tài "Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép Kĩ năng sống cho học sinh trong phân môn Tập đọc lớp 4" nhằm giúp học sinh ý thức được giá trị của bản thân trong mối quan hệ xã hội; Hiểu biết về thể chất, tinh thần của mình; Có hành vi, thói quen ứng xử có văn hoá và chấp hành pháp luật. Giúp học sinh có đủ khả năng thích ứng với môi trường xung quanh, tự chủ, độc lập, tự tin khi giải quyết công việc.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SKKN: Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép Kĩ năng sống cho học sinh trong phân môn Tập đọc lớp 4

  1. Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc  lớp 4 MỤC LỤC                                      NỘI DUNG TRANG            I. Phần mở đầu 2 1. Lý do chọọ            1. Lý do ch n đềề n đ  tài  tài 2   2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài 2           3. Đối tượng nghiên cứu  3           4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.  3           5. Phương pháp nghiên cứu 3           II. Phần nội dung 3         1. Cơơ           1. C  s sởở ậậnn  lý lu  lý lu 3           2. Thực trạng 4           3. Giải pháp, biện pháp: 7           3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp 7           3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp            7           3.3. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp 23           3.4 Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp. 23           3.5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên  23 cứu           4. Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn  24           III. Phần kết luận, kiến nghị 24           1. Kết luận: 24   2. Kiến nghị:  24                                    TÀI LIỆU THAM KHẢO  25 Giáo viên: Đoàn Thị Thoả 1 Trường TH Krông Ana
  2. Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc  lớp 4  I. Phần mở đầu 1. Lý do chọn đề tài  Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực   phục vụ  sự  nghiệp  công  nghiệp hoá ­ hiện đại hoá đất nước, đáp  ứng yêu cầu hội   nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học, giáo dục phổ thông đã và đang đổi  mới mạnh mẽ  theo bốn trụ  cột của giáo dục thế  kỷ  XXI, mà thực chất là cách tiếp   cận “Kĩ năng sống”. Bộ GD và ĐT đưa nội dung giáo dục Kĩ năng  sống lồng ghép vào  các môn học ở bậc tiểu học. Đây là một chủ trương cần thiết và đúng đắn.  Bởi lẽ Kĩ  năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người; khả năng ứng xử phù hợp với  những người khác và với xã hội; khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của   cuộc sống.           Giáo dục Kĩ năng sống càng trở nên cấp thiết  đối với thế hệ trẻ, bởi  vì: lứa tuổi  học sinh đang hình thành những giá trị nhân cách, những ước  mơ, ham hiểu biết, thích  tìm  tòi,  khám  phá  song  còn  thiếu  hiểu  biết  sâu  sắc, dễ  bị  lôi  kéo, kích động… Đặc  biệt là trong  bối  cảnh hội nhập quốc tế  và cơ  chế  thị  trường hiện nay, thế  hệ  trẻ  thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực luôn đặt vào  hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với khó khăn, thách thức, áp  lực tiêu cực. Hơn nữa các em chính là những chủ  nhân tương  lai  của đất nước, là  người sẽ quyết định sự phát triển của đất nước trong những năm tới.            Giáo dục  Kĩ năng s ố ng  với các phương pháp và nghiên cứu trường hợp điển   hình,  đóng  vai, trò chơi, dự  án, tranh luận,   động  não, hỏi chuyên gia, viết tích cực…  cũng là phù hợp với định hướng về  đổi  mới  phương pháp giáo dục  ở  trường phổ  thông. Bởi vậy, giáo dục và rèn luyện  Kĩ năng s ố ng   cho học sinh được xác định  là  một trong những nội dung cơ  bản của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân   thiện, học sinh tích cực”.    Đối với việc thực hiện chương trình và xây dựng kế  hoạch dạy học của phân   môn Tập đọc lớp 4. nhằm giúp học sinh bước đầu hình thành và rèn luyện cho các Kĩ  năng sống cần thiết, phù hợp với lứa tuổi; giúp các em nhận biết được những giá trị  tốt đẹp trong cuộc sống; biết tự  nhìn nhận, đánh giá  đúng  về  bản  thân để  tự  tin, tự  trọng và không ngừng vươn lên trong cuộc sống; biết  ứng xử  phù hợp trong các mối   quan hệ với người thân; với cộng đồng và với môi trường tự nhiên; biết sống tích cực,  chủ  động trong mọi hoàn cảnh. Xuất phát từ  sự  cần thiết của việc giáo dục Kĩ năng  sống  cho thế  hệ  trẻ  trong phân môn Tập đọc nên tôi chọn   đề  tài :“  Một  số  kinh   nghiệm dạy học lồng ghép Kĩ  năng  s ố ng   cho học sinh trong phân môn Tập đọc   lớp  4.” 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài Giáo viên: Đoàn Thị Thoả 2 Trường TH Krông Ana
  3. Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc  lớp 4           * Mục tiêu: Giúp HS ý thức được giá trị  của bản thân trong mối quan hệ  xã hội; Hiểu biết   về thể chất, tinh thần của mình; Có hành vi, thói quen ứng xử có văn hoá và chấp hành   pháp luật… Giúp học sinh có đủ khả năng thích ứng với môi trường xung quanh, tự chủ, độc  lập, tự tin khi giải quyết công việc.   * Nhiệm vụ:              Tìm hiểu về  nội dung, phương pháp và các hình thức giáo  dục lồng ghép Kĩ  năng sống trong phân môn Tập đọc lớp 4.  Nắm được những khó khăn, vướng mắc của GV và HS khi thực hiện dạy học   lồng ghép Kĩ năng sống cho HS trong phân môn Tập đọc lớp 4.   Khảo sát thực trạng việc tổ chức dạy lồng ghép giáo dục kĩ năng sống cho học  sinh lớp 4C trong phân môn Tập đọc.            Qua kết quả nghiên cứu, đánh giá những nguyên nhân ảnh hưởng tới quá trình  hình thành Kĩ năng sống cho học sinh.            Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao kết quả giáo dục kỹ năng sống qua   việc lồng ghép trong giảng dạy phân môn Tập đọc cũng như  nâng cao hiệu quả  giáo   dục và rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh trường  tiểu học Krông Ana, huyện Krông   Ana.           3. Đối tượng nghiên cứu  Đề tài hướng vào nghiên cứu đặc điểm các bài dạy có nội dung lồng ghép giáo   dục kĩ năng sống và thực tế dạy học trong phân môn Tập đọc  lớp 4.           4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.   Tìm hiểu một số đặc điểm cơ  bản của Kĩ năng sống được hình thành qua việc  học phân môn Tập đọc tại lớp 4C trường tiểu học Krông Ana, trong năm học 2014 ­  2015           5. Phương pháp nghiên cứu ­ Phương pháp điều tra  ­ Phương pháp nghiên cứu tài  liệu ­ Phương pháp thống kê ­ Phương pháp phân tích tổng hợp  ­ Phương pháp so sánh  ­ Phương pháp thực hành             II. Phần nội dung           1. Cơ sở lý luận Giáo viên: Đoàn Thị Thoả 3 Trường TH Krông Ana
  4. Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc  lớp 4             Thực hiện Quyết định số 2994/QĐ­BGD và ĐT ngày 20 tháng 7 năm 2010 của   Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai giáo dục kỹ năng sống trong một số môn học và hoạt   động giáo dục ở các cấp học; Dựa trên cơ sở những định hướng của đợt tập huấn Tăng   cường giáo dục kỹ năng sống trong các môn học của Bộ cho các cấp học trong hệ thống  giáo dục phổ thông. Đặc biệt, rèn kĩ năng sống cho học sinh được xác định là một trong   những nội dung cơ bản của Phong trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện , học   sinh tích cực” trong các trường phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo.  Để  thực hiện việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế  hệ  trẻ, đáp ứng   nhu cầu hội nhập quốc tế và nhu cầu phát triển của người học. Giáo dục phổ thông đã  và đang từng bước đổi mới theo hướng từ  chủ  yếu là trang bị  kiến thức sang trang bị  những năng lực cần thiết cho các em học sinh, phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,  sáng tạo của người học, phù hợp với từng lớp học, tăng cường khả năng làm việc theo  nhóm, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,   hứng thú học tập cho học sinh. Nhận thức rõ tầm quan trọng, cần thiết của việc giáo   dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông nói chung, học sinh tiểu học nói riêng.            Kĩ năng sống thúc đẩy phát triển cá nhân và xã hội. Có thể nói Kĩ năng sống chính   là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực,   lành mạnh.  Kĩ năng sống có thể  hình thành tự  nhiên, học được từ  những trải nghiệm   của cuộc sống và do giáo dục mà có. Không phải đợi đến lúc được học kỹ  năng sống  một   con   người   mới   có   những   kỹ   năng   sống   đầu   tiên.   Chính   cuộc   đời,   những   trải   nghiệm, va vấp, thành công và thất bại giúp con người có được bài học quý giá về  kỹ  năng sống. Tuy nhiên, nếu được dạy dỗ  từ  sớm, con người sẽ  rút ngắn thời gian học   hỏi qua trải nghiệm, sẽ  thành công hơn.           Kĩ năng sống cần cho suốt cả cuộc đời và luôn luôn được bổ  sung, nâng cấp để  phù hợp với sự  thay đổi của cuộc sống biến động. Người trưởng thành cũng vẫn cần   học kĩ năng sống.            Ở lứa tuổi lớp 4 học sinh đang phát triển về hệ xương, hệ thần kinh, học sinh có  những nhận biết nhất định về xung quanh, biết đánh giá nhận xét sự việc xảy ra quanh   mình.  Các em đã có sự phát triển về trí tuệ, tâm hồn, thích quan sát mọi vật xung quanh.  Khả năng tư duy cụ thể nhiều hơn khả năng khái quát hoá và rất nhạy cảm với vẻ đẹp  của thiên nhiên đất nước. Các em dễ  xúc động và bắt đầu biết mơ   ước, có trí tưởng   tượng phong phú. Thích nghi với các vấn đề mà mình đã quan sát được và có khả  năng   ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả  năng ứng phó tích cực trước   các tình huống của cuộc sống .           2. Thực trạng           2.1. Thuận lợi – khó khăn            * Thuận lợi:               Học sinh được học tập trong một môi trường có điều kiện từ phía gia đình, nhà  trường và xã hội. Giáo viên: Đoàn Thị Thoả 4 Trường TH Krông Ana
  5. Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc  lớp 4              Nội dung dạy học lồng ghép giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong các môn  học nói chung và phân môn Tập đọc lớp 4 nói riêng được thực hiện theo chủ  trương  chung của Bộ giáo dục và Đào tạo.              * Khó khăn:              Thực tế, lâu nay GV chỉ tập trung dạy kiến thức văn hóa mà chưa có thói quen   dạy thêm Kĩ năng sống cho HS nên khi thực hiện dạy lồng ghép còn có phần lúng túng.   Ở một số bài, thời gian giảng dạy trong 1 tiết là 35 phút nhiều khi không đủ. Vì thế, khi   dạy lồng ghép Kĩ năng sống vào môn học thì GV phải chọn những phương pháp lồng  ghép thích hợp để tránh “cháy” giáo án và nặng thêm nội dung cho bài học.             2.2. Thành công – hạn chế            * Thành công:             Thực hiện dạy học lồng ghép kĩ năng sống trong phân môn Tập đọc học sinh có   sự hào hứng hơn trong tiết học, thể hiện sự tự tin, nhiều bài các em đã vận dụng, khám   phá tìm hiểu trong thực tế và đặc biệt kĩ năng trình bày của nhiều em diễn đạt một cách   gãy gọn, lưu loát,…                  * Hạn chế:           Thời gian thực hiện dạy lồng ghép giáo dục kĩ năng sống trong mỗi tiết học còn  ít.      Giáo dục kĩ năng sống đòi hỏi sự khéo léo nhưng khi thực hiện về phương pháp   dạy học lồng ghép cũng chưa thật sáng tạo.            2.3. Mặt mạnh – mặt yếu           * Mặt mạnh:             Đa số học sinh tự giác, có ý thức cao trong mỗi giờ học. Sự quan tâm của nhà   trường, cha mẹ luôn sát sao, đồng thuận với giáo viên trong việc giảng dạy và hơn nữa  họ   hiểu rõ chủ  trương của Bộ  giáo dục và Đào tạo để  cùng phối hợp chặt chẽ  trong   việc dạy học các môn học, phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh.           * Mặt yếu:              Khả năng tự nhận thức của một số ít phụ huynh và học sinh chưa thật đầy đủ,   còn thiếu sự quan tâm, ít trau dồi về kĩ năng sống.             2.4. Các nguyên nhân – các yếu tố tác động              Từ trước đến nay phần lớn GV chỉ  chú trọng vào việc truyền thụ kiến thức mà  ít hoặc chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục  Kĩ năng sống cho HS.  Mặc dù GV  đã  được tiếp cận về  nội dung lồng ghép giáo  dục  Kĩ năng sống  của Bộ  Giáo dục và mỗi giáo viên đều được tập huấn về cách dạy và rèn Kĩ năng sống cho học  sinh nhưng hầu như giáo viên chưa xác định được cụ thể kĩ năng sống cần rèn cho học   sinh trong mỗi tiết học là gì? Hoặc nếu có xem giáo trình của BGD đã ban hành thì các  Kĩ năng sống trong các môn học nói chung và phân môn Tập đọc nói riêng giáo viên còn  gặp rất nhiều khó khăn trong việc tổ  chức các hoạt  động  học tập, sử  dụng phương  pháp và hình thức dạy học thích hợp để giáo dục các kĩ năng đó. Giáo viên: Đoàn Thị Thoả 5 Trường TH Krông Ana
  6. Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc  lớp 4    Trong lớp học sinh có trình độ, sức khoẻ, tâm sinh lí, sự  trải nghiệm…  khác  nhau. Chẳng hạn có em học sinh tự tin, bạo dạn vì được tham gia nhiều các hoạt động   bề  nổi của nhà trường hay  ở  gia đình các em được bố  mẹ  rèn  Kĩ năng sống thường  xuyên thì việc thực hiện kĩ năng của môn học và các  Kĩ năng sống  rất thuận lợi.  Ngược   lại những em nhút nhát, thiếu tự  tin, ngại giao tiếp thì việc này quả  là khó   khăn.         Những thay đổi nói trên còn ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục con cái của gia  đình cũng có những biến đổi nhất định. Cha mẹ ít có thời gian quan tâm đến con cái hơn   là một thực tế không thể phủ nhận, thay vào đó là các hoạt động kinh tế, tìm kiếm thu   nhập. Trong nhà trường, hiện tượng quá tải với các môn học cũng đang gây nhiều áp   lực đối với người học. Cùng với đó là những tác động nhiều chiều của các nguồn thông   tin khác nhau từ  xã hội khiến cho giới trẻ, đặc biệt là học sinh đang đứng trước nhiều  thách thức khi hòa nhập xã hội. Các kỹ năng sống đã bị xem nhẹ trong một thời gian dài.            2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề mà đề tài đã đặt ra.            Kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và  thích ứng trong cuộc sống, giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống có nhiều thách  thức nhưng cũng nhiều cơ  hội trong thực tại… Kĩ năng sống đơn giản là tất cả  điều   cần thiết chúng ta phải biết để có được khả năng thích ứng với những thay đổi diễn ra   hằng ngày trong cuộc sống.    Có thể  nói  Kĩ   năng   s ố ng   chính là những nhịp cầu giúp con người biến kiến  thức thành  thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Người có Kĩ năng s ố ng  phù hợp sẽ luôn vững vàng trước những khó khăn, thử  thách; biết  ứng xử, giải quyết   vấn đề một cách tích cực và phù hợp; Họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn  yêu đời và làm chủ cuộc sống của chính mình. Ngược lại, người thiếu Kĩ năng s ố ng  thường bị vấp váp, dễ bị thất bại. Ví dụ: Người  không có kĩ  năng ra quyết định  sẽ dễ  mắc sai lầm hoặc chậm trễ trong việc đưa ra quyết định và phải trả giá cho quyết định  sai lầm của mình; người không có kĩ   năng    ứng phó với căng thẳng   sẽ  hay bị  căng  thẳng hơn những người  khác và thường có cách  ứng phó tiêu cực khi bị  căng thẳng,  làm  ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ, học tập, công việc,… của bản thân. Hoặc   người không có kĩ năng giao tiếp sẽ  khó khăn hơn trong việc xây dựng các mối quan   hệ  tốt đẹp với mọi người xung quanh, sẽ khó khăn hơn trong hợp tác cùng làm việc,  giải quyết những nhiệm vụ chung… Giáo dục Kĩ năng s ố ng   cho HS phải bảo đảm các yếu tố: giúp HS ý thức được   giá trị của bản thân trong mối quan hệ xã hội; giúp HS hiểu biết về thể chất, tinh thần   của bản thân mình; có hành vi, thói quen ứng xử văn hoá, hiểu biết và chấp hành pháp  luật… Tuy nhiên, giáo dục để đạt hiệu quả đòi hỏi nhiều yếu tố chứ không phải chỉ từ  các bài giảng.           Kĩ năng s ố ng  là cái có sau những trải nghiệm thực tế nên việc lồng ghép này sẽ  không dừng lại  ở  mức giảng dạy lý thuyết mà sẽ  cụ  thể  hóa thành từng trường hợp,  hoàn cảnh và yêu cầu học sinh xử lý.          Trong chương trình dạy kỹ năng sống, không có khái niệm “vâng lời”, chỉ có khái  niệm “lắng nghe”, “đồng cảm”, “chia sẻ”. Mục tiêu của giáo dục kỹ  năng sống là rèn   Giáo viên: Đoàn Thị Thoả 6 Trường TH Krông Ana
  7. Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc  lớp 4 luyện cách tư  duy tích cực, hình thành thói quen tốt thông qua các hoạt động và bài tập  trải nghiệm, chứ không đặt mục đích “rèn nền nếp” hay “nghe lời”. Công dân toàn cầu  là người biết suy nghĩ bằng cái đầu của mình, biết phân tích đúng, sai, quyết định có làm   điều này hay điều khác và chịu trách nhiệm về điều đó, chứ  không tạo ra lớp công dân   chỉ biết nghe lời.  Đây là sự khác biệt cơ bản của việc giáo dục kỹ năng sống với môn  học truyền thống  như Đạo đức.            Nội dung các bài học vốn đã nhiều, thời lượng lại ít nên khó lồng ghép giáo dục   Kĩ năng s ố ng  vào. Ngoài ra, đội ngũ giáo viên cũng chưa được đào tạo cơ bản để dạy  về  Kĩ năng sống trong từng môn học, từng  bài giảng.  Thêm vào đó, chính các em học   sinh cũng chưa có nhận thức đầy đủ và ý thức trau dồi  kĩ năng s ố ng , chưa tích cực chủ  động tham gia các họat động trải nghiệm để tạo lập, rèn luyện kĩ năng s ố ng.           Thực trạng việc rèn kĩ năng sống cho học sinh ở trường tiểu học: Học tập là một   nhu cầu thường trực của con người trong mọi thời đại. Học tập không chỉ  dừng lại ở  các tri thức khoa học thuần túy mà còn được hiểu là mọi tri thức về thế giới trong đó có  cả  những mối quan hệ, cách thức  ứng xử  với môi trường sống xung quanh. Kỹ  năng  sống là một trong những vấn đề quan trọng đối với mỗi cá nhân trong quá trình tồn tại   và phát triển. Chương trình học hiện nay đang gặp phải nhiều chỉ trích do quá nặng về  kiến thức hàn lâm trong khi những tri thức vận dụng cho đời sống hàng ngày bị  thiếu   vắng. Hơn nữa, người học đang chịu nhiều áp lực về  học tập khiến cho không còn   nhiều thời gian cho các hoạt động ngoại khóa, hoạt động xã hội. Điều này đã dẫn đến   sự  “xung đột” giữa nhận thức, thái độ  và hành vi với những vấn đề  xảy ra trong cuộc   sống.                       3. Giải pháp, biện pháp:            3.1. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp       Nghiên cứu kĩ nội dung, chương trình môn Tiếng Việt nói chung và phân  môn  Tập đọc lớp 4 nói riêng để nắm chắc kiến thức và kĩ năng của môn học, cũng như  kĩ  năng sống mà HS cần được học và tiếp cận. Từ đó, tuỳ  từng bài cụ  thể, nội dung cụ  thể  để  lựa chọn  nội  dung, phương pháp, hình thức và các Kĩ thuật dạy học tích cực  thích hợp các hoạt động học tập và giáo dục lồng ghép Kĩ năng sống cho HS, giúp các   em có thể thực hành kĩ năng sau khi  tiếp cận.           Ngoài ra, trong khi giảng  dạy kiến thức và giáo dục lồng ghép Kĩ năng sống, cần   có sự khuyến khích kịp thời khi HS có tiến bộ (dù chỉ là một tiến bộ rất nhỏ) để khích   lệ  học sinh  tham gia các hoạt động một cách tích cực và có  đủ  tự  tin thể  hiện khả  năng của mình trước lớp.           3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp                          3.2.1. Tìm hiểu nội dung giáo dục Kĩ năng sống và địa chỉ  trong  chương trình  sách giáo khoa  MÔN  TUẦN  TÊN BÀI DẠY CÁC KĨ NĂNG SỐNG CẦN ĐẠT HỌC Giáo viên: Đoàn Thị Thoả 7 Trường TH Krông Ana
  8. Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc  lớp 4 ­ Thể hiện sự thông cảm. Dế   Mèn   bênh   vực   ­ Xác định giá trị. Tập đọc kẻ yếu ­ Tự nhận thức về bản thân 1 ­ Thể hiện sự thông cảm. Tập đọc Mẹ ốm ­ Xác định giá trị. ­ Tự nhận thức về bản thân ­ Thể hiện sự thông cảm. 2 Tập đọc Dế   Mèn   bênh   vực   ­ Xác định giá trị. kẻ yếu  ( TT) ­ Tự nhận thức về bản thân. ­   Giao   tiếp   ứng   xử   lịch   sự   trong   giao   tiếp. Tập đọc Thư thăm bạn ­ Thể hiện sự thông cảm. ­ Xác định giá trị. 3 ­ Tư duy sáng tạo ­   Giao   tiếp   ứng   xử   lịch   sự   trong   giao   tiếp. Tập đọc Người ăn  xin ­ Thể hiện sự thông cảm. ­ Xác định giá trị. ­ Xác định giá trị Một   người   chính   ­ Tự nhận thức về bản thân 4 Tập đọc trực ­ Tư duy phê phán ­ Xác định giá trị Những   hạt   thóc   ­ Tự nhận thức về bản thân 5 Tập đọc giống ­ Tư duy phê phán ­ Ứng xử lịch sự trong giao tiếp Nỗi   dằn   vặt   của   ­ Thể hiện sự cảm thông Tập đọc An­đrây­ca ­ Xác định giá trị 6 ­ Tự nhận thức về bản thân ­ Thể hiện sự cảm thông Tập đọc Chị em tôi ­ Xác định giá trị ­ Lắng nghe tích cực ­ Xác định giá trị 7 Tập đọc Trung thu độc lập ­   Đảm   nhận   trách   nhiệm   (xác   định  nhiệm vụ của bản thân ­ Lắng nghe tích cực Thưa   chuyện   với   ­ Giao tiếp 9 Tập đọc mẹ ­ Thương lượng  Giáo viên: Đoàn Thị Thoả 8 Trường TH Krông Ana
  9. Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc  lớp 4 ­ Xác định giá trị 11 Tập đọc Có chí thì nên ­ Tự nhận thức về bản thân ­ Lắng nghe tích cực ­ Xác định giá trị Vua tàu thủy Bạch   ­ Tự nhận thức về bản thân 12 Tập đọc Thái Bưởi ­  Đặt mục tiêu ­ Xác định giá trị Văn hay chữ tốt ­ Tự nhận thức về bản thân 13 Tập đọc ­ Đặt mục tiêu ­ Kiên định ­ Xác định giá trị Tập đọc Chú Đất Nung ­ Tự nhận thức về bản thân ­ Thể hiện sự tự tin 14 ­ Xác định giá trị Tập đọc Chú Đất Nung (tt) ­ Tự nhận thức về bản thân ­ Thể hiện sự tự tin ­ Tự nhận thức, xác định giá trị cá nhân 19 Tập đọc Bốn anh tài ­ Hợp tác ­ Đảm nhận trách nhiệm ­ Tự nhận thức, xác định giá trị cá nhân Tập đọc Bốn anh tài (tt) ­ Hợp tác ­Đảm nhận trách nhiệm 20 Anh hùng lao động   ­ Tự nhận thức, xác định giá trị cá nhân Tập đọc Trần Đại Nghĩa ­ Tư duy sáng tạo ­ Giao tiếp 21 Khúc hát ru những   ­  Đảm  nhận trách nhiệm  phù   hợp  với  Tập đọc em bé trên lưng mẹ lứa tuổi ­ Lắng nghe tích cực ­ Tự nhận thức xác định giá trị cá nhân Vẽ   về   cuộc   sống   24 Tập đọc ­ Tuy duy sáng tạo an toàn ­ Đảm nhận trách nhiệm ­ Tự nhận thức: xác định giá trị cá nhân Khuất   phục   tên   ­ Ra quyết định 25 Tập đọc cướp biển ­ Ứng phó, thương lượng ­ Tư duy sáng tạo: bình luận, phân tích ­ Giao tiếp: thể hiện sự cảm thông 26 Tập đọc Thắng biển ­ Ra quyết định, ứng phó ­ Đảm nhận trách nhiệm ­ Tự nhận thức: xác định giá trị các nhân Ga­vrốt   ngoài   27 Tập đọc ­ Đảm nhận trách nhiệm chiến lũy ­ Ra quyết định Giáo viên: Đoàn Thị Thoả 9 Trường TH Krông Ana
  10. Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc  lớp 4 Hơn   một   nghìn   ­ Tự nhận tức, xác định giá trị bản thân 30 Tập đọc ngày   vòng   quanh   ­ Giao tiếp: Trình bày suy nghĩ, ý tưởng trái đất ­ Kiểm soát Tiếng  cười là  liều   ­ Ra quyết định: tìm kiếm các lựa chọn 34 Tập đọc thuốc bổ ­ Tư duy sáng tạo: nhận xét, bình luận           3.2.2. Xác định nội  dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh  trong  phân  môn Tập đọc  lớp 4 *  Kĩ năng tự nhận  thức:           Tự nhận thức là tự nhìn nhận, tự đánh giá bản thân  .    Kĩ năng tự  nhận thức là khả  năng của con người hiểu về chính bản thân mình,   như  cơ  thể, tư  tưởng các mối quan hệ  xã hội; biết nhìn nhận, đánh giá đúng về  tiềm   năng, tình cảm, sở thích, thói quen… của  bản thân mình, quan tâm và luôn ý thức được  mình đang làm gì, kể cả nhận ra lúc bản thân đang cảm thấy căng thẳng.  Để  tự nhận thức đúng về bản thân cẩn phải được trải nghiệm qua thực tế, đặc  biệt là qua giao tiếp với người khác. Ví dụ 1: Bài “Văn hay chữ tốt  ”  Sau khi HS hiểu Cao Bá Quát viết đơn cho bà cụ, mặc dù lá đơn có lí lẽ  rõ ràng  nhưng vì chữ  ông viết xấu quá, quan không đọc được nên đuổi  bà  cụ  ra khỏi huyện  đường. Tôi hỏi thêm:           + Vì sao khi sự việc xảy ra, Cao Bá Quát mới dốc sức luyện chữ cho đẹp?          Tôi yêu cầu HS trả lời câu hỏi bằng một câu. Khuyến khích nhiều em phát biểu  theo cách khác nhau. Chẳng hạn: (Vì khi sự việc này xảy ra, Cao Bá Quát  mới thực sự  nhận ra tai hại của việc viết chữ  xấu.  Vì viết chữ  xấu có thể  gây tai hại cho người  khác…) + Vì sao Cao Bá Quát viết chữ  rất xấu mà nhận lời viết đơn giúp bà cụ? Tôi   khuyến khích nhiều em phát biểu theo các cách khác nhau, sau đó tôi chốt ý:  Khi bà cụ  nhờ viết đơn kêu oan, Cao Bá Quát đã vui vẻ trả lời: “Tưởng việc gì khó, chứ việc ấy   cháu xin sẵn lòng. Mặc dù sẵn sàng giúp đỡ  người khác nhưng Cao Bá Quát đã chưa  nhận thức đúng về  bản thân, chưa tự  nhận biết  được điểm hạn chế của mình có thể  đem lại điều bị hại cho người  khác. Ví dụ 2: Khi dạy bài: “Dế Mèn bênh vực kẻ  yếu ” TV4 tập I trang 4, 5. Sau khi  HS hiểu: Dế Mèn nhìn thấy cảnh đáng thương của chị Nhà Trò thì Dế  Mèn hành động  mạnh mẽ, kiên quyết thể  hiện rất hào hiệp (quay phắt lưng, phóng càng đạp phanh  phách …) dùng lời nói để  bọn Nhện phải nhận ra lẽ phải  và cuối cùng phải phá hết  các dây tơ chăng lối Nhà Trò. GV chốt ý: Các nhân vật trong truyện đều có những điểm   mạnh, điểm yếu: Chị Nhà Trò tỏ rõ thật đáng thương; Dế  Mèn tỏ ra là mạnh khoẻ, có  thể  dùng sức mạnh và lẽ  phải  để  bảo vệ  được Nhà Trò.  Bọn Nhện  tự  nhận thấy  Giáo viên: Đoàn Thị Thoả 10 Trường TH Krông Ana
  11. Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc  lớp 4 được việc làm sai trái của mình nên tự phá các dây tơ không bắt nạt Nhà Trò  nữa.   Ví dụ  3: Khi dạy Bài  “Những hạt thóc giống ”  Sau khi HS nhận biết chú bé  Chôm (vì chú nhận thức được khả năng của mình không thể  làm cho hạt thóc đã luộc  kĩ nảy mầm được nên chú cũng trung thực tâu với nhà vua và cuối cùng chú được nhà  vua truyền ngôi.)    Ví dụ  4:  Khi dạy bài “Vua tàu thuỷ  Bạch Thái Bưởi” nhờ  khả  năng kinh  doanh tài giỏi nên Bạch Thái Bưởi đã gặt hái nhiều thành công . Giáo dục  HS tự nhận  thức khả  năng của  bản  thân để  có  ước mơ, hoài bão và khả  năng thực hiện được   những  ước mơ, hoài bão của mình.  Ước mơ  phải thực tế  phù hợp với khả  năng của  mình. Từ đó giáo dục cho các em kĩ năng sống cần thiết đó là: phải tự nhận thức được   giá trị  của bản thân. Biết được khả  năng cũng như   hạn chế  của mình để  điều chỉnh  hành vi cho phù hợp. Sau dó tôi cho HS  thực hành Kĩ năng sống đó bằng cách cho HS  thực hành: “Tự  giới thiệu về  mình”. Trong lời giới thiệu: HS nêu những điểm mạnh,   điểm yếu của bản thân. Ví dụ: Học sinh tự nhận xét về chữ viết của mình, hoặc giới  thiệu những  khả năng và hạn chế của bản thân. Tôi khích  lệ   để  HS tự tin, mạnh dạn  khi nói trước cả lớp để học sinh có cơ hội được rèn kĩ năng nói trước tập thể. * Kĩ năng xác định giá trị:           Giá trị là những gì con người cho là quan trọng, có ý nghĩa  đối với bản thân mình,  có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối  sống của bản thân trong cuộc  sống. Giá trị có thể là những chuẩn mực đạo đức, những chính kiến, thái độ và thậm chí   là thành kiến đối với một điều gì  đó…   Giá trị  có thể  là giá trị  vật chất hoặc giá trị  tinh thần, có thể thuộc các lĩnh vực  văn hóa, nghệ thuật, đạo đức, kinh  tế…    Giáo dục kĩ năng “Xác định giá trị  ” ở  một số  bài Tập đọc tôi đã thực hiện như  sau :   Ví dụ 1: Bài  “Thư thăm bạn ” TV4 tập I trang  25 Giáo dục kĩ năng sống “Xác định giá trị. ” trong bài là: HS nhận biết được ý nghĩa   của tấm lòng nhân hậu trong cuộc  sống.  GV nêu:              + Tìm những câu bạn Lương an ủi bạn Hồng?   + Theo em được bạn khác an ủi, bạn  Hồng cảm thấy thế nào?      Tôi để nhiều HS được trình bày, sau đó tôi chốt ý đúng và đưa ra câu hỏi, tổ  chức cho HS thảo luận nhóm đôi: “Khi có chuyện buồn, được người khác an ủi, động  viên em cảm thấy thế nào?  ”      GV kết luận để  HS nhận thấy: Khi có chuyện buồn, được người khác an ủi,  động viên thì nỗi buồn sẽ  vơi đi từ đó giáo dục HS cần an  ủi, động viên người khác  khi người đó gặp chuyện  buồn trong cuộc  sống.          Ví dụ 2: Bài “Người ăn xin” TV4 tập I trang  30.            Giáo dục Kĩ năng sống “Xác định giá trị” trong bài là: Nhận biết được vẻ đẹp của   những tấm lòng nhân hậu trong cuộc  sống Sau khi HS tìm hiểu nội dung bài tôi hỏi:  Giáo viên: Đoàn Thị Thoả 11 Trường TH Krông Ana
  12. Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc  lớp 4 + Câu chuyện giúp em hiểu ra điều gì? Tôi yêu cầu  mỗi  em trả  lời câu hỏi bằng một  câu. Chẳng hạn: (Những  người  nghèo  khổ,  bất  hạnh  họ  không  chỉ  cần  sự  giúp  đỡ  về  vật chất  mà  họ  còn  cần tình  thương yêu, sự cảm thông chân thành. Con người  cần giành cho nhau tình yêu thương,   chia  sẻ…) Ví dụ 3: Bài  “Văn hay chữ tốt”  TV4 tập I trang  129 Giáo dục Kĩ năng sống “Xác định giá trị. ” trong bài là:  HS nhận biết được sự  kiên trì, lòng quyết tâm rất cần thiết đối với mỗi người.  Sau khi HS nhận biết Cao Bá Quát quyết tâm luyện chữ, cuối cùng ông viết chữ  rất đẹp. Tôi hỏi:  + Qua câu chuyện  em thấy muốn thành công ta cần có đức tính gì?  ­ Yêu cầu mỗi em trả lời bằng một câu: (Ví dụ: Kiên trì luyện viết, nhất định chữ  sẽ  đẹp. Có mục tiêu phấn đấu, quyết tâm thực hiện, nhất định sẽ  thành công. Có tật   xấu, nếu quyết tâm sửa, thế nào cũng sửa được. Kiên trì làm một việc gì đó, nhất định  sẽ thành công. Quyết tâm sửa một thói quen xấu, thế nào cũng sửa được…)           Tôi khen ngợi các HS phát biểu theo suy nghĩ riêng của mình và diễn đạt rõ ràng,   mạch lạc, ngắn  gọn. * Sau khi tổ chức giáo dục lồng ghép Kĩ năng sống trong một số bài đó  tôi tổ chức  cho HS liên hệ  ngay tại lớp và giao nhiệm vụ  thực hành Kĩ năng sống đó trong cuộc   sống hàng ngày như:  + Kể những hành động,  việc làm  ủng  hộ  đồng bào  bị thiên tai mà  em biết + Kể cho người thân nghe câu chuyện về chủ đề Nhân hậu em đã học. Hoặc viết  về những mảnh đời bất hạnh, cần sự giúp đỡ của mọi người.         + Vẽ tranh, viết văn, làm thơ ca ngợi những tấm lòng nhân  hậu.             + Kể cho người thân nghe về bức thư của bạn  Lương.         + Viết giới thiệu gương người tốt, việc tốt ủng hộ đồng bào gặp thiên tai.          + Liên hệ  việc làm cụ thể để giúp đỡ những bạn có hoàn cảnh khó khăn trong lớp   …   *   Kĩ    năng giao    tiếp :      Kĩ năng giao tiếp là khả  năng có thể  bày tỏ  ý kiến của bản thân theo hình thức  nói,  viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời  biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến của người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm. Bày tỏ ý  kiến bao gồm cả bày tỏ về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng thời  nhờ sự giúp đỡ và sự tư vấn khi cần thiết.   Kĩ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh  cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả, cởi mở  bày tỏ  suy nghĩ, cảm  xúc nhưng  không làm hại hay gây tổn thương cho người khác. Kĩ năng này giúp chúng ta có mối   quan hệ  tích cực với người khác, bao gồm biết gìn giữ  mối quan hệ  tích cực với các  thành viên trong gia đình nguồn hỗ trợ quan trọng cho mỗi chúng ta, đồng thời biết cách   xây dựng mối quan hệ với bạn bè mới và đây là   yếu tố rất quan trọng đối với niềm  vui cuốc sống.  Khi dạy các bài: “Thư thăm bạn; Nỗi dằn vặt của của An­đrây­ca; Thưa chuyện   Giáo viên: Đoàn Thị Thoả 12 Trường TH Krông Ana
  13. Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc  lớp 4 với mẹ; Người ăn xin….” Tôi cho HS nhận xét cách xưng hô của các nhân vật trong  truyện, lời lẽ, của các nhân vật khi giao  tiếp…      :   Thư thăm bạn: xưng hô  “mình ­ Hồng  ”  Ví  dụ              Thưa chuyện  với  mẹ: xưng  hô “mẹ ­ con….”               Người ăn xin: xưng hô “ông ­ cháu  …” Học sinh nhận biết cách xưng hô của các nhân vật trong truyện là đúng thứ  bậc,   lời  nói thể   hiện sự thân mật,  dễ  đạt được mục đích giao tiếp. HS biết thể hiện sự  cần thiết phải  ứng xử  lịch sự  khi giao tiếp trong cuộc sống. Dù trong mỗi hoàn cảnh  giao tiếp khác nhau, mục đích giao tiếp khác nhau nhưng các em luôn có thể hiện cách   ứng xử lịch sự để đạt được mục đích giao tiếp và hơn hết là xây dựng mối quan hệ tốt   đẹp với mọi người xung quanh. Có thể  là trình bày nguyện vọng của mình với người  khác kèm theo cử chỉ, nét mặt, lời nói, ngữ  điệu. Có thể  lắng nghe tích cực khi người  khác nói.  Ví     dụ : Khi học xong bài: Thưa chuyện với mẹ… (Trò chuyện thân mật và trình  bày nguyện vọng, ý kiến của mình với người khác) cần có thái độ như thế nào? Tôi đã  thực  hiện như sau:  Khi học sinh nhận xét phần trò chuyện và thể hiện nguyện vọng  ý kiến của bạn  với Cương với mẹ và thái độ lắng nghe tích cực của mẹ Cương xong, tôi tổ  chức cho   học sinh thực hành Kĩ năng sống bằng cách cho học sinh thảo luận đóng vai để đưa ra  các tình huống xảy ra trong cuộc sống và các cách xử lí tình huống của các nhóm. Ví  dụ: Nhóm 1  ­ HS1  nói : “ Lan ơi, cho mình mượn quyển truyện này nhé.”  ­ HS2: Tỏ thái độ khi nghe HS1 nói và thể hiện thái độ đồng ý hoặc không  Có thể là thái độ tích cực hoặc tiêu cực.                   Chẳng hạn   HS2 nói: “Thôi, không cho mượn”, Kèm theo thái  độ  khó chịu …  Hoặc em đó nói: “Tớ đọc chưa xong, mai tớ đọc xong tớ cho cậu mượn nhé!”,Kèm theo  thái độ vui vẻ …             Sau đó GV tổ chức cho HS cả lớp thảo luận chọn cách thể hiện Kĩ năng sống thích  hợp nhất. Và cuối cùng tôi chốt lại các Kĩ năng sống cần rèn và giáo dục học sinh ý   thức rèn luyện Kiz năng sống đó. * Kĩ năng kiểm soát cảm  xúc:             Kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mình trong  một tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với  bản thân và người  khác như thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh, thể hiện cảm xúc một cách phù hợp.   Kĩ năng kiểm soát cảm xúc  còn có nhiều tên gọi khác như: xử  lý cảm xúc, kiềm chế  cảm xúc, quản lý cảm  xúc.  Một người biết kiềm chế  cảm xúc thì sẽ  góp phần giảm căng thẳng, giúp giao   tiếp và thương lượng hiệu quả  hơn, giúp ra quyết định và giải quyết vấn đề  tốt hơn.   Kĩ năng xử  lý cảm xúc cần sự kết hợp với kĩ năng tự  nhận thức, kĩ năng  ứng  xử  với  người khác và kĩ năng ứng phó với căng thẳng  … * Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ  trợ:            Trong cuộc sống, nhiều khi ta gặp những vấn đề, tình huống phải cần đến  sự hỗ  Giáo viên: Đoàn Thị Thoả 13 Trường TH Krông Ana
  14. Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc  lớp 4 trợ, giúp đỡ của những người khác. Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ bao gồm các yếu tố sau:            ­ Ý thức được nhu cầu cần giúp đỡ. Xác định được địa chỉ hỗ trợ đáng tin  cậy.            ­ Tự  tin và biết tìm đến địa chỉ  đó. Biết bày tỏ  nhu cầu giúp đỡ  một cách phù  hợp.             Khi tìm đến các địa chỉ hỗ trợ, chúng ta  cần: Cư xử đúng mực và tự tin. Cung cấp  thông tin đầy đủ, rõ ràng, ngắn  gọn. Giữ  bình tình khi gặp sự  đối xử  thiếu thiện chí.  Nếu vẫn cần sự hỗ trợ của  người thiếu thiện chí, cố gắng tỏ ra bình thường, kiên nhẫn  nhưng không sợ hãi. Nếu bị cự tuyệt, đừng nản chí, hãy kiên trì tìm sự hỗ trợ từ các địa  chỉ khác, người khác.     Kĩ năng tìm kiếm sự hỗ  trợ, giúp đỡ  giúp chúng ta có thể  nhân được những lời  khuyên, sự  can thiệp cần thiết để  tháo gỡ, giải quyết những vấn đề, tình huống của  mình, đồng thời là cơ hội để  chúng ta chia sẻ, giãi bày khó khăn, giảm bớt được căng  thẳng tâm lí do bị  dồn nén cảm xúc. Biết tìm kiếm sự giúp đỡ kịp thời sẽ giúp cá nhân  không cảm thấy đơn độc, bi quan, giúp chúng ta có cách nhìn mới và hướng đi  mới. * Kĩ năng thể hiện sự tự tin:     Tự  tin là có niềm tin vào bản thân, tự  hài lòng với bản thân, tin rằng mình có  thể trở thành người có ích và tích cực, có niềm tin về tương lai, cảm thấy có nghị lực  để hoàn thành nhiệm  vụ. Kĩ năng thể hiện sự tự tin giúp các nhân giao tiếp hiệu quả hơn, mạnh dạn bày tỏ  suy nghĩ và ý kiến của mình, quyết đoán trong việc đưa ra quyết định và giải quyết  vấn  đề,  đồng thời cũng giúp người đó có suy nghĩ tích cực và lạc quan trong cuộc  sống. Kĩ năng thể  hiện sự  tự  tin là yếu tố  cần thiết trong giao tiếp, thương lượng, ra   quyết định, đảm nhận trách  nhiệm. * Kĩ năng lắng nghe tích  cực:   Lắng nghe tích cực  là một phần quan  trọng của kĩ năng giao  tiếp. Người  có  kĩ  năng lắng nghe tích cực biết thể  hiện sự tập trung chú ý và thể  hiện sự quan tâm lắng  nghe ý kiến hoặc trình bày của người khác, biết đưa ra ý kiến phản hồi mà không vội  đánh giá, đồng thời có đối đáp hợp lý trong qúa trình giao tiếp. * Kĩ năng thể hiện sự cảm  thông:           Thể hiện sự cảm thông là khả năng có thể hình dung và  đặt mình trong hoàn cảnh  của người khác, giúp chúng ta hiểu và  chấp nhận người khác vốn là những người rất  khác mình, qua đó chúng ta có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảm của người khác và cảm   thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của  họ. Ví dụ: Khi dạy bài “Người ăn xin; Dế  Mèn bênh vực kẻ yếu; Thư thăm bạn” Tôi  yêu cầu HS:               + Em đã làm  được  việc gì để  tỏ  lòng cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ  người   bất   hạnh?  HS kể sau đó cho HS đóng vai thực hành KNS cảm thông, chia sẻ.   Ví     dụ     :  HS1 (Người ăn xin): Cháu ơi, cho bà xin cốc nước.             HS2: (Cầm cốc nước): Cháu mời bà uống nước ạ. (kèm theo thái độ  thể hiện sự tôn trọng lễ phép) Giáo viên: Đoàn Thị Thoả 14 Trường TH Krông Ana
  15. Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc  lớp 4 Hoặc khi dạy bài  “Mẹ   ốm”  TV4 Tập I trang 9 KNS cần lồng ghép là  sự  cảm  thông: HS biết thể hiện tình yêu thương mẹ và người thân bằng những việc làm cụ thể   như: rót nước, lấy thuốc, hỏi thăm  … Liên hệ  xem em đã làm được những việc gì để  thể  hiện tình cảm với  bố,  mẹ  hoặc những người thân. Sau đó cho HS đóng vai thực hành Kĩ năng sống. * Kĩ năng thương lượng:          Thương lượng là khả năng trình bày suy nghĩ, phân tích và giải thích đồng thời có   thảo luận để  đạt được sự  điều chỉnh và thồng nhất  với suy nghĩ, cách làm  hoặc về  một vấn đề gì đó. * Kĩ năng giải quyết mâu  thuẫn:              Mâu thuẫn là những xung đột, tranh cói, bất đồng, bất bình với một hay nhiều   người về một vấn đề nào đó. Mâu thuẫn trong cuộc sống hết sức đa dạng và thường  bắt nguồn từ sự khác nhau  về quan điểm, chính kiến, lối sống, tín ngưỡng, tôn giáo, văn hóa…  mâu thuẫn thường  có ảnh hưởng tiêu cực tới những mối quan hệ của các  bên. Có nhiều cách giải quyết mâu thuẫn. Mỗi người sẽ có cách giải quyết mâu thuẫn  riêng tùy thuộc, vào vốn hiểu biết, quan niệm, văn hóa và cách ứng xử  cũng như  khả  năng phân tích tìm hiểu nguyên nhân nảy sinh mâu  thuẫn. Kĩ năng giải quyết  mâu  thuẫn là khả  năng con người nhận thức được nguyên  nhân nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết những mâu thuẫn đó với thái độ tích cực, không   dùng bạo lực, thoả món được nhu cầu và quyền lợi các bên và giải quyết  cả mối quan   hệ giữa các bên một cách hoà  bình. Yêu cầu trước hết của kĩ năng giải quyết mâu thuẫn là phải luôn kiềm chế  cảm  xúc, tránh bị  kích động, nóng vội, giữ  bình tĩnh trước mọi sự  việc để  tìm ra nguyên  nhân nảy sinh mâu thuẫn cũng như tìm ra cách giải quyết tốt  nhất. Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn là một dạng đặc biệt của kĩ năng giải quyết vấn  đề. Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn cần được sử  dụng kết hợp với nhiều kĩ năng  liên   quan khác như: kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng  ra quyết định  … * Kĩ năng hợp tác:           Hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc,  một lĩnh vực nào đó vì mục đích  chung. Kĩ  năng hợp tác là khả  năng cá nhân  biết  chia sẻ  trách nhiệm, biết cam kết và  cùng làm việc có hiệu quả với những thành viên khác trong  nhóm. * Kĩ năng tư duy phê phán: Kĩ năng tư duy phê phán là khả năng phân tích một cách khách quan và toàn diện   các vấn đề, sự  vật, hiện tượng…  xảy ra.  Để  phân tích một cách có phê  phán, con  người cần: ­ Thu thập thông tin về  vấn đề,  sự  vật, hiện tượng… đó từ  nhiều nguồn khác  nhau. ­ Sắp xếp các thông tin thu thập được theo từng nội dung và một cách hệ  thống. Giáo viên: Đoàn Thị Thoả 15 Trường TH Krông Ana
  16. Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc  lớp 4 Phân tích, so sánh, đối chiếu, lí giải các thông tin thu thập được,  đặc biệt là các  thông tin trái  chiều. ­ Xác định bản chất vấn đề, tình huống, sự vật, hiện tượng… là  gì? Nhận định  về  những  mặt  tích cực, hạn chế  của vấn đề, tình huống,  sự  vật, hiện tượng…  đó,  xem xét một cách thấu đáo, sâu sắc và có hệ thống.  Kĩ năng tư  duy phê phán rất cần thiết  để  con người có thể  đưa ra được những  quyết định, những hành động phù hợp. Nhất là trong  xó hội hiện đại ngày nay khi mà  con người  luôn phải đối mặt với nhiều vấn đề gay cấn của cuộc sống, luôn phải xử  lý   nhiều nguồn thông tin đa dạng, phức tạp…. thì kĩ năng tư  duy phê phán càng trở  nên quan trọng đối với mỗi cá  nhân. Kĩ năng tư duy phê phán thuộc vào hệ thống giá trị cá nhân. Một người có được kĩ  năng tư  duy phê phán tốt khi biết phối hợp nhịp nhàng với kĩ năng tự  nhận thức và kĩ  năng xác định giá  trị. * Kĩ năng tư duy sáng  tạo:          Tư duy sáng tạo là khả năng nhìn nhận và giải quyết vấn đề  theo một cách mới,   với ý tưởng mới, theo phương thức mới, cách sắp xếp và tổ  chức mới; là   khả  năng  khám phá và kết nối mối quan hệ giữa các khái niệm, ý tưởng, quan điểm, sự việc; độc  lập trong suy nghĩ. Kĩ năng tư duy sáng tạo giúp con người tư duy năng động với nhiều  sáng kiến và óc tưởng tượng; biết cách phán đoán và thích nghi, có tầm nhìn và khả  năng suy nghĩ rộng hơn những người khác, không bị  bó hẹp vào kinh nghiệm trực  tiếp  đang trải qua,   tư  duy minh mẫn và khác   biệt.  Tư  duy sáng tạo là một Kĩ năng sống  quan trọng bởi vì trong cuộc sống con người thường xuyên bị   đặt vào những hoàn cảnh  bất ngờ  hoặc ngẫu nhiên xảy ra. Khi gặp những hoàn cảnh như  vậy đòi hỏi chúng ta  phải có tư  duy sáng tạo  để  có thể   ứng phó một cách linh hoạt và phù hợp. Khi một   người biết kết hợp tốt giữa kĩ năng tư  duy phê phán và tư  duy sáng tạo thì năng lực tư  duy của người  ấy càng được tăng cường và  sẽ  giúp ích rất nhiều cho bản thân trong  việc giải quyết vấn đề một cách thuận lợi và phù hợp  nhất. * Kĩ năng ra quyết  định:            Trong cuộc sống hàng ngày, con người luôn phải đối mặt với những  tình  huống,  những vấn đề  cần giải quyết buộc chúng ta phải lựa chọn, đưa ra quyết định hành  động. Kĩ năng ra quyết định là khả  năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương  án tối ưu để giải quyết vấn đề hoặc tình huống gặp phải trong cuộc sống một cách kịp   thời. Mỗi cá nhân phải tự  mình ra quyết định cho bản thân; không nên trông chờ, phụ  thuộc vào người khác; mặc dù có thể tham khảo  ý kiến của những người tin cậy trước   khi ra quyết định. Để đưa ra  quyết định  phù hợp, chúng ta  cần: ­ Xác định vấn đề hoặc tình huống mà chúng ra đang gặp  phải. ­ Thu thập thông tin về vấn đề hoặc tình huống  đó. ­ Liệt kê các cách giải quyết vấn đề/ tình huống đó  có. ­ Hình dung đầy đủ  về  kết quả  sẽ  xảy ra nếu chúng ta lựa chọn mỗi phương án  giải quyết. ­ Xem xét về suy nghĩ và cảm xúc của bản thân nếu giải quyết theo từng phương   Giáo viên: Đoàn Thị Thoả 16 Trường TH Krông Ana
  17. Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc  lớp 4 án đó. ­ So sánh giữa các phương án để quyết định lựa chọn phương án tối ưu. Kĩ năng   ra quyết định rất cần thiết trong cuộc sống, giúp con người có đựơc sự  lựa chọn phù   hợp và kịp thời, đem lại thành công trong cuộc sống. Ngược lai, nếu không có kĩ năng  ra quyết định, con người ta có thể  có những quyết định sai lầm hoặc chậm chễ, gây   ảnh hưởng tiêu cực đến các mối quan hệ, đến công việc và cuộc sống của bản thân;   đồng thời còn có thể ảnh hưởng đến gia đình, bạn bè và  những người có liên quan. Để  ra quyết định một cách phù hợp, cần phối hợp với những KNS  khác như: kĩ năng tự  nhận thức, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng   thu nhập thông tin, kĩ năng tư duy phê phán,  kĩ năng tư duy sáng tao…Kĩ năng   ra quyết định là phần rất quan trọng của kĩ năng giải   quyết vấn  đề. * Kĩ năng giải quyết vấn  đề:                  Kĩ năng giải quyết vấn đề  là khả  năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn  phương án tối  ưu và hành động theo phương án đó chọn để  giải quyết vấn đề   hoặc   tình huống gặp phải trong cuộc sống. Giải quyết vấn  đề  có liên quan tới kĩ năng ra   quyết định và cần nhiều KNS khác như: giao tiếp; xác định giá trị; tư   duy phê phán; tư  duy sáng tạo; tìm kiến sự hỗ trợ, kiên  định…  Để giải quyết vấn đề có hiệu quả, chúng ta  cần:  Xác định rõ vấn đề  hoặc tình huống đang gặp phải, kể  cả tìm kiếm thêm thông tin cần thiết. ­ Liệt kê các cách giải quyết vấn đề/ tình huống đó  có. ­ Hình dung đầy đủ về kết quả  xảy ra nếu ta lựa chọn phương án giải quyết nào   đó. ­ Xem  xét  về  suy nghĩ và cảm xúc của bản thân nếu thực hiện phương án giải   quyết đó ­ So sánh các phương án để đưa ra quyết định cuối  cùng. ­ Hành động theo quyết định đó lựa  chọn. ­ Kiểm định lại kết quả  để  rút kinh nghiệm cho những lần ra quyết định và giải  quyết vấn đề  sau. Cũng như  kĩ năng ra quyết định, kĩ năng giải quyết vấn đề  rất quan  trọng, giúp con người có thể   ứng phó tích cực và hiệu quả  trước những vấn đề, tình   huống của cuộc  sống. * Kĩ năng đảm nhận trách  nhiệm:   Đảm nhận trách nhiệm là khả  năng con người thể  hiện sự  tự  tin, chủ  động và ý  thức cùng chia sẻ công việc với các thành viên khác trong  nhóm. Khi đảm  nhận trách   nhiệm, cần dựa trên những điểm  mạnh, tiềm năng của  bản  thân, đồng thời tìm kiếm  thêm sự giúp cần thiết để hoàn thành nhiệm  vụ.   Khi các thành viên trong nhóm có kĩ năng đảm nhận trách nhiệm sẽ  tạo   được  một không khí hợp tác tích cực và xây dựng trong nhóm, giúp giải quyết vấn đề, đạt  được mục tiêu chung của cả nhóm, đồng thời tạo sự thoả món và  thăng tiến cho  mỗi  thành viên.  Kĩ năng đảm nhận trách nhịêm có liên quan đến kĩ năng tự nhận thức kĩ năng thể  Giáo viên: Đoàn Thị Thoả 17 Trường TH Krông Ana
  18. Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc  lớp 4 hiện sự cảm thông, kĩ năng hợp tác và kĩ năng giải quyết vấn đề. * Kĩ năng đặt mục tiêu: Mục tiêu là cái đích mà chúng ta muốn đạt tới trong một khoảng thời gian hoặc  một công việc nào đó. Mục tiêu có thể về nhận thức, hành vi hoặc thái độ. Kĩ năng đạt mục tiêu là khả năng của con người biết đề ra mục tiêu cho bản thân  trong cuộc sống cũng như lập kế hoạch để thực hiện được mục tiêu đó. Mục tiêu có thể được đặt ra trong một khoảng thời gian ngắn, như một ngày, một   tuần (mục tiêu ngắn hạn). Mục tiêu cũng có thể  được đặt ra trong một  khoảng thời   gian dài hơn, như một tháng hoặc vài tháng (mục tiêu trung hạn). Mục tiêu cũng có thể  được đặt cho một thời gian dài như một năm hoặc nhiều năm (mục tiêu dài hạn). Kĩ năng đặt mục tiêu giúp chúng ta sống có mục đích, có kế hoạch và có khả năng  thực hiện được mục tiêu của  mình. Muốn cho một mục tiêu có thể thực hiện thành công thì phải lưu ý  đến những yêu  cầu sau: Mục tiêu phải được thể hiện bằng những ngôn từ cụ thể; trả lời được những câu  hỏi như: Ai? Thực hiện cái gì? Trong thời gian bao lâu? Thời điểm hoàn thành mục tiêu   là khi  nào? Khi viết mục tiêu, cần tránh sử dụng các từ chung chung, tốt nhất là đề ra những  việc cụ thể, có thể lượng hoá  được. ­ Mục tiêu đặt  ra cần phải thực tế  và có  thể  thực hiện được; không nên đặt ra  những mục tiêu quá khó so với khả năng và điều kiện của bản  thân. ­ Xác định được những công việc, những biện pháp cụ  thể cần thực hiện để  đạt  được mục tiêu. ­ Xác định được những thuận lợi đó có, những địa chỉ có thể hỗ trợ về từng  mặt. ­ Xác định được những khó khăn có thể  gặp phải trong  quá trình thực hiện mục  tiêu và các biện pháp cần phải làm để vượt qua những khó khăn  đó. ­ Có thể chia nhỏ mục tiêu theo từng mốc giới thời gian thực  hiện. ­ Kĩ năng đặt mục tiêu được dựa trên kĩ năng tự  nhận thức, kĩ năng tư  duy sáng  tạo, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ  trợ… 3. 2.3. Tìm hiểu và nắm bắt thêm và một số kĩ thuật dạy học lồng ghép   Kĩ năng  sống trong phân môn Tập đọc lớp 4  * Kỹ thuật giao nhiệm  vụ:            Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ  ràng.           Nhiệm vụ phải phù hợp với: mục tiêu hoạt động, trình độ  học sinh, thời gian,   không gian hoạt động và cơ sở vật chất, trang thiết  bị. * Kỹ thuật đặt câu  hỏi:          Trong dạy học theo phương pháp cùng tham gia, giáo viên thường phải sử  dụng  câu hỏi để  gợi mở, dẫn dắt học sinh tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến  thức, kĩ năng  mới để đánh giá kết quả học tập của học sinh; học sinh cũng phải   sử dụng câu hỏi để  hỏi lại, hỏi thêm giáo viên và các học sinh khác về  những nội dung bài học chưa sáng  tỏ. Giáo viên: Đoàn Thị Thoả 18 Trường TH Krông Ana
  19. Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc  lớp 4 Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự  hiểu biết lẫn nhau giữa học sinh ­  giáo  viên và học sinh ­ học sinh. Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham  gia của học  sinh càng nhiều; học sinh sẽ học tập tích cực  hơn. * Kỹ thuật các “Mảnh  ghép”:            Học sinh phân thành các nhóm, sau đó giáo viên phân công cho mỗi  nhóm thảo   luận, tìm hiểu sâu về một vấn  đề của bài học. Chẳng hạn: nhóm 1 thảo luận vấn đề  A,  nhóm 2 thảo luận vấn đề B, nhóm 3 thảo luận vấn đề   C, nhóm 4 thảo luận vấn đề  D, …          Học sinh thảo luận nhóm về vấn đề đã được phân  công.          Sau đó, mỗi thành viên của các nhóm này sẽ tập hợp lại thành các nhóm mới, như  vậy trong mỗi nhóm sẽ có đủ các “chuyên gia” về vấn đề A, B, C, D,… và mỗi “chuyên  gia” về từng vấn đề sẽ có trách nhiệm trao đổi lại với cả nhóm về vấn  đề mà em đó có  cơ hội tìm hiểu sâu ở nhóm  cũ. *  Kỹ thuật động não:   Động não là kỹ  thuật giúp cho học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinh được  nhiều ý tưởng mới mẻ, độc đáo về một chủ đề nào đó. Các thành viên được cổ vũ tham   gia một cách tích cực, không hạn chế các ý tưởng (nhằm tạo ra “cơn lốc” các ý tưởng).  Động não thường được:  ­ Dùng trong giai đoạn giới thiệu vào một chủ  đề.  ­ Sử dụng để tìm các phương án giải quyết vấn  đề.  ­ Dùng để thu thập các khả năng lựa chọn và suy nghĩ khác  nhau.  Động não có thể tiến hành theo các bước  sau:   ­ Giáo viên nêu câu  hỏi  hoặc vấn đề  (có nhiều cách trả  lời) cần được tìm hiểu  trước cả lớp hoặc trước  nhóm. ­ Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp nhiều ý kiến. ­ Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng loại trừ ý kiến trùng  lập. ­ Phân loại các ý kiến. ­ Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ  ràng. ­ Tổng hợp ý kiến của học sinh và rút ra kết  luận.           * Kỹ thuật trình bày một  phút:              Đây là kỹ  thuật tạo cơ hội cho học sinh tổng kết lại kiến thức đã học và đặt  những câu hỏi về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn   và cô đọng với các bạn cùng lớp. Các câu hỏi cũng như các câu trả  lời học sinh đưa ra   sẽ giúp củng cố quá trình học tập của các em và cho giáo viên thấy được các  em đó hiểu  vấn đề như thế  nào.   Kỹ thuật này có thể tiến hành như  sau:       ­ Cuối tiết học (thậm chí giữa tiết học), giáo viên yêu cầu học sinh suy nghĩ, trả lời   các câu hỏi như:    + Điều quan trọng nhất các em học được hôm nay là gì?     + Theo các em, vấn đề gì là quan trọng nhất mà chưa được giải  đáp?... ­ Học sinh suy nghĩ và viết ra giấy. Các câu hỏi của học sinh có thể  dưới nhiều  hình thức khác nhau. Giáo viên: Đoàn Thị Thoả 19 Trường TH Krông Ana
  20. Một số kinh nghiệm dạy học lồng ghép KNS cho học sinh trong phân môn Tập đọc  lớp 4 ­ Mỗi học sinh trình bày trước lớp trong thời gian một phút về  những điều các  em đó học được và những câu hỏi các em muốn được giải đáp hay những vấn đề  các  em muốn được tiếp tục tìm hiểu  thêm. * Kỹ thuật “Hỏi và trả lời câu  hỏi”:  Đây là kĩ thuật dạy học giúp học sinh có thể  củng cố, khắc sâu các kiến thức đó   học thông qua việc hỏi và trả lời các câu  hỏi.  Kỹ thuật này có thể tiến hành như  sau:       ­ Giáo viên nêu chủ đề.       ­ Giáo viên (hoặc một học sinh) sẽ bắt đầu  đặt một câu hỏi về chủ đề và yêu cầu  một học sinh khác trả lời câu hỏi  đó: ­ Học sinh vừa trả  lời xong câu hỏi đầu tiên lại được đặt tiếp một câu hỏi tiếp   theo và yêu cầu một học sinh khác trả  lời. ­ Học sinh này sẽ tiếp tục quá trình trả lời và đặt câu hỏi cho các bạn cùng lớp…  Cứ như vậy cho đến khi giáo viên quyết định dừng hoạt động này  lại.          * Kỹ thuật hoàn tất một nhiệm  vụ:            Giáo viên đưa ra một câu chuyện/ một vấn đề/ một bức tranh/ một thông điệp/..  mới chỉ  được giải quyết một phần và yêu cầu học sinh/ nhóm học sinh hoàn tất nốt   phần còn lại. ­ Học sinh/ nhóm học sinh thực hiện nhiệm vụ được  giao. ­ Học sinh/ nhóm học sinh trình bày sản  phẩm. ­ Giáo viên hướng dẫn cả lớp cùng bình luận, đánh  giá.            Lưu ý: Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cẩn thận và cụ  thể  để  các em   hiểu  được nhiệm vụ của mình. Đây là một hoạt động tốt giúp các em đọc lại những   tài liệu  đó học hoặc đọc các tài liệu theo yêu cầu của giáo  viên. * Kỹ thuật “Viết tích  cực”:   Trong quá trình thuyết trình, giáo viên đặt câu  hỏi và giành thời gian cho học sinh   tự do viết câu trả lời. Giáo viên cũng có thể yêu cầu học sinh liệt kê ngắn  gọn những gì   các em biết về chủ đề đang học trong khoảng thời gian nhất  định. ­ Giáo viên yêu cầu một vài học sinh chia   sẻ  nội dung mà các  em đã viết trước  lớp. Kỹ  thuật này cũng có thể  sử  dụng sau tiết học  để  tóm tắt nội dung đó học,  để  phản hồi với những bài học. Phần đọc có nhiều nội dung nhưng không quá   khó đối  với học sinh. Các tiến hành như  sau:      ­ Giáo viên nêu câu hỏi/ yêu cầu định hướng học sinh đọc bài/ phần  đọc.      ­ Học sinh làm việc cá  nhân:          + Đoán trước khi đọc: để   làm việc này, học sinh cần đọc lướt qua bài đọc/ phần   đọc để tìm ra những gợi ý từ hình ảnh, tựa đề, từ/ cụm từ quan  trọng.          + Đọc và đoán nội dung: Học sinh đọc bài/ phần đọc và biết liên tưởng tới những  gì mình đã biết và đoán nội dung khi đọc những từ hay khái niệm mà các em phải tìm ra. + Tìm ý chính: Học sinh tìm ra ý chính của bài/ phần đọc qua việc  tập trung vào  các ý quan trọng theo cách hiểu của  mình. Giáo viên: Đoàn Thị Thoả 20 Trường TH Krông Ana

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản