intTypePromotion=1

Sự đa dạng sinh học trên thế giới

Chia sẻ: Tran Huong Giang | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:32

0
110
lượt xem
11
download

Sự đa dạng sinh học trên thế giới

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đa dạng sinh học ở mức độ loài bao gồm tất cả sinh vật trên trái đất từ vi khuẩn đến các loài động vật, thực vật và nấm. Ở mức nhỏ hơn, đa dạng sinh học bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các quần thể cách ly nhau về địa lý cũng như khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể. Mời các bạn cùng tìm hiểu về sự đa dạng sinh học trên thế giới quan bài viết dưới đây.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sự đa dạng sinh học trên thế giới

  1. SỰ ĐA DẠNG SINH HỌC TRÊN  THẾ GIỚI Theo định nghĩa của Quỹ Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (World Wildlife Fund)   thì đa dạng sinh học là “sự  phồn thịnh của cuộc sống trên trái đất, là hàng triệu loài  động vật, thực vật và vi sinh vật, là những nguồn gen của chúng và là các hệ sinh thái  phức tạp cùng tồn tại trong môi trường sống”. Như  thế, đa dạng sinh học cần phải   được xem xét ở ba mức độ. Đa dạng sinh học  ở mức độ  loài bao gồm tất cả sinh vật   trên trái đất từ vi khuẩn đến các loài động vật, thực vật và nấm. Ở  mức nhỏ  hơn, đa  dạng sinh học bao gồm sự  khác biệt về  gen giữa các loài, khác biệt về  gen giữa các  quần thể  cách ly nhau về địa lý cũng như  khác biệt giữa các cá thể  cùng chung sống   trong một quần thể. Đa dạng sinh học cũng bao gồm sự  khác biệt trong các quần xã  sinh học nơi các loài đang sinh sống, các hệ sinh thái trong đó các quần xã tồn tại và cả  sự  khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau. Sự  khác biệt giữa đa dạng  sinh học ở 3 mức độ khác nhau được thể hiện qua bảng 1.1. Bảng 1.1. Các mức độ đa dạng sinh học Đa dạng loài Đa dạng di truyền Đa dạng sinh thái Giới  Quần thể (Population) Sinh đới (Biome) (Kingdom) Ngành  Cá thể (Individual) Vùng sinh thái (Bioregion) (Phyla) Lớp (Class)  Nhiễm   sắc   thể Cảnh quan (Landscape)
  2. (Chromosome) Bộ (Order) Gene     Hệ sinh thái (Ecosystem) Họ (Family) Nucleotide         Nơi ở (Habitat)  Giống    Tổ sinh thái (Niche) (Genera) Loài (Species)     (Nguồn:Peter J.Bryant. Biodiversity and conservation) I  CÁC KIỂU ĐA DẠNG SINH HỌC CHÍNH 1.1 Đa dạng về loài Hiện nay, có khoảng 1,7 triệu loài đã được mô tả. Ít nhất là hai lần số đó còn chưa  mô tả, chủ yếu là côn trùng và  các nhóm chân khớp khác trong vùng nhiệt đới (Bảng 1.2).                                    Bảng 1.2. Tổng số các loài đã được mô tả Nhóm Số loài mô tả Nguồn Vi khuẩn và tảo lam 4.760   Nấm 46.938   Tảo 26.900   Rêu 17.000 WCMC. 1998 Hạt trần 980 IUCN. 1997 Hạt kín 258.000 IUCN. 1997 Động vật nguyên sinh 35.000   Bọt biển (Thân lỗ) 5.000   Ruột khoang 9.000   Giun tròn và giun dẹp 24.000   Giáp xác 40.000   Côn trùng 950.000 IUCN. 1997 Các  nhóm Chân khớp và  các  130.000   nhóm động vật không xương  sống khác Thân mềm 70.000   Da gai 6.100  
  3. Cá  28.100   Lưỡng cư 5.578   Bò sát 8.134   Chim  9.932   Thú 4.842                      1.680.264 Kiến thức của chúng ta về số lượng loài là chưa chính xác do nhiều loài khó thấy   còn chưa được phân loại học chú ý. Ví dụ như  ve bét, giun tròn và nấm sống trong đất   và các loài côn trùng sống trong rừng nhiệt đới có kích thước rất nhỏ  và khó nghiên   cứu. Các loài này có thể lên tới hàng trăm ngàn thậm chí triệu loài. Các loài vi khuẩn   cũng được biết rất ít. Chỉ có khoảng 4000 loài vi khuẩn được các nhà vi sinh vật biết  đến do những khó khăn trong việc nuôi cấy và định loại. Việc lấy mẫu khó khăn đã  cản trở chúng ta nghiên cứu tìm hiểu về số lượng các loài trong đại dương. Đại dương   có lẽ là nơi có tính đa dạng lớn nhất. Một ngành động vật mới, ngành Loricefera lần  đầu tiên phát hiện vào năm 1983 nhờ  vào các mẫu vật thu được  ở  đáy biển sâu và   không nghi ngờ gì là sẽ có nhiều loài hơn nữa sẽ được phát hiện. Các quần xã sinh vật mới sẽ  còn được khám phá thường các quần xã này nằm  trong các vùng hẻo lánh nơi mà con người khó tới gần được. Các kỹ  thuật thăm dò   chuyên biệt, đặc biệt ở các vùng biển sâu và các vùng trời các rừng nhiệt đới đã khám   phá ra các cấu trúc quần xã khác thường. Các quần xã động vật khác nhau, đặc biệt là côn trùng, thích ứng cuộc sống dưới  tán lá tầng cao của rừng rậm nhiệt đới, hiếm khi chúng thích nghi được với điều kiện   sống ở trên mặt đất. Trên phạm vi toàn thế giới còn cần rất nhiều nổ lực để  có thể  hoàn thiện được  danh mục đầy đủ các loài. Mỗi năm các nhà phân loại trên thế giới mô tả được khoảng   11.000 loài, và như vậy, để có thể mô tả hết các loài trên thế giới (ước tính 10 đến 30   triệu loài) dự kiến phải tốn từ 750 năm đến 2.570 năm, trong khi đó có nhiều loài đã bị  tuyệt chủng trước khi chúng được mô tả và đặt tên. Đa dạng về thực vật trên thế giới: Theo Engler( 1882) thì số loài thực vật là 275000 loài bao gồm các nhóm sau: ­ Thực vật có hoa: 155 000 – 160 000 loài  ­ Thực vật không hoa: 130 000 – 135 000 loài
  4. 1.2. Đa dạng về gen Đa dạng di truyền bao gồm các thành phần các mã di truyền cấu trúc nên cơ thể  sinh vật (nucleotides, genes, chromosomes) và sự sai khác về di truyền giữa các cá thể  trong một quần thể và giữa các quần thể với nhau.  Hình 1: Đa dạng di truyền của loài Keo má trắng Platycercus eximius (ở Úc) thể hiện  qua màu sắc và đốm thân. Sơ đồ còn chỉ ra các vùng phân bố của chúng (Nguồn:   Richard B Primack). Đa dạng di truyền trong nội bộ loài thường là kết quả  của tập tính sinh sản của  các cá thể trong quần thể. Một quần thể là một  nhóm các cá thể giao phối với nhau và  sản sinh ra con cái hữu thụ. Một loài có thể  có một hay vài quần thể  khác nhau. Một   quần thể có thể chỉ gồm một số ít cá thể hay có thể có hàng triệu cá thể. Các cá thể  trong một quần thể  thường rất khác nhau về  mặt di truyền. Sự  đa  dạng về  bộ  gen có được do các cá thể  có các gen khác nhau, gen là một đơn vị  di   truyền cùng với những nhiễm sắc thể được đặc trưng bởi những protein đặc biệt. Các   dạng khác nhau của gen được gọi là allen và những sự khác biệt nảy sinh qua đột biến,  là những sự thay đổi xảy ra trong DNA, đơn vị cấu thành nhiễm sắc thể của cá thể. Sự  khác biệt của các allen trong gen có thể ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh lý của các   cá thể một cách khác nhau. 
  5. Sự sai khác di truyền tăng lên khi con cái nhận được đầy đủ tổ hợp gen và nhiễm  sắc thể  của bố  mẹ  trong quá trình tái tổ  hợp gen xảy ra trong quá trình sinh sản hữu   tính. Gen được trao đổi giữa các nhiễm sắc thể  trong quá trình giảm phân và tổ  hợp   mới được tạo thành khi nhiễm sắc thể từ bố mẹ kết hợp để tạo nên một tổ hợp thống  nhất cho con cái.  Tổng số các sắp xếp của gen và allen trong quần thể được coi là quỹ  gen (gene   pool), trong khi một tổ hợp nào đấy của gen và allen trong bất kỳ cá thể  nào thì được  gọi là kiểu di truyền (genotype). Kiểu hình (phenotype) của một cá thể nói lên các đặc  điểm về  hình thái, sinh lý, sinh hoá là kết quả  của biểu hiện kiểu gen trong một môi  trường nhất định.  Sai khác di truyền cho phép các cá thể  thích  ứng với những thay đổi của môi  trường. Nhìn chung, các loài quí hiếm phân bố hẹp ít có sự đa dạng di truyền hơn các   loài có phân bố  rộng và kết quả  là chúng dễ  bị  tuyệt chủng hơn khi điều kiện môi  trường thay đổi. 1.3. Đa dạng quần xã và hệ sinh thái  Đa dạng về  hệ  sinh thái là thước đo sự  phong phú về  sinh cảnh, nơi  ở, tổ  sinh   thái và các hệ sinh thái  ở các cấp độ  khác nhau. Sự đa dạng này được phản ảnh quan  trọng nhất bởi sự đa dạng về sinh cảnh, các quần xã sinh vật và các quá trình sinh thái  trong sinh quyển. Chẳng hạn như  sự  phân bố  của các loài sinh vật theo không gian   khác nhau, nghĩa là đặc trưng cho từng sinh cảnh khác nhau. Rừng nhiệt đới thường   xanh đã phân thành nhiều tầng và các thuỷ  vực cũng phân thành các tầng nước khác   nhau về  thuỷ  lý, thuỷ  hoá để  sử  dụng tối  ưu năng lượng của hệ  sinh thái và tạo cho   tính đa dạng sinh học càng cao. Môi trường vật lý, đặc biệt là vòng tuần hoàn năm của nhiệt độ  và lượng mưa,   ảnh hưởng đến cấu trúc và đặc điểm của quần xã sinh vật, quyết định địa điểm đó sẽ  là rừng, đồng cỏ, sa mạc hay đất ngập nước . Quần xã sinh vật cũng có thể  biến đổi  tính chất vật lý của hệ sinh thái. Ví dụ, trong một hệ sinh thái trên cạn, tốc độ gió, độ  ẩm, nhiệt độ và tính chất đất đai có thể bị ảnh hưởng do cây cối và các động vật sống   tại đó. Trong một quần xã sinh vật, mỗi loài sử  dụng một nhóm tài nguyên nhất định,  tạo thành tổ  sinh thái của loài đó. Tổ  sinh thái cho một loài thực vật có thể  bao gồm  loại đất mà loài đó sống, lượng ánh sáng mặt trời và độ  ẩm mà loài đó cần, kiểu hệ  thống thụ phấn và cơ chế phát tán của hạt, ... Tổ sinh thái của một loài động vật có thể  bao gồm kiểu nơi sinh sống của loài, biên độ nhiệt độ mà loài đó có thể sống được, các   loại thức ăn và lượng nước mà chúng cần,... Bất cứ thành phần nào của tổ sinh thái đều 
  6. là nguồn tài nguyên có giới hạn và do đó có  ảnh hưởng đến giới hạn kích thước của   quần thể. Các hệ sinh thái trong sinh quyển tồn tại ở hai môi trường có sự khác biệt về các đặc tính lý hoá và sinh học. Đó là môi trường trên cạn và môi trường dưới nước. 1.3.1 Hệ sinh thái trên cạn Các hệ  sinh thái trên cạn được đặc trưng bởi các quần hệ  thực vật, chiếm sinh   khối lớn và gắn liền với khí hậu địa phương, do đó tên của quần xã cảnh quan vùng   địa lý gọi là khu sinh học (biome), thường là tên của quần hệ thực vật ở đấy. Khu sinh   học là một hệ sinh thái lớn, đặc trưng bởi kiểu khí hậu đặc thù, bao gồm các loài động   vật sống trong quần hệ  thực vật, thích  ứng tốt với môi trường tự  nhiên. Nhìn chung   trên lục địa đã hình thành các biom chính như sau: a) Lãnh Nguyên (Tundra biome)­ Đài nguyên hay Đồng rêu Lãnh nguyên bao quanh Bắc cực và vành đai phần bắc của lục địa Âu Á, Bắc Mỹ,  chiếm khoảng 20% diện tích trái đất. Đây là một vùng nhiều đầm lầy giá lạnh, băng   tuyết với nhiều đụn rêu rải rác.  Lãnh nguyên là vùng lạnh nhất của tất cả các quần xã   sinh vật. Môi trường  ở  đây có nhiệt độ  cực thấp, ít mưa, chất dinh dưỡng trong đất   thấp, mùa sinh trưởng của sinh vật ngắn. Vùng lãnh nguyên có thể  chia thành 2 khu  vực Lãnh nguyên Bắc cực và lãnh nguyên Apin ­ Lãnh nguyên Bắc cực:  Lãnh nguyên Bắc cực nằm  ở phía Bắc bán cầu, bao quanh cực Bắc và mở  rộng  về phía Nam tới những khu rừng lá kim của rừng Taiga, Bắc cực được biết đến như là   điều kiện khí hậu khí hậu giống sa mạc lạnh. Mùa sinh trưởng từ  50­60 ngày. Nhiệt độ  mùa đông trung bình ­34 0C, nhiệt độ  mùa hè trung bình 30C ­ 120C cho phép quần xã duy trì sự sống. Lượng mưa hằng năm  bao gồm cả tuyết tan là 150­250mm.( Nguồn Đỗ Văn Nhượng – 2013) Có khoảng 1.700 loại thực vật  ở Bắc cực và cận Bắc cực, chủ yếu gồm cây bụi   thấp, rêu, sedges, liverwort. Ngoài ra còn nhiều Địa y, khoảng 400 giống hoa.  Hệ động vật ở Bắc cực cũng rất đa dạng:  Động vật có vú ăn cỏ có chuột Lemmus, chuột đồng, tuần lộc,thỏ rừng Bắc cực,   sóc…; Động vật có vú ăn thịt có cáo Bắc cực, gấu Bắc cực, chó sói, chim di cư có quạ,  
  7. chim ưng, chim sáo, nhạn biển, chim tuyết, các loại mòng biển..; côn trùng gặp nhiều  nhất là muỗi, ruồi, châu chấu, ong bumble.  Dưới nước có các loại cá: cá tuyết, cá bơn, cá hồi.  Bò sát rất ít.. H.2. Lãnh  nguyên Alaska
  8. H.3 Cáo Bắc cực H.4. Cú tuyết Bắc cực
  9. H.5. Hải mã Bắc cực ­Lãnh nguyên Alpin: Lãnh nguyên Alpin thường ở trên các ngọn núi khá cao, nơi thực vật thường  không phát triển được. Mùa sinh trưởng khoảng 180 ngày. Nhiệt độ ban đêm luôn dưới  00C. Thực vật chỉ là các bụi cỏ, cây bụi lùn, cây thạch nam, Động vật: pikas, dê núi, cừu, nai sừng tấm… chim: grouselike. Côn trùng có bọ  nhảy, cánh cứng, châu chấu, bướm.
  10. b) Rừng  mưa nhiệt đới (Tropical rain forests) H.6. Rừng mưa nhiệt đới Xuất hiện  ở  vùng gần xích đạo. Khí hậu luôn  ấm (từ  20 đến 250C) lượng mưa  dồi dào (ít nhất 1900 mm/năm). Rừng mưa là một biome có độ giàu có nhất, cả về độ  đa dạng và tổng sinh khối. Rừng mưa nhiệt đới có cấu trúc phức tạp, với nhiều cấp độ  của đời nhiệt đới có đời sống trên các cây gỗ. Các động vật đó trải qua toàn bộ  đời   sống của chúng trên tán rừng. Các loại côn trùng  ở  các rừng mưa nhiệt đới rất phong  phú và phần lớn trong số chúng là chưa được xác định.              Mối là đặc trưng cho sự phân hủy của chu trình dinh dưỡng của gỗ. Chim   có xu hướng màu sắc sáng, thường tạo cho chúng tìm kiếm thức ăn như  các loài sâu  ngoại lai. Bò sát và lưỡng thê  xuất hiện nhiều. Khỉ hầu (Lemurs), Cu li (sloths), và khỉ  (monkeys) ăn các loài trái cây trong rừng mưa nhiệt đới. Nhóm loài ăn thịt lớn nhất là  nhóm mèo. Sự xâm chiếm và phá hủy nơi ở đang là nguy cơ cho các loài động vật, thực  vật ở đây.
  11.              Một vài rừng nhiệt đới  ở   Ấn Độ, Đông Nam Á, Tây Phi, Trung và Nam  Mỹ có tính mùa và các cây ở đó rụng lá vào mùa khô.           c) Rừng ôn đới (temperate forests) Sinh cảnh rừng ôn đới xuất hiện  ở  miền đông của Bắc Mỹ, Đông Á, và nhiều  nước Châu Âu. Lượng mưa nhiều từ  750­1500 mm. Sự  phát triển theo mùa được xác  định rõ ràng giữa 140 đến 300 ngày. Các loài thực vật  ưu thế  bao gồm sồi, thích, và  những cây gỗ lớn lá rụng khác. Cây gỗ của rừng lá rụng có tán lá rộng, trong đó chúng  rụng đi vào mùa thu và mọc trở lại vào mùa xuân. Mật độ tán lá cho phép sự phát triển   tốt  cho các tầng cây bụi  ở  bên dưới, một tầng cây thảo, và sau đó thường được bao   phủ bởi rêu và dương xỉ. Sự sắp xếp bên dưới này đã cung cấp nhiều nơi ở cho nhiều   loại côn trùng và chim. Các rừng lá rụng ngoài ra còn chứa nhiều thành phần của họ  gậm nhấm, trong đó chúng cấp thức ăn cho linh miêu, chó sói, và cáo (foxes). Ngoài ra  vùng này là nơi ở của nai và gấu đen. Mùa Đông ở đây không lạnh như ở rừng phương  bắc, vì vậy mà nhiều loài bò sát và lưỡng thê có khả năng sống sót.                                                         H.7 Rừng ôn đới d) Đồng cỏ (Grasslands) Các đồng cỏ xuất hiện trong vùng nhiệt đới và ôn đới với lượng mưa thấp hay   mùa khô kéo dài. Các đồng cỏ xuất hiện  ở Mỹ, Châu Phi, Châu Á, và Úc. Đất ở  vùng   này rất dày và phì nhiêu, vì vậy rất phù hợp cho nông nghiệp. Các đồng cỏ  hoàn toàn   không có cây gỗ, và có thể  cung cấp lượng cỏ  lớn cho các loài động vật ăn cỏ. Các   đồng cỏ tự nhiên đã từng bao phủ hơn 40% bề mặt trái đất.     Hầu hết các đồng cỏ ngày nay được sử dụng cho phát triển mùa màng, đặc biệt   lúa mỳ  và ngô. Các loài cỏ  là thực vật chiếm  ưu thế, trong khi đó động vật ăn cỏ  và   các loài đào hang là động vật chiếm ưu thế. 
  12. Các đồng cỏ ôn đới bao gồm các thảo nguyên ở Nga, Các đồng hoang ở Nam Mỹ,  và các đồng cỏ (prairies) ở Bắc Mỹ. Đời sống của động vật bao gồm chuột, chó đồng,   thỏ, và các động vật khác sử  dụng nhóm này làm thức ăn. Các đồng cỏ  chứa một   lượng cỏ lớn cho trâu bò và loài linh dương sừng dài, nhưng với những hoạt động của  con người, một lượng lớn đồng cỏ đã bị suy thoái. Vùng cây bụi thấp (savanna) là một dạng đồng cỏ  của nhiệt đới nhưng có một  vài cây gỗ. Savanna chứa nhiều loài động vật ăn cỏ  nhất (linh dương sừng dài, ngựa  vằn, linh dương đầu bò và một số các loài khác). Môi trường ở đây cung cấp một quần   thể lớn các loài ăn thịt  như sư tử, báo ghepa (cheetahs), linh cẩu, và báo (leopards). Các  thực vật nhỏ hơn không bị tiêu thụ bởi các loài ăn cỏ, chúng bị tấn công bởi mối và các   loài phân hủy khác. 
  13. H.8 Đồng cỏ e) Cây bụi (Shrubland, Chaparral) Sinh cảnh cây bụi được  ưu thế  bởi các cây bụi nhưng lá nhỏ  có màu xanh đậm  thường có màng dày, biểu bì có sáp, và thân dưới đất dày vì vậy có thể chống chịu vào  mùa hè khô và hay cháy. Một số loài cây lá tiêu giảm và phát triển thành gai. Các vùng  cây bụi xuất hiện một phần ở Nam Mỹ, phía Tây Úc, miền trung Chile, và xung quanh  biển Địa Trung Hải. Cây bụi dày đặc ở California, ở đó mùa hè nóng và rất khô, được  gọi là chaparral. Loại cây bụi ở Địa Trung Hải thiếu một tầng dưới và có lớp mùn rác  ở bề  mặt đất do vậy cũng rất dễ  cháy. Hạt của nhiều loài có đòi hỏi về  sức nóng và   hoạt động tạo sẹo do lửa để  kích thích sự  nảy mầm. Khu hệ động vật rất khác nhau  giữa các vùng trong biome này và thường có tính đặc hữu.
  14. H.9 Cây bụi f) Sa mạc (Deserts) H.10 Sa mạc Các sa mạc được đặc trưng bởi điều kiện khô và biên độ  nhiệt lớn. Không khí  khô dẫn đến biên độ  nhiệt độ  rộng vào ban ngày. Hoang mạc khác nhau nhiều phụ  thuộc vào lượng mưa, khoảng dưới 250 mm/năm. Một số  hoang mạc khô đến nổi   không có một loài thực vật nào có thể sống được. Ví dụ sa mạc Naomid ở Châu Phi, sa  mạc Atacama­Sechura ở Chi lê và Pêru.  Các loài cây trong sinh cảnh này đã phát sinh một loạt các thích nghi để lấy nước  và chống chịu với điều kiện nhiệt độ  khắc nghiệt. Như  cây có rể  sâu để  hút nước, lá  biến thành gai nhọn,… Số loài động vật ít, động vật có xương sống cở lớn như lạc đà  một bướu, linh dương, báo, sư  tử,… Các loài gậm nhấm trong đất (chuột túi và chuột  đàn) rất phong phú. Hầu hết các loài chim là chim chạy. Trong số các loài sâu bọ cánh  cứng, họ  Tenebrinidae chiếm  ưu thế và là những loài đặc trưng của sa mạc. Sự  thích   ứng của động vật với đời sống hoang mạc rất rõ, biểu hiện ở những đặc điểm chống   khô nóng. Ngoài ra có hiện tượng di cư theo mùa, ngủ hè hay dự trữ thức ăn, sinh sản   đồng loạt vào thời kỳ có độ ẩm cao.
  15. g) Rừng lá kim (Taiga, Boreal Forest) H.11 Rừng lá kim Rừng lá kim phân bố rộng ở hầu hết các vùng phía Bắc của Bắc Âu và Bắc Mỹ.   Ngoài ra, rừng này còn có vành đai xuất hiện  ở một vài nơi khác,  ở  đó có các tên gọi   khác nhau: khi nó ở gần các đỉnh núi gọi là  rừng lá kim ở núi; và rừng mưa ôn đới dọc  theo bờ biến Thái Bình Dương cho đến Nam California. Lượng mưa thấp khoảng 100   đến 400 mm/năm và có mùa sinh trưởng ngắn. Mùa đông lạnh và ngắn, trong khi đó   mùa hè có xu hướng  ấm. Rừng lá kim đặc trưng bởi các loài cây thẳng như  Vân sam,  Lãnh sam, Thiết sam và Thông. Các loài cây gỗ này có lá và vỏ bảo vệ dày, cũng như lá   có dạng kim có thể  chịu đựng trọng lượng của tuyết tích tụ  lại. Các khu rừng lá kim   hạn chế với các loài cây tầng thấp, và bề mặt đất được bao phủ bởi một lớp rêu và địa  y. Thông, Tùng­bách, cây Dương đỏ, cây Phong và cây Phi lao là những loài cây phổ  biến; chó sói, gấu Mỹ và tuần lộc là các loài động vật phổ biến. Tính ưu thế của một   số  loài được thể  hiện rõ ràng, nhưng tính đa dạng thấp khi so sánh với các khu sinh  quyển ôn đới và nhiệt đới.          1.3.2 Các khu sinh học ở nước   Môi trường nước ít khắc nghiệt hơn so với môi trường trên cạn. Các sinh vật   thuỷ sinh bơi lội trong nước nhờ vào lực đẩy của nước và không phải đối phó với tình  trạng khô hạn. Các chất dinh dưỡng hoà tan chi phối sự phân bố của các sinh vật. Các   khu sinh học ở nước được chia thành khu sinh học nước ngọt và khu sinh học biển. a) Khu sinh học biển:
  16. Khu sinh học biển chứa nhiều muối hoà tan hơn khu sinh học nước ngọt. Có hai   phân hạng trong khu sinh học này đó là quần xã sống đáy và quần xã sống trong tầng  nước. Theo độ sâu, quần xã sống đáy được chia thành vùng ven bờ và vùng sâu. Quần  xã sống trong tầng nước được chia thành quần xã sống trôi nổi và quần xã tự  bơi.   Tầng nước từ  200 mét trở  lên có ánh sáng xâm nhập vào được gọi là tầng giàu dinh   dưỡng.  Vùng biển chiếm ¾ bề mặt Trái Đất, bao gồm các đại dương, các rạn san hô, cửa  sông. ­ Đại dương: Đại dương là hệ sinh thái lớn trên Trái Đất,  được tách ra thành các vùng nhỏ hơn   như vùng triều, vùng khơi, vùng sâu và vùng đáy. ­ Rạn san hô ­ Cửa sông b) Khu sinh học nước ngọt:  Khu sinh học nước ngọt được chia thành 2 vùng là khu sinh học nước chảy và  khu sinh học nước đứng. Nước trong các thuỷ  vực nước ngọt lớn thường có sự  phân  tầng nhiệt độ. Ở một số hồ lớn vùng ôn đới thường có hiện tượng chu chuyển nước   theo mùa, nhờ đó các chất dinh dưỡng được đưa từ tầng sâu lên tầng mặt, giúp cho sự  phát triển của các sinh vật nổi trong hồ. ­ Ao hồ: Trên thế giới có 20 hồ được liệt vào loại lớn nhất với độ sâu: trung bình   trên 400m như hệ thống hồ: Laurentia  ở Bắc Mỹ, hồ Victoria, Tanganyika ( châu Phi),  hồ Baika (Nga)… Hồ Baika ra đời từ kỷ Đệ Tam, cách đây khoảng 1 triệu năm, độ sâu   lên đến 1642 m, trung bình là 740 m, chứa tới 20% tổng lượng ngọt toàn thế  giới, có   nhiều họ, chi, và loài thực vật, động vật di lưu trở thành dạng đặc hữu. ­ Sông suối:  Trên thế  giới có nhiều hệ  thống sông lớn với lưu vực rộng, dòng chính dài, lưu  lượng nước cao như sông MIssisipi (Bắc Mỹ), Amazon (Nam Mỹ), sông Công gô, Sông  Nin, sông VOnga, Hoàng Hà, Mê Công… có mức đa dạng sinh học cao, nơi lưu giữ  nguồn gen thủy sinh vật cho các thủy vực nội địa khác. Riêng cá, ở sông Amazon có tới   1000 loài, sông MeeKong khoảng 800 loài nhiều loài trong chúng có giá trị kinh tế cao. ­ Vùng đất ngập nước: 
  17. Đầm lầy này ở Everglades, Folia Trên   thế   giới,   trong   số   hơn 250.000 loài thực   vật có   mạch   thì   chỉ   có  khoảng 110 loài thực vật là đặc trưng cho thảm cây ngập mặn, điều này cho rằng đây  là một môi trườngkhắc nghiệt cho các loài thực vật.Thấy tại một khu vực ngập nước   mặn, sẽ khó có thể thu thập được ba chục loài, và ở một số địa điểm, đặc biệt là địa   điểm ven vùng cận nhiệt đới và các mảnh đất mới hình thành, có thể  có chỉ  có một   hoặc hai loài. Tất cả các loài cây ngập mặn của thế giới là cây lâu năm, và không loài   nào có thể phát triển hoặc là ở nơi có sự đóng băng hoặc nơi nhiệt độ nước lạnh theo  mùa. Do đó, các yếu tố nhiệt độ  đã hạn chế  khả  năng hướng cực của loại rừng này.  Rừng ngập mặn có thể được tìm thấy ở trong hơn 118 quốc gia và vùng lãnh thổ trong  khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới của thế giới. Các tỷ lệ phần trăm về diện tích lớn   nhất   của   rừng   ngập   mặn   được   tìm   thấy   giữa5° vĩ   Bắc   và 5° vĩ   Nam.   Khoảng75  % rừng ngập mặn trên thế  giới được tìm thấy trong chỉ  15 quốc gia. Châu Á có số  lượng rừng ngập mặn lớn nhất (42%) của thế giới, tiếp theo là châu Phi (21%), Bắc và  Trung   Mỹ (15%), Châu   Đại   Dương (12%)   và Nam   Mỹ (11%).Theo   tác   giả   Wahsh  (1974) phân chia thảm cây ngập mặn thế  giới thành 2 nhóm chính: Khu vực  Ấn độ  ­  Thái   Bình   Dương gồm Nam   Nhật   Bản, Philippines, Đông   Nam   Á, Ấn   Độ,   bờ  biển Hồng   Hải, Đông   Phi, Australia, New   Zealand,   quần   đảo   phía   Nam   Thái   Bình  Dương tới tận đảo Xamoa.
  18. Khu vực Tây Phi và châu Mỹ bao gồm bờ  biển châu Phi phía Đại Tây Dương,  đảo Galapagos và   châu   Mỹ.   Tổng   diện   tích   rừng   ngập   mặn   thế   giới   vào   khoảng  15.429.000 ha, trong đó có 6.246.000 ha thuộc châu Á nhiệt đới và châu Đại dương,   5.781.000 ha ở châu Mỹ nhiệt đới và 3.402.000 ha thuộc châu Phi. Ấn Độ và Malaysia được xem là hai khu vực có nhiều loài cây ngập mặn phong   phú và có chất lượng. Các cây gỗ  quan trọng nhất là Mắm (hay Mấm), Đước, Vẹt,   Bần,   Dà   (Ceriops).   Mắm   trắng   (Mắm   lưỡi   đòng)   (Avicemnia   alba)   và   Bần   trắng  (Sorineratia  alba) phát triển  theo hướng biển,  còn Mắm quăn (Avicennia  lanata) và  Mắm đen (Avicennia officinalis) hướng về  phía đất liền. Rừng ngập mặn phong phú  nhất ở Đông Nam Á là Malaysia, Thái Lan, Việt Nam vì nơi đây mưa lớn, nhiều phù sa,  ít sóng gió. Các loài cây ngập mặn đã tiến hóa từ  những thực vật  ở cạn khác nhau một cách  biệt lập, cả   ở những loài một lá mầm, hai lá mầm và dương xỉ. Trong số những loài  cây   ngập   mặn,   Đước   đỏ,   R.   mangle,   là   loài   phổ   biến   nhất,   mọc   ở   dọc   theo   bờ  biển Thái Bình Dương của châu Mỹ  từ  28 độ  vĩ Bắc  ở Baja California và Sonora Tây  bắc Nam Mỹ và quần đảo Galapagos, ở phía đông của châu Mỹ từ cực nam Florida tới  miền nam Brazil, và đến vùng nhiệt đới Tây Phi.  Ở  Cựu thế  giới (Old World­những   châu lục cũ Âu­Á­Phi), Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza) là loài đặc biệt phổ biến rộng   rãi phân  bố   từ   Đông Phi  đến  miền  đông  Úc,  trong  các  lưu vực   sông  ở  Thái  Bình  Dương, và quần đảo Ryukyu  ở  châu Á. Ngoài ra, Dà và Trang Kandelia candel, Mắm   cũng là những loài rất phổ biến ở những khu vực này. II. SỰ ĐA ĐẠNG SINH HỌC TRÊN THẾ GIỚI NÓI CHUNG Sự  sống có thể  tìm thấy  ở  khắp mọi nơi trên trái đất, ngay cả   ở  những nơi có   những điều kiện rất khắc nghiệt như ở vùng cực hay những vùng khô hạn. Tuy nhiên,  vùng nhiệt đới là nơi có độ ĐDSH cao nhất. Chúng chỉ chiếm 6% diện tích bề mặt trái   đất nhưng chứa hơn 50% số loài thực vật toàn cầu. Nếu trên 1 m2 đất rừng ôn đới có   thể trú ngụ 200.000 ve bét thì trên cùng diện tích bền mặt  ở vùng nhiệt đới có thể trú   ngụ  32 triệu tuyến trùng và 1 g đất có thể  chứa đến 90 triệu vi khuẩn và các vi sinh   vật khác. Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ trong chương trình thu mẫu tăng cường ở  vùng   biển Đại tây dương, đã ước tính số loài sống trong lớp trầm tích sâu của đại dương có   thể lên đến hơn 10 triệu, có thể so sánh với những gì chúng ta tìm được trong các khu  rừng nhiệt đới. Môi trường giàu có nhất về số loài là những khu rừng mưa nhiệt đới; những dải  san hô, những khu đầm, hồ   ở  vùng nhiệt đới và những khu vực sâu nhất của biển  (Pianka, 1966; Goombrige, 1992). Sự giàu có về loài cũng được tìm thấy trong các nơi   cư  trú trên cạn khác của vùng nhiệt đới như  những khu rừng rụng lá, savan cây bụi,  đồng cỏ  và sa mạc (Mares, 1992) và các rừng cây bụi thuộc vùng ôn đới. Trong các  
  19. rừng mưa nhiệt đới, sự ĐDSH là sự giàu có của các loài côn trùng. Tại các rạn san hô,  sự  đa dạng trải rộng ra  ở nhiều ngành và lớp khác nhau. Sự  đa dạng tại các khu vực   sâu của biển có thể  là do thời gian, diện tích rộng lớn và độ  ổn định của môi trường   cũng như  là do những tính chất  đặc biệt của các loại trầm tích nơi  đó (Etter and  Grassle, 1992). Sự phong phú của những loài cá và các loài khác trong những hồ rộng ở  vùng nhiệt đới là do sự phân ly thích nghi trong một chuỗi những khu cư trú tách biệt   và giàu chất dinh dưỡng.  Các HST nông nghiệp thường không phong phú về thành phần loài, do đó có tính   ổn định thấp. Tuy vậy, không phải là các HST nông nghiệp lúc nào cũng không  ổn  định. Sự ổn định của HST nông nghiệp có thể giữ được bằng tác động của con người   thông qua các phương thức canh tác, sự phong phú trong loài và đa dạng hóa cây trồng.  Sự  phong phú (diversity) trong loài là thành phần các giống cây trồng cùng một  loài được trồng trong một HST hay nói theo di truyền học là sự  phong phú về kiểu di  truyền (genotypes) hay về gen. Trong nông nghiệp cổ  truyền, lúc nông dân còn dùng các giống địa phương, sự  phong phú về di truyền của các HST nông nghiệp được đảm bảo vì mỗi vùng sản xuất  có rất nhiều giống địa phương. Bản thân mỗi giống địa phương là một giống đa gen,  một quần thể  lại không thuần nhất về  di truyền, có nhiều kiểu di truyền khác nhau  nhưng kiểu hình lại tương đối giống nhau. Khi các tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp   dụng vào sản xuất, công tác chọn giống được phát triển, các giống năng suất cao dần   dần thay thế  các giống địa phương. Các giống này thuần nhất về  mặt di truyền và  thường được trồng với diện tích rất rộng, có lúc là độc nhất trong các HST nông   nghiệp (hệ  thống độc canh). Sự  đồng nhất về  mặt di truyền của các giống mới cho   năng suất cao được xem như  là mối rủi ro đáng lo ngại. Trong quá khứ  đã có những   nạn dịch lớn về  bệnh cây trồng do sự  đơn điệu về  thành phần di truyền của giống  trong HST nông nghiệp.
  20. H.12.  Các điểm nóng về đa dạng sinh học trên thế giới: 25 điểm màu xanh lá cây   được xác định trước năm 2000, 9 điểm màu xanh nước biển mới được thêm gần   đây. Hình theo Wikipedia
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2