intTypePromotion=1

Tài liệu thi tư tưởng Hồ Chí Minh - Trung cấp lý luận chính trị

Chia sẻ: Hoang Van Chuong Chuong | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:27

0
478
lượt xem
83
download

Tài liệu thi tư tưởng Hồ Chí Minh - Trung cấp lý luận chính trị

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu tổng hợp những câu hỏi và đáp án về Tài liệu thi tư tưởng Hồ Chí Minh - Trung cấp lý luận chính trị. Để hiểu rõ hơn, mời các bạn tham khảo chi tiết nội dung tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tài liệu thi tư tưởng Hồ Chí Minh - Trung cấp lý luận chính trị

  1. Câu   1:   Trình   bày   quá   trình   hình   thành   và   phát   triển   tư   tưởng   HCM. Ý nghĩa? “Tư  tưởng HCM là một hệ  thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc  về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng  và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác ­ Lê Nin vào điều kiện cụ thể của nước  ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu   tinh hoa văn hóa của nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá   của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự  nghiệp cách mạng của   nhân dân ta giành thắng lợi ” 1. Thời kỳ  tiếp nhận chủ nghĩa yêu nước và hình thành ý chí cứu   nước (từ 1890­1911) Đây là giai đoạn Nguyễn Sinh Cung được tiếp nhận các giá trị  truyền  thống tốt đẹp của dân tộc là chủ  nghĩa yêu nước­nhân văn Việt Nam trong  môi trường gia đình, quê hương. Ngoài vốn Nho học và Quốc học, Nguyễn  Sinh Cung còn có những hiểu biết nhất định về nền văn hoá phương Tây, đặc  biệt là nền văn hoá, văn minh Pháp. Chứng kiến sự đau khổ của một dân tộc  nô lệ, sự bất công, áp bức giai cấp, những cuộc đấu tranh bất khuất của cha   ông cùng với tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa dân tộc và nhân văn trong cách  mạng tư  sản Pháp “Tự  do, Bình đẳng, Bác ái” đã hình thành nên ý chí cứu   nước, giải phóng dân tộc của Nguyễn Tất Thành. Trước   đòi   hỏi   mới   về   con   đường   cứu   nước,   giải   phóng   dân   tộc,   Nguyễn Tất Thành đã quyết định lên tàu Amiral La Touche De Tréville đến  nước Pháp bắt đầu cuộc hành trình tìm con đường giải phóng dân tộc, giải   phóng đất nước. Bằng trí tuệ và sự mẫn cảm, NTT đã quyết định đi theo con  đường mới, tìm mẫu hình mới cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và con người   VN. 2. Thời kỳ  từ  1911 ­ 1920: Tìm thấy con đường cứu nước, giải   phóng dân tộc ­ Nguyễn Tất Thành đã đi và sống ở nhiều nước thuộc châu Âu, châu Á,   châu Phi, Châu Mỹ, trực tiếp tìm hiểu đời sống của nhân dân lao động các nước   tư bản, tận mắt chứng kiến cuộc sống bị bóc lột, đàn áp của nhân dân các nước   thuộc địa Người rút ra những kết luận quan trọng về nguồn gốc của áp bức dân   tộc và giai cấp, nhận thấy tính không triệt để của CM DC TS và các cuộc CM này   đã trở nên cũ đối với lịch sử phát triển của nhân loại. ­ 7/1920, khi đọc Những  Luận cương về  vấn đề  dân tộc và vấn đề   thuộc địa của Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy lời giải đáp cho con đường 
  2. giải phóng dân tộc.  Người khẳng định “Muốn cứu nước và giải phóng dân  tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. ­ 12/1920 Người đã biểu quyết việc Đảng Xã hội Pháp gia nhập Quốc  tế III, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Đây là sự kiện đánh dấu bước  ngoặt trong nhận thức, tư tưởng của NAQ và cách mạng Việt Nam, từ người   yêu nước trở thành người cộng sản, đồng thời xác lập cơ sở lý luận cho CM  VN, theo lý luận chủ nghĩa Mac­Lenin.  3. Thời kỳ  1921 – 1930: Tư  tưởng HCM được hình thành về  cơ  bản Trong giai đoạn này, tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam đã  hình thành về cơ bản thông những hoạt động thực tiễn và lý luận của Người. 1925­1927 Nguyễn Ái Quốc đã trực tiếp mở  lớp huấn luyện chính trị  ­ cách mạng cho những thanh niên ưu tú của Việt Nam tại Quảng Châu – Trung  Quốc nhằm tuyên truyền chủ  nghĩa Mác – Lênin vào phong trào cách mạng  VN. 6/1925 Người thành lập hội Việt Nam cách mạng thanh niên và phát  ­ hành báo Thanh Niên. ­Người viết các tác phẩm: Bản án chế  độ  thực dân Pháp (1925) tố  cáo  tội ác, chỉ  rõ thủ  đoạn, âm mưu của thực dân Pháp đối với các nước thuộc  địa,  hướng các dân tộc bị áp bức đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười  Nga và Chủ nghĩa Mác­Lênin, thắp lên ngọn lửa đấu tranh cho độc lập, tự do   và chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam. Đường kách mệnh (1927) tập hợp   những bài giảng của Người cho lớp huấn luyện cán bộ  cách mạng ở  Quảng   Châu (Trung Quốc) từ  năm 1925 – 1927, vạch ra con đường cách mạng Việt  Nam; trong đó, xác định đường lối, mục tiêu, lý tưởng, động lực cách mạng,   vai trò của lý luận cách mạng và nhiều vấn đề  quan trọng khác, tạo tiền đề  về  tư  tưởng, lý luận cho sự  ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (03­02­ 1930) Năm 1930 Người chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức CS. ĐCSVN ra  ­ đời. Cương lĩnh chính trị  đầu tiên của Đảng đã xác định  mục tiêu, phương  hướng, nhiệm vụ, kẻ  thù trước mắt của CMVN; xây dựng lực lượng CM,  phương pháp cách mạng, vai trò lãnh đạo của Đảng. Cương lĩnh đã chấm dứt  sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức của cách mạng Việt Nam 4. Thời kỳ  1930 – 1969: Tư  tưởng HCM được thực hiện và phát  triển ở VN. Tư tưởng HCM gặp khó khăn, thử thách (1930­1940) XD Đảng cộng sản VN với đường lối CMVS qua các văn kiện đầu tiên  là Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình vắn tắt và Điều lệ  tóm tắt của Đảng là sự  sáng tạo của HCM khi vận dụng CN Mác­Lenin vào   hoàn cảnh cụ  thể của VN. Tuy nhiên, do chưa nắm bắt được tình hình thực 
  3. tiễn và bị chi phối bởi các quan điểm tả khuynh của QTCS, Hội nghị lần thứ  nhất BCH TW Đảng (10/1930) đã chỉ  trích, phê phán xung quanh các vấn đề  về MQH dân tộc – giai cấp, vấn đề mặt trận dân tộc thống nhất, tên Đảng và  ra nghị  quyết thủ  tiêu các văn kiện này; đồng thời quyết định đổi tên Đảng  CSVN thành ĐCS Đông Dương. Tuy nhiên, Nguyễn Ái Quốc vẫn kiên trì quan  điểm của mình. Tại ĐH VII (7/1935), Quốc tế Cộng sản đã phê phán khuynh hướng “tả  khuynh”, biệt phái trong phong trào cộng sản quốc tế, và từ  thực tiễn cách  mạng nước ta, Đảng đã từng bước điều chỉnh và đề  ra những chủ  trương   theo quan điểm đúng đắn của Nguyễn Ái Quốc. Tháng 9/1939, QT cộng sản  đã đồng ý để NAQ về công tác ở Đông Dương. Ngày 28/1/1941 người về đến   VN và từ đây trực tiếp lãnh đạo cách mạng nước ta. Tư tưởng HCM được thực hiện đúng đắn ở VN (1941­1945) Tháng 5/1941, HCM triệu tập và chủ  trì Hội nghị  TW Đảng lần thứ  VIII. Tại hội nghị này, những quan điểm của HCM về đường lối cách mạng  VN, chủ yếu là vấn đề giải quyết mối quan hệ dân tộc – giai cấp, đặt quyền  lợi dân tộc giải phóng  cao hơn hết thảy, đoàn kết oàn dân trong xây dựng lực   lượng cách mạng, xây dựng mặt trận đoàn kết dân tộc và phương pháp cách  mạng HCM được khẳng định. Với quan điểm đúng đắn đó, Mặt trận Việt   Minh được Đảng ta tổ chức đã phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy phong trào giải  phóng dân tộc trên cả nước, đồng thời tạo ra cơ sở chính trị vững chắc cho sự  ra đời của lực lượng vũ trang nhân dân. Đó là những nhân tố căn bản đưa tới  thành công của Cm tháng tám năm 1945. Tư tưởng HCM phát triển trong điều kiện mới (1945­1969). Ngày 2/9/1945, Chủ  tịch Hồ  Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập,  khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ  Cộng hòa. Thắng lợi của cách mạng  tháng Tám là thắng lợi vĩ đại của Đảng, của tư  tưởng Hồ Chí Minh về  cách  mạng Việt Nam. Tư  tưởng HCM được phát triễn đáp  ứng tình hình, nhiệm  vụ  cách mạng mới. Đó là những quan điểm về  xây dựng NN dân chủ, về  những vấn đề chính trị đối nội, đối ngoại; về xây dựng nền KT, văn hóa, con  người mới,  quan điểm vừa kháng chiến vừa kiến quốc, thực hiện toàn dân   kháng chiến, toàn diện kháng chiến, trường kỳ  chống thực dân pháp xâm  lược, bảo vệ thành quả của cách mạng.  ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951) là sự phát triển của  tư tưởng HCM trong xây dựng đảng qua cương lĩnh, điều lệ và về đường lối  cách mạng VN từ  cách mạng dân tộc dân chủ  nhân dân tiến lên cách mạng   XHCN. Đường lối đúng đắn đó đã dẫn dắt nhân dân ta tới chiến thắng lịch sử  Điện Biên Phủ  (1954) giải phóng nửa đất nước và mở  đầu qua trình sụp đổ  của CN thực dân cũ trên thế giới. Sau Hiệp định Giơnevơ  1954, đất nước ta bị  chia làm hai miền với 2  nhiệm vụ  khác nhau. Tư  tưởng HCM được PT đáp  ứng tình hình, nhiệm vụ 
  4. mới với việc hình thành đường lối vừa thực hiện cách mạng XHCN ở Miền  bắc, vừa tiếp tục hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ  nhân dân  ở  miền  nam được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn   quốc lần thứ  II của Đảng  (1960). Những quan điểm HCM về xây dựng CNXH ở miền bắc và đấu tranh  cách mạng ở miền Nam đã dẫn dắt nhân dân ta giành thắng lợi vẻ vang trong   sự nghiệp chống mỹ cứu nước. Trước khi mất, HCM đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta bản Di chúc  thiêng liêng chỉ rõ sự tất thắng của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước; tổng kết   những bài học của CM VN; chỉ ra những phương hướng lớn để xây dựng đất  nước sau chiến tranh nhằm thực hiện cho được mục tiêu xây dựng một nước  VN hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ  và giàu mạnh, góp phần xứng   đáng vào sự  nghiệp cách mạng thế  giới. Đó là di sản tư  tưởng vô cùng quý  báu của Đảng và nhân dân ta.Thực hiện di chúc của người, Đ ta đả lãnh đạo  nhân dân hoàn thành   cuộc cách mạng dân tộc dân chủ   ở  miền Nam, thống   nhất đất nước, đưa cả nước đi lên cnxh.   Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh trải qua hơn nửa thế kỷ hình thành và  phát triển, là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới,  là ngọn cờ thắng lợi của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì độc lập,   tự  do, vì giải phóng dân tộc và chủ  nghĩa xã hội. Đó là những quan điểm tư  tưởng vừa có ý nghĩa lịch sử nhưng đồng thời có giá trị, ý nghĩa to lớn trong   công cuộc đổi mới hiện nay. Ý nghĩa: ­ Là nền tảng tư  tưởng và kim chỉ  nam cho hành động của cách mạng   Việt Nam. Trong suốt chặng đường hơn một nửa thế  kỷ, tư  tưởng Hồ  Chí  Minh đã trở  thành ngọn cờ  dẫn dắt cách mạng nước ta đi từ  thắng lợi này  đến thắng lợi khác. Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ đại hội đã liên tục  khẳng định vai trò, ý nghĩa, tác dụng của đường lối chính trị, tư  tưởng, đạo  đức, phương pháp, phong cách...Hồ  Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam.  Cương lĩnh năm 1991 của Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định "Đảng lấy  chủ  nghĩa Mác­Lênin và tư  tưởng Hồ  Chí Minh làm nền tảng tư  tưởng, kim   chỉ nam cho hành động". Trong bối cảnh của thế giới ngày nay, tư tưởng của   Người giúp chúng ta nhận thức đúng những vấn đề lớn có liên quan đến việc  bảo   vệ   nền   độc   lập   dân   tộc,   phát   triển   xã   hội   và   đảm   bảo   quyền   con  người.Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng vững chắc để Đảng ta vạch đường  lối cách mạng đúng đắn, là sợi chỉ  đỏ  dẫn đường cho toàn dân tộc ta đi tới  thắng lợi TTHCM là sản phẩm của thời đại và đã trở thành một bộ phận của văn  ­ hoá dân tộc Việt Nam. TTHCM trường tồn, bất diệt  và là tài sản vô giá của  Đảng và dân tộc ta. Tư tưởng của Người không chỉ  tiếp thu, kế  thừa những   tinh hoa văn hoá của dân tộc, của loài người ­ trong đó chủ yếu là CNML, mà  còn đáp ứng nhiều vấn đề của thời đại, của sự nghiệp cách mạng VN và thế 
  5. giới. Tư  tưởng HCM vừa lấy lý luận của CNML làm gốc, đồng thời kiểm  nghiệm qua thực tiễn cách mạnh Việt Nam, đã loại bỏ  những yếu tố  không  phù hợp với điều kiện cụ  thể  của nước ta; đề  xuất những vấn đề  mới do  thực   tiễn   đặt   ra   và   giải   quyết   một   cách   linh   hoạt,   khoa   học,   hiệu   quả.   TTHCM là hệ thống những quan điểm lý luận, tư tưởng về chiến lược, sách  lược cách mạng dân tộc dân chủ  nhân dân, cách mạng XHCN, định hướng  cho sự  phát triển của dân tộc, soi đường cho  Đảng và nhân dân trên con   dường thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn  minh. Câu 2: Phân tích làm rõ quan điểm: Trong giai đoạn hiện nay, đôc lập  dân tộc gắn liền với CNXH vẫn là con đường duy nhất đúng đắn. “Tư  tưởng HCM là một hệ  thống các quan điểm toàn diện và sâu sắc  về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng  và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác ­ Lê Nin vào điều kiện cụ thể của nước  ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu   tinh hoa văn hóa của nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá   của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự  nghiệp cách mạng của   nhân dân ta giành thắng lợi ”. Có thể nói, trong hệ  thống các quan điểm toàn  diện và sâu sắc ấy, quan điểm về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là một  trong những quan điểm mang giá trị to lớn đối với CM VN. Cho đến ngày nay   tư tưởng ấy của Người vẫn còn nguyên giá trị. 1. Tính tất yếu của độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội   của cách mạng Việt Nam a)  Hoàn cảnh lịch sử  đất nước ta cuối thế  kỉ  XIX đầu thế  kỉ   XX: +    Thực dân Pháp tiến hành xâm lược và  biến nước ta từ  một nước  phong kiến độc lập trở thành một nước thuộc địa, nửa phong kiến. + Hàng loạt các phong trào kháng chiến chống thực dân pháp nổ  ra  ở  khắp 3 miền Bắc ­ Trung ­ Nam, tiêu biểu là phong trào Cần Vương. Thông  qua   chương   trình   khai   thác   thuộc   địa,   thực   dân   Pháp   đưa   vào   Việt   Nam  phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa dẫn đến sự  xuất hiện của giải cấp   công nhân, giai cấp tư sản. Cùng với sự biến đổi về  cơ  cấu xã hội, một số  trào lưu tư  tưởng dân chủ  tư  sản được du nhập vào Việt Nam như  Phong  trào Đông Du, Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, phong trào Duy Tân…Tuy  nhiên, các cuộc khởi nghĩa theo ý thức hệ  phong kiến và ý thức hệ  dân chủ  tư sản cuối cùng đều thất bại do 3 nguyên nhân chính. Đó là: Chưa có đường  lối cứu nước đúng đắn; Chưa có được một tổ chức chính trị  thống nhất để  lãnh đạo cách mạng; Chưa xác định được lực lượng cách mạng đúng đắn.
  6. + Như  vậy, cách mạng Việt Nam thời kỳ  này, lâm vào khủng hoảng  đòi hỏi phải có một đường lối, phương pháp cách mạng mới, đặc biệt là  phải có lực lượng lãnh đạo mới, có thể tập hợp được lực lượng của cả dân   tộc để tiến hành sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc. b)  Sự lựa chọn của Hồ Chí Minh: +Trước   đòi   hỏi   mới   về   con   đường   cứu   nước,   giải   phóng   dân   tộc,   Nguyễn   Tất   Thành  lên   tàu   L’Admiral   Latoche   Tresvill,   đi   tìm   đường   cứu  nước, nghiên cứu kinh nghiệm cách mạng thế giới. + Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu cuộc CMT10 Nga năm 1917, đánh giá đây  là cuộc cách mạng triệt để, cuộc CM đến nơi đến chốn vì sau khi CM thành   công thì CN, ND và những người lao động được hưởng quyền dân chủ  một   cách thực sự. Đây là mô hình cách mạng mà NAQ tiến tới. + Tháng 12/1920 tại đại hội lần thứ 18 của Đảng xã hội pháp, NAQ bỏ  phiếu tán thành Quốc tế III, tham gia sáng lập Đảng CS Pháp. Kể từ lúc này,   NAQ từ người yêu nước trở thành người cộng sản, đồng thời xác lập cơ  sở  lý luận cho CM VN, theo lý luận chủ  nghĩa Mac­Lenin. Người khẳng định  “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con dường nào khác con   dường cách mạng vô sản” Năm 1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và trong suốt quá trình đấu  tranh cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định Chủ  nghĩa xã hội là mục tiêu, lý  tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam, đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách  quan, Đảng ta thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên khẳng định con đường  cách mạng Việt Nam: Làm tư  sản dân quyền cách mạng và thổ  địa cách   mạng để  đi tới xã hội cộng sản. Trên sơ  sở  này, năm 1959, Hồ  Chí Minh  khẳng định: Cách mạng Việt Nam trải qua 2 giai đoạn là cách mạng dân tộc  dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa.   2. Tính đúng đắn của con đường chủ  nghĩa xã hội  ở  Việt Nam  thông qua thực tiễn cách mạng Việt Nam: Trải qua quá trình đấu tranh  Người  luôn khẳng định: Trong thời đại  ngày nay, cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ  phận khăng khít của cách  mạng vô sản trong phạm vi toàn thế giới; cách mạng giải phóng dân tộc phải   được phát triển thành cách mạng xã hội chủ  nghĩa thì mới dành được thắng  lợi hoàn toàn. Chủ nghĩa xa hội là con đường duy nhất có thể giải phóng triệt  để con người, đem lại tự do, hạnh phúc cho toàn dân. Từ khi có Đảng lãnh đạo, hàng loạt các phong trào cách mạng đã diễn  ra khắp cả  nước như  Phong  trào Xô Viết Nghệ  Tĩnh 1930­1931, phong trào  đấu tranh đòi dân sinh dân chủ 1936­1939, phong trào đấu tranh giải phóng dân  tộc 1939­1945.
  7. Ngày 02/9/1945,  Chủ  tịch Hồ  Chí Minh độc bản tuyên ngôn độc lập  khai sinh nước VNDCCH mở ra một kỉ nguyên mới của dân tộc Việt Nam –   kỉ nguyên độc lập tự do, dân chủ nhân dân và đi lên chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, nền độc lập mà nhân dân ta dành được chưa được bao lâu  thì đất nước ta, nhân dân ta lại bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân  pháp xâm lược lần thứ 2 và kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ   ngày  07/5/1954. Sau hiệp định Giơnevơ 1954 đất nước ta tạm thời bị chia cắt làm  2 miền: Miền Bắc  được giải phóng  tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ  nghĩa, Miền Nam tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ  nhân  dân đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược.  Đảng ta lúc này thực hiện một lúc hai nhiệm vụ: xây dựng chủ  nghĩa  xã hội  ở  Miền Bắc và thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ  nhân dân  ở  Miền Nam. Trải qua quá trình gian khổ  Miền Nam đấu tranh chống giặc   ngoại xâm, Miền Bắc tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và là hậu  phương chắc cho tiền tiến lớn Miền Nam. Với chiến thắng lịch sử 30/4/1975 kháng chiến chống Mỹ cứu của nhân  dân ta dành thắng lợi đã đưa nước ta bước sang một thời kỳ  mới: cả  nước   độc lập dân tộc, thống nhất cùng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên,  công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước là một nhiệm vụ khó khăn.   Vấn đề nhận thức của Đảng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội giai đoạn  1975­1985 còn có những sai lầm nhất định. Nhưng Đảng ta đã sớm nhận ra và  khắc phục sai lầm, công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và   lãnh đạo bắt đầu từ đại hội lần thứ VI (1986) đến nay đã thu được những kết   quả bước đầu khả quan, giữ vững ổn định chính trị, đời sống nhân dân không  ngừng được cải thiện. 3.  Tính đúng đắn của con đường đi lên chủ  nghĩa xã hội  ở  Việt  Nam hiện nay: Để  đạt được những thành tựu to lớn trên con đường đi lên chủ  nghĩa  xã hội chúng ta đã gặp không ít những khó khăn, trở ngại đặc biệt là âm mưu  lật đổ các nước đi theo con đường XHCN của các thế lực thù địch:  ­ Khi Liên Xô và các Đông Âu sụp đổ, một số quan điểm cho rằng Việt  Nam cần từ bỏ con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên sự sụp đổ  của CNXH ở liên xô là sự sụp đổ của 1 mô hình về CNXH, chứ bản chất tiến  bộ, tốt đẹp của CNXH thì không ai có thể phủ nhận. Thông qua việc tổng kết   những bài học về  sự  sụp đổ  của Liên Xô và các Đông Âu, Đảng ta đã có   những bước điều chỉnh phù hợp, đưa đất nước dần bước qua thời kì khó   khăn, tiếp tục thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. ­ Các thế  lực thù địch với âm mưu diễn biến hòa bình, đẩy mạnh phủ  nhận chủ nghĩa Mác­Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chống CNXH; phê phán,  đả kích chủ nghĩa Mác­Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh hòng làm lung lay nền  tảng tư tưởng và đẩy nước ta đi chệch quỹ đạo XH XHCN. 
  8. ­ Yêu cầu đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng  sản Việt Nam, tự diễn biến, tự chuyển hóa.  Trước những khó khăn thách thức, đối với nước ta, chủ  nghĩa xã hội   vẫn còn là con đường đúng đắn, phù hợp với xu thế lịch sử.  ­ Sau đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong  công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ một nền kinh tế nông   nghiệp lạc hậu với 90% dân số  làm nông nghiệp, Việt Nam đã xây dựng   được cơ sở vật chất­kỹ thuật, hạ tầng kinh tế­xã hội từng bước đáp ứng cho   sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra môi trường thu hút nguồn lực  xã hội cho phát triển. ­ Kinh tế  duy trì tốc độ  tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh   tế  tăng lên (đạt ngưỡng thu nhập trung bình), đời sống nhân dân từng bước  được cải thiện; đồng thời tạo ra nhu cầu và động lực phát triển cho tất cả các  lĩnh vực của đời sống xã hội, đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân đã thực sự  trở thành lực lượng quan trọng để thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện  đại hóa đất nước. ­ Về  tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ  tăng trưởng cao hơn   hẳn thời kỳ  trước đổi mới. Sau giai đoạn đầu đổi mới (1986­1990) với mức  tăng trưởng GDP bình quân hàng năm chỉ  đạt 4,4%. Giai đoạn 1991­1995,  GDP bình quân tăng 8,2%/năm. Năm 2003, sau 16 năm đôi m ̉ ơi, thu nh ́ ập binh ̀   ̀ ươi  quân đâu ng ̀ ở  Việt Nam mơi ch ́ ỉ đat 471 USD/năm thì đ ̣ ến năm 2015, thu   nhập bình quân đầu người đạt gần 2.300 USD, đến năm 2017  ước tính đạt  2.385 USD. (Số liệu Tổng cục Thống kê) ­ Lực lượng sản xuất có nhiều tiến bộ  cả về số lượng và chất lượng.  Chất lượng tăng trưởng có mặt được cải thiện, trình độ  công nghệ  sản xuất   có bước được nâng lên. Kinh tế  vĩ mô cơ  bản  ổn định, lạm phát được kiểm  soát.   Cơ   cấu   lao   động   có   sự   chuyển   đổi  tích   cực   gắn   liền  với   quá   trình  chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu có cải thiện đáng kể.   Ngành công nghiệp và xây dựng duy trì tốc độ  tăng trưởng khá liên tục, tốc   độ triển khai ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ được cải thiện.   Sản phẩm công nghiệp phát triển ngày càng đa dạng và chất lượng, từng   bước nâng cao khả năng cạnh tranh, bảo đảm cung cầu của nền kinh tế, giữ  vững thị trường trong nước và mở rộng thị trường xuất khẩu; chú trọng đầu  tư phát triển một số ngành công nghiệp mới, công nghệ cao.  ­ Cho đến nay đã có 59 quốc gia công nhận nền kinh tế  Việt Nam là   nền kinh tế thị trường, trong đó có các đối tác thương mại lớn của Việt Nam.   Việt Nam đã ký kết 10 Hiệp định thương mại tự do khu vực và song phương   (gồm sáu FTA ký kết với tư  cách là thành viên ASEAN; bốn FTA đàm phán  với tư cách là một bên độc lập); vừa hoàn tất đàm phán hai FTA (Liên minh   châu Âu và TPP); đang tích cực đàm phán ba FTA khác (ASEAN­Hong Kong;   EFTA; RCEP).
  9. Dựa vào những thành tựu cơ  bản của cách mạng Việt Nam trong thời  gian qua có thể khẳng định con đường độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã  hội do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta lựa chọn là phù hợp với xu thế phát   triển của lịch sử. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là bài học lớn, xuyên  suốt quá trình cách mạng Việt Nam, là con đường duy nhất đúng mà Đảng ta  và Dân tộc Việt Nam đã lựa chọn. Quán triệt tư tưởng đó của chủ tịch HCM,   cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung,   phát triển năm 2011) đã khẳng định: đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của   nhân dân, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng cộng sản Việt Nam và chủ tịch   HCM phù hợp với xu thế  phát triển của lịch sử.  Tại ĐH XII của Đảng tiếp  tục khẳng định: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là phù hợp với   thực tiễn của nhân dân Việt Nam và xu thế phát triển lịch sử”.   Câu    3 : Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc? Liên hệ tại địa  phương, cơ quan, đơn vị. Tư  tưởng đại đoàn kết của HCM là một hệ  thống các luận điểm về  vị  trí, vai trò, nội dung, nguyên tắc, phương pháp tập hợp, tổ  chức lực lượng   cách mạng, nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh của dân tộc, của   quốc tế trong sự nghiệp đấu tranh cho độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa  xã hội. II. Quan niệm của HCM v ề  v ị  trí, vai trò của đại đoàn kết trong  cách mạng Việt Nam:  ­ Đại đoàn kết là vấn đề  có ý nghĩa chiến lược, là nhân tố cơ  bản   quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam :  Tư tưởng đại đoàn kết của HCM là tư tưở ng cơ bản, nhất quán, xuyên   suốt tiến trình của cách mạng Việt Nam. Đó là chiến lược tập hợp mọi lực   lượ ng có thể tập hợp đượ c, nhằm hình thành sức mạnh to lớn của toàn dân  tộc trong cuộc đấu tranh với kẻ thù của dân tộc, của giai cấp. Đại đoàn kết  luôn luôn đượ c nhận thức là vấn đề sống còn của cách mạng, là một chiến   lượ c bất di bất dịch.  Hồ  Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết là lực lượ ng mạnh nhất”, “Đoàn  kết là sức mạnh vô địch”, “Đoàn kết là then chốt của thành công”. Đoàn   kết càng rộng rãi, chặt chẽ  thì thắng lợi càng lớn. “Nhờ  đại đoàn kết mà  nhân   dân   Việt   Nam   đã   đánh   thắng   chủ   nghĩa   thực   dân,   làm   cách   mạng  Tháng Tám thành công và đã kháng chiến đến thắng lợi. Nhờ  đại đoàn kết  toàn dân mà nước Việt Nam chúng tôi nhất định sẽ thống nhất”. “Đoàn kết,  đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”.  ­  Đại đoàn kết là mục đích, nhiệm vụ  hàng đầu của Đảng cách  mạng: 
  10. HCM cho rằng,  đại   đoàn kết không  đơn  thuần là phương  pháp tập  hợp, tổ  chức lực lượng yêu nướ c, cách mạng, mà cao hơn đó là mục đích,  nhiệm vụ hàng đầu của Đảng cách mạng. Phát biểu tại buổi lễ ra mắt của  Đảng Lao động Việt Nam (03­03­1951), HCM  tuyên bố  trước toàn dân tộc:  Mục   đích   của   Đảng   Lao   động   Việt   Nam   đại   thể   gồm   trong   8   chữ   là:  “ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC”.  Để  đạt được mục đích đó, nhiệm vụ đầu tiên của Đảng cách mạng là  tập hợp, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, hình thành nên khối đại  đoàn   kết   dân   tộc   to   lớn,   mạnh   mẽ.   Đoàn   kết,   theo   HCM   là   điểm   mẹ.   “Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ  ra con cháu đều tốt”. Do vậy, đại đoàn   kết phải là điểm xuất phát, là sợi chỉ đỏ  xuyên suốt toàn bộ  đườ ng lối, chủ  trương của Đảng.  III. Nội dung ĐĐK DT trong TT HCM: 1. Lực lượng đại đoàn kết dân tộc  Lực lượng đại đoàn kết dân tộc theo HCM bao gồm các giai cấp, các  tầng lớp trong xã hội, các ngành, các giới, các lứa tuổi, các dân tộc sống trên  lãnh thổ  Việt Nam, đồng bào các tôn giáo, các đảng phái, v.v… hợp thành  khối đại đoàn kết rộng rãi toàn dân tộc trong khối đại đoàn kết rộng lớn,   đông đảo và đa dạng đó, liên minh công – nông – trí thức là nền tảng. Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa  số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp  nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền   của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các  tầng lớp nhân dân khác”. 2. Hình thức tổ chức đại đoàn kết dân tộc: ­ Hình thức tổ  chức đại đoàn kết toàn dân tộc theo HCM là đoàn kết   trong Mặt trận Dân tộc thống nhất. Mặt trận là một liên minh chính trị nhằm  đoàn kết rộng rãi các tổ chức yêu nước vào một khối thống nhất, đấu tranh vì  độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ XH. ­ Yêu cầu của HCM về xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất: + Mặt trận phải lấy liên minh công nông trí thức làm nền tảng. Liên   minh công – nông – trí thức có vững, Mặt trận mới bền vững, lâu dài được.  Đây là yếu tố cần, còn yếu tố đủ là Mặt trận phải đoàn kết với các tầng lớp  yêu nước khác để mở rộng tổ chức, mở rộng khối đại đoàn kết. + Mặt trận do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Đảng lãnh đạo  mặt trận bằng việc đề  ra chính sách Mặt trận đúng đắn, phù hợp với từng   thời kỳ, từng giai đoạn của cuộc cách mạng, bằng phương pháp tuyên truyền,  vận động, giáo dục, thuyết phục, thông qua tổ  chức cơ  sở  đảng và đội ngũ   đảng viên.
  11. + Mặt trận dân tộc là khối đại đoàn kết lâu dài. + Mặt trận dân tộc hoạt động phải đảm bảo lợi ích tối cao của dân tộc,  quyền lợi cơ bản của các tầng lớp nhân dân. 3. Nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc: ­ Thứ nhất, đại đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở thống nhất giữa  lợi ích của quốc gia dân tộc với quyền lợi cơ bản của các giai tầng trong xã  hội. HCM đã tìm ra được mẫu số  chung để  đoàn kết dan tộc, đó là độc lập,   tự  do. Người khẳng định: Tất cả  các dân tộc trên thế  giới đều sinh ra, bình  đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền tự  do. Dân tộc Việt Nam có   quyền được hưởng tự do, độc lập. Người cho rẳng, nước được độc lập mà  dân không có tự  do, hạnh phúc, thì độc lập cũng không có nghĩa gì. Chân lý  “Không có gì quý hơn độc lập, tự  do” là chìa khóa vạn năng, điểm hội tụ  thắng lợi của chiến lược đại đoàn kết HCM. ­ Thứ hai, tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của nhân dân. HCM cho rằng: Dân là gốc rễ, là nền tảng của đại đoàn kết. Dân là chủ  thể  của đại đoàn kết. Dân là nguồn gốc sức mạnh vô tận, vô địch của khối  đại đoàn kết. Dân là chỗ  dựa vững chắc của Đảng cộng sản và hệ  thống  chính trị. ­ Thứ  ba, đại đoàn kết một cách tự  giác, có tổ  chức, có lãnh đạo, đoàn   kết lâu dài, chặt chẽ. HCM nêu rõ “đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu   dài. Đoàn kết là 1 chính sách dân tộc, không phải là 1 thủ  đoạn chính trị. Ta   đoàn kết để  đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ  quốc; ta còn phải   đoàn kết để xây dựng nước nhà”  ­ Thứ  tư, đại đoàn kết phải chân thành, thẳng thắn, thân ái, đoàn kết   phải gắn với tự phê bình và phê bình. Người cho rằng, trong đoàn kết có đấu tranh, đấu tranh để củng cố đoàn  kết. “Đoàn kết thực sự nghĩa là vừa đoàn kết, vừa đấu tranh, học những cái   tốt của nhau, phê bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân   ái, vì nước, vì dân”. Do đó, trong đoàn kết phải thực hiện tự phê bình và phê   bình, để khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, phát huy những ưu điểm, củng cố  nội bộ, củng cố  tổ  chức, tăng cường đoàn kết.Tự  phê bình và phê bình phải  chân thành, thẳng thắn, thân ái, phải có lý, có tình, phê bình việc chứ  không  phê bình người. 4. Phương pháp đại đoàn kết dân tộc ­ Phương pháp tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục: 
  12. + Mục đích tuyên truyền, vận động, giáo dục thuyết phục nhằm thức   tỉnh mọi người, để họ tự nguyện, tự giác tham gia vào một tổ chức đoàn thể  trong Mặt trận.  + Yêu cầu: Đáp  ứng những nguyện vọng, quyền lợi cơ  bản của mỗi dân tộc, mỗi  giai cấp, vừa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng  Sử dụng các hình thức tuyên truyền, vận động phù hợp. Cán bộ  tuyên truyền phải nắm vững chủ  trương, đường lối của Đảng,  phải đi sâu, đi sát đồng bào, hiểu được hoàn cảnh và nguyện vọng của đồng  bào, phải là 1 tấm gương, một mẫu mực từ lời nói đến việc làm, có sức lôi  cuốn, thu phục quần chúng. ­ Phương pháp tổ chức:  + Mục đích: là phương pháp xây dựng, củng cố, phát triển hệ  thống  chính trị, bao gồm: Đảng, Nhà Nước, mặt trận và các đoàn thể nhân dân. + Yêu cầu:  Với Đảng phải đề ra được đường lối đại đoàn kết đúng đắn; Đảng phải   đoàn kết, thống nhất cả  trong tư  tưởng lẫn hành động, từ  trên xuống dưới;  Đảng phải là 1 tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật, tự giác; đảng viên là người đày  tớ thật trung thành của nhân dân, phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng  như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Với nhà nước Phải xây dựng nhà nước thực sự  là của dân, do dân, vì  dân; phải không ngừng cải cách bộ  máy hành chính và hoàn thiện hệ  thống  pháp luật. Cán bộ công chức nhà nước phải tận tụy, trung thành phục vụ nhân   dân, phải là “công bộc của dân” Với mặt trận và các đoàn thể nhân dân: Cương lĩnh đề ra phải thiết thực,   ngắn gọn, rõ ràng; hình thức tổ  chức phải phong phú, đa dạng, phù hợp với  trình độ  nhận thức của quần chúng; cán bộ  phải óc nghĩ, chân đi, mắt thấy,  tai nghe, miệng nói, tay làm; phải làm tốt công tác dân vận. ­ Phương pháp xử  lý và giải quyết các mối quan hệ:  là phương pháp  xử  lý khoa học mối tương quan ba chiều giữa: Cách mạng – Trung gian –   phản cách mạng, nhằm mở rộng đến mức cao nhất trận tuyến cách mạng và  thu hẹp đến mức thấp nhất trận tuyến thù địch. + Đối với lực lượng cách mạng: Khai thác, phát huy những điểm thống  nhất, tương đồng; khắc phục hạn chế  tiến tới xóa bỏ  dần những khác biệt   về  mục tiêu, lợi ích. Sự  đoàn kết, thống nhất của lực lượng cách mạng là  điều kiện tiên quyết giúp cách mạng thành công. + Đối với lực lượng trung gian: xóa bỏ  thành kiến, mặc cảm, khơi gợi,   cổ  vũ ý thức dân tộc, tinh thần yêu nước; chân thành hợp tác, trọng dụng  những người có tài, có đức ra giúp dân, giúp nước.
  13. + Đối với lực lượng phản cách mạng: chủ động, kiên quyết tiêu diệt trên  cơ  sở  phân hóa cô lập chúng cao độ, chú ý khai thác mâu thuẫn trong nội bộ  kẻ  thù, lôi kéo những người có thể  tranh thủ  được; tạm hòa hoãn có nguyên  tắc với những lực lượng, bộ phận có thể hòa hoãn được. + Liên hệ: Công tác đại đoàn kết dân tộc tại huyện Đam Rông Đại đoàn kết  toàn dân tộc là một trong những nhiệm vụ  quan trong là  đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam trong các giai đoạn của lịch  sử dân tộc. Trong những năm qua các cấp bộ Đoàn huyện Đam Rông đã triển  khai việc đại đoàn kết toàn dân tộc dưới nhiều hình thức, da dạng, phong phú  và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Xác định rõ việc chăm lo đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần cho đoàn   viên thanh niên là một nhiệm vụ quan trọng, xuyên suốt trong việc xây dựng  và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chính vì vậy, những năm qua,   các cấp bộ Đoàn huyện Đam Rông luôn quan tâm, chăm lo việc củng cố, kiện  toàn hệ  thống tổ  chức các cơ  sở  đoàn từ  cơ  quan, đơn vị  đến khu dân cư.   Trong đó, chú trọng xây dựng lực lượng nòng cốt là đội ngũ đoàn viên thanh   niên có uy tín, thanh niên tôn giáo,  tăng cường bám sát địa bàn dân cư. Tuyên  truyền, vận động đoàn viên thanh niên, bà con nhân dân tích cực thực hiện tốt   chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; xóa bỏ các phong   tục tập quán lạc hậu trong lao động, sản xuất; xây dựng đời sống văn hóa ở  khu dân cư; xây dựng nông thôn mới; thực hiện hiệu quả các cuộc vận động,  các phong trào thi đua yêu nước, lao động sản xuất, xóa đói giảm nghèo. Nhờ  đó, đời sống của người dân trên địa bàn huyện đã có nhiều biển biến, bộ mặt   nông thôn đã có nhiều khởi sắc, khối đại đoàn kết toàn dân được giữ  vững.  Kinh tế  phát triển, đời sống văn hóa của đồng bào các dân tộc trong huyện   ngày được nâng cao, các tập tục lạc hậu dần được xóa bỏ, các giá trị văn hóa   truyền thống của dân tộc được lưu giữ, các phong trào thi đua yêu nước được   đẩy mạnh và phát huy. Sau hơn 5 năm triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới, các cấp  bộ đoàn huyện Đam Rông đã phối hợp cũng Mặt trận Tổ quốc các cấp và các   tổ  chức thành viên vận động đoàn viên thanh niên, bà con nhân dân đóng góp  được hơn 5.000 lượt công lao động, 5 tỷ đồng; hơn 10ha đất canh tác để xây  dựng đường giao thông nông thôn, trường học, trạm y tế, kênh mương nội   đồng và một số công trình phúc lợi xã hội khác; huy động các tổ chức, cá nhân   đóng góp xây dựng được 311 căn nhà cho hộ nghèo; tặng hơn 15.000 suất quà  cho hộ  nghèo, các già làng, chức sắc tôn giáo, người có uy tín; tặng 10 ngàn  quyển vở, 170 xe đạp cho học sinh nghèo vượt khó học giỏi.  Tỷ  lệ  hộ  nghèo toàn huyện còn 7,5%, trong đó, hộ  nghèo đồng bào dân  tộc  thiểu  số  còn  11%;  thu nhập  bình quân  đầu người   đạt 28  triệu  đồng/  người/ năm. Đến nay, toàn huyện đã có gần 2000 hộ  đạt danh hiệu hộ  sản   xuất kinh doanh giỏi. Nhiều đoàn viên thanh niên đã xây dựng các mô hình  phát triển kinh tế  vườn, ao, chuồng; mô hình kinh doanh tổng hợp cho thu  
  14. nhập trên 200 triệu đồng/năm. Đã có 5 tấm gương thanh niên phát triển kinh   tế giỏi được nhận giải thưởng Lương Định Của là phần thưởng cao quý của  Trung  ương Đoàn trao tặng hằng năm cho thanh niên nông thôn có thành tích  đặc biệt xuất sắc trong sản xuất, kinh doanh, chuyển giao tiến bộ khoa học   kỹ thuật, công nghệ, phát triển ngành nghề, bảo vệ môi trường và xây dựng   nông thôn mới, có đóng góp tích cực vào hoạt động Đoàn, Hội ở  địa phương   và đơn vị. Tuy nhiên, thực tiễn xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc  ở  huyện   Đam Rông vẫn còn gặp nhiều khó khăn ­ Chính sách quản lý và sử dụng đất đai chưa thoả đáng, dẫn đến tình  hình   tranh   chấp   đất   đai   giữa   đồng   bào   các   dân   tộc   với   các   công   ty   lâm   nghiệp; giữa đồng bào di cư từ các tỉnh miền núi phía Bắc với đồng bào tại   chỗ gây mất đoàn kết tại khu dân cư. ­ Công tác xây dựng đảng về  chính trị, tư  tưởng chưa được quan tâm   đúng mức; tính chiến đấu chưa cao, tình trạng mất đoàn kết nội bộ còn xảy  ra trong một số tổ chức cơ sở đảng. Công tác phát động quần chúng còn yếu,   nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc và vùng đồng bào có đạo.  Các câp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể  và mặt trận  ở  cơ  sở  chưa sát dân,  gần dân, chưa hiểu được tâm tư, nguyện vọng của dân. Đội ngũ cán bộ  người các dân tộc còn yếu kém cả về  trình độ  và năng lực chuyên môn; tâm  lý tự ty, thụ động trong công việc, ỷ lại vào cấp trên vẫn còn tồn tại khá phổ  biến. Đây thực sự  là  những khó khăn và  lực  cản đối với đội ngũ cán bộ  người dân tộc thiểu số phát huy thế mạnh của mình trong công tác vận động  quần chúng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. ­ Việc sưu  tầm, bảo tồn, coi trọng và phát huy các  giá trị  văn  hoá   truyền thống của các DTTS tuy đã có nhiều nỗ lực, song vẫn còn nhiều hạn   chế, kể cả trong nhận thức và hành động của một số cán bộ, đảng viên, đoàn  viên thanh niên. Sự  hạn chế  trong nhận thức và hành động đó, cùng với tác   động của cơ chế  thị trường đã làm cho các bản sắc văn hoá độc đáo và vốn   quý có nguy cơ ngày càng mai một.   ­ Ý thức pháp luật của một bộ phận nhỏ đoàn viên thanh niên và bà con  nhân dân chưa tốt, còn vướng vào các tệ nạn xã hội, vị phạp pháp luật. Bên   cạnh đó sự giao động về lập trường chính trị trước sự chống phá của các thế  lực thù địch thông qua các trang mạng xã hội cũng là 1 nguyên nhân gây mất   đoàn kết trong cộng đồng dân cư. Từ những kết quả đạt được và những hạn chế thiếu sót trong quá trình  xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc  ở  huyện Đam Rông, có thể  đề  ra   một số giải pháp sau đây: ­ Quán triệt sâu sắc trong nhận thức tư  tưởng về  vai trò của khối đại  đoàn kết dân tộc trong cộng đồng các dân tộc trong huyện. Quá trình xây  dựng khối đại đoàn kết các dân tộc phải luôn gắn liền với việc thực hiện 
  15. chính sách tôn giáo của Đảng, giữ  gìn sự  đoàn kết giữa các tôn giáo; tôn   trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân. Kiên quyết đấu tranh chống lại   mọi hành vi gây chia rẽ dân tộc, phá hoại khối đoàn kết dân tộc; ngăn ngừa  tư   tưởng   dân   tộc   lớn,   tư   tưởng   dân   tộc   hẹp   hòi,   cực   đoan,   cục   bộ   địa  phương. ­ Tăng cường sự phối hợp giữa các tổ  chức chính trị  ­xã hội với các già  làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo, người có uy tín trong cộng đồng dân cư.  Đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng cốt cán nhằm tăng cường bám sát địa bàn   dân cư. ­ Giải quyết dứt điểm những vấn đề  gây bức xúc trong đồng bào các  DTTS, đặc biệt là vấn đề  đất đai và tài nguyên rừng. Không để  xuất hiện  các điểm nóng về chính trị, xã hội. Câu 4: Tư tưởng HCM về Nhà nước? Liên hệ địa phương. 1. Tư tưởng HCM nhà nước của dân, do dân, vì dân? TTHCM về NN của dân,do dân,vì dân là một hệ thống các quan điểm lý  luận về  con đường hình thành NN kiểu mới  ở  VN, về  bản chất, tính chất,  chức năng nhiệm vụ, cơ  chế  hoạt động, tổ  chức bộ  máy, XD đội ngũ CB  công chức của NN đó.  Tính chất dân chủ nhân dân của NN thể hiện NN là NN của dân, do dân  và vì dân. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách lớn của Đảng, của NN đều   phải bắt nguồn từ thực tế, phải bắt nguồn từ nhân dân để  đáp ứng nhu cầu,   nguyện vọng và quyền lơi chính đáng của Nhân dân a. NN của dân ­ HCM đã có chỉ  đạo xây dựng NN, cơ quan quyền lực NN phải là của  dân do dân làm chủ, NN mới theo HCM trước hết phải là NN của cả dân tộc,   tiêu biểu cho khối ĐĐK toàn dân, tập hợp được đội ngũ CB,CC có đủ  phẩm  chất chính trị đạo đức và tài năng tham gia vào công cuộc xây dựng NN.Trong   TT HCM, độc lập thống nhất đất nước ko tách rời với tự  do hạnh phúc của   nhân dân. Do vậy khi đã tìm được con đường giải phóng dtộc, lựa chọn một   mô hình nhà nước mới cho dân ta, HCM đã cùng Đảng, cùng dân ta bắt tay   ngay vào xd “NN dân chủ, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” ­ NN ta là NN dân chủ và bản chất của NN là của GCCN (đây là điều đối  lập hoàn toàn với bản chất của các kiểu NN trước đó trong l.sử nước ta). Bộ  máy NN phải do dân tự  lập ra, người đứng đầu NN phải do dân bầu ra, NN   hoạt động vì mục tiêu, quyền lợi của nhân dân lao động. ­ Quyền lực của NN thuộc về  Nhân dân, do nhân dân “tự  quyết định”,  nhân dân là chủ thể duy nhất của quyền lực NN.
  16. ­ TT HCM “Dân là gốc của nước”, “nước lấy dân làm gốc” là nguyên tắc  quan trọng trong tổ chức và xây dựng NN, là sự vận dụng sang suốt CN mác –  lê nin vào hoàn cảnh và điều kiện thực tiễn của VN. Theo TT HCM NN của dân là: NN trong đó nhân dân là chủ, dân là  người có địa vị cao nhất, dân có quyền quyết định những vấn đề  quan trọng   của đất nước, của dân tộc, quyền lực của NN thuộc về nhân dân. Quan niệm  toàn bộ quyền lực NN thuộc về nhân dân thể  hiện rõ nhất tính dân chủ  triệt   để của NN ta, trở thành nguyên tắc cơ bản tổ chức bộ máy quyền lực NN và   phải được thể hiện rõ trong các văn bản pháp lý mà đạo luật cao nhất là Hiến   pháp b. NN do dân ­ Theo HCM, NN do dân là Dân làm chủ NN; NN phải tin vào dân và dựa  vào dân.Quyền làm chủ của dân thể hiện: + Nhân dân là người tổ  chức nên cơ  quan NN từ  TW đến địa phương   thông qua thực hiện chế độ tổng tuyển cử phổ thông. + Nhân dân có quyền bầu cử, ứng cử và thực hiện chế độ bãi miễn theo   ba mức độ từ thấp đến cao: bãi miễn đại biểu, bãi miễn các cơ quan NN, bãi   miễn nội các Chính phủ nếu các đại biểu đó không còn phù hợp với nhân dân,   đi ngược lại lợi ích của nhân dân. + Nhân dân có quyền tham gia công việc QLNN; có trách nhiệm và nghĩa  vụ đóng góp trí tuệ, sức người, sức của để tổ chức, xd, bảo vệ và phát triển   NN; các quyết định của cơ quan NN đều xuất phát từ ý chí nguyện vọng của   nhân dân. + Dân có quyền kiểm tra, giám sát  họat động của các cơ quanNN và các  đại biểu do mình cử ra… NN muốn là của dân thì phải: Làm tốt bổn phận là người đại biểu thay   mặt ND, quyền hành nơi NN là   do dân giao phó.   Trong xây dựng NN dân  chủ, HCM luôn yêu cầu NN phải thường xuyên tự phê bình và phê bình; Lắng  nghe ý dân, làm tốt công tác QLNN và phải thực hiện “dân biết, dân bàn, dân   làm, dân kiểm tra”, để người dân tham gia vào công việc NN 1 cách đầy đủ và   thực sự   Theo TT HCM NN do dân, dân làm chủ  NN là sự  thống nhất biện  chứng của cả  quyền và nghĩa vụ  làm chủ, điều này thể  hiện bản chất dân  chủ triệt để của NN kiểu mới. c. NN vì dân, biểu hiện: ­ Là NN tồn tại và hoạt dộng vì quyền lợi của toàn thể  nhân dân lao  động và lấy con người làm mục tiêu phấn đấu lâu dài. HCM đã nêu rõ trách  nhiệm của NN trước hết là nhằm thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu nhất của  
  17. nhân dân là: “Làm cho  dân có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở,   làm cho dân có học hành”. ­ NN phải đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, NN đó phải có đường   lối, chủ  trương và các chính sách đều phục vụ  lợi ích của dân. Công việc gì  của nhà nước mà có lợi cho dân là phải làm ngay, việc gì có hại thì phải tránh. ­ NN phải biết kết hợp, điều chỉnh các loại lợi ích khác nhau giữa các  giai cấp, tầng lớp XH, các bộ phận dân cư để  luôn được mọi người dân ủng  hộ, xây dựng. và điều đặc biệt quan trọng là để phục vụ tốt nhân dân thì NN  phải  có bộ  máy thật sự  liêm khiết, trong sạch, tránh tham nhũng, quan liêu,   đặc quyền đặc lợi. Bản chất dân chủ  của NN VN theo TT HCM được đại hội đại biểu  toàn quốc lần thứ XI ĐCS VN xác định rất rõ: “NN phục vụ nhân dân, gắn bó  mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ  quyền dân chủ  của nhân dân, tôn   trọng lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; có cơ  chế  và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng,  lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân,  giữ  nghiêm kỷ  cương XH, nghiêm trị  mọi hành động xâm phạm lợi ích của  Tổ quốc và của nhân dân”. 2. Liên hệ: Việc thực hiện quy chế dân chủ ở Đam Rông  ­ Huyện Đam Rông được thành lập trên cơ  sở  chia tách 5 xã phía bắc   của   huyện   Lâm   Hà   và   3   xã   của   huyện   Lạc   Dương   theo   Nghị   định   số  189/2004/NĐ­CP ngày 17/11/2004 của Chính phủ. Do mới được thành lập,   huyện Đam Rông gặp rất nhiều khó khăn. Xuất phát điểm nền kinh tế và kết   cấu hạ tầng thấp, tỷ lệ hộ nghèo 73,19%, mặt bằng dân trí thấp. Bên cạnh đó,  đội ngũ cán bộ  công chức từ  huyện đến cơ  sở  còn mới, nghiệp vụ  công tác   còn hạn chế. ­ Thực hiện Chỉ thị 30­CT/TW ngày 18/2/1998 của Bộ Chính trị về thực  hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân  trên địa bàn huyện Đam Rông đã có những chuyển biến mạnh mẽ. Quyền làm  chủ  của nhân dân được phát huy; khối đại đoàn kết không ngừng được cũng  cố; bộ máy các cơ quan đảng, chính quyền hoạt động có hiệu quả. ­ Các cấp  ủy Đảng đã tập trung đổi mới nội dung, phương thức hoạt   động theo hướng tập hợp quần chúng; sát dân, lắng nghe những nhu cầu   chính đáng của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Phong cách làm việc   của đội ngũ cán bộ, công chức có sự chuyển biến rõ nét, thái độ phục vụ nhân  dân được nâng lên. Công tác cải cách hành chính trong các cơ quan đơn vị  đã   có bước chuyển biến rõ rệt trong việc phục vụ nhân dân.  ­ Mặt trận Tổ quốc và các Đoàn thể ở cơ sở từng bước được củng cố,   kiện   toàn   về   tổ   chức; khắc   phục   tình   trạng   hành   chính   hóa   trong   hoạt  động. Phương thức hoạt động ngày càng đa dạng, hiệu quả, thu hút và tập 
  18. hợp nhiều đoàn viên, hội viên. Đồng thời, tham gia tích cực vào việc xây dựng  Ðảng, xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh; phản ánh, tham mưu với   Ðảng, kiến nghị  với Chính quyền những chủ  trương, chính sách phát triển  kinh tế ­ xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội; tham gia giám   sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, cán bộ, đảng viên; tích cực tham gia   xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Qua đó vận động, tập hợp,   đoàn kết các tầng lớp nhân dân, tăng cường sự  đồng thuận xã hội. tạo bước   chuyển mạnh trong việc thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây  dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Học tập và làm theo tấm gương đạo   đức Hồ Chí Minh” ­ Qua việc thực hiện quy chế  dân chủ   ở  cơ  sở  đã tạo được sự  đồng  thuận trong nhân dân, nhờ  đó, khi triển khai các chương trình dự  án đầu tư  của Nhà nước được nhân dân đồng tình,  ủng hộ. Đến nay, nhân dân trên địa  bàn huyện đã đóng góp được hơn 1,2 tỷ đồng, hơn 6.000 công lao động, hiến   44.000 m2 đất nông nghiệp và cây trồng các loại trị  giá hơn 8,3 tỷ  đồng để  xây dựng các công trình phúc lợi xã hội trên địa bàn huyện. Cũng qua việc   triển khai thực hiện quy chế  dân chủ   ở  cơ  sở  đã góp phần giảm tỷ  lệ  hộ  nghèo từ 53% năm 2008, đến nay xuống còn 7,3% theo tiêu chí cũ, theo tiêu chí   mới 35%; đời sống nhân dân được cải thiện, bộ  mặt nông thôn ngày càng  khởi sắc.  ­ Tuy nhiên vẫn còn những tồn tại hạn chế  trong quá trình thực hiện   quy chế dân chủ ở cơ sở như: + Công tác tuyên truyền, phổ  biến các văn bản về  thực hiện QCDC  ở  một số địa phương, cơ quan, đơn vị còn chậm, nội dung thực hiện chưa đầy  đủ, chưa sâu rộng đến nhân dân. Hiệu quả thực hiện công tác kiểm tra, giám  sát chưa cao, có nơi còn hình thức.  + Vai trò của một số cấp ủy đảng, chính quyền trong công tác chỉ đạo,  điều hành còn hạn chế; hoạt động của Ban chỉ đạo quy chế dân chủ từ huyện   đến xã chưa thường xuyên, chất lượng chưa cao. Công tác phối hợp tổ chức   thực hiện quy chế dân chủ giữa cấp ủy, chính quyền, Mặt trận tổ quốc đoàn  thể từ huyện đến cơ sở chưa đồng bộ… ­ Giải pháp + Nâng cao vai trò trách nhiệm, hiệu quả  hoạt động của Ban Chỉ  đạo  Quy chế dân chủ các cấp, phân công nhiệm vụ cụ thể gắn với tình hình thực   tế của địa phương, đơn vị;  + Tiếp tục đổi mới hình thức, nội dung tuyên truyền phù hợp với thực  tiễn; đẩy mạnh và thực hiện có hiệu quả quy chế phối hợp giữa chính quyền  với MTTQ và các đoàn thể nhân dân;  + Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, việc thực hiện quy chế  dân  chủ  tại các địa phương, đơn vị; làm tốt công tác thi đua khen thưởng để  kịp   thời động viên, nhân rộng mô hình, điển hình tiên tiến… 
  19. Câu 5: Đạo đức cách mạng, phong cách HCM? Liên hệ địa phương. * Quan niệm của HCM về đạo đức cách mạng:  Theo HCM, đạo đức là gốc, là nền tảng của người cách mạng. HCM   coi đạo đức là sức mạnh của con người. Người cách mạng phải có đạo đức  cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang.  Theo Hồ  Chí Minh, đạo đức cách mạng là trung với nước, hiếu với  dân; là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; luôn yêu thương, quý trọng con   người, sống có tình, có nghĩa và tinh thần quốc tế  trong sáng… Và đạo đức   cách mạng là cái gốc của nhân cách, là nền tảng của người cách mạng , là một  đặc trưng cơ bản của XH XHCN, là thước đo chất người của mỗi người, là   sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc. * Chuẩn mực đạo đức “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”:  Cần: là siêng năng, chăm chỉ, cố  gắng, dẻo dai. Cần có nghĩa hẹp là  từng người, nghĩa rộng là mọi người, từ  gia đình đền làng, nước. Cần liên  quan đến kế  hoạch công việc, nghĩa là phải tính toán cẩn thận, sắp đặt gọn   gàng, cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời. Kiệm: là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi. Cần  và kiệm phải đi đôi với nhau như hai chân của con người vì “cần” mà không  “kiệm” thì như “gió vào nhà trống” còn “kiệm” mà không “cần”  thì không thể  tích lũy hay phát triển được. Nhưng cũng cần hiểu  “kiệm” không phải là bủn   xỉn. Khi không nên tiêu xài thì một hạt gạo, một đồng xu cũng không nên tiêu.  Khi có việc đáng làm việc lợi ích cho đồng bào cho tổ quốc, thì dù bao nhiêu   công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng. Liêm là trong sạch, không tham lam. Tham tiền của, tham địa vị, tham  danh tiếng, tham ăn ngon, tham sống yên là bất liêm. Người cán bộ cậy quyền   thế mà đục khoét dân, ăn của đút, dìm người giỏi để giữ địa vị và danh tiếng   của mình đều là trái với chữ liêm.Chữ liêm phải đi đôi với chữ kiệm, có kiệm  mới liêm được cũng như  có cần mới có kiệm. Vì thế  3 đức này được HCM  coi trọng, Người nói: “ một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là dân tộc giàu   về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh,tiến bộ”.  Như vậy,  có thể nói nếu có “cần” và có “kiệm” sẽ  đầy đủ  về  vật chất; khi đã đầy đủ  về  vật chất sẽ là cơ sở để  cho con người ta trong sạch, không tham lam hay   nói cách khác lúc đó mới có thể thực hiện được chữ “liêm” cho bản thân, cho  gia đình, cho dòng họ, cho đất nước. Chính có nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Cần, kiệm,   liêm là gốc rễ của chính. Nhưng một cây cần có gốc, rễ, hoa quả mới là hoàn  toàn. Một người  không những cần  phải cần, kiệm, liêm mà còn phải chính  mới là đầy đủ.
  20. Hồ Chí Minh cho rằng Cần, Kiệm, Liêm, Chính là bốn đức tính cần có  của con người, là thước đo chất của mỗi người như  một lẽ  tự  nhiên của  “trời có bốn mùa” “đất có bốn phương”  vì thế  “thiếu một đức thì không   thành người”. Cần, kiệm, liêm, chính đặc biệt cần thiết đối với cán bộ, đảng  viên vì họ là những người có quyền, nếu thiếu lương tâm là có dịp đục khoét,  mưu lợi cho mình. Trên cái nền “ làm người” cán bộ  đảng viên là những  người có trình độ  cao, trách nhiệm lớn. Cán bộ, đảng viên mà suy thoái đạo  đức thì  ảnh hưởng đến thanh danh của Đảng, đến nhiệm vụ  cách mạng.  Đảng viên sai lầm sẽ  đưa quần chúng đến sai lầm.HCM viết “trước nhất là  cán bộ  các cơ  quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền   nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp  ăn của đút, có dịp “dĩ công vô tư”. Theo HCM, mặt trái của quyền lực dễ làm   cán bộ, đảng viên tha hóa. Vì vậy, cần, kiệm, liêm, chính là thước đo trình độ  văn minh, tiến bộ  của một dân tộc, là nền tảng của đời sống mới, của thi đua ái quốc, là cái cần  để làm việc, làm người, làm cán bộ, phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân,  Tổ quốc và nhân loại. * Chí công vô tư: Là khi làm bất cứ việc gì, đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì  mình nên sau, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; Là lòng mình chỉ  biết vì   Đảng, vì TQ, vì đồng bảo. Thực hành chí công vô tư gắn liền với chống và quét sạch chủ nghĩa cá  nhân. Chủ nghĩa cá nhân là “chỉ lo mình béo mặc thiên hạ gầy” là việc gì cũng  nghĩ lợi ích riêng, lợi ích của minh trước hết. Chủ  nghĩa cá nhân là một trở  ngại lớn cho việc xây dựng CNXH, là  mối nguy hại cho Đảng và cả  dân tộc. Vì vậy đạo đức CM là vô luận trong   hoàn cảnh nào cũng phải chống chủ  nghĩa cá nhân và các loại kẻ  địch khác.  Tuy nhiên cần phân biệt sự khác nhau giữa CN cá nhân với lợi ích chính đáng  của cá nhân, cần hiểu rõ đấu tranh chống CN cá nhân không phải là dày xéo   lên lợi ích cá nhân, nếu những lợi ích cá nhân không trái với lợi ích tập thể thì  không phải là xấu. * Liên hệ: Việc thực hiện chỉ thị 05 trong các cấp bộ  đoàn huyện  Đam Rông Căn cứ Chỉ thị số 03­CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính,  nay là Chỉ  thị 05­CT/TW ngày 15/5/2016 về việc tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo  tư   tưởng,   đạo   đức,   phong   cách     Hồ   Chí   Minh;   KH   số   17­KH/TU   ngày  01/7/2011 của Tỉnh  ủy Lâm   Đồng và một số  văn bản liên quan khác của   Huyện  ủy Đam Rông, Ban Thường vụ  Huyện đoàn Đam Rông  đã xây dựng  kế  hoạch triển khai thực hiện CT 05 của Bộ Chính trị, tập trung một số  nội  dung chính như:
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2