intTypePromotion=3

Tập bài giảng môn Tiền tệ ngân hàng - Chương 4: Hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng

Chia sẻ: Le Nhu | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:16

0
167
lượt xem
53
download

Tập bài giảng môn Tiền tệ ngân hàng - Chương 4: Hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tập bài giảng môn Tiền tệ ngân hàng - Chương 4: Hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng đề cấp về các nội dung chi tiết về: Hệ thống ngân hàng (sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân hàng, ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương, ngân hàng thương mại ), các tổ chức tài chính phi ngân hàng (khái niệm, vai trò, các loại hình trung gian tài chính phi ngân hàng).

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tập bài giảng môn Tiền tệ ngân hàng - Chương 4: Hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng

  1. Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng Khoa Tài chính – Ngân hàng Ngày 21/04/2006 trả 40 triệu đồng Ngày 21/05/2006 trả 20 triệu đồng Ngày 30/06/2006 trả 60 triệu đồng Yêu cầu: Hãy tính số tiền lãi mà xí nghiệp M phải trả cho NHTM Y theo phương pháp lãi đơn. Giải: m ∑Dj.nj.i Cách 1: Ta có: Iđ = j=1 = (10%/360).(120.20 + 80.30 + 60.40) = 2 triệu đồng m ∑Cj.tj.i Cách 2: Ta có: Iđ = j=1 = (10%/360).(40.20 + 20.50 + 60.90) = 2 triệu đồng Vậy số lãi mà xí nghiệp M phải trả cho NHTM Y là 2 triệu đồng. Ngoài ra, ngân hàng còn áp dụng hình thức cho vay luân chuyển: Cho vay luân chuyển là hình thức cho vay mà ngân hàng căn cứ vào tình hình tài chính của doanh nghiệp, ngân hàng quy định một hạn mức tín dụng cho một kỳ hạn nhất định. Trong kỳ, doanh nghiệp được phép vay và trả nợ nhiều lần nhưng số dư nợ không được vượt hạn mức tín dụng, mỗi lần vay và trả nợ doanh nghiệp không trả lãi mà chỉ trả lãi một lần vào cuối kỳ hạn. Công thức: Iđ = D.ik ik: Lãi suất theo kỳ (%) D : Số dư nợ bình quân một ngày trong kỳ m ∑Dj.nj j=1 = D m ∑nj j=1 Dj: Số dư nợ phát sinh tại thời điểm j nj: Thời gian tồn tại số dự nợ Dj http://www.ebook.edu.vn -49-
  2. Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng Khoa Tài chính – Ngân hàng m ∑nj: Tổng số ngày trong kỳ (Trường hợp ngân hàng tính số j=1 ngày trong kỳ theo số ngày thực tế). Nếu ngân hàng tính theo số ngày trong kỳ theo số ngày quy ước thì tổng số ngày trong kỳ là số ngày quy ước của kỳ hạn đó. Ví dụ 3: Có tình hình vay và trả nợ của Doanh nghiệp C tại NHTM Z trong quý I năm 2007 như sau (ĐVT: Triệu đồng) - Vay: + Ngày 01/01: 100 + Ngày 14/02: 50 - Trả: + Ngày 11/01: 30 + Ngày 26/03: 60 Biết rằng: Lãi suất tại NHTM Z là 5%/quý Yêu cầu: Hãy tính số lãi mà Doanh nghiệp C phải trả cho NHTM Z trong quý I năm 2007? Giải: Ta có dư nợ bình quân một ngày trong kỳ m ∑Dj.nj 100x10+70x34+120x40+60x6 j=1 = = 94,89 triệu đồng = D m ∑nj 90 j=1 Ta có: Iđ = D.ik = 94,89.5% = 4,74 triệu đồng Vậy số lãi mà Doanh nghiệp C phải trả cho NHTM Z trong quý I năm 2007 là 4,74 triệu đồng 2. Lãi kép Nếu lãi của một khoản vốn vay nào đó được cộng vào vốn gốc để tính lãi cho kỳ tiếp theo và cứ như vay cho đến kỳ hạn cuối cùng của thời hạn đầu tư thì số lãi đó gọi là lãi kép. Công thức Ik = V[(1 + i)n - 1] Chú thích: Ik: Số lãi kép V: Số vốn ban đầu i: Lãi suất (%) n: Thời hạn hay số kỳ hạn http://www.ebook.edu.vn -50-
  3. Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng Khoa Tài chính – Ngân hàng Ví dụ: Bà B gửi số tiền 100 triệu đồng vào NHTM X, thời hạn 5 năm với lãi suất là 20%/năm. Hãy tính số lãi mà Bà B nhận được sau 5 năm? Cho biết: V = 100 triệu đồng i = 20%/năm = 0,2 n = 5 năm Ta có: Ik = V[(1 + i)n - 1] = 100[(1 + 0,2)5 - 1] = 10,41 triệu đồng Vậy số lãi mà Bà B nhận được sau 5 năm là 10,41triệu đồng. http://www.ebook.edu.vn -51-
  4. Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng Khoa Tài chính – Ngân hàng Chương 4: HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VÀ CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH PHI NGÂN HÀNG I. HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 1. Sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân hàng Hoạt động ngân hàng với các nghiệp vụ truyền thống nhận gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán cho khách hàng ra đời khi quan hệ sản xuất và trao đổi hàng hoá của xã hội đã phát triển ở mức độ cao. Quá trình hoàn thiện các nghiệp vụ ngân hàng vá sự ra đời một ngân hàng hoàn chỉnh kéo dài hàng nghìn năm, bắt đầu từ hoạt động ngân hàng sơ khai vào khoảng 3500 năm TCN cùng với sự khởi đầu của các thiết chế tổ chức xã hội. Có thể chia quá trình phát triển ngân hàng phát triển thành các giai đoạn chủ yếu sau: 1.1. Thời kỳ hoạt động các ngân hàng sơ khai Từ năm 3500 TCN đến 1800 TCN là giai đoạn của các ngân hàng sơ khai. Nghiệp vụ ban đầu của nghề kinh doanh tiền tệ là nhận giữ tiền vàng và các tài sản có giá trị khác được thực hiện bởi các nhà thợ vàng, các lãnh chúa, nhà thờ. Người gửi tiền được nhận lại một tờ biên lai làm căn cứ để xác định quyền sở hữu và trả lệ phí gửi tiền. Dần dần những người gửi tiền nhận ra rằng thay vì sử dụng tiền kim loại vốn khó bảo quản và vận chuyển khó khăn, họ có thể sử dụng các loại giấy chứng nhận quyền sở hữu vàng để thanh toán. Người nhận các chứng thư này không gặp khó khăn gì trong việc chuyển chúng sang tiền mặt. Việc thanh toán dễ dàng hơn nếu hai người cùng gửi tiền ở một nơi. Đây là mầm mống đầu tiên của nghiệp vụ phát hành dấu hiệu giá trị. Mặt khác những người nắm giữ tiền cũng nhận thấy rằng trong cùng một khoảng thời gian có một số người đến đổi chứng thư lấy tiền, nhưng cũng có những người khác lấy tiền vào. Sự bổ sung qua lại giữa lưu lượng gửi vào và rút ra làm xuất hiện một lượng tiền nhàn rỗi trong kho. Điều này chứng tỏ những người thợ vàng giờ đây chỉ cần dự trữ tiền mặt với một tỷ lệ nhất định so với tổng số tiền gửi, phần còn lại có thể sử dụng để cho vay. Đến đây các ngân hàng đã bắt đầu tham gia vào quá trình cung ứng tiền. 1.2. Giai đoạn từ thế kỷ V đến XVII http://www.ebook.edu.vn -52-
  5. Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng Khoa Tài chính – Ngân hàng Đây là giai đoạn phát triển và hoàn thiện các nghiệp vụ của một ngân hàng thương mại. Các nghiệp vụ ghi chép sổ sách, hình thành các số hiệu tài khoản, chi tiết đến đối tượng cho vay, mục đích vay cũng như nguồn vốn cho vay, tiền thân của kế toán ngân hàng ra đời từ thế kỷ thứ V đến thế kỷ thứ X. Cũng như trong thời gian này, hoạt động thanh toán bù trừ ở dạng sơ khai trong cùng một ngân hàng đã bắt đầu phát triển và sau đó là hoạt động thanh toán giữa các ngân hàng. Nghiệp vụ chuyển ngân hàng và bảo lãnh hình thành vào khoảng cuối thế kỷ thứ X và sau đó, vào giai đoạn từ thế kỷ thứ XI- XVII, nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu bắt đầu phát triển cho đến thế kỷ thứ XVII, các nghiệp vụ của một ngân hàng kinh doanh đã được hoàn thiện, bao gồm: - Nhận gửi, cho vay. - Phát hành tiền. - Chiết khấu thương phiếu. - Chuyển ngân, thanh toán bù trừ và bảo lãnh. Động lực chủ yếu của quá trình phát triển nhanh chóng này là sự lớn mạnh không ngừng của các hoạt động thương mại trong từng quốc gia cũng như quốc tế cùng với việc tìm ra châu Mỹ và các vùng đất mới. Một ngân hàng hoàn chỉnh các nghiệp vụ này đã hình thành đầu tiên ở Hà Lan vào năm 1609, sau đó là ngân hàng Thuỵ Điển- 1656, hệ thống ngân hàng Anh vào 1694, hệ thống ngân hàng Hoa Kỳ vào năm 1791, ngân hàng Pháp vào năm 1800. 1.3. Giai đoạn từ thế kỷ XVIII đến XX Các ngân hàng thực sự được công nhận như một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và phát hành tiền dưới dạng các chứng thư hay kỳ phiếu thay cho vàng. Hoạt động này thực sự bắt đầu từ thời kỳ ngân hàng sơ khai trước CN. Khi đó các kỳ phiếu ngân hàng chỉ được phát hành mỗi khi có khoản tiền vàng thực sự được gửi vào ngân hàng. Khả năng chuyển đổi kỳ phiếu ra vàng rất dễ dàng, làm cho nó được chấp nhận không hạn chế trong lưu thông như một hình thức tiền tệ. Tuy nhiên, đến thế kỷ XVIII, các ngân hàng bắt đầu lợi dụng ưu thế của mình để phát hành một khối lượng lớn các kỳ phiếu tách rời khỏi dự trữ vàng để cho vay, điều này đe doạ dự trữ vàng và khả năng chuyển đổi ra tiền mặt của các kỳ phiếu được phát hành. Vì tất cả các ngân hàng đều có quyền phát hành tiền nên Nhà nước không thể kiểm soát được khối lượng tiền trong lưu thông và càng không thể kiểm soát được tính chất đảm bảo của lượng http://www.ebook.edu.vn -53-
  6. Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng Khoa Tài chính – Ngân hàng tiền lưu thông đó. Mặt khác, mỗi ngân hàng có quy mô hoạt động, uy tín và khả năng ảnh hưởng khác nhau nên công chúng bắt đầu có sự lựa chọn kỳ phiếu được phát hành bởi các ngân hàng khác nhau. Kết quả là, các kỳ phiếu do các ngân hàng lớn, có uy tín phát hành dần dần chiếm lĩnh thị trường và đẩy kỳ phiếu của các ngân hàng nhỏ ra khỏi lưu thông. Tình trạng này kéo dài gây sự bất ổn định trong lưu thông tiền tệ và Nhà nước buộc phải can thiệp nhằm thiết lập trật tự và sự thống nhất cho việc phát hành tiền và đảm bảo an toàn cho các giấy chứng nhận nợ của ngân hàng. Kết quả của sự can thiệp là chỉ còn có một số ngân hàng lớn được quyền phát hành tiền kèm theo nghiệp vụ kinh doanh. Các ngân hàng khác chỉ được phép hoạt động kinh doanh tiền tệ và tín dụng, không được quyền phát hành tiền. Chúng được quyền mở tài khoản va thanh toán bù trừ thông qua ngân hàng phát hành tiền, biến ngân hàng phát hành thành trung tâm thanh toán 2. Ngân hàng trung ương và chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương 2.1. Ngân hàng trung ương 2.1.1. Khái niệm Ngân hàng trung ương (NHTW) là 1 định chế tài chính công cộng thực hiện việc quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng. 2.1.2. Chức năng của ngân hàng Ở hầu hết các nước đều có một NHTW thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tiền tệ, tín dụng và Ngân hàng. Tuy nhiên, NHTW thực hiện việc quản lý Nhà nước qua các nghiệp vụ mang tính kinh doanh, song mục đích hoạt động cuả NHTW không phải là mưu tìm doanh lợi mà là cung ứng và điều hoà khối lượng tiền tệ, điều khiển hệ thống tín dụng, kiểm soát hệ thống Ngân hàng, bảo vệ giá trị đồng nội tệ. Để đạt được mục đích này NHTW hoạt động theo các chức năng sau: 2.1.2.1. Phát hành tiền và điều tiết lưu thông tiền tệ Đây là chức năng cơ bản và quan trọng hàng đầu của NHTW thực hiện chức năng này sẽ ảnh hưởng đến tình hình lưu thông tiền tệ của quốc gia. Với một trong những nhiệm vụ chính của NHTW là cung ứng tiền tệ. Pháp lệnh Ngân hàng số 37/CT/HĐNN năm 1990 điều 1 ghi rõ " NHNN Việt Nam là cơ quan duy nhất phát hành tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Giấy bạc Ngân hàng và tiền kim loại do NHTW phát hành là phương tiện thanh toán hợp pháp lưu thông và http://www.ebook.edu.vn -54-
  7. Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng Khoa Tài chính – Ngân hàng phương tiện thanh toán không hạn chế. Việc phát hành tiền có thể được thực hiện theo cách có đảm bảo như: + Đảm bảo bằng vàng. + Đảm bảo bằng tín dụng hàng hoá. Các cách thức phát hành tiền của NHTW: * Phát hành tiền tệ qua ngõ chính phủ Đây là việc Ngân hàng trung ương cho chính phủ vay nợ nhằm tài trợ cho việc thiếu hụt ngân sách dưới hình thức cho vay ứng trước. Thông thường, những khoản cho vay ứng trước nhằm tài trợ cho những thiếu hụt tạm thời của ngân sách và được hoàn trả ngay trong năm ngân sách. Có 3 hình thức ứng trước: - Ứng trước tạm thời: là hình thức ứng trước nhằm tài trợ những nhu cầu chi tiêu của ngân sách khi số thu và số chi không cân đối về tiến độ. Việc ứng trước này thường xảy ra trong quý đầu của năm ngân sách và sẽ được hoàn trả trong những quý sau khi ngân sách bội thu. - Ứng trước bất thường: Là hình thức nhằm tài trợ cho những nhu cầu chi tiêu đột xuất trong năm ngân sách mà chưa lường trước trong kế hoạch ngân sách. - Ứng trước thường xuyên: Số ứng trước có tính chất thường xuyên trong cả năm ngân sách do sự sai biệt giữa tổng số thu luỹ kế và tổng số chi luỹ kế của từng thời điểm trong năm. Số tiền ứng trước này được Ngân hàng trung ương chuyển cho Kho Bạc Nhà Nước và qua đó làm tăng lượng tiền cung ứng. Một số chính phủ có thoả thuận về số tiền tối đa mà Ngân hàng trung ương có thể ứng trước cho Kho bạc NN. Chẳng hạn trước đây ở Pháp, số tiền ứng trước thường xuyên tối đa là 50 tỷ FF, số tiền ứng trước tạm thời và bất thường tối đa là 200 tỷ FF. Số tiền ứng trước tạm thời và bất thường được hoàn trả sau 3 tháng nếu không được gia hạn. Ở Việt Nam, theo luật Ngân hàng Nhà nước hiện hành, “Ngân hàng Nhà nước tạm ứng cho ngân sách trung ương để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ ngân sách nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Khoản tạm ứng này phải được hoàn trả trong năm ngân sách, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quyết định”. (Điều 32, mục 3, chương 3). * Phát hành tiền tệ qua kênh ngân hàng trung gian http://www.ebook.edu.vn -55-
  8. Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng Khoa Tài chính – Ngân hàng Ngân hàng trung ương gia tăng lượng tiền tệ cung ứng qua ngõ ngân hàng trung gian bằng phương pháp tái cấp vốn tức cho các Ngân hàng trung gian vay lại trên cơ sở các hoạt động cấp tín dụng mà các Ngân hàng trung gian đã thực hiện trước đó. Ở Việt nam, hoạt động tái cấp vốn của NHTW được thực hiện theo những hình thức sau: - Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng. - Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác. - Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác” * Phát hành tiền qua kênh thị trường mở Việc NHTW tham gia vào việc mua, bán các giấy tờ có giá trên thị trường tài chính nhằm điều tiết lượng cung tiền theo định hướng của chính sách tiền tệ quốc gia gọi là nghiệp vụ thị trường mở. Ở nghiệp vụ mua các giấy tờ có giá trên thị trường mở, NHTW đã cung ứng một lượng tiền ra lưu thông. Thực chất quá trình này chính là việc NHTW cấp tín dụng thông qua việc mua các chứng khoán nợ. Thông thường các chứng khoán mà NHTW mua là các loại chứng khoán nợ do Kho bạc Nhà nước phát hành. * Phát hành tiền qua ngõ thị trường vàng và ngoại tê Đây là việc NHTW thông qua việc mua vàng và ngoại tệ mà tăng lượng tiền cung ứng. Bằng cách này, NHTW đã tăng dự trữ vàng và ngoại tệ. Trong trường hợp này, việc phát hành dựa trên cơ sở tiền nội tệ thay thế vàng và ngoại tệ trong lưu thông. Việc phát hành thông qua thị trường vàng và ngoại tệ có ý nghĩa cơ bản, vì đây là những lượng hàng hóa có giá trị thực sự. Nếu phát hành đúng nguyên tắc thì giá trị đồng nội tệ ổn định. 2.1.2.2. Là ngân hàng của các ngân hàng Với vai trò là Ngân hàng trung tâm của các ngân hàng thương mại (NHTM), NHTW có những quyền lực sau đây đối với các Ngân hàng trung gian. - Quyền bắt các ngân hàng thương mại ký gởi tại NHTW một phần của tổng số tiền gởi theo một tỷ lệ nhất định. - NHTW cấp tín dụng cho các NHTM. http://www.ebook.edu.vn -56-
  9. Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng Khoa Tài chính – Ngân hàng Trong trường hợp này NHTW là người cho vay cuối cùng. NHTW cấp tín dụng dưới nhiều hình thức như cho vay, mua bán, chiết khấu, trái chiết khấu đối các giấy tờ có giá. - NHTW nhận tiền gởi và bảo quản tiền tệ cho NHTM, các tổ chức tín dụng. NHTM phải duy trì một mức dự trữ nhất định để đảm bảo khả năng thanh toán. Dự trữ đó bao gồm: Tiền mặt tại quỹ, tiền gởi tại NHTW và các Ngân hàng khác. Bất kỳ một NHTM nào cũng đều phải mở tài khoản và gởi tiền tại NHTW. Tiền gởi đó gồm 2 loại: + Tiền gởi dự trữ: Được xác định theo tỷ lệ % trên nguồn vốn huy động mà NHTM và không được hưởng lãi. Theo pháp lệnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc từ 10 - 35%. + Tiền gởi thanh toán nhằm phục vụ nhu cầu thanh toán giữa các Ngân hàng với nhau. - NHTW là người tổ chức và trở thành trung tâm thanh toán giữa các NHTM. Trên cơ sở tiếp nhận tiền gởi và cho vay NHTW đương nhiên trở thành trung tâm thanh toán của toàn bộ hệ thống Ngân hàng, có như vậy thì chu chuyển thanh toán của nền kinh tế NHTW đứng ra tổ chức thanh toán bù trừ hoặc thanh toán từng lần giữa các Ngân hàng. Trong đó "thanh toán bù trừ" sẽ là phương thức thanh toán chủ yếu để đẩy nhanh tốc độ thanh toán trong nền kinh tế. - Ngoài ra NHTW còn thành lập trung tâm phòng ngừa rủi ro hay trung tâm thông tin tín dụng. 2.1.2.3 Là ngân hàng của Nhà nước Là một định chế tài chính công cộng NHTW được xác định ngay từ thời khai sinh là Ngân hàng của Chính phủ. Các giao dịch tiền tệ của Chính phủ trong và ngoài nước thường phải thông qua NHTW. Điều này thể hiện: - NHTW thuộc sở hữu của Nhà nước. - Ban hành các văn bản pháp quy theo thẩm quyền của mình về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và Ngân hàng, kiểm tra việc thực hiện các văn bản pháp luật có liên quan. - NHTW thực hiện quản lý Nhà nước đối với hệ thống NHTM và TCTD. + Thẩm định và cấp giấy phép hoạt động cho NHTM và các tổ chức tính dụng. http://www.ebook.edu.vn -57-
  10. Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng Khoa Tài chính – Ngân hàng + Kiểm soát thanh tra NHTM nhằm giúp cho hệ thống Ngân hàng hoạt động lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và quyền lợi chung của xã hội, nền kinh tế. + NHTW ấn định khung lãi suất tiền gởi và cho vay cũng như các tỷ lệ hoa hồng, lệ phí để áp dụng cho các NHTM. - Mở tài khoản và đại lý cho Chính phủ trong nghiệp vụ phát hành trái khoán. - Cố vấn cho Chính phủ về các chính sách hoạt động tiền tệ, tín dụng và Ngân hàng. - Tổ chức thanh toán giữa Kho bạc với Ngân hàng. - Cấp tín dụng và tạm ứng cho NSNN trong trường hợp cần thiết. - Quản lý dự trữ quốc gia. 2.1.2.4. Điều tiết kinh tế vĩ mô Mọi hoạt động của NHTW đều ảnh hưởng mật thiết đến mức cung ứng tiền tệ trong nền kinh tế. Là một định chế công cộng trong quản lý và điều hành lưu thông tiền tệ NHTƯ có các nhiệm vụ chủ yếu là: + Về mặt ngắn hạn là ổn định giá cả và tổng cầu. + Về mặt trung hạn là góp phần đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng với một tỷ lệ lạm phát thấp, ổn định và bền vững. 2.2. Chính sách tiền tệ của NHTW 2.2.1. Khái niệm Chính sách tiền tệ là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống chính sách kinh tế - tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh và nâng cao đời sống nhân dân. 2.2.2. Mục tiêu - Ổn định tiền tệ, ổn định giá cả, ổn định tỷ giá hối đoái: thực chất các mục tiêu này là kiểm soát lạm phát để bảo vệ giá trị đối nội và đối ngoại của đồng tiền quốc gia. Đây là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ. Muốn ổn định và thúc đẩy tăng trường kinh tế cần phải khuyến khích mở rộng đầu tư bằng cách khai thác các nguồn vốn tiềm năng trong nước và ngoài nước. http://www.ebook.edu.vn -58-
  11. Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng Khoa Tài chính – Ngân hàng - Ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: đây là mục tiêu cơ bản và tất yếu của chính sách tiền tệ. Muốn ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cần khuyến khích mở rộng đầu tư bằng nguồn vốn trong và ngoài nước. - Tạo công ăn việc làm cho người lao động, ổn định trật tự xã hội: cùng với mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế, chính sách tiền tệ cần phải hướng đến một mục tiêu quan trọng là tạo công ăn việc làm cho người lao động, tạo điều kiện để ổn định trật tự xã hội. 2.2.3. Các chính sách tiền tệ - Chính sách tiền tệ thắt chặt: là việc giảm cung ứng tiền cho nền kinh tế, nhằm hạn chế đầu tư, ngăn chặn sự phát triển quá đà của nền kinh tế và kìm chế lạm phát. - Chính sách tiền tệ nới lỏng: là việc cung ứng thêm tiền cho nền kinh tế, nhằm khuyến khích đầu tư, phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm. 2.2.4. Các công cụ của chính sách tiền tệ 2.2.4.1. Lãi suất Lãi suất là giá cả quyền sử dụng vốn, việc thay đổi lãi suất kéo theo sự biến đổi của chi phí tín dụng, từ đó tác động đến việc thu hẹp hay mở rộng khối lượng tín dụng trong nền kinh tế. Do đó lãi suất là một trong những công cụ của chính sách tiền tệ. Thực tế cho thấy, tuỳ điều kiện thực tế và trình độ phát triển của thị trường tài chính, NHTW có thể sử dụng công cụ lãi suất để điều hành chính sách tiền tệ theo các chính sách sau: - NHTW kiểm soát trực tiếp lãi suất thị trường bằng cách qui định các loại lãi suất như: + Lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay theo từng kỳ hạn. + Sàn lãi suất tiền gửi và trần lãi suất cho vay để tạo nên khung lãi suất giới hạn. + Công bố lãi suất cơ bản cộng với biên độ giao dịch… - NHTW áp dụng chính sách tự do hoá để lãi suất tự hình thành theo cơ chế thị trường. Và để có thể can thiệp vào lãi suất thị trường, NHTW có thể gián tiếp can thiệp thông qua các chính sách: + Công bố lãi suất cơ bản để hướng dẫn lãi suất thị trường. + Sử dụng công cụ lãi suất tái cấp vốn và kết hợp với lãi suất thị trường mở để can thiệp và điều chỉnh lãi suất thị trường. http://www.ebook.edu.vn -59-
  12. Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng Khoa Tài chính – Ngân hàng 2.2.4.2. Ấn định hạn mức tín dụng Ấn định hạn mức tín dụng là việc NHTW quy định một khối lượng tín dụng phải cung cấp cho nền kinh tế trong một thời gian nhất định và sau đó tìm cách đưa nó vào nền kinh tế. Khi NHTW muốn gia tăng khối tiền tệ, khối lượng cho vay ở các ngân hàng trung gian thì NHTW sẽ mở rộng hạn mức tín dụng. Ngược lại, nếu muốn hạn chế tín dụng ở các ngân hàng trung gian, giảm khối tiền tệ thì NHTW sẽ thu hẹp hạn mức tín dụng. 2.2.4.3. Kiểm soát tín dụng chọn lọc Kiểm soát tín dụng chọn lọc là giới hạn mức tín dụng tối đa cấp cho những ngành nào mà Nhà nước không muốn phát triển nữa, ngược lại ưu đãi những ngành hoạt động được coi là ưu tiên, cần yểm trợ. Nếu không có chính sách kiểm soát tín dụng chọn lọc, các ngân hàng trung gian sẽ chỉ hướng tín dụng vào những ngành kinh doanh lớn, ít chú trọng đến những ngành hoạt động có lợi ích xã hội. 2.2.4.4. Thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng trung gian. Việc thực hiện dự trữ bắt buộc của NHTW nhằm mục đích giới hạn khả năng cho vay của ngân hàng trung gian, đảm bảo an toàn tiền gửi của khách hàng, duy trì khả năng thanh toán của các ngân hàng trung gian và tạo sự lệ thuộc của ngân hàng trung gian đối với NHTW, để NHTW có thêm quyền lực điều khiển hệ thống ngân hàng. Khi ấn định một mức dự trữ bắt buộc thấp, NHTW muốn khuyến khích các ngân hàng trung gian mở rộng mức cho vay của họ, sẽ làm gia tăng khối tiền tệ. Ngược lại, khi nâng cao mức dự trữ bắt buộc, NHTW muốn giới hạn khả năng của ngân hàng trung gian, sẽ làm giảm thiểu khối tiền tệ. 2.2.4.5. Biện pháp chiết khấu và tái chiết khấu. NHTW sẽ cấp tín dụng cho ngân hàng thương mại (NHTM) qua nhiều hình thức, thông dụng nhất là hình thức chiết khấu và tái chiết khấu các thương phiếu. Khi chấp nhận chiết khấu hay tái chiết khấu là NHTW đã làm tăng khối tiền tệ. Thông qua lãi suất tái chiết khấu, NHTW có thể tác động làm giảm hoặc tăng cung ứng tín dụng của NHTM đối với nền kinh tế, đồng thời làm tăng hoặc giảm mức cung ứng tiền bằng cách nâng cao hoặc hạ thấp lãi suất chiết khấu. 2.2.4.6. Nghiệp vụ thị trường mở http://www.ebook.edu.vn -60-
  13. Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng Khoa Tài chính – Ngân hàng Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động NHTW mua bán giấy tờ có giá với mục đích tác động đến thị trường tiền tệ, điều hòa cung và cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối dự trữ của các NHTM tại NHTW, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các ngân hàng này. 2.2.4.7. Cung ứng tiền mặt pháp định. Việc cung ứng tiền được thực hiện bằng các nghiệp vụ trên thị trường hối đoái và các nghiệp vụ cho vay đối với Chính phủ. Khi NHTM đưa tiền mặt ra mua ngoại tệ sẽ làm gia tăng lượng tiền trong lưu thông, dẫn đến tỷ giá ngoại tệ lên cao. Khi ngân hàng đem ngoại tệ ra bán sẽ làm giảm nhanh cung ứng tiền, tỷ giá ngoại tệ sẽ hạ thấp xuống. Khi Chính phủ thâm hụt ngân sách, NHTW sẽ cho Chính phủ vay tiền. Khi ngân sách thặng dư, NHTW sẽ thu hồi nợ. Điều này đã làm tăng, giảm mức cung ứng tiền trong lưu thông. 3. Ngân hàng thương mại (NHTM) 3.1. Khái niệm Theo Luật Tổ chức tín dụng năm 1998: “NHTM là những tổ chức thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nhiệm vụ thường xuyên là nhận tiền gửi, cho vay và dịch vụ thanh toán. 3.2. Phân loại * Nếu căn cứ vào hình thức sở hữu: NHTM bao gồm - NHTM quốc doanh: Là NHTM được thành lập bằng 100% vốn ngân sách Nhà nước. - NHTM cổ phần: Là NHTM hình thành dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó một cá nhân hoặc tổ chức không được sở hữu cổ phần của ngân hàng quá tỷ lệ do ngân hàng Nhà nước quy định. - Ngân hàng liên doanh: Là ngân hàng được thành lập bằng vốn góp của bên ngân hàng Nhà nước Việt Nam và bên ngân hàng của nước ngoài có trụ sở tại Việt Nam hoạt động theo pháp luật Việt Nam. - Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài: Là ngân hàng được thành lập theo pháp luật nước ngoài. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là cơ sở của ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam. http://www.ebook.edu.vn -61-
  14. Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng Khoa Tài chính – Ngân hàng * Nếu đứng trên giác độ chung có các loại NHTM sau đây: - Ngân hàng độc lập: Là một doanh nghiệp chuyên kinh doanh tiền tệ, có khả năng mở chi nhánh ngân hàng. Việc mở chi nhánh phụ thuộc vào tiềm lực tài chính quốc gia. - Ngân hàng chi nhánh: Không phải là một doanh nghiệp, nhưng vẫn thực hiện hạch toán giống như một doanh nghiệp do chịu sự phân cấp quản lý, phân cấp tài chính của xã hội độc lập, tạo ra quyền hạn cho các ngân hàng chi nhánh. - Ngân hàng đại lý: Làm đại lý song phương, thực hiện các nhiệm vụ sau: + Cung cấp các dịch vụ cho nhau + Thực hiện chia sẻ một phần khách hàng + Làm tư vấn cho nhau về đầu tư + Cung cấp thông tin và trợ giúp cho nhau về kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng. - Ngân hàng tổng hợp - Ngân hàng chuyên doanh: Ngân hàng chuyên doanh chỉ được phép kinh doanh một hay vài lĩnh vực dịch vụ. Ngân hàng tổng hợp cùng một lúc nó có thể thực hiện kinh doanh nhiều lĩnh vực. Ở Việt Nam, phát triển theo xu hướng ngân hàng tổng hợp, tạo điều kiện cho hệ thống ngân hàng trong nước phát triển dễ dàng hơn trong quá trình liên kết hợp tác với các ngân hàng nước ngoài và phù hợp với tiềm lực tài chính Việt Nam. 3.3. Chức năng của NHTM 3.3.1. Chức năng trung gian tín dụng Đây là chức năng đặc trưng cơ bản nhất của Ngân hàng và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển. Thực hiện chức năng này NHTM thực sự là "cầu nối" giữa những người có tiền muốn cho vay hoặc muốn gởi ở Ngân hàng với những người thiếu vốn cần vay. NHTM góp phần tạo lợi ích công bằng cho cả 3 bên trong quan hệ: Người gởi tiền, Ngân hàng và nguồn vay. Nhận tiền gửi Cho vay Uỷ thác đầu tư Đầu tư Những Những NHTM người có khả người cần năng cung ố + Đối với người gởi tiền: Phát huy tối đa hiệu suất sinh lời từ đồng vốn tạm thời nhàn rỗi hoặc nhận được các phương tiện thanh toán tiện ích, an toàn từ Ngân hàng. http://www.ebook.edu.vn -62-
  15. Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng Khoa Tài chính – Ngân hàng + Đối với người vay: Đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh hoặc chi tiêu, thanh toán. + Đối với NHTM: Sẽ tìm kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay, lãi suất huy động hoặc hoa hồng môi giới. Khi thực hiện chức năng làm làm trung gian tín dụng, NHTM đã huy động triệt để được các khoản vốn nhàn rỗi, điều hòa từ nơi thừa đến nơi thiếu. Kích thích quá trình luân chuyển vốn của toàn xã hội và thúc đẩy quá trình tái sản xuất của các doanh nghiệp. Ngày nay có thể nói mọi quan hệ kinh tế xã hội của loài người đều thông qua quan hệ tiền tệ và chủ yếu là thông qua hoạt động của hệ thống Ngân hàng, bên cạnh hoạt động của các tổ chức phi Ngân hàng. 3.3.2. Chức năng trung gian thanh toán Thực hiện chức năng trung gian thanh toán NHTM cung cấp các phương tiện thanh toán cho nền kinh tế, tiết kiệm chi phí lưu thông và nâng cao khả năng tín dụng. Việc mở tài khoản, cung cấp và quản lý các phương tiện thanh toán làm cho NHTM trở thành một trung tâm thanh toán của nền kinh tế. NHTM sẽ thừa lệnh khách hàng thực hiện toàn bộ các nghiệp vụ ngân quỹ của khách hàng. Giúp cho khách hàng và nền kinh tế chu chuyển vốn nhanh, an toàn và tiết kiệm. Với chức năng trung gian thanh toán cũng cho phép NHTM tạo ra bút tệ để mở rộng quy mô tín dụng. Việc hệ thống NHTM thực hiện chức năng trung tâm thanh toán mang một ý nghĩa rất to lớn: + Trước hết đối với nền kinh tế, hệ thống Ngân hàng sẽ cung cấp nhiều công cụ thanh toán tiện ích như thẻ thanh toán, thẻ tín dụng, thẻ rút tiền, ngân phiếu, uỷ nhiệm chi, ủy nhiệm thu... + Thứ hai khi sử dụng phương thức thanh toán, bản thân các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí lao động, thời gian, lại an toàn. Hệ thống NHTM lại tích tụ được một số vốn khổng lồ để có thể mở rộng khả năng tín dụng. Tóm lại, có thể nói chu chuyển tiền tệ ngày nay chủ yếu thông qua hệ thống NHTM và do vậy chỉ khi chức năng trung gian thanh toán được hoàn thiện thì vai trò của NHTM sẽ được nâng cao hơn với tư cách là người thủ quỹ của xã hội. 3.3..3 Chức năng tạo tiền của NHTM http://www.ebook.edu.vn -63-
  16. Tập bài giảng môn Tiền tệ - Ngân hàng Khoa Tài chính – Ngân hàng Nghiệp vụ tạo tiền xuất phát từ cả 2 chức năng trên trong toàn bộ hệ thống Ngân hàng. Khi NHTM cho vay ra hoặc mua chứng khoán trong dân chúng thì NHTM mở rộng thu hút tiền gởi và nhờ hoạt động trong hệ thống mà các NHTM đã tạo ra bút tệ (tiền ghi sổ). Một NHTM đơn độc không thể mở rộng tiền gởi mà chỉ cho vay trong số tiền dự trữ của mình. Vì vậy nghiệp vụ tạo tiền chỉ thực hiện thông qua hợp đồng của toàn hệ thống. Tiến trình sáng tạo bút tệ của NHTM được mô tả qua ví dụ sau: Một khách hàng A đem tiền mặt ký gởi không kỳ hạn tại 1 Ngân hàng X với số tiền là 10 triệu đồng. Như vậy tiền gởi của Ngân hàng X tăng lên 10triệu, tại Ngân hàng X ta có: TS Có Ngân hàng X TS Nợ Tiền mặt tại quỹ: 10tr TG của khách hàng A:10tr Giả sử tỷ lệ dự trữ bắt buộc do NHTƯ quy định là 10% thì Ngân hàng X có thể cho vay tới mức tối đa là 9 triêụ đồng. Nếu khách hàng B vay hết số tiền này và được Ngân hàng X cho phép sử dụng để chi trả cho khách hàng C bằng séc thì tình hình tại Ngân hàng X diễn biến như sau: TS Có Ngân hàng X TS Nợ Dự trữ bắt buộc: 1tr TG của khách hàng A :10tr Cho vay B: 9tr Nếu khách hàng thụ hưởng C mở TK tại Ngân hàng Y thì tình hình tại Ngân hàng Y sẽ là : TS Có Ngân hàng Y TS Nợ Tiền gửi tại NHTW: 9tr TG của khách hàng C:9tr Trên số tiền ký gửi nhận được, Ngân hàng Y gửi lại tỷ lệ dự trữ bắt buộc 10% còn lại cho khách hàng D vay để trả nợ cho E bằng séc và E mở TK tại Ngân hàng Z TS Có Ngân hàng Y TS Nợ Dự trữ bắt buộc: 0.9tr TG của khách hàng C :9tr http://www.ebook.edu.vn -64-

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản