
Thức Ăn Tự Nhiên Của Cá
Thức ăn là vật chất chứa đựng chất dinh dưỡng mà động vật có thể ăn, tiêu hóa và
hấp thu được các chất dinh dưỡng đó để duy trì sự sống, xây dựng cấu trúc cơ thể.
Và thức ăn là cơ sở để cung cấp chất dinh dưỡng cho quá trình trao đổi chất của cá.
Nếu không có thức ăn thì không có trao đổi chất. Thức ăn có vai trò quyết định đến
năng suất, sản lượng quần đàn của cá hay hiệu quả của nghề nuôi cá.
* Thức ăn tự nhiên:
Nguồn thức ăn trong tự nhiên rất phong phú như: vi sinh vật – vi khuẩn, tảo, động
vật phù du, động vật đáy, thực vật thượng đẵng thũy sinh và động vật bơi lội tự do.
Khi môi trường có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nguồn thức ăn tự nhiên
(thường vào đầu mùa mưa) thì thức ăn tự nhiên sẽ góp phần tích cực nâng cao
năng suất cho những loài cá sống hoang dã và cá nuôi, từ đó giảm được chi phí
thức ăn cho người nuôi cá.
Trong tự nhiên, một loại vật chất có thể là thức ăn của loài cá này, giai đoạn phát
triển cơ thể này nhưng chưa hẳn đã là thức ăn của loài cá khác, giai đoạn phát triển
cơ thể khác. Sự khác biệt đó là do đặc diểm dinh dưỡng khác nhau theo loài, mà
nguyên nhân chính là khả năng tiếp nhận và tiêu hóa các loại thức ăn khác nhau

theo loài hoặc do sự khác biệt về mức độ hoàn thiện bộ máy tiêu hóa khác nhau
theo giai đoạn phát triển cơ thể. Đó cũng thể hiện đặc tính loài.
Ở đây chúng ta nói về nguồn thức ăn của cá trong tự nhiên cho nên cá sẽ là động
vật ở trên đỉnh của tháp dinh dưỡng, cá sẽ là mắt xích cuối cùng của chuổi thức ăn,
và nguồn thức ăn của thủy vực sẽ quy định về cơ cấu của đàn cá.
* Chuỗi thức ăn tổng quát có dạng :
Môi trường → Sinh vật sản xuất → Sinh vật tiêu thụ (Cá).
Nếu trong thực tế thì chuỗi thức ăn là một dãy bao gồm nhiều loài sinh vật, mỗi
loài là một mắt xích thức ăn, mỗi mắt xích thức ăn tiêu thụ mắt xích trước nó và lại
bị mắt xích phía sau tiêu thụ. Ở đây bậc dinh dưỡng của cá sẽ là nguồn dinh dưỡng
được tỗng hợp từ tập hợp các loài sinh vật có cùng mức dinh dưỡng trong lưới thức
ăn (Trong lưới thức ăn có nhiều bật dinh dưỡng: MT→SVSX→SVTT
bậc1→SVTT bậc2→SVTT bậc3→ ...→ Sinh vật tiêu thụ(Cá). Và cá sẽ là động
vật cuối cùng trong chuổi thức ăn tỗng quát này cho nên cá là bậc dinh dưỡng cao
nhất). Và nếu như trong cùng điều kiện nuôi ( môi trường, đối tượng nuôi, các biện
pháp kỷ thuật được áp dụng…) thì thức ăn có vai trò quyết định đến tốc độ tăng
trưỡng, đến năng suất và hiệu quả kinh tế. Ở chừng mực nhất định, thì “Ảnh hưỡng

của thức ăn và chế độ nuôi dưỡng còn mạnh hơn giống và tổ tiên con vật”.
Nguồn thức ăn tự nhiên rất đa dạng, phong phú và chiếm vai trò rất quan trọng đối
với đời sống của cá vì vậy mổi loài cá có những tính ăn khác nhau, những loại thức
ăn khác nhau: Cá có tập tính bắt mồi sống, ăn mồi chết, mùn bả, riêu tảo... Vì vậy
để thay đổi được tính ăn của cá là vấn đề đang được quan tâm nhiều trong nghề
nuôi cá hiện nay.
Thức ăn và thay đổi tính ăn ở cá:
- Vấn đề sữ dụng thức ăn trong các hình thức nuôi:
Hiện nay tùy theo đối tượng nuôi và mức độ thâm canh mà người nuôi sữ dụng các
dạng thức ăn khác nhau để nuôi cá.
Trong mô hình VAC, VACR, hoặc nuôi ao hồ nhỏ, thức ăn chủ yếu là có sẵn có từ
nông hộ, mức đầu tư thấp. Trong khi nuôi cá, mô hình nuôi cá tra bè và nuôi ao
thâm canh, hơn 90% là sữ dụng thức ăn tự chế. Một số đối tượng cá đồng như cá
lóc đen, cá lóc bong thì người dân sữ dụng 100% là thức ăn cá tạp. Từ đó cho thấy
nguồn thức ăn tự nhiên chiếm vai trò rất quan trọng trong nuôi cá. Các đối tượng
cá nuôi đều sữ dụng thức ăn tự nhiên. Nhờ đó mà giúp người nuôi cá giảm được
chi phí về thức ăn. Đây là lợi điểm của nghề nuôi cá, góp phần cho nghề nuôi cá
thu lợi cao.

- Nhận thức về vị trí của thức ăn trong nuôi cá :
Do nhận thức ngày càng rỏ về vai trò của nghề nuôi cá trong sự phát triển kinh tế
khu vực, kinh tế gia đình nên vị trí thức ăn ngày càng được đánh giá đúng mức.
Những quan niệm nuôi cá không cần cho ăn hay cho ăn ít đã dần được thay đổi.
Luyện cho ăn : Thức ăn sống và thức ăn chế biến cá đều có thể ăn được tùy theo
loài cá. Thức ăn sống gồm : tảo trần, cá rôphi con, tôm con, giun, dòi......
Trong nuôi cá khi cho ăn cần khống chế lượng thức ăn, tránh trường hợp thức ăn
dư thừa quá nhiều để tránh trường hợp môi trường sống của cá bị ô nhiểm. Nếu
cho ăn thức ăn chế biến phải luyện ngay từ nhỏ, chọn nơi nuôi thích hợp về điều
kiện tự nhiên, độ sâu của ao nuôi, mật độ thả con nuôi, khẩu phần ăn, thức ăn thích
hợp theo từng độ tuổi của từng loài cá mà mình cần nuôi.
*Dưới đây là cách cho ăn trong nuôi cá lóc sẽ là một thí dụ để làm rỏ hơn về
thay đổi tính ăn của cá.
* Tập tính sinh học và tính ăn:
Thích sống ở vùng nước đục có nhiều rong cỏ, thường nằm phục ở dưới đáy vùng
nước nông có nhiều cỏ. Tính thích nghi với môi trường xung quanh rất mạnh, nhờ

có cơ quan hô hấp phụ nên nó có thể hít thở được O2 trong không khí. ở vùng nước
hàm lượng O2 thấp cũng vẫn sống được, có khi không cần nước chỉ cần da và
mang cá có độ ẩm nhất định vẫn có thể sống được thời gian khá lâu. Cá lóc thuộc
loại cá dữ. Thức ăn là chân chèo và râu ngành; thân dài 3 - 8cm ăn côn trùng, cá
con và tôm con; thân dài trên 8cm ăn cá con. Khi trọng lượng nặng 0,5 kg có thể ăn
100g cá. Trong điều kiện nuôi nó cũng ăn thức ăn chế biến. Mùa đông không bắt
mồi.
* Phương pháp nuôi
- Nuôi cá bột và giống :
Cũng giống như ương nuôi các loài cá bột khác, trước khi thả cá phải tẩy dọn ao
sạch, gây nuôi thức ăn tự nhiên sẵn trong ao. Mật độ nuôi 5 - 10 vạn/666m2, thông
thường là 6 - 7 vạn. Trong 7 - 8 ngày đầu chưa cần cho ăn, sau đó vừa cho ăn vừa
bón phân, mỗi vạn cá bột cho ăn 3 - 4kg tảo trần, nuôi như vậy 18 - 20 ngày khi
toàn thân cá biến thành màu vàng bắt đầu xuất hiện vảy, sau đó biến thành màu
đen, thân dài 3 - 6 cm, tỉ lệ sống 60 - 65%. Nuôi tiếp 20 ngày nữa, thân dài 6 cm,
lúc này có thể cho ăn cá con, tôm con hoặc thức ăn chế biến giàu đạm. Sau 2 tháng
nuôi cá đạt 9 - 12cm, lúc này có thể thả vào ao to để nuôi thành cá thịt.
- Nuôi cá thịt :
Luyện cho ăn : Thức ăn sống và thức ăn chế biến cá đều có thể ăn được. Thức ăn
sống gồm : tảo trần, cá rôphi con, tôm con, giun, dòi

