intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Tiểu luận: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại NHNo & PTNT chi nhánh Thanh Xuân

Chia sẻ: Nguyen Linh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:77

0
98
lượt xem
35
download

Tiểu luận: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại NHNo & PTNT chi nhánh Thanh Xuân

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

"Tiểu luận: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại NHNo & PTNT chi nhánh Thanh Xuân" với mục tiêu nghiên cứu thực trạng tại NHNo & PTNT chi nhánh Thanh Xuân Hà Nội, từ đó rút ra những giải pháp kiến nghị góp phần nhỏ bé vào việc bảo đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Tham khảo để biết được nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại NHNo & PTNT chi nhánh Thanh Xuân

  1. TIỂU LUẬN: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại NHNo & PTNT chi nhánh Thanh Xuân
  2. Lời Mở Đầu Hệ thống ngân hàng đóng vai trò quan trọng như mạch máu của nền kinh tế bởi nó là các kênh trung gian huy động vốn và cũng là kênh cung cấp vốn cho nền kinh tế. Kể từ khi nền kinh tế nước ta chuyển từ nền kinh tế tự cung tự cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước khiến cho thị trường tài chính ngân hàng trở nên sôi động hơn bao giờ hết, các ngân hàng thương mại bước vào cuộc chạy đua tăng vốn điều lệ nhằm đáp ứng nhu cầu khai thác thị trường tài chính còn nhiều tiềm năng như ở nước ta. Khả năng cung ứng tín dụng của các NHTM cũng tăng lên cả về khối lượng cũng như số lượng sản phẩm tín dụng. Hệ thống ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với những khó khăn, thách thức chưa từng có trong vòng hơn hai mươi năm đổi mới và kết quả là sự gồng mình với khó khăn thanh khoản, lợi nhuận của nhiều ngân hàng bị ảnh hưởng nặng nề. Do vậy, hoạt động tín dụng không chỉ có vai trò quan trọng đối với nên kinh tế nói chung, với các doanh nghiệp noi riêng mà còn vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi ngân hàng. nói như vậy bởi lẽ hoạt động tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu, chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng tài sản và tạo nguồn thu chính trong mỗi ngân hàng. Tuy nhiên hoạt động này lại luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, gây tổn thất lớn thậm chí dẫn đến phá sản ngân hàng. Chính vì vậy mà “chất lượng tín dụng” luôn là vấn đề mà bất cứ ngân hàng nào cũng phải đặc biệt quan tâm trong mọi giai đoạn phát triển để hạn chế thấp nhất rủi ro, tổn thất đó. Do vậy em chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại NHNo & PTNT chi nhánh Thanh Xuân” với mong muốn góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào việc giải quyết những vấn đề tồn tại, những mặt chưa đạt được, ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra và nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng của chi nhánh nhằm phát triển chi nhánh nói riêng và hệ thống ngân hàng nói chung cũng như sự phát triển ổn định và bền vững của nền kinh tế.
  3. 1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chất lượng tín dụng ở góc độ thuần tuý là cho vay, vì khả năng và thời gian có hạn nên em không đưa ra nghiên cứu các phạm trù khác của tín dụng như bảo lãnh, cho thuê... 2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài Đề tài nghiên cứu những lí luận chung, thực tiễn hoạt động và chất lượng tín dụng tại NHNo & PTNT chi nhánh Thanh Xuân. 3. Phương pháp nghiên cứu của đề tài Đề tài nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp tổng hợp như: phương pháp phân tích, chọn lọc, so sánh, tổng hợp, thu thập thông tin. 4. Mục đích nghiên cứu Thông qua nghiên cứu thực trạng tại NHNo & PTNT chi nhánh Thanh Xuân Hà Nội, từ đó rút ra những giải pháp kiến nghị góp phần nhỏ bé vào việc bảo đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. 5. Kết cấu của khoá luận Mở đầu Chương 1: Lí luận chung về chất lượng tín dụng của các NHTM Chương 2:Thực trạng chất lượng tín dụng tại NHNo&PTNT chi nhánh Thanh Xuân, Hà Nội Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại NHNo&PTNT chi nhánh Thanh Xuân, Hà Nội Kết luận
  4. Chương 1 Lí luận chung về chất lượng tín dụng của các NHTM 1.1 Tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng 1.1.1 Khái niệm và đặc trưng của tín dụng Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la tinh là credo – sự tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau. Nói cách khác, tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số vốn đó sẽ được hoàn lại vào một ngày xác định trong tương lai. Có thể định nghĩa tín dụng một cách đầy đủ như sau: Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Như vậy một quan hệ tín dụng phải thoả mãn những đặc trưng sau:  Thứ nhất, là quan hệ chuyển nhượng mang tính tạm thời. Đối tượng của sự chuyển nhượng có thể là tiền tệ hoặc hàng hoá dưới hình thức kéo dài thời gian thanh toán trong quan hệ mua bán hàng hoá. Tính chất tạm thời của sự chuyển nhượng đề cập tới thời gian sử dụng lượng giá trị đó. Thực chất trong quan hệ tín dụng chỉ có sự chuyển nhượng quyền sử dụng lượng giá trị tạm thời nhàn rỗi trong khoảng thời gian nhất định mà không có sự thay đổi quyền sở hữu đối với lượng giá trị đó. Nó là kết quả của sự thoả thuận giữa các đối tác tham gia quá trình chuyển nhượng để đảm bảo sự phù hợp giữa thời gian nhàn rỗi và thời gian cần sử dụng lượng giá trị đó.  Thứ hai, tính hoàn trả. Lượng vốn được chuyển nhượng phải hoàn trả đúng hạn cả về thời gian và giá trị bao gồm hai bộ phận: gốc và lãi. Phần lãi đảm bảo cho lượng giá trị hoàn trả lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Sự chênh lệch này là giá trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời. Nói cách khác, nó là giá trả cho sự hi sinh quyền sử dụng vốn hiện tại của người sở hữu vì thế nó phải đủ hấp dẫn để người sở hữu có thể hi sinh quyền sử dụng đó.  Thứ ba, quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở sự tín ngưỡng giữa người cho vay và người đi vay. Người cho vay tin tưởng rằng vốn sẽ được hoàn trả khi đến hạn, người đi vay cũng tin tưởng vào khả năng phát huy hiệu quả của vốn vay. Sự gặp gỡ giữa người đi vay và cho vay ở điểm này sẽ là điều kiện hình thành nên quan hệ tín dụng. Cơ sở của sự
  5. tin tưởng này có thể do uy tín của người đi vay, do giá trị tài sản thế chấp và do sự bảo lãnh của bên thứ ba. Cơ sở khách quan cua sự ra đời và phát triển quan hệ tín dụng là mâu thuẫn vốn có của quá trình tuần hoàn vốn tiền tệ trong xã hội, đó cũng là một lúc có chủ thể kinh tế tạm thời dư thừa về một khoản vốn tiền tệ trong khi các chủ thể kinh tế khác lại có nhu cầu bổ sung vốn. Nếu tình trạng này không được giải quyết thì quá trình sản xuất sẽ bị ngưng trệ ở chủ thể này trong khi vốn đang nằm im ở chủ thể khác. Kết quả là nguồn lực xã hội không được sử dụng một cách có hiệu quả nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục. Tình trạng thừa thiếu vốn so với nhu cầu xảy ra thường xuyên trong quá trình hoạt động của các chủ thể kinh tế trong xã hội xuất phát từ sự không ăn khớp giữa thu nhập và chi tiêu, về thời gian cũng như khối lượng. Đó là sự không trùng khớp giữa thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình, của các chủ thể sản xuất kinh doanh và của ngân sách nhà nước. Như vậy, chức năng của tín dụng là phân phối lại nguồn vốn tiền tệ trong phạm vi toàn xã hội, nghĩa là tín dụng thực hiện việc di chuyển các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi đến nơi phát sinh các nhu cầu về vốn. Hoạt động thu chi của Ngân sách nhà nước cũng được coi là một phương thức phân phối lại tuy nhiên nó hoàn toàn không thích hợp với việc phân phối lại các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi cho những nhu cầu về vốn tạm thời. Các đặc trưng riêng có của quan hệ tín dụng cho phép nó trở thành một phương thức có hiệu quả nhất trong việc phân phối lại các khoản vốn nhàn rỗi trong xã hội. Bởi lẽ, việc phân phối vốn trong quan hệ tín dụng luôn gắn với các điều kiện đảm bảo tính hoàn trả và có lãi, các koản vốn nhàn rỗi sẽ được phân bổ cho các đối tượng có khả năng thoả mãn những điều kiện tín dụng một cách tốt nhất. Và như vậy vốn được giao cho người sử dung có hiệu quả nhất. Bằng cách đó, tín dụng góp phần vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả kinh doanh của xã hội. 1.1.2 Phân loại tín dụng Phân loại tín dung là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Sau đây là một số tiêu thức cơ bản: 1.1.2.1 Theo thời hạn tín dụng
  6. Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn hoàn trả dưới một năm, được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưư động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân. Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn hoàn trả từ một năm đến dưới năm năm, được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ, thời gian thu hồi vốn nhanh và là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp. Trong nông nghiệp, chủ yếu là cho vay trung hạn để đầu tư vào các đối tượng như máy cày, máy bơm nước, xây dụng các vươn cây công nghiệp. Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn hoàn trả trên 5 năm được sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng ( đường xá, bến cảng, sân bay...), cải tiến mở rộng với quy mô lớn. 1.1.2.2 Theo hình thức tài trợ Cho vay: Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Các hình thức cho vay mà ngân hàng có thể thực hiện cho khách hàng gồm: thấu chi, cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luân chuyển, cho vay trả góp, cho vay gián tiếp. Chiết khấu thương phiếu: Là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn hoặc một giấy nợ. Cho thuê tài sản: Hoạt động chủ yếu của NHTM là cho vay để khách hàng mua tài sản. tuy nhiên trong nhiều trường hợp khách hàng không đủ điều kiện vay, NHTM sẽ mua tài sản theo yêu cầu củakhách hàng để cho họ thuê. Cho thuê có hai hình thức là cho thuê hoạt động và cho thuê tài chính. Bảo lãnh ngân hàng: Là cam kết bằng văn bản của ngân hàng với bên có quyền về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thayy cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách
  7. hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã được trả thay. Nếu phân theo mục tiêu bao lãnh gồm các loại sau: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước, bảo lãnh hoàn trả vốn vay, bảo lãnh đảm bảo thanh toán. 1.1.2.3 Theo mức độ tín nhiệm Tín dụng có đảm bảo: Là hình thức cấp tín dụng có đam bảo hoặc người bảo lãnh đứng ra bảo đảm cho khoản tiền vay. Tín dụng không có tài sản đảm bảo: La hình thức tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. 1.1.2.4 Theo xuất xứ tín dụng Tín dụng trực tiếp: Là hình thức tín dụng mà theo đó ngân hàng sẽ cung cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu sử dụng vốn đồng thời người vay trực tiếp hoàn trả nợ ngân hàng. Mức độ rủi ro của ngân hàng trong trường hợp này thấp vì tận dụng được trình độ của cán bộ tín dụng khi mà họ trực tiếp làm việc với người vay để xem xét trước khi quyết định cho vay. Tín dụng gián tiếp: Là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng không trực tiếp cung cấp vốn cho người có nhu cầu vay vốn mà là mua lại các khế ước hoặc chứng từ đã phát sinh va còn trong thời hạn thanh toán. Ngoài ra còn có những tiêu thức phân loại khác như:  Theo đối tượng tín dụng thì có tín dụng vốn lưu động, tín dụng vốn cố định.  Theo mục đích tín dụng có tín dụng bất động sản, tín dụng nông nghiệp, tín dụng các định chế tài chính, tín dụng cá nhân, cho thuê.  Theo phương pháp hoàn trả có tín dụng không có thời hạn cụ thể, tín dụng có thời hạn. 1.1.3 Vai trò của tín dụng
  8. 1.1.3.1 Đối với ngân hàng Mặc dù NHTM hoạt động kinh doanh đa năng, nhưng tín dụng là hoạt động chủ yếu chiếm khoảng 60% nguồn vốn của ngân hàng. Do vậy, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng cũng chiếm tỉ trọng chủ yếu trong thu nhập của các ngân hàng ở nước ta hiện nay. 1.1.3.2 Đối với khách hàng Mọi dịch vụ cung cấp ra thị trường đều phải thoả mãn một hay nhiều nhu cầu nào đó của khách hàng và hoạt động tín dụng cũng không phải là ngoại lệ, nó thoả mãn nhu cầu về phương diện thanh toán của khách hàng. Trong giai đoạn hiện nay nhu cầu đó ngày càng gia tăng. Đặc biệt là đối với những nhu cầu cấp thiết mà không có nguồn thanh toán hoặc không có vốn thì sẽ gây thiiệt hại cho khách hàng nói riêng và cho nền kinh tế nói chung. 1.1.3.3 Đối với nền kinh tế và xã hội  Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội Vai trò quan trọng nhất của tín dụng là cung ứng vốn một cách kịp thời cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các chủ thể kinh tế trong xã hội. Nhờ đó mà các chủ thể này có thể đẩy nhanh tốc độ sản xuất cũng như tốc độ tiêu thụ sản phẩm. Điều này giúp cho các nhà sản xuất tích cực tìm kiếm cơ hội đầu tư mới và nâng cao năng lực sản xuất của xã hội. Các nguồn vốn tín dụng được cung ứng luôn kèm theo các điều kiện tín dụng để hạn chế rủi ro đạo đức và rủi ro lựa chọn đối nghịch buộc những người đi vay phải quan tâm thực sự đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo mối quan hệ lâu dài với các tổ chức cung ứng tín dụng.  Tín dụng là kênh chuyển tải tác động của nhà nước đến các mục tiêu vĩ mô. Các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế gồm ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm. Việc đảm bảo đạt được mục tiêu kinh tế vĩ mô hài hoà phụ thuộc một phần vào khối lượng và cơ cấu tín dụng xét cả về mặt thời hạn cũng như đối tượng tín dụng. Vấn đề này, đến lượt nó lại phụ thuộc vào các điều kiện tín dụng như lãi suất, điều kiện vay, yêu cầu thế chấp, bảo lãnh và chủ trương mở rộng tín dụng được quy định trong
  9. chính sách tín dụng từng thời kì. Như vậy thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều kiiện tín dụng, nhà nước có thể thay đổi quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng vận động của nguồn vốn tín dụng, nhờ đó mà ảnh hưởng đến tổng cầu của nền kinh tế cả về quy mô cũng như kết cấu. Sự thay đổi của tổng cầu dưới tác động của cính sách tín dụng sẽ tác động ngược lại tới tổng cung và các điều kiện sản xuất khác. Điểm cân bằng cuối cùng giữa tổng cung và tổng cầu sẽ cho phép đạt được các mục tiêu vĩ mô cần thiết.  Tín dụng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội Các chhính sách xã hội về mặt bản chất được đáp ứng bằng nguồn tài trợ không hoàn lại từ ngân sách nhhà nước. Song phương thức tài trợ này thường bị hạn chế về quy mô, thiếu hiệu quả và có xu hướng bị thay thế bởi phương thức tài trợ có hoàn lại của tín dụng nhằm duy trì nguồn cung cấp tài chính và có điều kiện mở rộng quy mô tín dụng chính sách. Thông qua phương thức tài trợ này, các mục tiêu chính sách được đáp ứng một cách chủ động và hiệu quả hơn. 1.2 Khái quát về chất lượng tín dụng 1.2.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng Chất lượng tín dụng được hiểu là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng ( người vay tiền), phù hợp với sự phát triển kinh tế, xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển cuủa ngân hàng. Như vậy, CLTD là một khái niệm vừa cụ thể ( thể hiện qua chỉ tiêu lợi nhuân, nợ quá hạn, rủi ro tín dụng...), vừa mang tính trừu tượng (thể hiện trong việc thu hút khách hàng, khả năng cạnh tranh ...). Do đó ngân hàng nào hiểu rõ được đúng bản chất của CLTD sẽ giành thắng lợi trong hoạt động kinh doanh và đứng vững trong nền kinh tế thị trường. Chất lượng tín dụng thể hiện trên nhiều khía cạnh:  Đối với bản thân ngân hàng: CLTD được hiểu ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro trong quá trình hoạt động, mang lại lợi nhuận và đảm bảo thanh khoản cho ngân hàng. Bởi hoạt động tín dụng là hoạt động truyền thống của ngân hàng, là chức năng cơ bản của NHTM. Thu nhập từ hoạt động tín dụng là thu nhập chính của ngân hàng chiếm khoảng 60% tổng thu nhập. Tuy nhiên rủi ro trong lĩnh vực này cũng rất cao. Vì vậy hoạt động
  10. tín dụng lành mạnh có chất lượng và hiệu quả cao đảm bảo duy trì hoạt động của ngân hàng góp phần lành mạnh hệ thống ngân hàng.  Đối với khách hàng: CLTD thể hiện ở chỗ tín dụng phát ra phải có một mức lãi suất hợp lí để khách hàng không phải chịu giá cao và kì hạn hợp lí để tiện cho kế hoạch sử dụng vốn vay và trả nợ cho ngân hàng, thủ tục đơn giản và thuận tiện cho khách hàng, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm bảo được nguyên tắc tín dụng.  Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: CLTD là sự phục vụ đáp ứng nhu cầu sản xuất và lưu thông hàng hoá, góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng tín dụng. CLTD là một thuật ngữ phản ánh hiệu quả hoạt động tín dụng của NHTM. CLTD chỉ được đánh giá sau khi khách hàng đã sử dụng một khoản tín dụng nào đó. CLTD được cáu thành bởi hai yếu tố là mức độ an toàn và khả năng sinh lời của ngân hàng do hoạt động tín dụng mang lại: Thứ nhất, mức độ an toàn tín dụng: Rủi ro tín dụng được định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn có khi cấp tín dụng cho một khách hàng. Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng ki hạn tại thời điểm ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng và chấp nhận giấy nhận nợ của kkhách hàng. Nâng cao CLTD giúp ngân hàng phân tán cũng như giảm thiểu được tới mức thấp nhất rủi ro tín dụng. Thứ hai, khả năng sinh lời của ngân hàng do các khoản tín dụng mang lại: tín dụng là hoạt động chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho các NHTM, vì vậy CLTD đóng vai trò quyết định đến khả năng sinh lời cho các ngân hàng. 1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá CLTD là một phạm trù hết sức phức tạp và trừu tượng. Do vậy để đánh giá được CLTD một cách chính xác tương đối người ta phải dựa vào những tiêu thức nhất định. Thực tế người ta vẫn thường sử dụng những chỉ tiêu định tính và các chỉ tiêu định lượng sau: 1.2.2.1 Chỉ tiêu định tính
  11. a, Uy tín của ngân hàng Cạnh tranh là quy luật của tự nhiên, là động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Cạnh tranh chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường. Để tồn tại và phát triển các ngân hàng phải chấp nhận cạnh tranh như sự lựa chọn tất yếu. Trong cùng một môi trường như nhau, các ngân hàng phải tận dụng được những ưu thế của mình để vượt lên đối thủ cạnh tranh, khhẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế. Nếu một ngân hàng có uy tín thì sẽ thu hút được nhiều khách hàng và khi đó số khách hàng có chất lượng, làm ăn uy tín sẽ tăng. Đó là một dấu hiệu cho thấy CLTD khả quan. b, Tín dụng ngân hàng phải đảm bảo góp phần vào sự tăng trưởng, phát triển kinh tế tại địa phương và khả năng tạo việc làm cho nguồn nhân lực xã hội. Xuất phát từ vai trò của tín dụng ngân hàng như đã đề cập ở trên, việc nâng cao CLTD sẽ góp phần vào việc đổi mới nền kinh tế quốc dân nói chung và nền kinh tế gia đình nói riêng. Đây là hệ quả tất yếu khi cả ngân hàng và khách hàng hoạt động có hiệu quả. CLTD được coi là tốt khi nó góp phần nâng cao năng lượng sản xuất cho doanh nghiệp, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao mức sống dân cư, thể hiện ở sự ổn định của nền tài chính tiền tệ quốc gia. c, Việc chấp hành tốt pháp luật, các chỉ đạo của nhà nước, của ngành cũng như tuân thủ triệt để các nguyên tắc cho vay của ngân hàng đảm bảo sự tồn tại và phát triển. Để CLTD tốt không chỉ phụ thuộc riêng vào ngân hàng mà nó phụ thuộc rất lớn vào ngân hàng mà nó vay vốn. Một khoản tín dụng được coi là hiệu quả khi các nguyên tắc cho vay được tuân thủ triệt để. 1.2.2.2 Chỉ tiêu định lượng a, Tổng dư nợ Tổng dư nợ là chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền ngân hàng cấp cho nền kinh tế tại một thời điểm. Tổng dư nợ bao gồn dư nợ cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Tổng dư nợ càng cao thể hiện quy mô ngân hàng càng lớn vì ngân hàng có lớn mới có cơ hội
  12. mở rộng quy mô tín dụng. Và ngược lại, tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động tín dụng của ngân hàng yếu kém, không có khả năng mở rộng khách hàng, khả năng tiếp thị cua ngân hàng chưa tốt, trình độ của CBTD thấp ... Mặc dù vậy chỉ tiêu này cao thì chưa hẳn chất lượng khoản vay tốt bởi nếu cứ có khách hàng là ngân hàng cho vay htì sẽ làm quy mô tín dụng tăng lên nhưng chất lượng không đảm bảo rất dễ dẫn đến rủi ro mất vốn từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh. Song nếu tổng dư nợ tăng lên liên tục qua các năm thì lại cho thấy chiều hướng tăng lên của CLTD. b, Tỷ lệ nợ Theo quyết định số 493/2005/QĐ/NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lí rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các TCTD và quyết định 18/2007/QĐ-NHNN về việc sửa đổi bổ sung một số điều của quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng dể xử lí rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các TCTD ban hành theo quyết định số 493/2005/QĐ/NHNN thì TCTD thực hiện phân loại nợ theo 5 nhóm như sau: Nhóm 1: nợ đủ tiêu chuẩn, bao gồm nợ trong hạn được đánh giá có khả năng thu hồi gốc và lãi đúng hạn và các khoản nợ có thể phát sinh trong tương lai như các khoản bảo lãnh, cam kết cho vay, chấp nhận thanh toán. Nhóm 2: Nợ cần chú ý, bao gồm nợ quá hạn dưới 90 ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ. Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn, bao gồm nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày và nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dưới 90 ngày. Nhóm 4: Nợ nghi ngờ, bao gồm nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày, nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày. Nhóm 5: Nợ có kkhả năng mất vốn, bao gồm nợ quá hạn trên 360 ngày, nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ trên 180 ngày và nợ khoanh chờ Chính Phủ xử lí.
  13. Cần lưu ý là cho dù có tiêu chí thời gian quá hạn trả nợ cụ thể để phân loại nợ như trên, TCTD vẫn có quyền chủ động tự quyết định phân loại bất kì khoản nợ nào vào các nhóm nợ rủi ro cao hơn tương ứng với mức độ rủi ro nếu đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng suy giảm. c, Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra cho khách hàng của TCTD không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của các TCTD. Hiện tại thì các ngân hàng thực hiện trích lập dự phòng RRTD theo quyết định 18/2007/QĐ- NHNN và quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN. Khi tỉ lệ trích lập dự phòng tăng thì cho thấy CLTD tại ngân hàng đang có dấu hiệu giảm sút và ngược lại. d, Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng Doanh số thu nợ Vòng quay vốn tín dụng = Dư nợ bình quân Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của một ngân hàng tức là nó thể hiện khả năng thu hồi vốn của ngân hàng cao hay thấp, chất lượng quản lí vốn tín dụng tốt hay xấu. Vốn tín dụng quay được một vòng tức là tính từ thời điểm cấp tín dụng đến thời điểm thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi khi đến hạn như trong hợp đồng. Vòng quay vốn tín dụng càng cao chứng tỏ nguồn vốn vay ngân hàng luân chuyển càng nhanh, được sử dụng để tham gia vào nhiều chu kì sản xuất và lưu thông hàng hoá. Với một số vốn nhất định, vòng quay vốn tín dụng nhanh, ngân hàng có thể tiếp tục đầu tư vào lĩnh vực khác để kiếm lời. Vòng quay vốn tín dụng cao chứng tỏ khả năng quản lí vốn tín dụng cũng như CLTD của ngân hàng tốt. e, Hiệu suất sử dụng vốn vay
  14. Tổng dư nợ Hiệu suất sử dụng vốn vay = Tổng nguồn vốn huy động Tỷ lệ này cho biết một đồng vốn huy động được thì có bao nhiêu đồng được ngân hàng sử dụng để cho vay và nó phản ánh quy mô, khả năng tận dụng nguồn vốn cho vay của các ngân hàng. Qua chỉ tiêu này cho ta biết sự phù hợp giữa nguồn huy động vốn và cho vay, một khi hiệu suất sử dụng vốn của ngân hàng chưa ngang tầm với công tác huy động vốn sẽ gây ảnh hưởng tới khả năng sinh lời của ngân hàng, cho thấy vốn bị ứ đọng không có khả năng sinh lời điều này cũng có thể là do ngân hàng không muốn mở rộng quy mô tín dụng trong khi quy mô huy động vốn tăng lên, cũng có thể là không thu hút được khách hàng đến vay vốn. f, Chỉ tiêu mức sinh lời Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng Tỷ lệ mức sinh lời = Tổng dư nợ Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng, nó cho biết một đồng tín dụng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ lệ này cao cho thấy việc sử dụng đồng vốn có hiệu quả thể hiện ở việc thu nhập từ hoạt động tín dụng tăng cao. Chỉ tiêu này càng lớn càng chứng tỏ ngân hàng có CLTD tốt và ngược lại. g, Thu nhập từ hoạt động cho vay Mục đích kinh doanh của các NHTM là lợi nhuận. Do vậy không thể nói một khoản tín dụng có chất lượng cao khi nó không đem lại khoản thu nhập cho ngân hàng. Hơn nữa nguồn thu nhập từ tín dụng là nguồn thu chủ yếu để ngân hàng tồn tại và phát triển. Lợi nhuận do tín dụng mang lại chứng tỏ khoản vay không những thu hồi được gốc mà còn có lãi, đảm bảo được an toàn của đồng vốn vay.
  15. Thu nhập từ hoạt động tín dụng Tỷ lệ thu nhập từ hoạt động tín dụng = Tổng thu nhập Tỷ lệ này cho biết trong một đồng thu nhập của ngân hàng có bao nhiêu đồng là do thu nhập từ hoạt động tín dụng mang lại. Chỉ tiêu này cao chứng tỏ hoạt động tín dụng của ngân hàng tốt. Từ đó cho thấy rằng nếu ngân hàng chỉ tập trung vào việc giảm và duy trì một tỷ lệ nợ quá hạn thấp mà không tăng được thu nhập từ hoạt động tín dụng thì một tỷ lệ thấp như thế cũng không có nghĩa bởi mục tiêu cuối cùng của các NHTM là lợi nhuận. 1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng 1.2.3.1 Nhóm nhân tố khách quan Là nhóm nhân tố bên ngoài ngân hàng không do chủ quan của ngân hàng bao gồm: a, Môi trường kinh tế Đây là nhân tố đầu tiên quan trọng trong nhóm nhân tố khách quan bởi bất kì hoạt động kinh doanh nào cũng diễn ra trong một môi trường kinh tế nhất định và chịu tác động mạnh mẽ của môi trường đó. Một vài biến số kinh ttế ảnh hưởng đến CLTD của ngân hàng:  Chu kì kinh tế: Chu kì kinh tế là sự biến động của GDP thực tế theo trình tự ba pha lần lượt là suy thoái, phục hồi và hưng thịnh (bùng nổ). Khi chu kì kinh tế thay đổi sẽ ảnh hưởng đến tiết kiệm, đầu tư và do đó ảnh hưởng đến CLTD của ngân hàng. Trong thời kì tăng trưởng của nền kinh ttế, các ngành nói chung đều kinh doanh thuận lợi hơn, tỷ lệ thu hồi nợ vì thế tăng đồng thời DN với nền kinh tế tăng làm giảm tỷ lệ nợ xấu, CLTD được nâng cao. Ngược lại, trong thời kì suy thoái, hoạt động của toàn bộ nền kinh tế bị ngưng trệ, các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong hhoạt động sản xuất kinh
  16. doanh, vốn lưu chuyển chậm, nhu cầu về vốn tín dụng giảm. Đồng thời khả năng trả nợ của các doanh nghhiệp giảm sút, nợ quá hạn cũng vì thế mà tăng lên ảnh hưởng xấu đến CLTD.  Lạm phát: Đối với các ngân hàng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, lạm phát tăng cao, sức mua đồng tiền giảm xuống đã ảnh hưởng xấu đến hoạt động huy động vốn, cho vay, đầu tư và thực hiện các dịch vụ ngân hàng. Lạm phát tăng cao, NHNN phải thực hiện thắt chặt tiền tệ để giảm khối lượng tiền trong lưu thông, nhưng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh vẫn rất lớn, các ngân hàng chỉ có thể đáp ứng cho một số ít khách hàng với những hợp động đã kí hoặc những dự án thực sự có hiệu quả, với mức độ rủi ro cho phép. Mặt khác, do lãi suất huy động tăng cao, tát yếu lãi suất cho vay cũng cao, điều này làm xấu đi môi trường đầu tư của ngân hàng, rủi ro đạo đức sẽ xuất hiện. b, Môi trường chính trị – xã hội Môi trường chính trị của một quốc gia cũng tác động mạnh đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Quốc gia nào duy trì được một nền chính trị ổn định, thì ở đó các doanh nghiệp có điều kiện phát triển. Họ yên tâm sản xuất kinh doanh, không ngừng đầu tư mở rộng sản xuất nhằm tìm kiếm lợi nhuận ngày càng tăng. Nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp tăng lên, các NHTM có cơ hội để mở rộng cho vay. Với các khoản cho vay cũ thì khả năng thu hồi tăng lên, CLTD vì thế mà được nâng cao. Bên cạnh đó, tín dụng là quan hệ vay mượn dựa trên sự tín nhiệm là chính, lòng tin là cầu nối giữa ngân hàng và kkhách hàng, và khách hàng có uy tín có quan hệ tín dụng tốt thì sẽ được ngân hàng tạo thuận lợi cho việc cấp tín dụng. Đây cũng là một trong những nhân tố quyết định đến CLTD. c, Môi trường pháp luật Cũng như các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của NHTM luôn bị điều chỉnh bởi hệ thống luật pháp. Với môi trường pháp lí hoàn thiện, ổn định, các luật và văn bản dưới luật được ban hành một cách đồng bộ và kịp thời sẽ tạo
  17. điều kiện cho hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng. Do vậy, môi trường pháp lí cũng được coi là yếu tố ảnh hưởng đến CLTD. d, Môi trường tự nhiên Một môi trường tự nhiên thuận lợi sẽ ảnh hưởng tốt đến tất cả các ngành, các thành phần kinh tế và ngược lại sẽ ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của khách hàng đặc biệt là trong ngành liên quan đến nông nghiệp, thuỷ hải sản, khai thác. Như vậy, khi môi trường tự nhiên không thuận lợi, việc đầu tư vào các nganh chịu ảnh hưởng lớn và trực tiếp từ thiên nhiên sẽ gặp khó khăn dẫn đến kết quả sản xuất của khách hàng giảm xuống từ đó tác động xấu tới khả năng trả nợ cho ngân hàng. Điều đó làm CLTD giảm xuống. e, Môi trường quốc tế Trong xu thế của toàn cầu hoá như hiện nay, vấn đề hội nhập quốc tế là tất yếu khách quan đối với tất cả các quốc gia trên thế giới. Tháng 11/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chưc thương mại thế giới WTO. Mặt khác, nền kinh tế Việt Nam là một bộ phận của nền kinh tế thế giới. Chính vì vậy mà môi trường quốc tế cũng tác động đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói riêng trong đó có CLTD. 1.2.3.2 Nhóm nhân tố chủ quan a, Từ phía khách hàng Năng lực của khách hàng: Bao gồm năng lực tài chính, năng lực thị trường, năng lưc sản xuất, năng lực quản lí của khách hàng,.... ảnh hưởng trực tiếp đến CLTD. Bởi lẽ, một khoản tín dụng có được hoàn trả đúng hạn hay không phụ thuộc rất lớn vào năng lực và trình độ của khách hàng trong kinh doanh. Đây là nhân tố quyết định tới việc khách hàng sử dụng vốn vay có hiệu quả hay không. Nếu năng lực của khách hàng có hạn, họ không dự đoán đúng những biến động lên xuống của nhu cầu thị tr ường, trình độ quản lí thấp, khả năng phân tích đánh giá và dự báo những biến động của môi trường kinh doanh thấp, trình độ chuyên môn không cao, sử dụng các nguồn lực không hiệu quả, công nghệ
  18. kĩ thuật cũ kĩ, lạc hậu... thì hiệu quả sản xuất kinh doanh chắc chắn không thể cao, khả năng cạnh tranh thấp, khả năng tạo ra các nguồn thu để trả nợ ngân hàng bị hạn chế. Từ đó ảnh hưởng đến CLTD của ngân hàng. Tư cách đạo đức của khách hàng: Trong quan hệ tín dụng phẩm chất đạo đức của khách hàng là yếu tố quyết định thiện chí trả nợ cũng như mức độ trung thực và điều này quyết định đến hoạt động trả nợ của khách hàng. Do đó mà nó cũng tác động đến CLTD. b, Từ phía ngân hàng Nhân tố bên trong được hiểu là những nhân tố thuộc về nội tại của từng ngân hàng, do chủ quan ngân hàng đó ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động kinh doanh. Thứ nhất, chiến lược phát triển của ngân hàng. Chiến lược phát triển cuủa ngân hàng là hệ thống các quan điểm, các mục đích và các mục tiêu cơ bản cùng các giải pháp, chính sách nhằm sử dụng một cách tốt nhất các nguồn lực, lợi thế, cơ hội của tổ chức để đạt được các mục tiêu dài hạn trong thời gian ngắn nhất có thể. Để xây dựng chiến lược phát triển, ngân hàng thường sử dụng mô hình SWOT để phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của ngân hàng mình. Vậy thế nào là một chiến lược phát triển phù hợp? Một chiến lược phát triển phù hợp là một chiến lược phát huy được tối đa các điểm mạnh, khai thác được các cơ hội đồng thời hạn chế được tới mức tối thiểu các điểm yếu và vượt qua được các thách thức. Một chiến lược phát triển rõ ràng, đúng đắn và phù hợp sẽ định hướng hoạt động cho tất cả các nghiệp vụ của ngân hàng trong đó có hoạt động tín dụng. Tuỳ theo chiến lược phát triển của ngân hàng là tăng trưởng hay ổn định thi trường mục tiêu mà nhóm mục tiêu của các ngân hàng khác nhau, điều này có thể ảnh hưởng đến CLTD của ngân hàng. Thứ hai, chính sách tín dụng Chính sách tín dụng của NHTM là một hệ thống các biện pháp liên quan đến việc khuếch trương hoặc hạn chế tín dụng để đạt mục tiêu đã hoạch định của NHTM đó và hạn chế rủi ro, bảo đảm an toàn trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, được xác định
  19. trên cơ sở chién lược phát triển của ngân hàng kết hợp với các quy định quản lí ngành của các cơ quan quản lí nhà nước . Nó phản ánh chủ trương cho vay của một ngân hàng, trở thành định hướng chung cho cán bộ tín dụng và các nhân viên ngân hàng, tăng cường chuyên môn hoá trong phân tích tín dụng, tạo sự thống nhất chung trong hoạt động tín dụng nhằm hạn chế rủi ro và nâng cao khả n ăng sinh lời. Chính sách tín dụng cân xác định được quy mô, thời hạn, phương thức cho vay và lĩnh vực cho vay nào đang có xu hướng phát triển. Mục tiêu của chính sách tín dụng là lợi nhuận, sự an toàn, sự lành mạnh. Một chính sách tín dụng thích hợp sẽ gúp ngân hàng xác định phương hướng sử dụng các nguồn vốn hiện có, tạo ra một tài sản có chất lượng cao, ít rủi ro và đạt được mục tiêu kinh doanh chung. Thứ ba, quy trình tín dụng Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, quy định cuủa ngân hàng trong việc cấp tín dụng, trong đó xây dựng các bước đi cụ thể theo một trình tự nhất định kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cho đến khi chấm dứt quan hệ tín dụng. Đây là một quá trình bao gồm nhiêu giai đoạn mang tính chất liên hoàn, theo một trình tự nhất định, đồng thời có quan hệ chặt chẽ và gắn bó với nhau. Một quy trình tín dụng theo lí thuyết bao gồm 6 giai đoạn: Lập hồ sơ tín dụng, phân tích tín dụng, quyết định tín dụng, giải ngân, giám sát và thu nợ, thanh lí hợp đồng tín dụng. Các giai đoạn này có mối quan hệ qua lại hỗ trợ cho nhau, kết quả của giai đoạn trước là cơ sở thực hiện giai đoạn tiếp theo và tác động đến chất lượng công việc của giai đoạn sau. Dựa vào quy trình tín dụng, ngân hàng sẽ thiết lập các thủ tục hành chính cho phù hợp với những quy định của pháp luật và đảm bảo mục tiêu an toàn trong kinh doanh. Thiết kế các thủ tục cho vay phải thích hợp với từng nhóm khách hàng, từng loại cho vay cũng như kĩ thuật cho vay nhhằm cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết, không gây phiền hà cho khách hàng, cũng như tiết kiệm thời gian cho cả hai bên. Mặt khác, quy trình tín dụng còn là cơ sở để kiểm soát tiến trình cấp tín dụng và điều chỉnh chính sách tín dụng cho phù hợp với thực tiễn. Thông qua kiểm soát thực hiện quy trình tín dụng nhà quản trị ngân hàng nhanh chóng xác định những khâu, những công việc cần điều chỉnh cũng như hướng đào tạo và phân
  20. công trong tương lai, từ đó kiểm soát được những rủi ro khi cấp tín dụng. Điều đó cho thấy, một ngân hàngcó quy trình tín dụng hợp lí thì CLTD sẽ được đảm bảo và ngược lại. Thứ tư, đội ngũ cán bộ tín dụng Con người luôn là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của bất kì một tổ chức nào, và ngân hàng cũng không phải là ngoại lệ. Trong hoạt động tín dụng, cán bộ tín dụng là người tham gia trực tiếp vào mọi khâu của quy trình tín dụng. Khi xem xét đến yếu tố này người ta xem xét dưới hai góc độ:  Trước hết phải kể đến trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Một cán bộ tín dụng có trình độ chuyên môn giỏi, có kinh nghiệm cao sẽ đánh giá được chính xác về tính khả thi của dự án, xác định được khả năng trả nợ hay năng lực thực sự của khách hàng, xác minh được tính trung thực của các báo cáo tài chính, đánh giá được đạo đức của khách hàng vay... Từ đó đưa ra các quyết định đúng đắn, hạn chế được những sai lầm do lựa chọn sai khách hàng, qua đó sẽ nâng cao được CLTD. Cán bộ còn phải có khả năng dự đoán trước được những biến động có thể xảy ra để có thể tư vấn cho khách hàng, xay dựng, điều chỉnh phương án kinh doanh cho phù hợp.  Tuy nhiên có tài thôi chưa đủ mà còn phải có tư cách đạo đức. Một người cán bộ đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của tập thể, mắc ngoặc với khách hàn g, chấp thuận cho vay đối với những khách hàng không đủ tiêu chuẩn, bỏ qua những khách hàng tiềm năng của ngân hàng, nhận hối lộ, tham những để cho vay trái pháp luật. Tất cả những hành vi đó đều ảnh hưởng xấu tới CLTD của ngân hàng. Thứ năm, hoạt động huy động vốn. Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác nhau và được dùng làm vốn để kinh doanh. Theo Mac: “ Với sự phát triển của hệ thống ngân hàng và nhất trí khhi trả lãi cho những người gửi tiền thì tất cả số tiền để giành và tạm thời chưa dùng dến của tất cả các tầng lớp sẽ được gửi vào ngân hàng, những số tiền riêng lẻ từng nhóm một thì không đủ khả năng để hoạt động với tư cách là tư bản tiền tệ, nhưng khi được góp lại thành những khối lượng lớn thì chúng trở thành

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản