intTypePromotion=1

Tiểu luận: Hợp đồng tín dụng và những vấn đề thực tiễn

Chia sẻ: Sdgvfcxg Sdgvfcxg | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:30

0
681
lượt xem
81
download

Tiểu luận: Hợp đồng tín dụng và những vấn đề thực tiễn

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung Hợp đồng tín dụng và những vấn đề thực tiễn nêu khái niệm về tín dụng, phân loại tín dụng, trong đó tín Dụng Ngân Hàng – hình thức tín dụng quan trọng nhất, khái niệm về tín dụng ngân hàng, vai trò của tín dụng ngân hàng. Quy trình tín dụng ngân hàng. Khái niệm về hợp đồng tín dụng, đặc điểm của hợp đồng tín dụng, so sánh hợp đồng tín dụng với hợp đồng thương mại. Những biện pháp hoàn thiện pháp luật, những biện pháp đảm bảo thực hiện pháp luật.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Hợp đồng tín dụng và những vấn đề thực tiễn

  1. KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG LỚP K09404B  Môn: Luật kinh tế Đề tài: HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN GVHD: Ths. Đào Thị Thu Hằng Nhóm thực hiện: Nhóm 16 – K09404B 1
  2. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 3 CHƯƠNG 1 – KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG................................................................ 4 I. Khái niệm về tín dụng ......................................................................................... 4 II. Phân loại TD ...................................................................................................4 III. Tín Dụng Ngân Hàng (TDNH) – hình thức tín dụng quan trọng nhất: .............. 5 III.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng ..................................................................5 III.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng ...................................................................... 5 III.3.Quy trình tín dụng ngân hàng ......................................................................... 5 CHƯƠNG 2 – HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG ....................................................................... 6 I. Khái niệm về hợp đồng tín dụng (HĐTD) ........................................................... 6 II. Đặc điểm của hợp đồng tín dụng .....................................................................6 III. So sánh hợp đồng tín dụng với hợp đồng thương mại ...................................... 8 III.1.Một số điểm cần lưu ý trong hợp đồng tín dụng ............................................. 8 III.2.Quyền và nghĩa vụ của bên vay (Điều 56 luật các tổ chức các tổ chức tín dụng 1997) ..................................................................................................................... 9 III.3. Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay ............................................................ 10 III.4. Các đối tượng không được vay (Điều 77 luật các TCTD 1997) ................... 11 III.5. Các đối tượng hạn chế tín dụng (Điều 78 luật các TCTD 1997) ................... 11 III.6. Giới hạn tín dụng (Điều 79 luật các TCTD 1997) ........................................ 11 CHƯƠNG 3 – THỰC TRẠNG TRANH CHẤP HĐTD .............................................. 12 I. Thực trạng các dạng tranh chấp hợp đồng tín dụng trên thực tế ......................... 12 I.1. Dạng tranh chấp về hành vi vi phạm nghĩa vụ của một hoặc các bên trong hợp đồng. 12 I.2. Dạng tranh chấp về định giá, xử lý tài sản bảo đảm đối với những HĐTD có bảo đảm bằng tài sản............................................................................................ 19 II. Những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp hợp đồng tín dụng ........................... 20 II.1. Nguyên nhân từ phía bên cho vay có thể bao gồm : ............................... 20 II.2. Nguyên nhân từ phía bên vay ....................................................................... 21 II.3. Nguyên nhân nữa làm phát sinh tranh chấp HĐTD là do quy định của pháp luật. ............................................................................................................................ 23 III. Một số biện pháp nhằm đảm bảo hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Toà án ........................................................................................................ 23 III.1. Những biện pháp hoàn thiện pháp luật.................................................... 23 III.2. Những biện pháp đảm bảo thực hiện pháp luật ............................................ 27 Tài liệu tham khảo: ...................................................................................................... 29 DANH SÁCH NHÓM TRÌNH BÀY ........................................................................... 30 2
  3. LỜI MỞ ĐẦU Kể từ quyết định Đổi mới sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đại hội Đảng lần thứ VI, nền kinh tế nước ta đã có nhiều biến chuyển sâu sắc. Các thành phần kinh tế đa dạng. Khu vực kinh doanh tư nhân, khu vực đầu tư nước ngoài ngày càng đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu GDP đất nước. Để duy trì và phát triển hoạt động kinh doanh, các chủ thể kinh doanh cần có một nguồn vốn dồi dào và tín dụng là một kênh quan trọng cung cấp cho các doanh nghiệp, công ty… Các tổ chức tín dụng mà nổi bật là các ngân hàng thương mại chính là những tổ chức tạo điều kiện thuận lợi để các chủ thể kinh doanh tiếp xúc với nguồn tín dụng tốt nhất. Hiện nay, trong số các vụ tranh chấp dân sự, kinh tế thì tranh chấp về hợp đồng chiếm tỷ lệ lớn nhất trong đó phải kể đến tranh chấp HĐTD. Theo báo cáo môi trường kinh doanh 2008 công bố ngày 26/9/2007 của ngân hàng thế giới (WB), lĩnh vực vay vốn của Việt Nam xếp hạng 48/178, tiến bộ đáng kể so với vị trí 83/175 năm 2006. Cũng theo báo cáo, Việt Nam trong năm 2006 đã mở rộng phạm vi các tài sản được dùng để thế chấp qua đó các doanh nghiệp tiếp cận tín dụng dễ dàng hơn. Đặc biệt, các hoạt động cho vay có thể được thuận lợi hoá nhờ việc cho phép sử dụng tài sản hữu hình và vô hình, kể cả tài sản hình thành trong tương lai làm vật thế chấp và đơn giản hoá một số thủ tục tố tụng trong lĩnh vực này. Và tranh chấp phát sinh từ hoạt động cho vay luôn đồng hành với sự lên hạng đó. Theo luật gia Phạm Xuân Thọ – người có mười năm làm trọng tài viên tại trọng tài kinh tế thành phố Hồ Chí Minh và mười ba năm làm thẩm phán, chánh toà kinh tế Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thì tranh chấp HĐTD chiếm tỷ lệ lớn thứ hai sau hợp đồng mua bán trong tổng số tranh chấp hợp đồng kinh doanh, thương mại. Trong đề tài về Hợp đồng tín dụng và thực tiễn này, nhóm thực hiện đề tài chúng tôi cố gắng cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về hợp đồng tín dụng nhằm giúp các bạn có cái nhìn toàn diện về vấn đề trên. Chúng tôi rất mong nhận được sự ủng hộ cũng như những góp ý chân thành của cô và các bạn sinh viên để hoàn thiện đề tài này. Chúng tôi chân thành cảm ơn! 3
  4. CHƯƠNG 1 – KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG I. Khái niệm về tín dụng Tín dụng (TD) là mối quan hệ kinh tế giữa người đi vay và người cho vay. Trong quan hệ này, người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho vay cho người đi vay trong một thời gian nhất định. Người đi vay có nghĩa vụ trả số tiền hoặc giá trị hàng hoá đã vay khi đến hạn trả nợ có kèm hoặc không kèm theo một khoản lãi. TD có vị trí quan trọng đối với việc tích tụ, tận dụng các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi để phát triển kinh doanh. Chủ thể cho vay (nguồn Chủ thể đi vay (nguồn cầu cung TD): TD): Gốc + lãi  Tiết kiệm cá nhân.  Nhu cầu đầu tư của doanh  Tiết kiệm doanh nghiệp nghiệp. Hàng hóa  Nhu cầu đầu tư của cá  Thặng dư ngân sách hoặc tiền tệ nhân nhà nước  Bù đắp ngân sách của  …. chính phủ.  ….. II. Phân loại TD Dựa vào từng tiêu chí mà có nhiều cách phân loại TD khác nhau sau đây: - Dựa vào thời hạn TD: có 3 loại.  TD ngắn hạn : dưới 1 năm.  TD trung hạn: từ 1 đến 5 năm.  TD dài hạn: 5 năm trở lên. - Dựa vào mục đích sử dụng:  TD sản xuất và lưu thông hàng hóa.  TD tiêu dùng. - Dựa vào chủ thể trong quan hệ TD:  TD thương mại: là hình thức mua bán chịu hàng hóa, giấy nợ trong việc mua bán nợ này là thương phiếu ( nó bao gồm hối phiếu và lệnh phiếu).  TD nhà nước: bao gồm tín phiếu kho bạc (TD ngắn hạn) và trái phiếu (TD dài hạn). 4
  5.  TD ngân hàng: là hình thức vay nợ tiền tệ (bao gồm tiền mặt và bút tệ). Đây là một nhánh lớn trong hoạt động TD, phần lớn khối lượng giao dịch TD nằm trên kênh TD này. III. Tín Dụng Ngân Hàng (TDNH) – hình thức tín dụng quan trọng nhất: III.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác, với các nhà doanh nghiệp và cá nhân. III.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng - Đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất liên tục đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế. - Thúc đẩy nền kinh tế phát triển. - Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và các ngành mũi nhọn. - Góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp. - Tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp nước ngoài. III.3.Quy trình tín dụng ngân hàng III.3.a. Quy trình tín dụng ngân hàng là gì? Quy trình tín dụng ngân hàng là bản tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng từ khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ và thanh lý hợp đồng tín dụng. III.3.b. Ý nghĩa của quy trình tín dụng - Việc xác lập một quy trình tín dụng và không ngừng hoàn thiện nó đặc biệt quan trọng đối với một ngân hàng thương mại. - Về mặt hiệu quả, một quy trình tín dụng hợp lý sẽ giúp cho ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro tín dụng. - Về mặt quản lý, quy trình tín dụng có tác dụng:  Làm cơ sở cho việc phân định quyền, trách nhiệm cho các bộ phận trong hoạt động tín dụng.  Làm cơ sở để thiết lập các hồ sơ, thủ tục vay vốn. III.3.c. Một quy trình tín dụng căn bản: gồm 7 bước. Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn 5
  6. Nhìn chung một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như: - năng lực pháp lý, năng lực hành vi dân sự của khách hàng - khả năng sử dụng vốn vay - khả năng hoàn trả nợ vay (vốn vay + lãi) Bước 2: Phân tích tín dụng Phân tích tín dụng là xác định khả năng hiện tại và tương lai của khách hàng trong việc sử dụng vốn vay + hoàn trả nợ vay. Bước 3: Ra quyết định tín dụng Trong khâu này, ngân hàng sẽ ra quyết định đồng ý hoặc từ chối cho vay đối với một hồ sơ vay vốn của khách hàng. Bước 4: giải ngân Ở bước này, ngân hàng sẽ tiến hành phát tiền cho khách hàng như ký kết trong hợp đồng tín dụng. Bước 5: Giám sát tín dụng Nhân viên tín dụng thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay thực tế của khách hàng, hiện trạng tài sản đảm bảo, tình hình tài chính của khách hàng,... để đảm bảo khả năng thu nợ. Bước 6: Thanh lý hợp đồng tín dụng CHƯƠNG 2 – HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG I. Khái niệm về hợp đồng tín dụng (HĐTD) Khái niệm hợp đồng dân sự được quy định theo Điều 388 BLDS 2005, hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, từ đó có thể hiểu “HĐTD là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa TCTD (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện luật định (bên vay), theo đó TCTD chuyển giao một số tiền tệ hoặc cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi.” Vậy pháp luật VN không đưa ra cụ thể khái niệm về HĐTD mà chúng ta chỉ có thể hiểu nó dựa trên định nghĩa Hợp Đồng Dân Sự. II. Đặc điểm của hợp đồng tín dụng - Thứ nhất, về hình thức: HĐTD luôn được lập thành văn bản, hầu hết là hợp đồng theo mẫu. 6
  7. - Thứ hai, đối tượng HĐTD: là những khoản vốn được thể hiện dưới hình thức tiền tệ. Vốn tiền tệ trong HĐTD có thể là tiền đồng Việt Nam, vàng hoặc ngoại tệ; tồn tại dưới dạng tiền mặt, vật hiện hữu hoặc bút tệ. - Thứ ba, bên cho vay trong HĐTD: luôn là TCTD (bao gồm ngân hàng và TCTD phi ngân hàng). - Thứ tư, HĐTD phải được tuân thủ chặt chẽ theo đúng qui luật của pháp luật về:  Năng lực chủ thể của các bên tham gia quan hệ tín dụng.  Mục đích sử dụng vốn vay.  Giới hạn vốn vay. - Thứ năm, nội dung hợp đồng tín dụng phải có: o Điều kiện vay o mục đích sử dụng tiền vay o hình thức vay, số tiền vay o lãi suất o thời hạn vay o hình thức bảo đảm o giá trị tài sản bảo đảm o phương thức trả nợ o những cam kết khác được các bên thỏa thuận (Điều 51 Luật các TCTD) - Thứ sáu, tổ chức tín dụng có quyền xem xét, quyết định cho vay hay không dựa trên cơ sở có bảo đảm hoặc không có bảo đảm bằng tài sản cầm cố, thế chấp của khách hàng vay, bảo lãnh của bên thứ ba và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Tổ chức tín dụng không được cho vay trên cơ sở cầm cố bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng cho vay. - Thứ bảy, mức lãi suất cho vay: phù hợp với quy định của NHNN Việt Nam. - Thứ tám, lãi suất nợ quá hạn: không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong hợp đồng tín dụng. - Thứ chín, khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng: Thẩm phán phải theo dõi lãi suất cơ bản do Thống đốc NHNN công bố trong từng thời kỳ. 7
  8. - Thứ mười, nếu bên vay sử dụng vốn vay không đúng mục đích đã thỏa thuận, thì ngân hàng lập tức được quyền chấm dứt hợp đồng, phạt vi phạm và thu hồi nợ trước hạn. III. So sánh hợp đồng tín dụng với hợp đồng thương mại STT Yếu tố Hợp Đồng Thương Mại Hợp Đồng Tín Dụng Doanh nghiệp với doanh 1 Chủ thể Doanh nghiệp với ngân hàng nghiệp 2 Loại vốn Hàng hóa Tiền tệ 3 Quy mô Nhỏ Lớn 4 Thời hạn Ngắn hạn Dài hạn 5 Phạm vi Hẹp Rộng III.1.Một số điểm cần lưu ý trong hợp đồng tín dụng III.1.a. Việc thu hồi nợ trước hạn – một trong những vấn đề vướng mắc trong hợp đồng tín dụng * Một mặt, cho phép các ngân hàng được phép thu hồi nợ trước hạn nếu bên vay vi phạm hợp đồng tín dụng (theo Quyết định số 1627/2010/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN). * Mặt khác: quy định của BLDS thì bên cho vay “Không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn”, trừ trường hợp được bên vay đồng ý (§ 473.3). Cách giải quyết mâu thuẫn này là các bên nên có thoả thuận trong hợp đồng tín dụng với nội dung: Trường hợp bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ một kỳ hạn trả nợ thì các kỳ hạn khác chưa đến hạn cũng được coi là đến hạn trả nợ và ngân hàng có quyền thu hồi nợ trước hạn. III.1.b. Cơ cấu lại thời hạn trả nợ Trường hợp bên vay không có khả năng trả nợ theo đúng thoả thuận ban đầu, nếu đủ điều kiện thì có thể được ngân hàng xem xét cho cơ cấu lại thời hạn trả nợ, bao gồm hai cách là gia hạn nợ và điều chỉnh kỳ hạn trả nợ. - Trước 2005, NHNN quy định:  Khoản vay ngắn hạn chỉ được gia hạn tối đa bằng thời hạn cho vay.  Khoản vay trung, dài hạn tối đa bằng ½ thời hạn cho vay. 8
  9. - Từ 2005 đến nay, theo quyết định số 1 27/2 005 /QĐ- NH NN n g à y 0 3 th án g 2 n ăm 2 005 c ủ a th ốn g đố c N HN N: các khoản nợ được gia hạn nhiều lần, với thời hạn không bị hạn chế. III.1.c. Thẩm quyền kí hợp đồng Mỗi bên chỉ cần một người đại diện có thẩm quyền ký hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều trường hợp bên ngân hàng có hai chữ ký (giám đốc và trưởng phòng tín dụng), đồng thời yêu cầu bên vay cũng có hai chữ ký (giám đốc và kế toán trưởng đối với doanh nghiệp hoặc hai vợ chồng đối với cá nhân). Ngoài ra, đối với cả ngân hàng và bên vay là doanh nghiệp, thì dòi hởi phải có sự thông qua của cấp có thẩm quyền đối với các trường hợp khoản tín dụng đạt đến một mức nhất định như: - Bên vay là doanh nghiệp phải thông qua Hội đồng Thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty hoặc HĐQT trong trường hợp giá trị khoản vay hay giá trị tài sản cầm cố, thế chấp “bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính tại thời điểm công bố gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty” (§ 47, 64 và 108 LDN). - Đối với ngân hàng, nếu các khoản cho vay có giá trị từ 10% tổng tài sản của ngân hàng trở lên, thì cũng phải thông qua HĐQT hoặc được HĐQT phân cấp, uỷ quyền. Đối với các khoản vay trên 15% vốn tự có của ngân hàng, thì phải được Thủ tướng Chính phủ hoặc Thống đốc NHNN cho phép.  Chú ý: Khi ký kết HĐTD nói riêng, HĐ nói chung, phải xem xét kĩ càng chủ thể ký kết HĐ có đủ thẩm quyền ký kết HĐ hay không để tránh trường hợp HĐ bị vô hiệu hóa gây thiệt hại cho các bên tham gia vào HĐ. III.2.Quyền và nghĩa vụ của bên vay (Điều 56 luật các tổ chức các tổ chức tín dụng 1997) III.2.a. Quyền của bên vay - Từ chối các yêu cầu của ngân hàng không đúng với các thoả thuận trong hợp đồng tín dụng; - Khiếu nại, khởi kiện việc vi phạm hợp đồng tín dụng của ngân hàng theo quy định của pháp luật. III.2.b. Nghĩa vụ của bên vay - Cung cấp đầy đủ, trung thực các thông tin, tài liệu liên quan đến việc vay vốn đồng thời chịu trách nhiệm về tính chính xác và hợp pháp của các thông tin, tài liệu cung cấp cho ngân hàng. 9
  10. - Sử dụng tiền vay đúng mục đích, thực hiện đúng các nội dung đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và các cam kết khác với ngân hàng. - Trả nợ gốc và lãi vốn vay theo thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. - Chịu trách nhiệm trước pháp luật khi không thực hiện đúng những thoả thuận về việc trả nợ và thực hiện các nghĩa vụ bảo đảm nợ vay đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. - Trong số các nghĩa vụ của bên vay, thì nghĩa vụ trả nợ là quan trọng nhất. Nghĩa vụ này chỉ được miễn trừ nếu bên cho vay đồng ý, còn lại thì sẽ không bao giờ được miễn trừ, kể cả xảy ra tình trạng bất khả kháng. III.3. Quyền và nghĩa vụ của bên cho vay III.3.a. Quyền của bên cho vay Yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh dự án, phương án vay vốn khả thi, khả năng tài chính của mình và người bảo lãnh trước khi quyết định cho vay; - Từ chối yêu cầu vay vốn của khách hàng nếu thấy không đủ điều kiện vay vốn; dự án, phương án vay vốn không có hiệu quả, không phù hợp với quy định của pháp luật hoặc ngân hàng không có đủ nguồn vốn để cho vay. - Kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng. - Chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng tín dụng. - Khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng hoặc khởi kiện bên thứ ba cầm cố, thế chấp, bảo lãnh theo quy định của pháp luật. - Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ, nếu các bên không có thoả thuận khác thì ngân hàng có quyền bán tài sản bảo đảm tiền vay theo sự thoả thuận trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay để thu nợ theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu người thứ ba thực hiện nghĩa vụ cầm cố, thế chấp, bảo lãnh cho khách hàng vay vốn. - Miễn, giảm lãi tiền vay theo quy định của ngân hàng; gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ theo quy định. - Mua bán nợ, đảo nợ, khoanh nợ, xoá nợ và cơ cấu lại nợ theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của NHNN Việt Nam. III.3.b. Nghĩa vụ của bên cho vay Giải ngân cho bên vay theo đúng thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. - Thực hiện đúng các thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. - Lưu giữ hồ sơ tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật. 10
  11. - Trong số các nghĩa vụ của bên cho vay, thì nghĩa vụ giải ngân là quan trọng nhất. Nếu nghĩa vụ này không được thực hiện, thì sẽ không phát sinh quyền và nghĩa vụ khác của hai bên. III.4. Các đối tượng không được vay (Điều 77 luật các TCTD 1997) - Thành viên HĐQT, Ban kiểm soát của ngân hàng. - Tổng giám đốc hoặc Giám đốc và Phó tổng giám đốc hoặc Phó giám đốc của ngân hàng. - Bố, mẹ, vợ, chồng, con của các đối tượng trên. - Người thẩm định, xét duyệt cho vay. III.5. Các đối tượng hạn chế tín dụng (Điều 78 luật các TCTD 1997) - Tổ chức kiểm toán, Kiểm toán viên đang kiểm toán tại ngân hàng. - Kế toán trưởng, Thanh tra viên. - Các cổ đông lớn của ngân hàng. - Doanh nghiệp có một trong những đối tượng bị cấm cho vay nói trên sở hữu trên 10% vốn Điều lệ của doanh nghiệp đó. III.6. Giới hạn tín dụng (Điều 79 luật các TCTD 1997) Tổng dư nợ cho vay đối với tất cả các đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng nói trên không được vượt quá 5% vốn tự có của ngân hàng (§ 78.2, Luật các TCTD). Vốn tự có bao gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ, dự phòng và một số khoản vốn khác. Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng, trừ trường hợp đối với những khoản cho vay từ các nguồn vốn uỷ thác của Chính phủ, của các tổ chức, cá nhân hoặc trường hợp khách hàng vay là ngân hàng khác hoặc được Thủ tướng hay Thống đốc NHNN cho phép (§ 79.1 và 79.2, Luật các TCTD). Bảng tổng hợp một số giới hạn cho vay, bảo lãnh của ngân hàng STT Tổng dư nợ cho vay và bảo lãnh Giới hạn 1 Cho vay đối với các đối tượng bị cấm cho vay 0% 2 Cho vay đối với các đối tượng bị hạn chế cho vay < 05% vốn tự có 3 Cho vay đối với 1 khách hàng < 15% vốn tự có 4 Cho vay + Bảo lãnh đối với 1 khách hàng < 25% vốn tự có 5 Cho vay đối với 1 nhóm khách hàng liên quan < 50% vốn tự có 11
  12. STT Tổng dư nợ cho vay và bảo lãnh Giới hạn 6 Cho vay + Bảo lãnh đối với 1 nhóm khách hàng < 60% vốn tự có 7 Cho vay để đầu tư và kinh doanh chứng khoán < 20% vốn điều lệ Nếu bên vay có nhu cầu vay vượt quá giới hạn nói trên, thì các ngân hàng cho vay theo hình thức hợp vốn (uỷ thác hoặc đồng tài trợ). CHƯƠNG 3 – THỰC TRẠNG TRANH CHẤP HĐTD VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT Trong thời gian qua, tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại trong đó có tranh chấp HĐTD không ngừng gia tăng đó là chưa kể đến các tranh chấp được các bên thoả thuận giải quyết bằng các phương thức khác như thương lượng, hoà giải hay trọng tài thương mại. I. Thực trạng các dạng tranh chấp hợp đồng tín dụng trên thực tế I.1. Dạng tranh chấp về hành vi vi phạm nghĩa vụ của một hoặc các bên trong hợp đồng. Đây là dạng tranh chấp HĐTD phổ biến, chiếm tỷ lệ lớn nhất trong HĐTD. Hành vi vi phạm nghĩa vụ này, có thể là hành vi của bên cho vay (các ngân hàng và các định chế tài chính khác). Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, HĐTD là một dạng của hợp đồng ưng thuận có hình thức bắt buộc bằng văn bản (văn bản viết hoặc văn bản điện tử). Tại khoản 4 Điều 404 BLTTDS: “Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản”; tại Điều 405 quy định: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Vì thế, sau khi HĐTD có hiệu lực, việc giải ngân khoản tín dụng mà hai bên đã thoả thuận là nghĩa vụ của bên cho vay. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp sau khi ký kết HĐTD với khách hàng bên cho vay đã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ giải ngân. Điều này, làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của bên vay như bên vay không tiến hành kế hoạch kinh doanh như dự kiến, không có vốn đầu tư vào dự án đầu tư, đấu thầu đã được đăng ký. Hậu quả là bên cho vay làm tổn thất rất lớn về hiệu quả kinh tế cũng như uy tín, danh dự, thậm chí thương hiệu của bên vay. Tranh chấp HĐTD còn có thể xuất phát từ việc vi phạm nghĩa vụ trả lãi và thậm chí cả gốc và lãi. Trên thực tế, có trường hợp hai bên không thoả thuận rõ 12
  13. ràng về lãi suất đối với cả thời hạn vay hoặc ban đầu do cần tiền để thực hiện kế hoạch của mình nên khách hàng chấp nhận mức lãi suất đó nhưng sau một thời gian thực hiện hợp đồng phía khách hàng nhận thấy lãi suất đó cao quá nên không đồng ý. Tuy nhiên, đa phần là dạng tranh chấp về vi phạm nghĩa vụ trả nợ của khách hàng khi đáo hạn. Năm 1995, do nhu cầu sản xuất kinh doanh mở rộng, công ty trách nhiệm hữu hạn Phương Đông (CTPĐ) đã vay của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn (NH NN&PTNT) số tiền là 400,667 triệu VNĐ, trong đó lần vay cuối cùng ngày 24/6/1996 là 80 triệu VNĐ do trung tâm tư vấn doanh nghiệp bảo lãnh. Số vay còn lại được công ty Phương Đông thế chấp bằng ngôi nhà ba tầng có diện tích 482m2, là trụ sở làm việc và mặt bằng sản xuất của công ty. Nhưng sau đó, do hoạt động kinh doanh thua lỗ nên khi đến hạn công ty Phương Đông đã không thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn như đã cam kết. Vì thế, ngày 12/4/1999 NH NN&PTNT đã khởi kiện công ty Phương Đông phải thanh toán cả gốc và lãi là 802.877 triệu VNĐ. Sau đây, chúng ta xem xét một vài ví dụ cụ thể về hành vi của bên cho vay và bên vay về tranh chấp lãi suất trong hợp đồng tín dụng. I.1.a. Thỏa thuận thay đổi lãi suất khi thời hạn chưa kết thúc Về mặt lí luận, khi các bên đã thỏa thuận về lãi suất cố định trong HĐTD thì lãi suất sẽ không được điều chỉnh trong suốt thời hạn vay. Tuy nhiên, pháp luật không cấm điều chỉnh lãi suất trong trường hợp các bên có sự thống nhất ý chí. Do đó, tranh chấp về thỏa thuận thay đổi lãi suất khi thời hạn vay chưa kết thúc chỉ xảy ra trong hai trường hợp: một là, khách hàng yêu cầu giảm lãi suất hoặc miễn lãi; hai là, TCTD yêu cầu tăng lãi suất.  Khách hàng yêu cầu giảm lãi suất hoặc miễn lãi Trong quá trình thực hiện HĐTD, không phải bên vay luôn có khả năng trả nợ gốc và lãi đúng hạn. Có nhiều trường hợp do một số lí do khách quan như: tai nạn, rủi ro hoặc thị trường biến động dẫn đến tình hình kinh doanh bị ảnh hưởng… nên khách hàng vay vốn không có khả năng trả nợ cho TCTD. Trong những tình huống như vậy thông thường khách hàng làm đơn xin giảm lãi suất hoặc miễn một phần lãi, TCTD sẽ xem xét và chấp thuận yêu cầu này tùy thuộc vào tình hình thực tế. Thông thường TCTD sẽ chấp nhận kèm theo một vài yêu cầu. Cũng có trường hợp phía đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn, khi TCTD yêu cầu nhiều lần vẫn không thanh toán, TCTD khởi kiện ra tòa và trong quá trình hòa giải hai bên có thỏa thuận nếu khách hàng thanh toán ngay khoản nợ gốc thì TCTD sẽ giảm lãi suất đồng nghĩa với việc giảm một phần tiền lãi mà khách hàng phải trả hoặc miễn một phần lãi. Vụ việc như vậy sẽ không có tranh chấp nếu hai bên thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, trên thực tế vẫn có tình huống khách hàng không thực hiện đúng cam kết dẫn đến tranh chấp xảy ra. 13
  14. Trường hợp ông Nguyễn Văn M. và NHTMCP P. dưới đây là một ví dụ cho tình huống này. Ngân hàng P. khởi kiện ông M. vì đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho khoản vay 150.000.000 đồng theo HĐTD số 102/TDG/08 TGB ngày 12/02/2008. Theo biên bản hòa giải, hai bên đã thỏa thuận ngân hàng P. sẽ giảm lãi suất, giảm một phần tiền phạt chậm trả cho ông M. và rút đơn khởi kiện với điều kiện ông M. phải thanh toán 150.000.000 đồng tiền nợ gốc làm hai kì ngay sau đó. Tại phiên tòa sơ thẩm, ngân hàng P cho rằng ông M. chưa thực hiện đầy đủ việc thanh toán tiền nợ gốc nên ngân hàng vẫn áp dụng lãi suất cũ. Ông M. lại cho rằng ông đã thực hiện được một kì trả nợ gốc là 75.000.000 đồng như thỏa thuận tại phiên hòa giải nên yêu cầu ngân hàng P. giảm một phần lãi suất tương ứng với phần ông đã trả được. Tòa cấp sơ thẩm đã xem xét và chấp thuận yêu cầu của ngân hàng vì ông M. chưa thực hiện đầy đủ điều kiện theo thỏa thuận nên nghĩa vụ giảm lãi suất và giảm tiền phạt chậm trả của ngân hàng P. không phát sinh. Đối với những vụ tranh chấp như vậy, nguyên nhân chủ yếu thuộc về lỗi của bên vay, bởi vì nghĩa vụ giảm lãi của TCTD chỉ phát sinh khi khách hàng vay vốn đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận.  TCTD yêu cầu nâng lãi suất cho vay Điều khoản về lãi suất trong HĐTD là điều khoản vô cùng quan trọng. Thông thường để hạn chế rủi ro lãi suất, TCTD không thỏa thuận lãi suất cố định với hợp đồng trung – dài hạn mà quy định trong HĐTD lãi suất cho vay tính bằng lãi suất tiền gửi cộng một biên độ và thay đổi định kì. Trong một số hợp đồng vay ngắn hạn, lãi suất cho vay được thỏa thuận là lãi suất cố định trong suốt thời gian vay. Khi thị trường có những biến động khiến TCTD phải nâng lãi suất huy động để thu hút nguồn vốn trong dân cư, việc cho vay với lãi suất thấp hơn (ở những HĐTD kí kết từ trước đó nhưng vẫn trong quá trình giải ngân) so với lãi suất huy động hiện tại sẽ khiến TCTD mất đi một phần lợi nhuận. Vì vậy, không ít TCTD đã yêu cầu khách hàng chấp nhận tăng lãi suất cho vay mới tiếp tục giải ngân. Đây chính là tình trạng xảy ra rất nhiều trong thời gian giữa năm 2008 khi áp dụng chính sách điều hành lãi suất “thắt chặt” của NHNN, lãi suất huy động và lãi suất cho vay được đẩy lên rất cao. Tình trạng này không chỉ xảy ra ở đơn lẻ một TCTD nào hay đối với một đối tượng cụ thể nào, chính vì thế đã có những tác động to lớn đối với người dân tham gia vào quan hệ tín dụng. Dưới đây là một vụ việc điển hình trong số ít những vụ việc có sự phản ứng mạnh mẽ từ phía người đi vay, trong khi hầu hết những vụ việc khác bên vay thường chịu thiệt thòi tăng mức lãi suất nhằm có được khoản vốn phục vụ nhu cầu của mình. Theo HĐTD được kí vào ngày 02/11/2007, NHTMCP X đồng ý cho ông Nguyễn Thành Kham (cư xá Chu Văn An, quận Bình Thạnh, TPHCM) vay gần 400 triệu đồng, phục vụ mục đích tiêu dùng, thời hạn giải ngân tối đa đến hết ngày 31/12/2008. Lãi suất cho vay là 0,88%/tháng (tương đương 10,56%/năm) và mức 14
  15. lãi suất này là cố định trong thời gian 12 tháng kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực. Ngân hàng X đã giải ngân cho ông Kham làm hai đợt với tổng số tiền hơn 150.000.000 đồng. Đến ngày 12/6/2008, khi ông Kham đề nghị giải ngân hơn 200.000.000 đồng còn lại thì ngân hàng yêu cầu mức lãi suất mới là 1,75%. Giải thích cho điều này, lí do mà ngân hàng X đưa ra là mặt bằng lãi suất huy động tăng cao, lãi suất cho vay bình quân đang áp dụng là 1,75%/tháng (tương đương 21%/năm). Sau đó khi có sự yêu cầu khắc phục thiệt hại do tỷ giá USD tăng đồng thời phải làm đúng như hợp đồng ban đầu về mức lãi suất cho vay từ phía khách hàng, ngân hàng X lại đưa ra lí do chưa thu xếp được nguồn vốn giá thấp, vì Điều 2 HĐTD quy định: “Theo yêu cầu của bên vay và khả năng nguồn vốn của ngân hàng, số tiền cho vay sẽ được ngân hàng giải ngân theo HĐTD kiêm khế ước nhận nợ”. Tuy nhiên, khách hàng đã kí vào khế ước nhận nợ, thể hiện sự đồng ý về lãi suất mới nên không có cơ sở để khởi kiện. Phân tích vụ việc trên, thời điểm Ngân hàng X yêu cầu tăng lãi suất lên 1,75%/tháng là lúc NHNN đang áp dụng trần lãi suất cho vay bằng 150% lãi suất cơ bản. Căn cứ vào Quyết định số 1317/QĐ-NHNN quy định lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 14%/năm áp dụng từ ngày 11/6/2008, trần lãi suất cho vay là 21%/năm, tương đương 1,75%/tháng, ngân hàng X yêu cầu tăng lãi suất không vượt quá mức trần. Tuy nhiên, trước đó NHNN đã có Công văn 5004/NHNN- CSTT ngày 04/6/2008 quy định đối với các HĐTD kí kết trước ngày 19/5/2008, các bên tiếp tục thực hiện những nội dung trong hợp đồng đã kí kết (phù hợp với các quy định của pháp luật có hiệu lực thi hành tại thời điểm kí kết HĐTD đó). Như vậy ở trường hợp trên, lẽ ra ngân hàng X phải thực hiện hợp đồng với lãi suất như đã thỏa thuận trước đó trong HĐTD, việc tăng lãi suất là trái với quy định của pháp luật. Ngoài dạng tranh chấp lãi suất liên quan đến hành vi của người cho vay và bên đi vay, trên thực tế ta còn các dạng tranh chấp lãi suất trong hợp đồng tín dụng khác như: tranh chấp về lãi suất trong hạn và cách tính lãi trong hạn, tranh chấp lãi suất nợ quá hạn và cách tính lãi đối với các khoản nợ quá hạn. I.1.b. Lãi suất trong hạn và cách tính lãi trong hạn Với Thông tư số 12/2010/TT-NHNN và Luật Các tổ chức tín dụng 2010 có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, TCTD được cho vay bằng đồng Việt Nam với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận. Khi chuyển sang cơ chế trần lãi suất cho vay, nhiều TCTD với những HĐTD kí kết trước 19/5/2008 lâm vào cảnh vượt quá mức trần là 150% lãi suất cơ bản. Trước đây cơ chế lãi suất thỏa thuận từng được áp dụng trong khoảng thời gian từ tháng 6/2002 đến tháng 5/2008. Tại Thông tư số 04/2011/TT-NHNN ngày 10/3/2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định tổ chức tín dụng áp dụng lãi suất tối đa bằng mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn thấp nhất của tổ chức tín dụng theo từng đồng tiền trong trường hợp tổ chức, cá nhân rút tiền gửi trước hạn. Có thể thấy rằng, mỗi lần NHNN thay đổi chính 15
  16. sách lãi suất cho vay, những HĐTD đang có hiệu lực cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ, nhất là khi có tranh chấp xảy ra. Đây là một vụ việc điển hình cho vấn đề này: Đơn cử trường hợp tháng 12/2009, TAND quận Gò Vấp (TPHCM), xử sơ thẩm vụ tranh chấp HĐTD giữa NHTMCP T. với khách hàng L.Đ.H. Diễn biến vụ việc như sau: tháng 02/2008, ông H. kí hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng T., thỏa thuận trong hợp đồng hàng tháng ông H. có trách nhiệm thanh toán toàn bộ dư nợ tối thiểu cho ngân hàng trước ngày đến hạn. Sau khi được cấp thẻ tín dụng hạn mức 15.000.000 đồng, ông H. đã rút gần 14.500.000 đồng để tiêu xài. Tháng 4/2008, ông H. thanh toán được khoảng 1.500.000 đồng cho ngân hàng. Tháng 7/2009, ngân hàng khởi kiện, và hai bên thỏa thuận ông H. trả góp mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. Tại tòa, đại diện ngân hàng xác định số tiền nợ cả gốc lẫn lãi của ông H. tính đến ngày xét xử là gần 40.000.000 đồng. Trong trường hợp hai bên hòa giải được, ngân hàng sẽ giảm cho ông H. hơn 8.500.000 đồng tiền phí vượt hạn mức và một phần phí thanh toán trả chậm. Số nợ còn lại ông H. phải thanh toán làm ba lần trong vòng hai tháng kể từ ngày hòa giải thành. Ngược lại, ông H. không đồng ý hòa giải bởi cho rằng ngân hàng tính lãi quá cao và đề nghị tòa xem xét. Tòa sơ thẩm cho rằng ngân hàng tính lãi không đúng như thỏa thuận trong HĐTD. Cụ thể, theo hợp đồng, tiền lãi được tính trên số tiền khách hàng rút kể từ ngày rút tiền nhưng thực tế ngân hàng lại tính lãi theo từng tháng trên số dư cuối kì của tháng trước (gồm nợ gốc, lãi tháng trước và các khoản phí phải trả của tháng trước). Đây là cách tính lãi cộng dồn nên từ số nợ gốc ban đầu chỉ hơn 14.000.000 đồng, sau 22 tháng, số nợ cả gốc lẫn lãi đã lên gần đến 40.000.000 đồng. Như vậy, lãi suất áp dụng theo cách tính này là khoảng 8%/tháng, cao hơn rất nhiều so với quy định pháp luật về cách tính lãi suất theo thỏa thuận giữa TCTD đối với khách hàng (thời điểm một số NHTM áp dụng lãi suất cao nhất sau khi tính cả các chi phí là 23 – 24%/năm). Bên cạnh đó, theo hợp đồng thì sau 90 ngày kể từ ngày lập bản thông báo giao dịch, nếu chủ thẻ không thanh toán, thanh toán không đủ số tiền tối thiểu thì toàn bộ số dư nợ của chủ thẻ là nợ quá hạn và áp dụng lãi suất nợ quá hạn theo quy định của ngân hàng. Tính từ cuối tháng 5/2009 là đã quá 90 ngày ông H. không thanh toán đủ số tiền tối thiểu nên ngân hàng phải có trách nhiệm chuyển toàn bộ số dư nợ sang nợ quá hạn, nhưng ngân hàng vẫn tiếp tục tính lãi suất theo cách cộng dồn lãi, phí vào nợ gốc. Tòa xác định lại tiền lãi và các khoản phí phát sinh theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng giữa hai bên chỉ là 21.000.000 đồng. Rõ ràng việc tính lãi cộng dồn là hoàn toàn sai so với quy định của pháp luật, xâm phạm đến lợi ích của người đi vay. Tranh chấp về lãi suất trong hạn và cách tính lãi trong hạn tập trung ở ba vấn đề: Một là, cơ quan xét xử không nhất quán khi vừa áp dụng trần lãi suất cho vay bằng 150% lãi suất cơ bản cho cả giai đoạn được phép thỏa thuận lãi suất 16
  17. trước ngày 19/5/2008; vừa không áp dụng mức trần với thỏa thuận lãi suất trong giai đoạn từ 19/5/2008 về sau. Hai là, tranh chấp lãi suất do TCTD tính lãi cộng dồn gây thiệt hại cho khách hàng. Ba là, cơ quan xét xử chia bình quân lãi suất trong thời gian vay để xác định tính hợp pháp của thỏa thuận lãi suất trong từng giai đoạn tương ứng với từng cơ chế điều hành lãi suất của NHNN. I.1.c Lãi suất nợ quá hạn và cách tính lãi đối với khoản nợ quá hạn Lãi suất nợ (gốc) quá hạn là một trong những nội dung thường xảy ra tranh chấp trong hoạt động tín dụng. Trên thực tế việc áp dụng cách tính lãi suất nợ quá hạn còn nhiều vấn đề chưa được rõ ràng. Hiện nay trong pháp luật Việt Nam có hai quy định không thống nhất về cách thức tính lãi suất quá hạn. Cách thứ nhất theo quy định tại Khoản 5 Điều 474 BLDS 2005 thì lãi suất quá hạn được tính không vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Trong khi đó cách tính thứ hai căn cứ vào pháp luật chuyên ngành là Khoản 2 Điều 11 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN lãi suất quá hạn không vượt quá 150% lãi suất trong hạn. Theo đó, có nhiều tranh chấp xảy ra về cách tính lãi suất nợ quá hạn mà nhiều bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị vì lí do này. Trên thực tế, cơ quan tài phán cũng không hoàn toàn nhất quán trong quá trình giải quyết. Việc áp dụng quy định của pháp luật chuyên ngành hay quy định của BLDS cũng chứng tỏ không ít sự lúng túng của cơ quan có thẩm quyền. Một số vụ việc cụ thể như sau có thể chứng minh rằng việc áp dụng pháp luật vẫn còn nhiều bất cập khiến quyền lợi của các bên tranh chấp bị ảnh hưởng. Dưới đây là 2 vụ xét xử về hợp đồng tín dụng ở TAND tỉnh Sóc Trăng sau đó được phúc thẩm lại tại TANDTC ở TP Hồ Chí Minh. NHTMCP Việt Nam Thương Tín (sau đây gọi là VietBank) kiện bà Phan Ngọc H. Nội dung vụ việc như sau:  HĐTD số 686/NHVNTT ngày 26/11/2007 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01/HĐSĐ,BS ngày 04/7/2008.  Số tiền vay 250.000.000 đồng.  Thời hạn vay là 12 tháng từ ngày 27/11/2007 đến 27/11/2008.  Lãi suất vay được tính từ ngày 27/11/2007 đến 04/7/2008 là 1,05%/tháng, từ ngày 04/7/2008 trở đi là 1,75%/tháng. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay.  Ngày 28/12/2008, bà H. kí cam kết sẽ trả đủ số tiền vốn vay 250.000.000 đồng và tiền lãi cho ngân hàng sau 3 tháng kể từ ngày đến hạn trả nợ. Bản án sơ thẩm số 06/2009/KDTM-ST ngày 28/9/2009 căn cứ vào Khoản 1 Điều 476 BLDS 2005 và Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN ngày 16/5/2008 và Quyết định số 2538/QĐ-NHNN ngày 31/10/2007 về lãi suất cơ bản là 8,25%/năm, lãi suất cho vay không vượt quá 150% lãi suất cơ bản, vậy lãi suất cho vay tối đa 17
  18. là 12,375%/năm (bằng 1,03%/tháng). Ngân hàng thỏa thuận cho phía bị đơn vay mức lãi suất là 1,05%/tháng là cao hơn mức trần lãi suất cho vay. Do đó, tòa điều chỉnh tính lãi trong hạn từ ngày 27/11/2007 đến 04/7/2008 là: 250.000.000 x 7 tháng 7 ngày x 1,03%/tháng = 18.625.833 đồng. Tương tự, TAND tỉnh Sóc Trăng giải quyết tranh chấp HĐTD giữa nguyên đơn cũng là VietBank và bà Trần Thị Hoàng A. và ông Võ Minh T. (Phụ lục 2).  HĐTD số 739/NHVNTT ngày 14/12/2007 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 01/HĐSĐ,BS ngày 04/7/2008.  Số tiền vay 120.000.000 đồng.  Thời hạn vay 12 tháng từ ngày 14/12/2007 đến 14/12/2008.  Lãi suất từ 14/12/2007 đến 04/7/2008 là 1,05%/tháng, từ ngày 04/7/2008 trở đi là 1,75%/tháng.  Bà A. và ông T. đã trả lãi cho VietBank từ ngày vay đến ngày 14/9/2008 và chưa thanh toán nợ gốc. Trong quá trình giải quyết, tòa cấp sơ thẩm TAND tỉnh Sóc Trăng cũng tuyên áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố vào thời điểm xét xử sơ thẩm là 7%/năm (theo Quyết định số 2232/QĐ-NHNN ngày 24/9/2009). Ở cả hai vụ việc này, VietBank đều kháng cáo về việc áp dụng lãi suất nợ quá hạn. VietBank cho rằng theo Khoản 2 Điều 11 của Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN, lãi suất quá hạn phải được xác định bằng 150% lãi suất trong hạn trong hợp đồng là 150% x 1,75%/tháng. Tòa phúc thẩm TANDTC tại TPHCM xét xử phúc thẩm cho rằng việc áp dụng quy định của BLDS 2005 là hợp pháp và không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn tại bản án số 56/2010/KDTM-PT và 57/2010/KDTM-PT cùng ngày 08/4/2010. Khác với hai vụ việc trên, trong vụ “Ly hôn và tranh chấp tài sản” sau đây, cơ quan chức năng lại đưa ra cách giải quyết ngược lại. Ông Trịnh Xuân B. và bà Lê Thị Thanh N. kí với NHTMCP Á Châu (sau đây gọi là ACB) hai HĐTD.  Hợp đồng thứ nhất PHT.CN.01080907 ngày 10/9/2007 và HĐTD trung, dài hạn số 29900799 ngày 10/9/2007, nợ vốn 1.744.447.000 đồng nợ gốc và lãi 146.533.546 đồng.  Hợp đồng thứ hai PHT.CN.01171107 ngày 19/11/2007 và HĐTD trung, dài hạn số 32276929 ngày 20/11/2007, tổng số tiền 633.326.000 đồng nợ vốn và 34.075.314 đồng nợ lãi. Bản án sơ thẩm số 61/2009/HNST ngày 31/12/2009 của TAND quận 10 (TPHCM) tuyên tiền lãi của ACB sẽ được tính tiếp tục kể từ ngày 01/01/2010 với mức lãi suất cơ bản theo quy định của NHNN trên tổng số dư nợ gốc thực tế cho đến khi trả hết nợ gốc căn cứ vào BLDS 2005. Sau đó ACB kháng cáo cho rằng ông B., bà N. phải chịu lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn từ 18
  19. 01/01/2010 đến ngày trả dứt nợ. Tòa phúc thẩm TANDTC tại TPHCM chấp nhận kháng cáo của ACB. Có thể thấy rằng cùng một tình tiết và cùng Tòa phúc thẩm TANDTC nhưng cách thức giải quyết vụ việc lại khác nhau, tương ứng với hai cách tính lãi suất quá hạn. Cách thứ nhất theo quy định tại Khoản 5 Điều 474 BLDS 2005 thì lãi suất quá hạn được tính không vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Trong khi đó cách tính thứ hai căn cứ vào pháp luật chuyên ngành là Khoản 2 Điều 11 Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN lãi suất quá hạn không vượt quá 150% lãi suất trong hạn. Khi áp dụng quy định về lãi suất nợ quá hạn của BLDS, người bị thiệt hại sẽ là TCTD, vì lãi suất cho vay trong hạn luôn cao hơn so với lãi suất cơ bản của NHNN quy định. I.2. Dạng tranh chấp về định giá, xử lý tài sản bảo đảm đối với những HĐTD có bảo đảm bằng tài sản Dạng tranh chấp chiếm một tỷ lệ khá lớn trong HĐTD là dạng tranh chấp về định giá, xử lý tài sản bảo đảm đối với những HĐTD có bảo đảm bằng tài sản. Đối với những hợp đồng cho vay tiêu dùng, việc xác định tài sản bảo đảm thuộc sở hữu của vợ chồng hay tài sản riêng của từng người có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động xử lý tài sản này. Có nhiều trường hợp các nhân viên ngân hàng thẩm định không kỹ, kết quả thẩm định không chính xác dẫn đến chấp nhận những tài sản bảo đảm không đúng quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm. Đối với những hợp đồng cho vay kinh doanh, liên quan tới xác định tài sản bảo đảm có thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên khách hàng hay không, tổ chức đó có đủ tư cách pháp lý theo quy định của pháp luật để tiến hành ký kết hợp đồng không? Trên thực tế, khi HĐTD được ký kết thì phía ngân hàng mới biết bên khách hàng ký không đúng thẩm quyền. Trường hợp giả định: Ngân hàng A có nhận được hồ sơ vay vốn của 1 khách hàng B là vừa mới ly hôn có quyết định của của Toà án, nhưng trong quyết định của Toà không có phân xử về tài sản mà chỉ giao việc nuôi con chung. Trước khi có quyết định của Toà khách hàng B và vợ cũ B đã có biên bản thoả thuận phân chia tài sản (có gởi cho Toà). Vậy ngân hàng có thể căn cứ vào Biên bản phân chia tài sản giữa ông B và vợ để nhận thế chấp tài sản được không? (Giấy chứng nhận quyền sở hữu đất đứng tên cả 2 người). Việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận, nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết. Trong quá trình yêu cầu ly hôn, vợ chồng ông không có yêu cầu Tòa án giải quyết mà chỉ cung cấp Biên bản thỏa thuận phân chia tài sản. Vì vậy, Biên bản thỏa thuận nói trên chỉ là sự ghi nhận ý chí của các bên trong việc phân chia tài sản chứ chưa đủ giá trị pháp lý để ông B bảo lãnh thế chấp vay vốn. 19
  20. Tranh chấp phát sinh từ HĐTD còn là những tranh chấp về luật áp dụng và cơ quan giải quyết tranh chấp trường hợp một trong hai bên là bên nước ngoài mà khi ký kết hợp đồng các bên đã không thoả thuận lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp cũng như luật áp dụng. Tranh chấp phát sinh ngày càng nhiều, diễn biến cũng đa dạng và có tính chất phức tạp. Do đó, việc tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp là hết sức cần thiết. Từ đó, có những biện pháp, đường lối, chính sách nhằm khắc phục tình trạng tranh chấp để tiến tới giảm đáng kể số lượng tranh chấp. II. Những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp hợp đồng tín dụng Nguyên nhân gây ra tranh chấp HĐTD rất đa dạng, có thể xem xét theo nhiều tiêu thức khác nhau. Một trong những cách tiếp cận thông dụng là phân tích nguyên nhân gây ra từ phía bên cho vay, bên vay và những quy định của pháp luật. II.1. Nguyên nhân từ phía bên cho vay có thể bao gồm : Ngân hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ giải ngân cho khách hàng như đã cam kết. Các tổ chức tín dụng không chấp hành nghiêm chỉnh chế độ tín dụng và điều kiện cho vay. Nhiều tổ chức cho vay không tiến hành quy trình thẩm định theo nguyên tắc 6cs, điều mà các định chế tài chính quốc tế luôn cảnh báo là: 6cs tính cách người vay (character), năng lực trả nợ (capacity), dòng tiền mặt (cash folow), tài sản thế chấp (collaral), các điều kiện môi trường (conditions), sự kiểm soát (control), mà vẫn dựa vào cảm tính của các nhân viên ngân hàng. Điều này, tạo điều kiện cho các tổ chức “tín dụng đen” ngày càng được tổ chức ở phạm vi rộng rãi hơn, quy mô hơn và nhiều người đã trở thành nạn nhân của các tổ chức này. Trên thực tế, bên cho vay khi tiến hành thẩm định cũng không thể kiểm tra được bên vay có thông qua một tổ chức tín dụng đen nào không. Chính sách và quy trình cho vay chưa thực sự chặt chẽ, chưa có quy trình quản trị rủi ro hữu hiệu, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng để tính toán điều kiện và khả năng trả nợ của khách hàng khi đáo hạn. Ở Việt Nam, các ngân hàng thường dựa chủ yếu vào giá trị tài sản bảo đảm để quyết định cho vay nên nhiều khi bỏ qua nhiều khách hàng tiềm năng. Bên cho vay chấp hành chưa đầy đủ các điều kiện về biện pháp bảo đảm tiền vay của Ngân hàng Nhà nước, chưa phân tích, đánh giá các điều kiện về biện pháp bảo đảm tiền vay. Nhiều tổ chức tín dụng khi đánh giá về biện pháp bảo đảm tiền vay chỉ dựa vào nguồn số liệu khách hàng cung cấp chưa có sự kiểm chứng các sổ sách kế toán và thực tiễn kiểm kê. Phần lớn các nhân viên tín dụng phân 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2