intTypePromotion=1

Tiểu luận: Lý luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của C.Mác. Ý nghĩa của nó đối với vấn đề huy động và sử dụng vốn ở nước ta hiện nay

Chia sẻ: Nguyễn Hưng | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:31

0
377
lượt xem
67
download

Tiểu luận: Lý luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của C.Mác. Ý nghĩa của nó đối với vấn đề huy động và sử dụng vốn ở nước ta hiện nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong mọi nền kinh tế, sự gia tăng tư bản và giá trị thặng dư luôn là quan tâm hàng đầu của các nhà tư bản, để đi đến những mục tiêu đó, thì tuần hoàn và chu chuyển tư bản chính là những định hướng cơ bản mà nền kinh tế phải dựa vào. Lựa chọn đề tài “ Lý luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của C.Mác.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Lý luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của C.Mác. Ý nghĩa của nó đối với vấn đề huy động và sử dụng vốn ở nước ta hiện nay

  1. Tiểu luận Lý luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của C.Mác. Ý nghĩa của nó đối với vấn đề huy động và sử dụng vốn ở nước ta hiện nay Nhóm 5 1
  2. Phần 1: LỜI MỞ ĐẦU Trong mọi nền kinh tế, sự gia tăng tư bản và giá trị thặng dư luôn là quan tâm hàng đầu của các nhà tư bản, để đi đến những mục tiêu đó, thì tuần hoàn và chu chuyển tư bản chính là những định hướng cơ bản mà nền kinh tế phải dựa vào. Lựa chọn đề tài “ Lý luận tuần hoàn và chu chuyển tư bản của C.Mác. Ý nghĩa của nó đối với vấn đề huy động và sử dụng vốn ở nước ta hiện nay ’’ là dựa trên một số lý do sau: -Thứ nhất, tuần hoàn và chu chyển là điều kiện để tư bản lớn lên và đồng thời tạo ra giá trị thặng dư nhờ đó mà nền kinh tế mới phát triển được. -Thứ hai, tuần hoàn và chu chuyển giống như một con đường mà bất kỳ một nhà tư bản nào muốn tồn tại và phát triển thì buộc phải đi. Vì chỉ khi hiểu được bản chất, những điều kiện và các yếu tố liên quan đến quá trình lưu thông thì người ta mới có thể tham gia vào quá trình sản xuất và tạo ra giá trị thặng dư. -Thứ ba, ngày nay nền kinh tế chịu nhiều yếu tố tác động về mọi mặt. V ì vậy, việc bám sát vào quá trình tuần hoàn và chu chuyển có thể giúp cho các nhà tư bản có thể phát triển dây truyền sản xuất, định hướng và hoạch định chiến lược một cách đúng đắn và phù hợp hơn. Nhờ đó mới có thể đứng vững và tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. -Thứ tư, từ việc lấy ví dụ thực tế về vấn đề huy động và sử dụng vốn của nước ta hiện nay trong những năm gần đây sẽ góp phần hiểu rõ hơn về ý nghĩa lý luận tuần hoàn và chu chuyển tuần hoàn của C.Mác. Thêm vào đó đây là một vấn đề rất nhạy cảm hiện nay vì để thực hiện điều này thì đòi hỏi sự nhạy bén và sự đúng đắn cao độ nếu không sẽ rất dễ dẫn đến những hậu quả khôn lường. Từ những kết quả trong thực tế cho thấy: Nếu sử dụng hợp lý nó sẽ góp phần không nhỏ đến sự phát triển chung của nền kinh tế. Ngược lại, nếu không biết cách khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn vốn có thể dẫn đến những sai lần ngiêm trọng gây thất thoát nguồn tài chính quý báu đồng thời cũng ảnh hưởng tới nhiều yếu tố khác . . Bên cạnh đó, việc tìm hiểu về tuần hoàn và chu chuyển tư bản là một yếu tố cần thiết cho tiền đề phát triển của nền sản suất nói riêng và nền kinh tế nói Nhóm 5 2
  3. chung, điều này góp phần làm cho mọi người hiểu rõ hơn một phần nào đó về quá trình lưu thông của tư bản và giá trị thặng dư. Bài thảo luận dựa vào phương pháp tìm hiểu, thống kê, phân tích số liệu trong thực tế, cùng với phân tích những luận điểm trong giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và một số sách tham khảo khác. Trong bài làm còn có nhiều sai sót rất mong có sự đóng góp thêm của tất cả các bạn và cô giáo. Nhóm 5 3
  4. Phần 2: Cơ sở lý thuyết 1.TIỀN VÀ SỰ CHUYỂN HÓA CỦA TIỀN THÀNH TƯ BẢN. 1.1 Sự ra đời của tiền Khi nền kinh tế thị trường phát triển, con người có nhu cầu trao đổi hàng hóa với nhau. Lúc đầu người ta trao đổi một cách rất ngẫu nhiên với nhau bằng các vật ngang giá, nhưng càng về sau, khi lực lượng sản xuất và phân công lao động phát triển cao, sản xuất hàng hóa và thị trường ngày càng mở rộng, hàng hóa vô cùng nhiều về số lượng, phong phú, đa dạng về chủng loại mẫu mã. Lúc này để trao đổi hàng hóa thì xuất hiện rất nhiều vật ngang giá chung làm cho sự trao đổi giữa các địa phương, các vùng miền trở nên hết sức khó khăn dẫn đến đòi hỏi một khách quan là cần phải có một vật ngang giá chung nhất. Và khi vật ngang giá chung nhất này xuất hiện, chiếm vị trí độc tôn, là vật để đánh giá mọi mức độ giá trị của các vật khác thì vật ngang giá đó được coi là tiền. Đã có nhiều loại tiền trên khắp thế giới nhưng về sau được cố định lại ở hai kim loại quý là bạc, vàng và cuối cùng là vàng. Sở dĩ bạc và vàng đóng vai trò tiền tệ là do những ưu điểm của nó như: thuần nhất về chất, dễ chia nhỏ, không hư hỏng, với một lượng nhỏ nhưng chứa đựng giá trị lớn. Về bản chất, tiền tệ là một loại hàng hóa đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hàng hóa làm vật ngang giá chung thống nhất cho các hàng hóa khác, nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa. 1.2 Công thức chung của tư bản Tiền là sản vật cuối cùng của lưu thông hàng hóa, đồng thời cũng là hình thức biểu hiện đầu tiên của tư bản. Mọi tư bản lúc đầu đều biểu hiện dưới hình thái một số tiền nhất định. Nhưng bản thân tiền không phải là tư bản. Tiền chỉ biến thành tư bản trong những điều kiện nhất định, khi chúng được sử dụng để bóc lột lao động của người khác. Nhóm 5 4
  5. Tiền được coi là tư bản vận động theo công thức: T - H - T ( tiền - hàng - tiền), tức là sự chuyển hóa của tiền thành hàng hóa, rồi hàng hóa lại chuyển hóa ngược lại thành tiền. Nhìn vào công thức chung của tư bản ta thấy có hai sự vận động, do hai giai đoạn đối lập nhau là mua và bán hợp thành, trong mỗi giai đoạn đều có hai nhân tố vật chất đối diện nhau là tiền và hàng tạo thành, hai người có quan hệ kinh tế với nhau là người mua và người bán. Lưu thông của tư bản bắt đầu từ việc mua (T - H) và kết thúc bằng việc bán (H - T). Trong đó tiền vừa là điểm xuất phát vừa là điểm kết thúc của quá trình, hàng hóa chỉ đóng vai trò trung gian; tiền ở đây không được chi ra dứt khoát mà chỉ là ứng ra rồi thu về. Mục đích của lưu thông tư bản không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, hơn thế nữa là giá trị tăng thêm. Vì vậy nếu số tiền thu về bằng số tiền ứng ra th ì vô nghĩa. Do đó, số tiền thu về phải lớn hơn số tiền ứng ra, nên công thức vận động đầy đủ của tư bản là T - H - T’, trong đó T’= T + ΔT. Số tiền trội hơn so với số tiền ứng ra gọi là giá trị thặng dư. Số tiền ban đầu đã chuyển hóa thành tư bản. Vậy tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Mục đính lưu thông tư bản là sự lớn lên của giá trị, là giá trị thặng dư, nên sự vận động của tư bản là không có giới hạn, vì sự lớn lên của giá trị là không có giới hạn. 1.3 Mâu thuẫn trong công thức chung của tư bản. Khi đưa tiền vào lưu thông, số tiền trở về tay người chủ sau khi kết thúc quá trình lưu thông tăng thêm một giá trị là T. Vậy có phải do lưu thông đã làm tăng thêm lượng tiền đó hay không? Trong lưu thông ta xét 2 trường hợp trao đổi ngang giá và trao đổi không ngang giá: Nếu hàng hoá trao đổi ngang giá thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị còn tổng số giá trị cũng như phần thuộc về mỗi bên trao đổi thì trước sau cũng không thay đổi. Về mặt giá trị sử dụng hai bên cùng có lợi còn về mặt giá trị thì cả hai bên cùng không có lợi. Như vậy trao đổi ngang giá thì không ai thu được lợi từ lưu thông một lượng giá trị lớn đã bỏ ra. Trong trường hợp trao đổi không ngang giá, nếu người bán bán hàng hóa với một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị của hàng hóa đó như vậy người bán Nhóm 5 5
  6. có được giá trị thặng dư. Nhưng bù lại người mua lại bị mất đi một lượng giá trị đó. Ngược lại, nếu người bán bán hàng hóa của anh ta với một lượng giá trị nhỏ hơn lượng giá trị thực của hàng hóa đó thì anh ta bị mất đi một lượng giá trị thặng dư và người mua của anh sẽ có được lượng giá trị thặng dư đó. Trong một vài trường hợp thì đây có thể coi là cách làm dầu lên của một số người, và họ có được giá trị thặng dư thật trong lưu thông. Những người giàu có lên kia là do họ cướp đoạt giá trị thặng dư đó trên tay của người khác chứ không phải họ tạo thêm ra từ sự bóc lột sức lao động của riêng ai. Nhưng những người này là quá ít, quá nhỏ bé trong xã hội, không thể đại diện cho một tầng lớp nào trong xã hội. Hơn thế nữa nếu xét trên một tổng thể toàn thế giới thì lượng giá trị thặng dư không thay đổi. Do đó dù khi trao đổi ngang giá hay không ngang giá thì cũng không tạo ra giá trị thặng dư. Lưu thông hàng hoá không tạo ra giá trị thặng dư. Như vậy, liệu giá trị thặng dư có phát sinh ngoài lưu thông được không? Thực tế người sản xuất hàng hoá không thể biến tiền của mình thành tư bản nếu không tiếp xúc với lưu thông. “Vậy tư bản không thể xuất hiện trong lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông”. Đó là mâu thuẫn của công thức chung của t ư bản. 1.4 Các công thức của tư bản - Công thức chung của tư bản công nghiệp: Sức lao động T-H - H’ - T’ Tư liệu sản xuất Trong công thức chung của tư bản công nghiệp, cũng như công thức chung của tư bản, điểm xuất phát và điểm kết thúc đều là tiền. Mục đích của các nhà tư bản công nghiệp ở đây là dùng tiền để mua hàng hóa gồm tư liệu sản xuất và sức lao động rồi nhờ sức lao động mà họ mua để, làm thay đổi tư liệu sản xuất làm ra một hàng hóa khác. Và bán với một số tiền T’ lớn hơn số tiền đã mua vào ban đầu để lấy giá trị thặng dư. - Công thức chung của tư bản thương nghiệp: T - H - T’ Nhóm 5 6
  7. Nhà tư bản thương nghiệp dùng tiền của mình để mua hàng hóa của các nhà sản xuất rồi bán ra với giá cao hơn. Thực chất khi nhà tư bản thương nghiệp mua hàng hóa của nhà tư bản công nghiệp thì có nghĩa là nhà tư bản thương nghiệp đã gúp tư bản công nghiệp lưu thông hàng hóa, quay vòng vốn nhanh hơn, kiếm được nhiều lợi nhuậ n hơn. Vì thế nhà tư bản công nghiệp sẵn sàng bỏ ra một lượng giá trị thặng dư mà họ đã bóc lột từ sức lao động làm thuê cho các nhà tư bản thương nghiệp để hàng hóa của mình được lưu thông. Vậy lượng tiền hay giá trị thặng dư mà nhà tư bản thương nghiệp có được cũng là giá trị thặng dư bóc lột được từ sức lao động của công nhân làm thuê. - Công thức chung của tư bản cho vay: T - Cho vay - T’ Các nhà tư bản cho vay dùng tiền của mình để cho người khác vay với một lãi xuất họ cho là hợp lí rồi sau một thời gian họ sẽ thu lại được một khoản tiề n khác lớn hơn khoản tiền họ bỏ ra. Lúc này họ cũng đã có thêm một lượng giá trị thặng dư mới từ lượng tư bản mà họ đã bỏ ra. Về bản chất, các nhà tư bản công nghiệp là người vay tiền của các nhà tư bả n cho vay để lấy vốn đầu tư, sản xuất, có thể là mua thêm tư liệu sản xuất và sức lao động để tạo thêm ra giá trị thặng dư cho họ. Các nhà tư bản công nghiệp này muốn có thêm vốn để có thể có thêm nhiều giá trị thặng dư hơn thì họ phải nhường một lượng tư bản nhất định cho tư bản cho vay. Nói cách khác tư bản cho vay có được lượng giá trị thặng dư là nhờ sự bóc lột sức lao động của các lao động làm thuê. Lượng giá trị thặng dư đó thực chất là được bóc lột từ các công nhân lao động mà nhà tư bản công nghiệp đã thuê về. - Công thức chung của tư bản ngân hàng: T - Ngân hàng - T’ Nhà tư bản ngân hàng là một nhà tư bản đặc biệt, họ là những người kinh doanh một mặt hàng đặc biệt đó là tiền. Tiền được họ bỏ ra thực hiện hai hoạt động đồng thời cùng xảy ra trong một lúc là cho các nhà tư bản công nghiệp hay các nhà tư bản khác vay như một nhà tư bản cho vay, và đồng thời họ cũng đi vay tiền của bất kì ai kể cả là các nhà tư bản hay các công nhân,...miễn là họ có tiền và sau một thời gian sẽ trả lại với một lượng lớ n hơn. Tư bản ngân hàng hoạt động theo kiểu vừa cho vay có lãi xuất vừa đi vay có lãi xuất, và họ thu được giá trị thặng dư nhờ lãi xuất họ cho vay lớn hơn lãi xuất họ đi vay. Nhóm 5 7
  8. Các nhà tư bản khác tìm đến vay tiền của tư bản ngân hàng là để có thêm vố n để sản xuất kinh doanh, họ cũng sẵn sàng nhường một phần giá trị thặng dư mà mình kiếm được cho tư bản ngân hàng. Những người có tiền khác cho nhà tư bản ngân hàng vay cũng là để lấy một lượng giá trị thặng dư mà nhà tư bả n ngân hàng nhận được từ tư bản sản xuất. Nhà tư bản ngân hàng nhận được khoản giá trị thặng dư lớn hơn khoản giá trị thặng dư mà họ phải trả cho người có tiền cho họ vay và họ vẫn có lãi. - Công thức chung của tư bản kinh doanh ruộng đất: T - Ruộng đất - T’ Nhà tư bản ruộng đất có ruộng đất và họ cho một nhà tư bản công nghiệp nào đó thuê trong một thời gian để họ có điều kiện sản xuất, có thêm được giá tr ị thặng dư. Nhưng bù lại, nhà tư bản công nghiệp đó phải nhượng lại một phầ n giá trị thặng dư mà mình sản xuất ra được kiế m được từ việc bóc lột công nhân làm thuê cho nhà tư bản kinh doanh ruộng đất. Vậy suy cho cùng thì lượng giá trị thặng dư mà nhà tư bản ruộng đất có cũng là lượng giá trị thặng dư mà các lao động làm thuê bị bóc lột. Nhà tư bản kinh doanh ruộng đất lúc này trở thành người gián tiếp bóc lột các lao động làm thuê. 2.TUẦN HOÀN CỦA TƯ BẢN Tư bản công nghiệp trong quá trình tuần hoàn đều vận động theo công thức: Sức lao động T-H ...SX...- H’ - T’ Tư liệu sản xuất Sự vận động này trải qua ba giai đoạn: hai giai đoạn lưu thông và một giai đoạn sản xuất. - Giai đoạn thứ nhất- giai đoạn lưu thông. Nhà tư bản xuất hiện trên thị trường các yếu tố sản xuất, để mua tư liệu sản xuất và sức lao động. Quá trình lưu thông đó được biểu thị như sau: Sức lao động T-H Nhóm 5 8 Tư liệu sản xuất
  9. Giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản tiền tệ, chức năng giai đoạn này là mua các yếu tố cho quá trình sản xuất, tức là biến tư bản tiền tệ thành tư bản sản xuất. - Giai đoạn thứ hai- giai đoạn sản xuất Sức lao động T-H ...SX...- H’ Tư liệu sản xuất Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thức tư bản sản xuất (TBSX), có chức năng thực hiện sự kết hợp hai yếu tố tư liệu sản xuất và sức lao động để sản xuất ra hàng hóa mà trong đó giá trị của nó có giá trị thặng dư. Trong các giai đoạn tuần hoàn của tư bản thì giai đoạn sản xuất có ý nghĩa quyết định nhất, vì nó gắn trực tiếp với mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Kết thúc của giai đoạn thứ hai là tư bản sản xuất chuyển hóa thành tư bản hàng hóa. - Giai đoạn thứ 3- giai đoạn lưu thông H’- T’ Trong giai đoạn này tư bản tồn tại dưới hình thái tư bản hàng hóa, chức năng là thực hiện giá trị của khối lượng hàng hóa đã sản xuất ra. Trong giai đoạn này, nhà tư bản trở lại thị trường với tư cách là người bán hàng. Hàng hóa của nhà tư bản được chuyển hóa thành tiền. Kết thúc giai đoạn thứ ba, tư bản tư bản hàng hóa chuyển hóa thành tư bản tiền tệ. đến đây mục đích của nhà tư bản đã được thực hiện,tư bản quay trở lại hình thái ban đầu trong tay chủ của nó, nhưng với số lượng lớn hơn trước. Sự vận động của tư bản qua ba giai đoạn nói trên là sự vận động có tính tuần hoàn: tư bản ứng ra dưới hình thái tiền tệ và rồi đến khi quay trở về cũng dưới hình thái tiền có kèm theo giá trị thặng dư. Quá trình đó tiếp tục được lặp đi lặp lại không ngừng gọi là sự vận động tuần hoàn của tư bản. Tư bản vận động qua 3 giai đoạn, qua mỗi giai đoạn tư bản tồn tại dưới một hình thức và làm trên một chức năng nhất định. ở giai đoạn một tư bản tồn tại dưới hình thức tư bản tiền tệ mà chức năng của nó là mua hàng hoá. C ụ thể hơn chính là mua tư liệu sản xuất và sức lao động. ở giai đoạn hai, tư bản Nhóm 5 9
  10. tồn tại dưới hình thức tư bản sản xuất mà chức năng của nó là sản xuất ra giá trị thặng dư. Cụ thể hơn ở giai đoạn này nhà tư bản sử dụng sức lao động tác động lên tư liệu sản xuất để tạo nên sản phẩm. Lao động của công nhân làm thuê sẽ tạo ra một lượng sản phẩm mà nhà tư bản không phải trả bằng vật ngang giá đó là giá trị thặng dư. ở giai đoạn ba tư bản tồn tại dưới hình thức tư bản hàng hoá chức năng của nó là thực hiện giá trị và giá trị thặng dư. ở giai đoạn này nhà tư bản đem hàng hoá ra thị trường bán, trong hàng hoá công nhân làm thêm. Nhà tư bản đem về giá trị bán được lớn hơn lượng giá trị bỏ ra ban đầu. Từ quá trình vận động của nhà tư bản ta rút ra định nghĩa về sự tuần hoàn của tư bản. Tuần hoàn của tư bản là sự vận động liên tục của tư bản trải qua ba giai đoạn, lần lượt mang ba hình thái khác nhau, thực hiện ba chức năng khác nhau để rồi lại quay về hình thái ban đầu có kèm theo giá trị thặng dư. Vậy quá trình tuần hoàn của tư bản là sự thống nhất giữa lưu thông và sản xuất, nó bao hàm cả hai. Trong những khâu, những giai đoạn nhất định nó thực hiện một chức năng nhất định. Giai đoạn I và giai đoạn III sự vận động của tuần hoàn diễn ra trong lưu thông. ở hai giai đoạn này nó thực hiện chức năng mua các yếu tố sản xuất và bán hàng hoá có chứa đựng cả giá trị thặng dư. Giai đoạn II diễn ra trong sản xuất, thực hiện chức năng sản xuất giá trị và giá trị thặng dư. Giai đoạn II mang tính chất quyết định và chỉ trong giai đoạn này mới sáng tạo ra giá trị và giá trị thặng dư. Nhưng cũng không vì vậy mà ta phủ nhận vai trò của lưu thông vì nếu không có lưu thông việc sản xuất hàng hoá sẽ bị đình trệ, chúng ta không thể nào tái sản xuất tư bản chủ nghĩa do đó tư bản cũng không tồn tại được. Tư bản chỉ có thể tuần hoàn một cách bình thường trong điều kiện các giai đoạn phải kế tiếp nhau liên tục, không ngừng. Nếu mà gián đoạn ở đâu thì sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình tuần hoàn của tư bản. Mặt khác tư bản cũng chỉ tuần hoàn một cách bình thường nếu tất cả tư bản của các nhà tư bản phải tồn tại ở ba hình thức: tư bản tiền tệ, tư bản sản xuất và tư bản hàng hoá, và một bộ phận thứ ba là tư bản hàng hoá phải biến thành tư bản tiển tệ. Không chỉ từng tư bản cá biệt mới thế mà điều này đòi hỏi tất cả các tư bản Nhóm 5 10
  11. trong xã hội cũng phải thế. Các tư bản không ngừng vận động, không ngừng trút bỏ hình thức này để mang hình thức khác, thông qua quá trình vận động này tư bản lớn lên. 3.CHU CHUYỂN CỦA TƯ BẢN Sự tuần hoàn của tư bản, nếu xét nó là một quá trình định kỳ đổi mới và lặp đi lặp lại, chứ không phải là một quá trình cô lập riêng lẻ thì gọi là chu chuyển của tư bản. Những tư bản khác nhau chu chuyển với vận tốc khác nhau tùy theo thời gian sản xuất và thời gian lưu thông của hàng hóa. Thời gian chu chuyển của tư bản là khoảng thời gian kể từ khi tư bản ứng ra dưới một hình thức nhất định (tiền tệ, sản xuất, hàng hoá) cho đến khi nó trở về tay nhà tư bản do cùng dưới hình thức như thế nhưng có thêm giá tr ị thặng dư. Thời gian chu chuyển của tư bản bao gồm thời gian sản xuất và thời gian lưu thông. Thời gian sản xuất là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực sản xuất. Thời gian sản xuất gồ m thời gian lao động, thời gian gián đoạn lao động và thời gian dự trữ sản xuất. Thời gian sản xuất của tư bản dài hay ngắn là do tác động của nhiều yếu tố như : - Tính chất của ngành sản xuất, như ngành đóng tài thời gain sản xuất nhất định phải dài hơn ngành dệt vải, dệt thảm trơn ngắn hơn dệt thảm trang trí hoa văn. - Quy mô hoặc chất lượng sản phẩm, như xây dựng một xí nghiệp mất thời gian dài hơn xây dựng một nhà ở thông thường. - Thời gian vật sản xuất chịu tác động của quá trình tự nhiên dài hay ngắn - Năng suất lao động - Dự trữ sản xuất đủ hay thiếu - V.v… Thời gian lưu thông là thời gian tư bản nằm trong lĩnh vực lưu thông. Trong thời gian lưu thông , tư bản không làm chức năng sản xuất , do đó không sản xuất ra hàng hóa, cũng không sản xuất ra giá trị thặng dư. Thời gian lưu thông gồm có thời gian mua và thời gian bán hàng hóa. Thời gian lưu thông dài hay ngắn là do các nhân thố sau đây quy định: thị trường xa hay Nhóm 5 11
  12. gần, tình hình thị trường xấu hay tốt, trình độ phát triển của ngành giao thông vận tải.. Thời gian chu chuyển của tư bản càng ngắn thì càng tạo điều kiện cho giá trị thặng dư được sản xuất ra nhiều hơn, tư bản càng lớn nhanh hơn. Số vòng chu chuyển Các tư bản khác nhau hoạt động trong những lĩnh vực khác nhau thì số lần chu chuyển trong 1 đơn vị thời gian (1 năm) không giống nhau, nói cách khác, tôc độ chu chuyển của chúng khác nhau. Tốc độ chu chuyển của tư bản đo bằng số lần (vòng) chu chuyển cảu tư bản trong một năm Ta có công thức tính tốc độ chu chuyển của tư bản như sau: n= TGn/TGa Trong đó: n: Số lần chu chuyển cảu tư bản trong 1 năm TGn: Thời gian trong năm TGa: Thời gian chu chuyển của một tư bản nhất định Như vậy, tốc độ chu chuyển cảu tư bản tỷ lệ nghịch với thời gian chu chuyển cảu tư bản. Muốn tăng tốc độ chu chuyển của tư bản phải giảm thời gian san xuất va thời gian lưu thông của nó Lực lượng sản xuất phát triển, kỹ thuật tiến bộ, những tiến bộ về mặt tổ chức sản xuất, việc áp dụng những thành tựu của hóa học, sinh học hiện đại vào sản xuất, phương tiện vận tải và bưu điện phát triển, tổ chức mậu dịch được cải tiển… cho phép rút nagwns thời gian chu chuyển ảu tư bản, dô đó, tăng tốc độ chu chuyển của tư bản. 4. TƯ BẢN CỐ ĐỊNH VÀ TƯ BẢN LƯU ĐỘNG . Các bộ phận khác nhau cảu tư bản sản xuất không chu chuyển một cách giống nhau. Sở dĩ như vậy là vì mỗi bộ phận tư bản dịch chuyển giá trị của nó vào sản phẩm theo những cách thức khác nhau. Căn cứ vào tính chất chu chuyển khác nhau, người ta chia tư bản sản xuất thành hai bộ phận: tư bản cố định va tư bản lưu động. Tư bản cố định là một bộ phận của tư bản sản xuất đồng thời là bộ phận chủ yếu của tư bản bất biến (máy móc, thiết bị, nhà xưởng…) tham gia toàn bộ vào quá trình sản xuất, nhưng giá trị của nó không chuyển hết một lần vào Nhóm 5 12
  13. sản phẩm mà chuyển dần từng phần theo mức độ hao mòn của nó trong quá trình sản xuất. Tư bản cố định được sủ dụng lâu dài trong nhiêu chu kỳ sản xuất và nó b ị hao mòn dần trong quá trình sản xuất. Có 2 loại hao mòn là hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình. Hao mòn hữu hình là hao mòn về vật chất, hao mòn giá trị sử dụng. hoa mòn hữu hình do quá trình sử dụng và sự tác động của tự nhiên làm cho các bộ phận của tư bản cố định dần dần hao mòn tới chỗ hỏng và phải được thay thế. Hao mòn vô hình là s ự hao mòn thuần túy về mặt giá trị. Hoa mòn vô hình xảy ra ngay cả khi máy móc còn tốt nhưng bị mất giá vì xuất hiện các máy móc hiện đại hơn, rẻ hơn hoặc có giá trị tương đương, nhưng công suất cao hơn. Để tránh hao mòn vô hình các nhà tư bản tìm cách kéo dài ngày lao động, tăng cường độ lao động, tăng ca kíp làm việc…nhằm tận dụng máy móc trong thời gian càng ngắn càng tốt. Tăng tốc độ chu chuyển của tư bản cố định là một biện pháp quan trọng để tăng quỹ khấu hao tài sản cố định, làm cho lượng tư bản sử dụng tăng lên tránh được thiệt hại hao mòn hữu hình do tự nhiên phá hủy và hao mòn vô hình gây ra. Nhờ đó mà có điệu kiện đổi mới thiết bị nhanh. Tư bản lưu động là một bộ phận cảu tư bản sản xuất, gồm một phần t ư bản bất biến ( nguyên liệu, vật liệu, vật liệu phụ…) và tư bản khả biến (sức lao động) được tiêu dùng hoàn toàn trong chu kỳ sản xuất và giá trị của nó được chuyển toàn bộ vào sản phẩm trong quá trình sản xuất. Tư bản lưu động chu chuyển nhanh hơn tư bản cố định. Việc tăng tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động có ý nghĩa quan trọng. Một mặt, tốc độ chu chuyển của tư bản lưu động tăng lên sẽ làm tăng lượng tư bản lưu động được sử dụng trong năm, do đó tiết kiệm được tư bản ứng trước: mặt khác do tốc độ chu chuyển của tư bản lựu động khả biến làm cho tỷ suất giá trị thặng d ư trong năm tăng lên. Căn cứ để phân chia tư bản sản xuất thành tư bản cố định và tư bản lưu động là phương thức chuyển dịch giá trị khác nhau của từng bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất. Nhóm 5 13
  14. Phần 3: Thực tiễn 1.KINH TẾ NƯỚC TA HIỆN NAY . Hệ thống kinh tế Kinh tế Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp. Trong khi nền kinh tế ngày càng được thị trường hóa thì sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế vẫn còn ở mức độ cao. Kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Việt Nam có nhiều thành phần kinh tế. Theo cách xác định hiện nay của chính phủ, Việt Nam có các thành phần kinh tế sau: - kinh tế nhà nước - kinh tế tập thể. - kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân). - kinh tế tư bản nhà nước. - kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Cơ cấu kinh tế Kinh tế Việt Nam được chia thành 3 khu vực (hay còn gọi 3 ngành lớn) kinh tế, đó là: 1) nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản. 2) công nghiệp (bao gồm công nghiệp khai thác mỏ và khoáng sản, công nghiệp chế biến, xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất và phân phối khí, điện, nước). Nhóm 5 14
  15. 3) thương mại, dịch vụ, tài chính, du lịch, văn hóa, giáo dục, y tế. Tình hình kinh tế. Công cuộc 15 năm đổi mới của đất nước ta đã tạo được những thành tựu to lớn .Viêt Nam từ một nước phải nhập khẩu lương thực nay đã sản xuất đủ tự cung cấp ,có dự trữ và còn xuất khẩu gạo ....xuất khẩu tăng mạnh ,thâm hụt thương mại giảm .Từ năm 1989 Việt nam bắt đầu xuất khẩu dầu thô,đem lại nguồn thu lớn .Lạm phát được kiềm chế dần dần .Vị thế của nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao .Sức mạnh tổng hợp của quốc gia càng tăng lên rất nhiều ,tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với những triển vọng tốt đẹp .GDP tăng bình quân hàng năm 7% ,gia sản lượng công nghiệp hàng năm 13,5%.Hệ thống kết cấu hạ tầng ,bưu chính viễn thông đường xá ....được tăng cường .Văn hóa xã hội có những tiến bộ ,đời sống nhân dân được cải thiện .Tình hình kinh tế chính trị xã hội được ổn định ,quốc phòng an ninh được tăng cường . 2. Vốn và vấn đề huy động và sử dụng vốn ở nước ta hiên nay . 2.1.khái niệm ,bản chất ,phân loại và vai trò của vốn . 2.1.1. Khái niệm về vốn và nguồn vốn Vốn(C) là biểu hiện bằng tiền của tất cả các nguồn lực đã bỏ ra để đầu tư. Các nguồn lực có thể là của cải vật chất tài nguyên thiên nhiên là sức lao động và tất cả các tài sản vật chất khác. Nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tích luỹ được thể hiện dưới dạng giá trị được chuyển hoá thành vốn đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển của xã Nhóm 5 15
  16. hội. Đây là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và phân phối vốn cho đầu tư phát triển kinh tế đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và của xã hội. 2.1.2. Bản chất của nguồn vốn Xét về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư chính là phần tiết kiệm hay tích luỹ mà nền kinh tế có thể huy động được để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội . 2.1.3. Vai trò của nguồn vốn đầu tư: Để thực hiện hoạt động đầu tư phát triển thì phải có vốn. Vốn là chìa khoá để thực hiện mọi mục tiêu của doanh nghiệp. Vốn có tầm quan trọng đối với hoạt động kinh tế như máu trong cỏ thể người. Kế thừa những tư tưởng của những nhà kinh tế cổ điển,C. Mác đã trình bày những quan điểm của mình về vai trò của vốn qua các học thuyết : tích luỹ , tuần hoàn và chu chuyển, tái sản xuất tư bản xã hội, học thuyết địa tô... Đặc biệt C.Mác đã chỉ ra nguồn gốc của vốn tích luỹ là lao động thặng dư do người lao động tạo ra, và nguồn vốn đó khi đem vào việc mở rộng và phát triển sản xuất thì nó vận động như thế nào. Khi nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa C. Mác đã tìm thấy quy luật vận động tư bản (vốn) mà quy luật này nếu ta trừu tượng những biểu hiện cụ thể về mặt xã hội thì sẽ thấy bổ ích rằng công thức: T – H –(SLĐ-TLSX) ...SX...H’...T’ Công thức đó đã chỉ ra rằng bất kì một doanh nghiệp nào muốn thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh cũng đều phải trải qua 3 giai đoạn: Mua -Sản xuất- Bán hàng. Và điều quan trọng cho mỗi người sản xuất, mỗi doanh nghiệp phải Nhóm 5 16
  17. biết tìm cách cấu trúc một cách khôn ngoan các yếu tố của tiền vốn ,đầu tư nhằm tạo ra nhiều của cải nhất cho mỗi cá nhân , mỗi doanh nghiệp và của cả xã hội. Công thức đó cũng chỉ ra rằng trong dòng chảy liên tục của vốn đầu t ư nếu như hình thái nào trong ba hình thái trên chưa đi vào chu trình vận động liên tục của các hoạt động sản xuất kinh doanh thì đồng vốn đó vẫn ở dạng tiềm năng, chứ nó chưa đem lại lợi ích thiết thực cho mỗi các cá nhân, mỗi doanh nghiệp và toàn xã hội. Tích luỹ vốn (tư bản) theo C.Mác là: “Sử dụng giá trị thặng dư làm tư bản, hay chuyển hoá giá trị thặng dư trở lại thành tư bản...”. Từ những phân tích trên C. Mác đã chỉ ra bản chất của quá trình tích luỹ vốn trong các doanh nghiệp tư bản chủ nghĩa: “Một khi kết hợp đ ược sức lao động và đất đai tức là hai nguồn gốc đầu tiên của cải, thì tư bản có một sức bành chướng cho phép nó tăng những yếu tố tích luỹ của nó lên quá những giới hạn mà bề ngoài hình như do lượng của bản thân tư bản quyết định, nghĩa là do giá trị và khối lượng của những tư liệu sản xuất (trong đó tư bản tồn tại) đã được sản xuất ra quyết định”. Yêu cầu khách quan của tích luỹ vốn đã được C.Mác khẳng định do những nguyên nhân sau :”Cùng với sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thì quy mô tối thiểu mà một tư bản cá biệt phải có để có thể kinh doanh trong điều kiện bình thường cũng tăng lên.” Từ đó C. Mác khẳng định :” Sự cạnh tranh bắt buộc nhà tư bản nếu muốn duy trì tư bản của mình thì phải làm cho tư bản ngày càng tăng thêm mãi lên và không thể nào tiếp tục làm cho tư bản đó ngày càng tăng lên được nếu không có sự tích luỹ ngày càng nhiều thêm”.C. Mác còn chỉ ra rằng những nhân tố quy định quy mô của tích luỹ : khối lượng giá trị thặng dư (lơị nhuận) năng suất lao động xã hội và quy mô vốn ban đầu (lượng tư bản ứng trước)... Nhóm 5 17
  18. Như vậy, cùng với lao động, vốn (tư bản) là một trong các yếu tố đầu vào sản xuất ra hàng hoá, dịch vụ.Công nghệ sản xuất hiện có quyết định mức sản lượng được sản xuất ra từ một lượng tư bản và lao động nhất định. 2.1.4. Phân loại nguồn vốn 2.1.4.1)Vốn ngân sách nhà nước Đây là nguồn vốn lớn và chiếm tỷ trọng thường xuyên . Có nguồn vốn ngân sách vừa là một thế mạnh nhưng cũng tạo không ít hạn chế trong hoạt động quản lý của doanh nghiệp. 2.1.4.2)Nguồn vốn doanh nghiệp tự bổ sung (gồm các hoạt động phát hành cổ phiếu.). Phát hành cổ phiếu là hoạt động tài trợ dài hạn của doanh nghiệp và là nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng của doanh nghiệp. ♦ Cổ phiếu thường. Cổ phiếu thường (còn gọi là cổ phiếu thông thường) là loại cổ phiếu thông dụng nhất, đồng thời là chứng khoán quan trọng nhất đước trao đổi, mua bán trên thị trường chứng khoán. Sau khi phát hành phần lớn cổ phiếu nằm trong tay các nhà đầu tư- các cổ đông. Những cổ phiếu này gọi là những cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường. Công ty phát hành có thể mua lại những cổ phiếu của mình và giữ chúng nhằm mục đích nào đó, chúng được gọi là cổ phiếu ngân quỹ. Việc mua bán những cổ phiếu này phụ thuộc vào một sổ yếu tố như: - Tình hình biến động vốn , khả năng đầu tư,thị giá chứng khoán. Nhóm 5 18
  19. - Chính sách đối với việc sát nhập hoặc thôn tính công ty. -Tình hình trên thị trường chứng khoán và quy định của uỷ ban chứng khoán nhà nước. ♦ Cổ phiếu ưu tiên. Được hiểu là loại cổ phiếu phát có kèm theo một số điều kiện ưu tiên cho nhà đầu tư sở hữu nó. Thường chỉ chiểm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu được phát hành. Tuy nhiên trong một số trường hợp việc sủ dụng cổ phiếu ưu tiên là thích hợp. Cổ phiếu ưu tiên có đặc điểm là nó thường có cổ tức cổ định. Người chủ sở hữu cổ phiếu này có quyền được thanh toán lãi trước các cổ đông thông thường. Nếu số lãi chỉ đủ để trả cổ tức cho các cổ đông ưu tiên thì các cổ đông thường sẽ không được nhận cổ tức của kỳ đó. Các cổ phiếu ưu đãi có thể được chính công ty phát hành thu lại khi công ty cần thiết Một vấn đề rất quan trọng cần đề cập khi phát hành cổ phiếu ưu tiên là thuế. Khác với chi phí lãi vay được giảm trừ khi tính thuế thu nhập công ty,cổ tức được lây từ lợi nhuân sau thuế. Đó là hạn chế của cổ phiếu ưu tiên. ♦Chứng khoán có thể chuyển đổi. Ở một số nước, các công ty có thể phát hành những chứng khoán kèm theo những điều kiện có thể chuyển đổi được. Nói chung, sự chuyển đổi và lựa chọn cho phép các bên (công ty,người đầu tư) có thể chuyển đổi. Nhóm 5 19
  20. 2.1.4.3)Nguồn vốn vay ngân hàng và các nguồn vay khác  Nguồn vốn tín dụng ngân hàng ♦ Vai trò: Vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất, không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Không một doanh nghiệp nào không vay vốn ngân hàng hoặc không sử dụng tín dụng thương mại nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên thương trường.Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay ngắn hạn ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là đảm bảo có đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu của doanh nghiệp. ♦ Phân loại.  Về mặt thời hạn, vốn vay ngân hàng có thể được phân thành ba loại: -Vay dài hạn: thường tính từ 3 năm trở lên, có nơi tính 5 năm. Có lãi suất cao, vì mang nhiều rủi ro cho người cho vay. -Vay trung hạn: Từ 1 đến 3 năm. Có lãi suất thấp hơn vay dài hạn. -Vay ngắn hạn : dưới 1 năm. Có lãi suất thấp nhất.  Theo tính chất và mục đích sử dụng, có thể phân thành các loại: -Vay để đầu tư tài sản cố định. -Vay đầu tư tài sản lưu động. Nhóm 5 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản