intTypePromotion=3

Tiểu luận: Phân tích thực trạng hoạt động bảo hiểm Xã hội ở Việt Nam hiện nay – Nêu và lấy ví dụ, phân tích một số trường hợp của bảo hiểm Thai sản

Chia sẻ: Nghie Nghie | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:54

0
151
lượt xem
49
download

Tiểu luận: Phân tích thực trạng hoạt động bảo hiểm Xã hội ở Việt Nam hiện nay – Nêu và lấy ví dụ, phân tích một số trường hợp của bảo hiểm Thai sản

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận: Phân tích thực trạng hoạt động bảo hiểm Xã hội ở Việt Nam hiện nay – Nêu và lấy ví dụ, phân tích một số trường hợp của bảo hiểm Thai sản trình bày về những cơ sở lý luận về bảo hiểm Xã hội Việt Nam, thực trạng và giải pháp để phát triển bảo hiểm Xã hội nói chung và bảo hiểm Thai sản ở Việt Nam nói riêng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Phân tích thực trạng hoạt động bảo hiểm Xã hội ở Việt Nam hiện nay – Nêu và lấy ví dụ, phân tích một số trường hợp của bảo hiểm Thai sản

  1. MỤC LỤC CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN.........................................................1 1.1 Khái niệm bảo hiểm......................................................................1 1.2. Bảo hiểm xã hội............................................................................5 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG.............................................................13 2.1 Quá trình phát triểncủa BHXH Việt Nam.................................13 2.2 Những thành tựu đạt được và khó khăn của BHXH Việt Nam  hiện nay.................................................................................................20 2.3 Quy định về chế dộ thai sản ở Việt Nam..................................25 2.4 Thủ tục, hồ sơ hưởng chế đột hai sản......................................35 CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP...................................................................38 3.1 Định hướng.....................................................................................38 3.2 Giải pháp.........................................................................................39 3.3 Kiến nghị.........................................................................................44
  2. LỜI MỞ ĐẦU Như chúng ta đã biết, kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ  VI, Việt Nam bước sang một thời kỳ  phát triển mới. Sự  chuyển đổi  sang nền kinh tế thị trường đã đem lại nhiều thành tựu kinh tế ­ xã hội   to lớn cho đất nước. Nhiều lĩnh vực kinh tế được đẩy mạnh, đời sống  nhân dân cũng ngày càng được nâng cao. Chính vì vậy, BHXH đã ra đời  để bảo vệ cuộc sống “ Của dân, do dân và vì dân” lý tưởng của nước   Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam.  Trong quá trình phát triển đó, bảo hiểm đã và đang chứng minh  được vai trò tích cực của mình đối với hoạt động sản xuất ­ kinh doanh  nói riêng cũng như với cuộc sống nói chung. Đồng thời, bảo hiểm cũng  đã trở thành một ngành kinh doanh giàu tiềm năng phát triển, thu hút rất   nhiều lao động. Ngành bảo hiểm nước ta mới thực sự  bắt đầu phát   triển từ  cách đây khoảng hơn 20 năm khi thế  độc quyền kinh doanh   bảo hiểm được xoá bỏ  theo nghị  định 100 CP được Chính phủ  ban   hành ngày 18/12/1993. Kể từ đó đến nay, ngành bảo hiểm đã có những   bước tiến đáng kể  và nếu được phát triển đúng hướng, ngành sẽ  góp  phần rất tích cực vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất  nước trong thế kỷ mới. Việc tìm hiểu thực trạng tình hình kinh doanh  bảo hiểm  ở  Việt Nam để  từ  đó, đưa ra được những giải pháp nhằm   phát triển ngành bảo hiểm trong giai đoạn tới là rất cần thiết.  Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, với đề tài tiểu luận nhóm “ Phân   tích thực trạng hoạt động Bảo hiểm Xã hội  ở  Việt Nam hiện nay –   Nêu và lấy ví dụ, phân tích một số trường hợp của Bảo hiểm Thai sản   ”, chúng em đã cố gắng suy xét, phân tích các vấn đề  có liên quan, tìm 
  3. kiếm, học hỏi các kiến thức, tài liệu tham khảo để  cho ra sản phẩm  tiểu luận phục vụ học tập.  Do thời gian nghiên cứu và năng lực sinh viên còn mới, còn bỡ  ngỡ, lại là nhóm hoàn thành bài tiểu luận để  trình bày đầu tiên trước   lớp,  nên  bài   tiểu  luận nhóm  không thể   tránh  khỏi những  thiếu  sót.  Nhóm chúng em mong nhận được những góp ý chân thành từ  phía cô  giáo và toàn thể các bạn sinh viên lớp để bài tiểu luận nhóm được hoàn   thiện. Xin chân thành cảm ơn!
  4. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm bảo hiểm 1.1.1 Nguồn gốc của bảo hiểm Ngày nay, bảo hiểm đã trở  thành một ngành kinh doanh phát triển rất   mạnh, với tốc độ  tăng trưởng trung bình khá cao. Đặc biệt,  ở  một số  nước  trên thế  giới, bảo hiểm đã trở  thành một phần không thể  thiếu trong kinh   doanh cũng như trong cuộc sống nói chung. Vậy bảo hiểm có nguồn gốc như  thế nào? Bảo hiểm có nguồn gốc từ rất xa xưa trong lịch sử văn minh nhân loại.   Tuy nhiên, bảo hiểm thực sự xuất hiện từ khi nào thì người ta vẫn chưa có   được câu trả lời chính xác. ý tưởng về bảo hiểm được coi là đã xuất hiện từ  khá lâu, khi mà người xưa đã nhận ra lợi ích của việc xây dựng một kho thóc  lúa dự trữ chung phòng khi mất mùa, chiến tranh… Như vậy, ngay từ xa xưa,   con người đã có ý thức về  những bất trắc  có thể  xảy đến với mình, và tìm  cách phòng tránh chúng. Ý tưởng về sự rủi ro được hình thành một cách rõ nét vào khoảng thế kỷ  XV, khi châu Âu mở những cuộc thám hiểm, khai phá tới các miền đất ở châu   á, châu Mỹ. Nhu cầu giao thương giữa các châu lục trở nên mạnh mẽ, ngành   hàng hải ngày càng phát triển. Những đội tàu buôn lớn ra đi, và trở về với sự  giàu có từ  nguồn hàng dồi dào, hấp dẫn từ  những miền đất mới. Tuy nhiên,  đồng hành với đó cũng là những trường hợp rủi ro không quay về  được do  nhiều nguyên nhân như: dông bão, lạc đường, cướp biển… Những nhà đầu tư  cho những chuyến đi mạo hiểm như vậy đã cảm thấy sự cần thiết phải cùng  nhau chia sẻ rủi ro để tránh tình trạng một số người bị mất trắng khoản đầu   tư của mình do một hiện tượng ngẫu nhiên khiến tàu của họ bị thiệt hại hoặc  mất tích. Để  thực hiện điều này, người ta có hai lựa chọn: thành lập liên   doanh để  cùng “lời ăn, lỗ  chịu”, hoặc tham gia bảo hiểm.  ở trường hợp thứ  1
  5. hai, một số  cá nhân hay công ty sẽ  nhận được phí bảo hiểm bằng tiền mặt,   đổi lại là lời cam kết sẽ trả một khoản bồi thường cho chủ tàu trong trường   hợp tàu bị  mất tích. Những người bảo hiểm đã tạo ra một quỹ  chung mà họ  cam kết sử dụng để thanh toán cho người được bảo hiểm khi rủi ro xảy ra. Vào thời kỳ  đầu, khi tổn thất xảy ra, người nhận bảo hiểm phải bán  một số tài sản, hoặc rút tiền từ tài khoản ngân hàng để thanh toán cho người  được bảo hiểm. Tuy nhiên, một số  nhà kinh doanh đã nhanh chóng nhận ra   rằng rất nhiều thành viên của cộng đồng không muốn nhận bảo hiểm cho  những rủi ro lớn như  vậy. Và khái niệm góp vốn chung đã dược hình thành  cùng với việc kêu gọi mọi người mua cổ phần của các công ty bảo hiểm. Chỉ  cần các khai thác viên chuyên nghiệp tính toán một cách đầy đủ, chính xác  trong việc lựa chọn rủi ro để  bảo hiểm và số  phí bảo hiểm phải đóng cho  mỗi loại rủi ro cụ thể  thì quỹ  này sẽ  luôn có khả  năng bồi thường tổn thất  cho người được bảo hiểm nếu xảy ra rủi ro. Đồng thời, các cổ  đông cũng  vẫn có lãi cổ phần ở mức đủ để họ hài lòng với việc đầu tư của mình. Bảo hiểm hình thành do sự  tồn tại các loại rủi ro và sự  đòi hỏi con   người phải có những biện pháp đề phòng, ngăn chặn việc xảy ra rủi ro, đồng  thời, khắc phục, hạn chế  những hậu quả  của rủi ro. Bắt đầu từ  bảo hiểm   hàng hải, rồi tới những loại bảo hiểm khác như  bảo hiểm hoả  hoạn, bảo   hiểm nhân thọ…, bảo hiểm ngày nay đã phát triển nhanh chóng trên nhiều   mặt và dần dần đóng vai trò rất quan trọng đối với con người. 1.1.2 Bản chất của bảo hiểm Bằng sự  đóng góp của số  đông người vào một quĩ chung, khi có rủi ro,  quĩ sẽ có đủ khả năng trang trải và bù đắp cho những tổn thất của số ít. Mỗi   cá nhân hay đơn vị chỉ cần đóng góp một khoản tiền trích từ thu nhập cho các   công ty bảo hiểm. Khi tham gia một nghiệp vụ bảo hiểm nào đó, nếu gặp tổn  thất do rủi ro được bảo hiểm gây ra, người được bảo hiểm sẽ  được bồi  2
  6. thường. Khoản tiền bồi thường này được lấy từ  số  phí mà tất cả  những  người tham gia bảo hiểm đã nộp. Tất nhiên, chỉ  có một số  người tham gia   bảo hiểm gặp tổn thất, còn những người không gặp tổn thất sẽ  mất không   số phí bảo hiểm. Như vậy, có thể thấy, thực chất của bảo hiểm là việc phân   chia tổn thất của một hoặc một số  người cho tất cả những người tham gia   bảo hiểm cùng chịu. Do đó, một nghiệp vụ  bảo hiểm muốn tiến hành được  phải có nhiều người tham gia, tức là, bảo hiểm chỉ hoạt động được trên cơ sở  luật số đông, càng nhiều người tham gia thì xác suất xảy ra rủi ro đối với mỗi  người càng nhỏ và bảo hiểm càng có lãi. Với hình thức số đông bù cho số ít người bị thiệt hại, tổ chức bảo hiểm   sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế của từng cá nhân hay đơn vị khi gặp rủi   ro, tiết kiệm được nguồn chi cho ngân sách nhà nước. Như  vậy, thực chất  mối quan hệ trong hoạt động bảo hiểm không chỉ là mối quan hệ giữa người   bảo hiểm và người được bảo hiểm, mà suy rộng ra, nó là tổng thể  các mối  quan hệ giữa những người được bảo hiểm trong cộng đồng xoay quanh việc   hình thành và sử dụng quĩ sbảo hiểm. Quĩ bảo hiểm được tạo lập thông qua  việc huy động phí bảo hiểm, số  người tham gia càng đông thì quĩ càng lớn.   Quĩ được sử  dụng trước hết và chủ  yếu là để  bù đắp những tổn thất cho  người được bảo hiểm, không làm ảnh hưởng đến sự liên tục của đời sống xã  hội và hoạt động sản xuất ­ kinh doanh trong nền kinh tế. Ngoài ra, quĩ còn  được dùng để  trang trải chi phí, tạo nên nguồn vốn đầu tư  cho xã hội. Bảo  hiểm thực chất là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân  phối lại tổng sản phẩm xã hội dưới hình thái giá trị, nhằm hình thành và sử  dụng quĩ bảo hiểm cho mục đích bù đắp tổn thất do rủi ro bất ngờ xảy ra với   người được bảo hiểm, đảm bảo quá trình tái sản xuất được thường xuyên,  liên tục. 1.1.3 Định nghĩa 3
  7. Mặc dù bảo hiểm đã có nguồn gốc và lịch sử  phát triển khá lâu đời,   nhưng do tính đặc thù của loại hình dịch vụ  này, cho đến nay vẫn chưa có  một định nghĩa thống nhất về bảo hiểm. Theo các chuyên gia bảo hiểm, một  định nghĩa đầy đủ  và thích hợp cho bảo hiểm phải bao gồm việc hình thành   một quĩ tiền tệ (quĩ bảo hiểm), sự hoán chuyển rủi ro và phải bao gồm cả sự  kết hợp số đông các đơn vị đối tượng riêng lẻ, độc lập chịu cùng một rủi ro   như nhau tạo thành một nhóm tương tác. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về  bảo hiểm. Theo Dennis Kessler,   "bảo hiểm là sự  đóng góp của số  đông vào sự  bất hạnh của số  ít." Còn theo  Monique Gaullier, "bảo hiểm là một nghiệp vụ  qua đó, một bên là người   được bảo hiểm cam đoan trả  một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện  mong muốn để cho mình hoặc để  cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra   rủi ro sẽ  nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả  bởi một bên   khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn   bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê." Các định nghĩa trên hoặc quá thiên về  góc độ  xã hội, hoặc quá thiên về  góc độ  kinh tế, kĩ thuật, ít nhiều cũng còn thiếu sót, chưa phải là một khái  niệm bao quát, hoàn chỉnh. Nói một cách chính xác, bảo hiểm là một dịch vụ  tài chính, dựa trên cơ  sở  tính toán khoa học, áp dụng biện pháp huy động  nhiều người, nhiều đơn vị  cùng tham gia xây dựng quỹ  bảo hiểm bằng tiền   để  bồi thường thiệt hại về  tài chính do tài sản hoặc tính mạng của người   được bảo hiểm gặp phải tai nạn rủi ro bất ngờ. T ập  đoàn bảo hiểm AIG  (Mỹ) định nghĩa: “Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một  doanh nghiệp hay một tổ  chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm,  công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm   vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo   hiểm”. 4
  8. Theo   Luật   kinh   doanh   bảo   hiểm   của   Việt   Nam   (ban   hành   ngày  09/12/2000) thì “kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo  hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi   ro của người được bảo hiểm, trên cơ  sở  bên mua bảo hiểm đóng phí bảo  hiểm để  doanh nghiệp bảo hiểm trả  tiền bảo hiểm cho người thụ  hưởng   hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm." Như vậy, để có một khái niệm chung nhất về bảo hiểm, chúng ta có thể  đưa ra định nghĩa: “Bảo hiểm là một sự  cam kết bồi thường của người bảo  hiểm với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng   bảo hiểm do một rủi ro đã thoả thuận gây ra, với điều kiện người được bảo   hiểm đã thuê bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền   gọi là phí bảo hiểm”. 1.2. Bảo hiểm xã hội 1.2.1 Định nghĩa về bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một phần của bảo hiểm khi phân theo cơ  chế hoạt động. Tuy đã có lịch sử phát triển lâu dài nhưng đến nay vẫn chua có  định nghĩa thống nhất về  BHXH. Từ  giác độ  pháp luật: BHXH là một chế  định bảo vệ người lao động sử dụng nguồn đóng góp của mình, đóng góp từ  người sử dụng lao động(nếu có) và được tài trợ, bảo hộ của Nhà nước nhằm   trợ  cấp vật chất cho người lao động được bảo hiểm và gia đình họ  trong  trường hợp bị  giảm hoặc mất thu nhập bình thường do  ốm đau, tai nạn lao  động hoặc hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật hoặc người lao động  bị chết. Dưới giác độ  tài chính: BHXH là quá trình san sẻ rủi ro và san sẻ  tài  chính giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp  luật. Gần đây, một số  quan điểm cho rằng: BHXH là sự  đảm bảo hoặc bù  đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ mất khả năng lao động  hoặc bị mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập   5
  9. trung do sự  đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo   an toàn xã hội…. 1.2.2 Sự ra đời và phát triển của BHXH Bảo hiểm xã hội là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm   và đến nay đã được thực hiện  ở tất cả  các nước trên thế  giới.BHXH là một   trong những chính sách xã hội cơ  bản nhất của mỗi quốc gia, thể hiện trình   độ  văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế  cũng như  khả  năng quản lý của  quốc gia đó.BHXH xuất hiện năm 1850 do thủ tướng Bismach của nước phổ  (nay là CHLB Đức) đã thiết lập ở nước này.Mới đầu chỉ có giới thợ tham gia  và chỉ có bảo hiểm ốm đau, sau đó thu hút mọi tầng lớp xã hội và mở rộng ra   đối với các trường hợp khác.Luật bảo hiểm y tế  được ban hành vào năm  1883. Và năm 1884 ban hành luật bảo hiểm về  rủi ro nghề  nghiệp do hiệp   hội giới chủ quản lý. Năm 1889, chính phủ Đức ban hành thêm bảo hiểm tuổi   già và bảo hiểm tàn tật do chính quyền các bang quản lý.Đến thời điểm này  BHXH đã có bước phát triển mới: cơ chế đóng góp cả ba bên được thực hiện,  không chỉ  có người lao động mà cả  giới chủ  và Nhà nước cũng phải thực   hiện nghĩa vụ đóng góp. Mô hình này  ở  Đức đã lan dần ra châu Âu  vào đầu thế  kỷ  XX, sau đó  sang các nước Mỹ la tinh, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của   thế kỷ XX.Sau chiến tranh thế giới thứ hai, BHXH đã lan rộng sang các nước  giành được độc lập ở châu A, châu Phi và vùng Caribê trong nửa cuối thế kỷ  XX. Như vậy cùng với sự phát triển của xã  hội, BHXH trở thành một trong  những quyền cơ bản của con người và được xã hội thừa nhận.  So với các loại hình bảo hiểm khác, đối tượng, chức năng và tính chất  của BHXH có những điểm khác biệt. BHXH có một số  đặc điểm: có tính  chất bắt buộc; hoạt động theo những luật lệ quy định chung; không tính đến   những rủi ro cụ  thể; không nhằm mục đích kinh doanh... Quỹ  BHXH là quỹ  6
  10. tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách Nhà nước, hình thành chủ  yếu từ  các nguồn đóng góp hay  ủng hộ  của người lao động, người sử  dụng  lao động, nhà nước, các tổ chức, cá nhân từ thiện...) 1.2.3 Các chế độ bảo hiểm xã hội tại Việt Nam Chế độ ốm đau Khi bị ốm đau, tai nạn rủi ro phải nghỉ việc (có xác nhận của cơ sở y tế)   hoặc có con dưới 7 tuổi bị  ốm đau, phải nghỉ  việc để  chăm sóc con (có xác  nhận của cơ sở y tế) thì người lao động được hưởng chế độ ốm đau như sau:  ­ Làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng 30 ngày, nếu đã đóng   BHXH dưới 15 năm; 40 ngày nếu đã đóng từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm; 60  ngày nếu đã đóng từ  đủ  30 năm trở  lên;   ­ Làm nghề  hoặc công việc nặng  nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động ­ Thương binh và  Xã hội và Bộ  Y tế  ban hành hoặc làm việc thường xuyên  ở  nơi có phụ  cấp   khu vực hệ  số  từ  0,7 trở  lên thì được hưởng 40 ngày nếu đã đóng BHXH   dưới 15 năm; 50 ngày nếu đã đóng từ  đủ  15 năm đến dưới 30 năm; 70 ngày   nếu đã đóng từ đủ 30 năm trở lên.  ­ Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau  trong một năm được tính theo số ngày chăm sóc con tối đa là 20 ngày làm việc   nếu con dưới 3 tuổi; tối đa là 15 ngày làm việc nếu con từ đủ 3 tuổi đến dưới  7 tuổi. ­ Người lao động hưởng chế  độ   ốm đau theo quy định tại 2 trường   hợp đầu mức hưởng bằng 75% mức tiền lương, tiền công đóng BHXH của   tháng liền kề trước khi nghỉ việc. Chế độ thai sản   Người lao động được hưởng chế  độ  thai sản khi thuộc một trong các  trường hợp sau đây: Lao động nữ mang thai; lao động nữ sinh con; người lao   động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi; người lao động đặt vòng tránh  thai, thực hiện các biện pháp triệt sản. Người lao động thuộc 2 trường hợp  cuối phải đóng BHXH từ đủ 6 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi   sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi. ­ Trong thời gian mang thai, lao động nữ  7
  11. được nghỉ việc để đi khám thai năm lần, mỗi lần một ngày; trường hợp ở xa  cơ sở  y tế hoặc người mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì  được nghỉ hai ngày cho mỗi lần khám thai. ­ Thời gian nghỉ việc hưởng chế  độ  thai sản quy định tại Điều này tính cả  ngày nghỉ  lễ, nghỉ  Tết, ngày nghỉ  hằng tuần.  + 4 tháng, nếu làm nghề hoặc công việc trong điều kiện lao động  bình thường   + 5 tháng, nếu làm nghề  hoặc công việc nặng nhọc, độc hại,  nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động ­ Thương binh và Xã hội và Bộ  Y tế  ban hành; làm việc theo chế độ  ba ca; làm việc thường xuyên  ở  nơi có  phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên hoặc là nữ  quân nhân, nữ công an nhân   dân;  + 6 tháng đối với lao động nữ  là người tàn tật theo quy định của pháp  luật về người tàn tật  + Trường hợp sinh đôi trở lên, ngoài thời gian nghỉ việc   quy định thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ  mỗi con được nghỉ  thêm 30 ngày. ­   Trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi: Lao động nữ sinh con  hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi thì được trợ cấp 1   lần bằng 2 tháng lương tối thiểu chung cho mỗi con. ­ Lao động nữ  đi làm   trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con: Lao động nữ có thể đi làm trước khi hết   thời hạn nghỉ sinh con khi có đủ các điều kiện sau đây: sau khi sinh con từ đủ  60 ngày trở lên; có xác nhận của cơ sở y tế về việc đi làm sớm không có hại   cho sức khoẻ của người lao động; phải báo trước và được người sử dụng lao   động đồng ý. Ngoài tiền lương, tiền công của những ngày làm việc, lao động  nữ  đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con vẫn được hưởng chế  độ  thai   sản cho đến khi hết thời hạn quy định. Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Người lao động được hưởng chế độ tai nạn lao động khi có đủ các điều  kiện sau đây: Bị tai nạn tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, ngoài nơi làm   việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người  sử dụng lao động, trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong  khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý; suy giảm khả năng lao động từ 5%  8
  12. trở lên do bị tai nạn. ­ Trợ cấp một lần: Người lao động bị suy giảm khả năng   lao động từ 5% đến 30% thì được hưởng trợ  cấp một lần. Mức trợ cấp một   lần được quy định như  sau:   + Suy giảm 5% khả  năng lao động thì được  hưởng 5 tháng lương tối thiểu chung, sau đó cứ  suy giảm thêm 1% thì được  hưởng thêm 0,5 tháng lương tối thiểu chung;  + Ngoài mức trợ cấp quy định,  còn được hưởng thêm khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng BHXH, từ một  năm trở  xuống thì được tính bằng 0,5 tháng, sau đó cứ  thêm mỗi năm đóng   BHXH được tính thêm 0,3 tháng tiền lương, tiền công đóng BHXH của tháng   liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị. ­ Trợ cấp hằng tháng: Người lao động  bị suy giảm khả  năng lao động từ  31% trở  lên thì được hưởng trợ  cấp hằng  tháng. Mức trợ cấp hằng tháng được quy định như sau:  + Suy giảm 31% khả  năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương tối thiểu chung, sau đó   cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương tối thiểu chung;   +  Ngoài mức trợ cấp quy định, hằng tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ  cấp tính theo số  năm đã đóng BHXH, từ một năm trở  xuống được tính bằng   0,5%, sau đó cứ  thêm mỗi năm đóng BHXH được tính thêm 0,3% mức tiền   lương, tiền công đóng BHXH của tháng liền kề  trước khi nghỉ việc để  điều   trị.  Chế độ hưu trí Người lao động có đủ  20 năm đóng BHXH trở  lên được hưởng lương   hưu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Nam đủ  60 tuổi, nữ  đủ  55   tuổi; nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có   đủ  15 năm làm nghề  hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc  danh mục do Bộ  Lao động ­ Thương binh và Xã hội và Bộ  Y tế  ban hành  hoặc có đủ 15 làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên. Tuổi đời   được hưởng lương hưu trong một số trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ  quy định. ­ Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy   định  tại   Điều  50  của   Luật   này  được   tính  bằng  45%   mức   bình  quân  tiền  9
  13. lương, tiền công tháng đóng BHXH quy định tương  ứng với 15 năm đóng  BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng BHXH thì tính thêm 2% đối với nam và  3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%. Sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi   quy định thì giảm 1%. Mức lương hưu hằng tháng thấp nhất bằng mức lương   tối thiểu chung. ­ Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu:   + Người lao động đã đóng  BHXH trên 30 năm đối với nam, trên 25 năm đối với nữ, khi nghỉ hưu, ngoài  lương hưu còn được hưởng trợ  cấp một lần.   + Mức trợ  cấp một lần được  tính theo số năm đóng BHXH kể từ năm thứ 31 trở đi đối với nam và năm thứ  26 trở  đi đối với nữ. Cứ  mỗi năm đóng BHXH thì được tính bằng 0,5 tháng  mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH. Chế độ tử tuất Các đối tượng sau đây khi chết thì người lo mai táng được nhận trợ cấp  mai táng: Người lao động đang đóng BHXH; người lao động đang bảo lưu  thời gian đóng BHXH; người đang hưởng lương hưu, hưởng trợ cấp tai nạn  lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng đã nghỉ việc. Trợ cấp mai táng bằng  10 tháng lương tối thiểu chung. ­ Các đối tượng thuộc một trong các trường  hợp sau đây khi chết thì thân nhân được hưởng tiền tuất hằng tháng: Đã đóng   BHXH đủ  15 năm trở  lên nhưng chưa hưởng BHXH một lần; đang hưởng   lương hưu; chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; đang hưởng trợ cấp  tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng với mức suy giảm khả năng  lao động từ 61% trở lên. ­ Thân nhân của các đối tượng được hưởng trợ  cấp  tuất hằng tháng, bao gồm: Con chưa đủ 15 tuổi, con chưa đủ 18 tuổi nếu còn  đi học, con từ đủ  15 tuổi trở lên nếu bị  suy giảm khả năng lao động từ  81%   trở lên; vợ từ đủ 55 tuổi trở lên hoặc chồng từ đủ 60 trở lên hoặc vợ dưới 55  tuổi, chồng dưới 60 tuổi nếu bị suy giảm khả năng lao động từ  81% trở lên;  Cha đẻ, mẹ  đẻ, cha vợ  hoặc cha chồng, mẹ  vợ hoặc mẹ chồng, người khác  mà đối tượng này có trách nhiệm nuôi dưỡng nếu từ  đủ  60 trở  lên đối với  nam, từ đủ 55 tuổi trở lên đối với nữ; Cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chồng,  10
  14. mẹ  vợ  hoặc mẹ  chồng, người khác mà đối tượng này có trách nhiệm nuôi  dưỡng nếu dưới 60 tuổi đối với nam, dưới 55 tuổi đối với nữ và bị suy giảm   khả  năng lao động từ  81% trở lên. Ngoài trường hợp đầu, 3 trường sau phải  không có thu nhập hoặc có thu nhập hằng tháng nhưng thấp hơn mức lương   tối thiểu chung. ­ Mức trợ  cấp tuất hằng tháng đối với mỗi thân nhân bằng  50% mức lương tối thiểu chung; trường hợp thân nhân không có người trực  tiếp nuôi dưỡng thì mức trợ  cấp tuất hằng tháng bằng 70% mức lương tối  thiểu chung. ­ Mức trợ  cấp tuất 1 lần đối với thân nhân của người lao động   đang làm việc hoặc người lao động đang bảo lưu thời gian đóng BHXH được  tính theo số  năm đã đóng BHXH, cứ  mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình   quân tiền lương, tiền công tháng đóng BHXH; mức thấp nhất bằng 3 tháng   mức bình quân tiền lương, tiền công tháng. Mức trợ  cấp tuất 1 lần đối với  thân nhân của người đang hưởng lương hưu chết được tính theo thời gian đã  hưởng lương hưu, nếu chết trong 2 tháng đầu hưởng lương hưu thì tính bằng  48 tháng lương hưu đang hưởng; nếu chết vào những tháng sau đó, cứ hưởng   thêm 1 tháng lương hưu thì mức trợ  cấp giảm đi 0,5 tháng lương hưu, mức  thấp nhất bằng 3 tháng lương hưu đang hưởng. BHXH tự nguyện  a. Chế  độ  hưu trí   ­ Người lao động hưởng lương hưu khi có đủ  các  điều kiện sau đây: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi; đủ 20 năm đóng BHXH trở  lên. Trường hợp nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi nhưng thời gian đóng BHXH  còn thiếu không quá 5 năm so với thời gian quy định thì được đóng tiếp cho   đến khi đủ  20 năm. Mức lương hưu hằng tháng được tính bằng 45% mức   bình quân thu nhập tháng đóng BHXH, tương  ứng với 15 năm đóng BHXH,   sau đó cứ  thêm mỗi năm đóng BHXH thì được tính thêm 2% đối với nam và   3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.  ­ Người lao động đã đóng BHXH trên  30 đối với nam, trên 25 năm đối với nữ, khi nghỉ  hưu, ngoài lương hưu còn  được hưởng trợ  cấp 1 lần. Mức trợ  cấp 1 lần được tính theo số  năm đóng  11
  15. BHXH kể từ năm thứ 31 trở đi đối với nam và năm thứ 26 trở đi đối với nữ.   Cứ  mỗi năm đóng BHXH thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân thu   nhập tháng đóng BHXH.  b. Chế  độ  tử  tuất   ­ Các đối tượng sau đây khi chết thì người lo mai  táng được nhận trợ cấp mai táng: Người lao động đã có ít nhất năm năm đóng  bảo hiểm xã hội, người đang hưởng lương hưu; Trợ cấp mai táng bằng mười   tháng lương tối thiểu chung; trường hợp đối tượng quy định tại khoản 1 Điều  này bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp quy định. ­   Người lao động đang đóng BHXH, người lao động đang bảo lưu thời gian  đóng   BHXH,   người   đang   hưởng   lương   hưu   khi   chết   thì   thân   nhân   được  hưởng trợ cấp tuất một lần.  + Mức trợ cấp tuất 1 lần đối với thân nhân của  người lao động đang đóng hoặc người lao động đang bảo lưu thời gian đóng  BHXH được tính theo số  năm đã đóng BHXH, cứ  mỗi năm tính bằng 1,5  tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH.  + Mức trợ cấp tuất 1 lần  đối với thân nhân của người đang hưởng lương hưu chết được tính theo thời   gian đã hưởng lương hưu, nếu chết trong 2 tháng đầu hưởng lương hưu thì  tính bằng 48 tháng lương hưu đang hưởng; nếu chết vào những tháng sau đó,   cứ  hưởng thêm 1 tháng lương hưu thì mức trợ  cấp giảm đi 0,5 tháng lương   hưu. Bảo hiểm thất nghiệp  Người  thất nghiệp được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ  các   điều kiện sau đây: Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ  12 tháng trở  lên trong   thời gian 24 tháng trước khi thất nghiệp; đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức  BHXH; chưa tìm được việc làm sau 15 ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp. ­  Mức trợ  cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương,  tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng liền kề trước khi thất   nghiệp. ­ Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định như sau:   12
  16. + 3 tháng, nếu có từ đủ 12 tháng đến dưới 36 tháng đóng bảo hiểm thất  nghiệp;   + 6 tháng, nếu có từ đủ 36 tháng đến dưới 72 tháng đóng bảo hiểm thất   nghiệp;   + 9 tháng, nếu có từ đủ 72 tháng đến dưới 144 tháng đóng bảo hiểm thất   nghiệp;   +  12 tháng, nếu có từ đủ 144 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trở lên. Chế độ BHYT Người tham gia BHYT được hưởng các quyền lợi khám chữa bệnh như  sau: ­ Khám bệnh, chẩn đoán và điều trị  ­ Xét nghiệm, chiếu chụp X­quang,  thăm dò chức năng ­ Thuốc trong danh mục theo quy định của Bộ Y tế ­ Máu,  các chế  phẩm màu và dịch truyền ­ Các thủ  thuật, phẫu thuật ­ Sử dụng vật   tư, thiết bị y tế và giường bệnh ­ Trong trường hợp bệnh vượt quá khả  năng  chuyên môn của cơ  sở  khám chữa bệnh, người có thẻ  BHYT được chuyển  viện lên tuyến kỹ  thuật cao hơn 2. Người tham gia BHYT  được chọn nơi  đăng ký khám chữa bệnh ban đầu Khi bệnh nặng được chuyển lên tuyến trên   điều trị  theo tuyến chuyên môn kỹ  thuật do Bộ  Y tế quy định. Trong trường   hợp cấp cứu được khám chữa bệnh tại bất cứ cơ sở y tế nào của Nhà nước.   3. Người tham gia BHYT được khám chữa bệnh theo yêu cầu riêng Tự chọn   thầy thuốc, tự chọn buồng bệnh, tự chọn cơ sở khám chữa bệnh, tự chọn các  dịch vụ y tế, khám chữa bệnh vượt tuyến chuyên môn kỹ thuật theo quy định  của Bộ  Y tế, khám chữa bệnh tại các cơ  sở  khám chữa bệnh không có hợp   đồng với cơ quan BHXH (trừ trường hợp cấp cứu) thì người tham gia BHYT   phải thanh toán trước viện phí cho cơ sở khám chữa bệnh, cơ quan BHXH chỉ  thanh toán chi phí khám chữa bệnh theo quy định của Bộ  Y tế. Phần chênh  lệch tăng thêm (nếu có) do người có thẻ  BHYT tự  trả  cho cơ  sở  khám chữa  bệnh. 13
  17. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM XàHỘI Ở  VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1 Quá trình phát triển của BHXH Việt Nam 2.1.1 Giai đoạn trước khi có Điều lệ  tạm thời về  bảo hiểm xã hội   (trước 1961): BHXH bắt đầu xuất hiện  ở  Việt Nam từ  những năm 1930 thời Pháp  thuộc.Đây là chế  độ  trợ  cấp cho chính quyền thuộc địa thực hiện đối với  quân nhân và viên chức Việt Nam làm việc trong bộ  máy hành chính và lực   lượng vũ trang của Pháp  ở  Đông Dương khi bị   ốm đau, già yếu hoặc chết.  Tuy nhiên, đối với công nhân Việt Nam, gần như chính quyền Pháp phủ nhận  quyền lợi BHXH của họ. Điển hình là các công nhân Việt Nam làm việc trong  các đồn điền, các nhà máy…bị   ốm đau bệnh tật hay chết đều không được   hưởng chế độ chữa bệnh mai táng… Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà  được thành lập, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn về mọi mặt, song Chính phủ  đã luôn chăm lo cải thiện đời sống của nhân dân lao động nói chung và riêng  đối với công nhân, viên chức Nhà nước. Ngoài việc ban hành chế  độ  tiền  lương, Chính phủ  đã ban hành các chế  độ  phụ  cấp, trợ  cấp xã hội mà thực   chất là các chế độ BHXH như: trợ cấp ốm đau, sinh đẻ, tai nạn lao động, trợ  cấp già yếu, trợ cấp cho cá nhân và gia đình công nhân, viên chức khi chết và  xây dựng các khu an dưỡng, điều dưỡng, bệnh viện, nhà trẻ...Về  mặt luật   pháp được thể hiện trong các văn bản sau: ­ Sắc lệnh số 54/SL ngày 14/6/1946 ấn định việc cấp hưu bổng cho công  chức. ­ Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 của Chính phủ. 14
  18. ­ Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chính phủ  về  các quy chế hưu   trí, thai sản, chế độ chăm sóc y tế, tai nạn tử tuất của công viên chức. ­ Sắc lệnh số  77/SL ngày 22/5/1950 của Chính phủ   ấn định cụ  thể  các   chế độ ốm đau thai sản, tai nạn lao động, hưu trí, tử tuất đối với công nhân. Nhìn chung giai đoạn này các chế  độ  bảo hiểm xã hội chưa được quy   định một cách toàn diện, quỹ  bảo hiểm xã hội chưa được hình thành. Tuy   nhiên, các chế độ trợ cấp, phụ cấp mang tính chất bảo hiểm xã hội trong giai  đoạn đầu thành lập nước, trong kháng chiến và những năm đầu hoà bình lập  lại đã có tác dụng rất to lớn, giải quyết một phần những khó khăn trong sinh  hoạt của công nhân viên chức Nhà nước và gia đình họ, củng cố thêm lòng tin   của nhân dân vào Đảng, Chính phủ  và làm cho mọi người an tâm, phấn khởi   đẩy mạnh công tác, sản xuất, thu hút lực lượng lao động vào khu vực kinh tế  Nhà nước. 2.1.2 Giai đoạn thực hiện điều lệ  bảo hiểm xã hội tạm thời (từ  1961 đến 12/1994): Để phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước, đáp ứng yêu cầu  không ngừng cải thiện đời sống của công nhân viên chức Nhà nước, các chế  độ  trợ  cấp xã hội cần được bổ  sung và sửa đổi cho phù hợp với thời kỳ xây  dựng Chủ nghĩa xã hội  ở  miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam. Tại   Điều 32 Hiến pháp năm 1959 quy định rõ: quyền của người lao động được   giúp đỡ  về  vật chất khi già yếu, mất sức lao động, bệnh tật. Năm 1960 Hội  đồng Chính phủ có Nghị quyết trong đó đã xác định “đi đôi với việc cải tiến  chế  độ  tiền lương, cần cải tiến và ban hành các chính sách cụ  thể  về  bảo   hiểm xã hội và phúc lợi cho công  nhân viên chức, cán bộ”. Thực hiện Nghị  quyết trên, các Bộ  Lao động, Bộ  Nội vụ, Bộ  Tài chính, Bộ  Y tế  và Tổng  Công đoàn Việt Nam đã phối hợp nghiên cứu xây dựng Điều lệ  tạm thời về  bảo hiểm xã hội trình Hội đồng Chính phủ  ban hành. Ngày 14/12/1961 Uỷ  15
  19. ban thường vụ  Quốc hội phê chuẩn, Chính phủ  đã ra Nghị  định số  218/CP  ngày 27/12/1961 ban hành kèm theo Điều lệ tạm thời về các chế độ bảo hiểm  xã hội đối với công nhân viên chức Nhà nước. Nội dung của Điều lệ  được  tóm tắt như sau: ­ Về đối tượng áp dụng là: công nhân viên chức Nhà nước ở các cơ quan,  xí nghiệp, công trường, nông trường, cán bộ, công nhân trong các đoàn thể  nhân dân; công nhân viên chức trong các xí nghiệp công tư  hợp doanh đã áp   dụng chế độ trả lương như xí nghiệp quốc doanh; công nhân viên chức trong  các xí nghiệp công nghiệp địa phương đã có kế  hoạch lao động, tiền lương  ghi trong kế hoạch Nhà nước. ­ Về điều kiện và mức đãi ngộ: căn cứ vào sự cống hiến thời gian công   tác, điều kiện làm việc, tình trạng mất sức lao động và trợ cấp bảo hiểm xã   hội nhìn chung thấp hơn tiền lương và thấp nhất cũng bằng mức sinh hoạt   phí tối thiểu. ­ Về  các chế độ được quy định bao gồm 6 chế  độ: ốm đau, thai sản, tai  nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, mất sức lao động, hưu trí và tử tuất; từng   chế độ có quy định cụ thể về điều kiện hưởng, tuổi đời, mức hưởng... ­ Về  nguồn kinh phí đảm bảo chi trợ cấp: do quỹ bảo hiểm xã hội của   Nhà nước đài thọ từ Ngân sách Nhà nước. ­ Về quản lý quỹ bảo hiểm xã hội: Nhà nước thành lập quỹ bảo hiểm xã  hội là quỹ  độc lập thuộc Ngân sách Nhà nước và giao cho Tổng Công đoàn  Việt Nam (nay là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam) quản lý toàn bộ  quỹ  này (sau này giao cho ngành Lao động ­ Thương binh và Xã hội quản lý quỹ  hưu trí và tử tuất). Đây là Điều lệ  tạm thời nhưng đã quy định đầy đủ  6 chế  độ  bảo hiểm   xã hội, các chế độ  này chủ  yếu dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động  16

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản