TIỂU LUẬN: Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng sài gòn công thương chi nhánh hà nội

Chia sẻ: Nguyen Linh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:80

0
172
lượt xem
83
download

TIỂU LUẬN: Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng sài gòn công thương chi nhánh hà nội

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'tiểu luận: phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng sài gòn công thương chi nhánh hà nội', luận văn - báo cáo, tài chính - kế toán - ngân hàng phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: TIỂU LUẬN: Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng sài gòn công thương chi nhánh hà nội

  1. TIỂU LUẬN: Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng sài gòn công thương chi nhánh hà nội
  2. LỜI MỞ ĐẦU Trong nền kinh tế ngày càng phát triển,vai trò của ngành dịch vụ ngân hàng – tài chính càng quan trọng.các n gân hàng thương mại trong nước từng bước nỗ lực để hoạt động hiệu quả,tồn tại và phát triển. Đời sống dân cư nâng cao,nhu cầu về tiêu dùng tăng cao với nhiều hình thức tiêu dùng khác nhau.vì thế NHTM cần phải phát triển hệ thống dịch vụ đa dạng, tiện ích, định hướng theo nhu cầu của nền kinh tế trên cơ sở nân g cao chất lượng và hiệu quả dịch vụ truyền thống và tiếp cận với hệ thống NH hiện đại. Cho vay tiêu dùng là một dịch vụ khá mới mẻ ở việt nam dù nó phổ biến trên thế giới.Các NH tại Việt Nam nói chung và ngân hàng sài gòn công thương chi nhánh hà nội nói riêng đang dần tiếp cận nguồn tài nguyên này. Khoảng thời gian thực tập, em nhận thấy rằng hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng sài gòn công thương chi nhánh hà nội là một lĩnh vực ít được chú ý và chưa thực sự khai thác triệt để,hiệu quả. em đã chọn đề tài tốt nghiệp là: “ Phát triển hoạt động c ho vay tiêu dùng tại ngân hàng sài gòn công thương chi nhánh hà nội” Đề tài được trình bày gồm 3 phần chính: Chương I: Cho vay tiêu dùng tại các NHTM Chương II: Thực trạng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng sài gòn công thương chi nhánh hà nội. Chương III: Giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng sài gòn công thương chi nhánh hà nội..
  3. CHƯƠNG I : LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. 1 .1. Các hoạt động cơ bản của NHTM 1.1.1. Khái niệm NHTM Ngân hàng là một tổ chức quan trọng bậc nhất đối với nền kinh tế của các quốc gia. Ngân hàng bao gồm nhiều loại như: Ngân hàng trung ương, ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách nhưng được đề cập đến nhiều nhất, chiếm nhiều nhất về quy mô cũng nh ư số lượng phải kể đến các NHTM. Thường thường, khi đề cập đến ngân hàng là chúng ta muốn nhắc đến NHTM. Dựa vào cơ cấu tổ chức hay là loại hình sở hữu mà chúng ta có thể chia NHTM thành các loại hình khác nhau. Tuy nhiên, khái niệm chung nhất về NHTM thì được đưa ra thông qua hoạt động của NHTM. “NH là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục những dịch vụ tài chính đa dạng , đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm,thanh toán và thực hiện nhiều dịch vụ tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.” ( Theo Quản trị ngân hàng thương mại của Peter S. Rose ) Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam thì “ Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán” 1 .1.2. Các hoạt động cơ bản của NHTM. Có thể chia hoạt động của NHTM thành các hoạt động cơ bản sau: hoạt động huy động
  4. vốn, hoạt động tín dụng, hoạt động thanh toán quốc tế và các hoạt động khác. 1.1.2.1. Huy đ ộng vốn Vốn là yếu tố cần để duy trì hoạt động của bất kì doanh nghiệp nào, ngân hàng không phải là ngoại lệ. Hoạt động huy động vốn là hoạt động cơ bản nhất, tạo tiền đề cho các hoạt động khác của ngân hàng. NHTM có thể huy động vốn bằng nhiều cách như huy động tiền gửi, huy động từ tiền vay hay huy động thêm vốn chủ sở hữu. * Huy động tiền gửi thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn huy động của ngân hàng. Nhận tiền gửi là hoạt động truyền thống của các ngân hàng. Tiền gửi được phân ra thành nhiều loại khác nhau như tiền gửi giao dịch, tiền gửi có kì hạn, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi của các tổ chức tín dụng và các ngân hàng khác. Tiền gửi giao dịch là khoản tiền mà các tổ chức, các doanh nghiệp, các cá nhân gửi vào ngân hàng với mục đích thanh toán. Ngân hàng sẽ thực hiện các lệnh chi trả trong phạm vi số dư tài khoản của khách hàng ngay khi khách hàng yêu cầu. Tiền gửi có kì hạn là khoản tiền mà khách hàng gửi vào ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định (thường là khách hàng doanh nghiệp). Khi có nhu cầu thực hiện thanh toán, khách hàng cần đến trực tiếp ngân hàng để làm thủ tục. Loại hình này hưởng lãi suất cao hơn so với tiền gửi thanh toán. Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền mà khách hàng (thường là khách hàng cá nhân) gửi vào ngân hàng với mục đích sinh lời và chỉ khi đáo hạn mới được rút tiền. Tuy nhiên, ngày nay để tăng tính cạnh tranh, các NHTM vẫn đồng ý cho khách hàng rút trước hạn nhưng sẽ bị phạt về lãi suất. Tiền gửi của các tổ chức tín dụng và các ngân hàng tại ngân hàng: Để thuận tiện trong thanh toán, các ngân hàng vẫn có tài khoản tại các ngân hàng và các tổ chức tín
  5. dụng khác. Tuy nhiên quy mô của nguồn này thường là chiẩm tỷ trọng rất nhỏ. * Huy động từ tiền vay. Đôi khi để đáp ứng những nhu cầu cấp bách của ngân hàng như nhu cầu thanh khoản, các NHTM cũng phải đi vay của các tổ chức tín dụng, các ngân hàng khác. Các nguồn vay của ngân hàng là: Vay NHTW, vay các ngân hàng, các tổ chức tín dụng khác, vay thông qua việc phát hành các giấy tờ có giá. Vay NHTW: NHTM tiến hành vay NHTW thông qua các nghiệp vụ cơ bản như: Chiết khấu thương phiếu, cho vay trong thanh toán bù trừ… Vay các tổ chức tín dụng và các NHTM khác: Việc vay mượn ngân hàng trung ương không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được và thủ tục cũng thường phức tạp vì thế các ngân hàng vẫn thường xuyên thực hiện việc vay mượn lẫn nhau. Vay trên thị trường liên ngân hàng có nhiều điểm thuận lợi hơn so với vay NHTW nhưng lãi suất trên thị trường liên ngân hàng thường rất cao. Phần lớn nguồn vốn trong ngân hàng thường là ngắn hạn, trong khi các hoạt động sử dụng vốn thì đa số lại cần sử dụng các nguồn trung và dài hạn. Việc phát hành các giấy tờ có giá sẽ giúp ngân hàng giải quyết vấn đề trên. Các giấy tờ có giá thường được ngân hàng sử dụng là các kì phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi và cả trái phiếu ngân hàng. * Một nguồn không thể không nhắc đến trong hoạt động huy động vốn của NHTM là nguồn vốn chủ sở hữu. Ngân hàng có thể tăng vốn thông qua kênh vốn chủ bằng các nguồn: Lợi nhuận giữ lại, phát hành thêm cố phiếu đối với các NHTM cổ phần, sử dụng các khoản vay có thể chuyển đổi. Tuy nhiên, việc gia tăng vốn chủ sở hữu thường không để nhằm mục đích kinh doanh mà để trang bị thêm cơ sở vật chất, mở rộng mạng lưới chi nhánh và quy mô từ tăng vốn chủ thông th ường không lớn. Nguyên nhân là do nếu lợi nhuận giữ lại quá nhiều thì sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của chủ sở hữu ngân hàng, việc phát hành thêm cổ phiều không phải thích phát hành thêm bao nhiêu cũng được mà phụ thuộc nhiều vào các cơ quan có thẩm quyền cũng như sự phát triển của thị trường tài
  6. chính, các khoản vay có thể chuyển đổi cũng như vậy. 1 .1.2.2. Hoạt động Tín dụng. Ngân hàng huy động vốn xong nếu chỉ giữ tiền trong két thì tiền không thể sinh lãi. Trong khi đó, ngân hàng vẫn phải trả lãi cho các nguồn huy động. VÌ vậy, hoạt động sử dụng vốn đóng vai trò rất quan trọng đối với các NHTM. Tín dụng là hoạt động đem lại nguồn thu lớn nhất cho các NHTM. NHTM được cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân dưới các hình thức: Cho vay; bảo lãnh; chiết khấu thương phiếu, cho thuê tài chính. * Cho vay là việc ngân hàng đồng ý cho khách hàng của mình sử dụng vốn của ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định. Khi kết thúc thời hạn cho vay, ngân hàng sẽ thu về cả vốn và lãi. Cho vay có thể chia thành nhiều loại khác nhau như: Khi căn cứ vào thời hạn khoản vay có thể chia thành cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn. Cho vay ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn dưới 1 năm. Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn trên 5 năm. Khi căn cứ vào tài sản đảm bảo có thể chia cho vay thành cho vay có tài sản đảm bảo và cho vay không cần tài sản đảm bảo. Thông thường chỉ các khách hàng uy tín, các khách hàng lớn hoặc theo chỉ đạo của Chính Phủ thì ngân hàng mới thực hiện cho vay mà không cần tài sản đảm bảo. Khi căn cứ vào mục đích khoản vay thì có cho vay tiêu dùng, cho vay dự án… Khi căn cứ vào phương th ức cho vay thì có thấu chi, cho vay trực tiếp từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luân chuyển, cho vay trả góp, cho vay gián tiếp.
  7. Trong các hoạt động cấp tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất. * Chiết khấu thương phiếu: Khi khách hàng cần tiền mặt gấp có thể đem thương phiếu đến ngân hàng. Nếu xét thấy th ương phiếu đủ độ an toàn, ngân hàng sẽ trả cho khách hàng một khoản tiền sau khi đã trừ đi lãi chiết khấu và lệ phí chiết khấu. Sau đó, khi thương phiếu đáo hạn ngân hàng sẽ chuyển thương phiếu sang phía người mua để đòi tiền. * Bảo lãnh là cam kết của ngân hàng rằng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho người được bảo lãnh nếu họ không có khả năng thực hiện đúng nghĩa vụ với bên thứ ba. Theo mục tiêu, bảo lãnh được phân thành: bảo lãnh tham gia dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước, bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay, bảo lãnh đảm bảo thanh toán. Bảo lãnh không phải là việc ngân hàng cho khách hàng sử dụng vốn ngay khi kí kết hợp đồng bảo lãnh mà là ngân hàng tài trợ cho khách hàng thông qua uy tín của ngân hàng. Chỉ khi khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ chi trả cho bên thứ ba thì ngân hàng mới phải tiến hành chi trả. Tuy nhiên, khi ngân hàng phải chi trả hộ khách hàng thì món nợ này thường được xếp vào tài sản khó có khả năng thu hồi và cấu thành nên nợ quá hạn. * Cho thuê tài chính: Đây là hình thức ngân hàng mua các tài sản cố định rồi tiến hành cho khách hàng thuê trong một khoảng thời gian nhất định theo hợp đồng thuê mua. Hết hạn thuê, khách hàng có thể mua lại tài sản. Cho thuê cũng là việc ngân hàng phải xuất tiền tại thời điểm hiện tại và kì vọng thu về cả gốc và lãi sau một khoảng thời gian nhất định. Đặc điểm này cũng giống với cho vay nhưng khi cho thuê quyền sở hữu tài sản vẫn thuộc về ngân hàng, cho thuê không có tài sản đảm bảo…
  8. Thông thường ngân hàng chỉ tiến hành cho thuê với các loại tài sản cố định như các phương tiện, máy móc, dây chuyền thiết bị… những tài sản có giá trị lớn mà thường doanh nghiệp rất cần trong sản xuất kinh doanh nhưng lại khó có khả năng mua được. 1 .1.2.3. Hoạt động Thanh toán quốc tế. Ngày nay, với xu hướng hội nhập của kinh tế thế giới, hoạt động xuất nhập khẩu đóng một vai trò quan trọng, không thể thiếu đối với nền kinh tế của bất kì quốc gia nào. Để phát triển hoạt động xuất nhập khẩu thì sự tham gia của ngân hàng là điều không thể thiếu, việc tham gia của ngân hàng vào hoạt động này sẽ xóa đi được các rào cản về địa lý khi cung ứng các loại hình dịch vụ thanh toán đảm bảo cho hoạt động thương mại quốc tế được thông suốt. Chính vì lí do đó mà hoạt động thanh toán quốc tế ngày càng trở nên phổ biến và đem lại lợi nhuận đáng kể cho các ngân hàng. Các phương thức ngân hàng dùng trong thanh toán quốc tế: Chuyển tiền, Ủy thác thu, Thanh toán bù trừ, phương th ức mở tài khoản, Thanh toán qua tài khoản treo ở nước ngoài, Thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ, Thư đảm bảo trả tiền. Trong đó phương thức tín dụng chứng từ là được sử dụng phổ biến nhất, rộng rãi nhất vì nó đảm bảo quyền lợi cho cả người mua và người bán. Chuyển tiền là việc người mua yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người bán theo giấy ủy nhiệm. Ủy thác thu: Sau khi người bán giao hàng sẽ phát hành hối phiếu đòi tiền bên mua, người bán nhờ ngân hàng thu hộ số tiền ghi trên hối phiếu. Thanh toán bù trừ: Được thực hiện dựa trên sự thỏa thuận của các thành viên trong tổ chức. Tại cùng một thời điểm nhất định, các tổ chức này sẽ tiến hành hạch toán song phương các khoản nợ trước đó. Thanh toán theo phương th ức mở tài khoản: Người bán sẽ mở tài khoản để ghi nợ người mua sau khi giao hàng. Sau đó, đến từng thời kì thỏa thuận người mua trả tiền cho
  9. người bán. Thanh toán qua tài khoản treo ở nước ngoài: Với phương th ức thanh toán này, người mua và người bán sẽ thảo thuận treo tài khoản ở nước của người mua để ghi có số tiền của người bán, số tiền này cũng sẽ dùgn để mua lại hàng hóa ở nước người mua. Thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ: Nếu sử dụng phương thức này người mua sẽ yêu cầu ngân hàng phục vụ mình mở thư tín dụng. Sau khi ngân hàng phục vụ người mua mở thư tín dụng cho khách hàng sẽ thông báo cho ngân hàng phục vụ người bán (hoặc qua ngân hàng thông báo). Ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho người bán. Căn cứ vào các nội dụng của L/C người bán tiến hành giao hàng rồi xuất trình bộ chứng từ lên ngân hàng phục vụ mình hoặc ngân hàng thông báo yêu cầu thanh toán. Sau khi kiểm tra bộ chứng từ nếu thấy bộ chứng từ là phù hợp ngân hàng thông báo sẽ chuyển bộ chứng từ sang ngân hàng phát hành L/C. Ngân hàng phát hành lại tiến hành kiểm tra bộ chứng từ nhận được. Nếu bộ chứng từ phù hợp với L/C thì sẽ tiến hành chuyển tiền cho ngân hàng đối tác và thông báo đến người mua về việc trả tiền đồng thời trao chứng từ cho người mua đi nhận hàng. Thư bảo đảm trả tiền: Ngân hàng của người mua sẽ viết th ư đảm bảo trả tiền cho người bán theo yêu cầu của người mua. Khi bên bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng như đã thỏa thuận nếu bên mua không thực hiện được nghĩa vụ tài chính của mình thì ngân hàng viết thư đảm bảo sẽ trả tiền thay cho khách hàng của mình. Một số công cụ sử dụng trong thanh toán quốc tế là Hối phiếu, Séc, Kỳ phiếu, Thẻ thanh toán 1 .1.2.4. Các hoạt động khác : Trao đổi và kinh doanh ngoại tệ: Nhiều khách hàng có nhu cầu trao đổi ngoại tệ. Do đó, tùy theo yêu cầu của khách hàng ngân hàng sẽ tiến hành trao đổi ngoại tệ và thu phí. Kinh doanh ngoại tệ cũng là lĩnh vực đem lại nhiều lợi nhuận cho ngân hàng thông
  10. qua chênh lệch tỷ giá. Bảo quản vật có giá: Ngân hàng giúp khách hàng thực hiện việc lưu giữ các tài sản có giá như vàng, giấy tờ quan trọng… Quản lý ngân quỹ: Do ngân hàng có kinh nghiệm trong quản lý và trong việc thu ngân nên nhiều doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu nhờ ngân hàng quản lý giúp ngân quỹ. Quản lý ngân quỹ cho khách hàng tức là ngân hàng sẽ quản lý việc thu chi của khách hàng đó thậm chí đầu tư phần tiền nhàn rỗi của khách hàng vào các tài sản sinh lời ngắn hạn. Tài trợ cho các hoạt động của Chính Phủ: Nhu cầu chi tiêu của Chính Phủ các quốc gia thường là rất lớn trong khi đa số ngân sách các nước đều ở trong tình trạng bội chi. Vì vậy, Chính Phủ luôn muốn tiếp cận các khoản vay của ngân hàng. Các ngân hàng thường phải chấp nhận cam kết sẽ tài trợ ở mọt mức nào đó cho các chính sách, hoạt động của Chính Phủ để nhận được giấy phép thành lập. Với việc ngày càng nhiều các tổ chức tín dụng xuất hiện và cung cấp một số sản phẩm giống với ngân hàng thì để tăng tính cạnh tranh các ngân hàng cũng đang ngày càng mở rộng phạm vi hoạt động của mình. Hiện nay, đa số các NHTM đều cung cấp dịch vụ bảo hiểm, môi giới đầu tư chứng khoán, cung cấp các dịch vụ ủy thác và tư vấn và cung cấp các dịch vụ đại lý… Các loại hình dịch vụ này góp phần không nhỏ vào việc tăng lợi nhuận cho ngân hàng, quảng bá hình ảnh của ngân hàng đối với các tổ chức, các doanh nghiệp, cá nhân trong nền kinh tế. 1 .2 . Hoạt động cho vay tiêu dùng tại NHTM 1 .2.1. Khái niệm cho vay tiêu dùng: Với việc ngày càng xuất hiện nhiều các công ty tài chính lớn, các tổ chức tín dụng cạnh tranh với các NHTM trong lĩnh vực cho vay nên tính cạnh tranh trong lĩnh vực này ngày càng quyết liệt. Đó là nguyên nhân làm thị phần cho vay của các ngân hàng giảm
  11. sút, buộc ngân hàng phải mở rộng thị phần sang mảng cho vay tiêu dùng. Cho vay tiêu dùng là hình thức tài trợ cho mục đích chi tiêu của cá nhân, hộ gia đình. Đây là nguồn tài chính giúp người tiêu dùng trang trải cho nhu cầu cuộc sống về các vấn đề như nhà ở, phương tiện đi lại, sinh hoạt, học tập,du lịch, chăm sóc sức khoẻ …trước khi họ đủ khả năng tài chính để hưởng thụ. Như vậy, có thể thấy cho vay tiêu dùng chính là quan hệ vay mượn có hoàn trả cả gốc và lãi giữa NHTM và người tiêu dùng. Các khoản cho vay tiêu dùng sẽ kích thích nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân và giúp người dân được hưởng một mức sống cao hơn. 1 .2.2. Đặc điểm cho vay tiêu dùng - Đối tượng cho vay: Khách hàng là cá nhân và các hộ gia đình và là những cá nhân hoặc hộ gia đình đầy đủ năng lực pháp lý,gồm nhiều thành phần như công nhân- viên chức nhà nước, lao động của các đơn vị không phải là Nhà nước, những người làm việc tự do… - Đặc điểm của khách hàng: Thường ít nhạy cảm với lãi suất, ít quan tâm đến mức lãi suất ghi trong hợp đồng, mà chủ yếu quan tâm đến số tiền họ phải thanh toán hơn. - Mục đ ích vay:phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình không xuất phát từ mục đích kinh doanh.phụ thuộc vào nhu cầu, tính cách của từng đối tượng và chu kỳ kinh tế người đi vay. - Về lãi suất: Lãi suất của các khoản vay tiêu dùng phần lớn đều cao hơn các khoản cho vay khác vì quy mô các khoản vay thường nhỏ (trừ vay để mua bất động sản), nên chi phí cho vay cao. Mặt khác nữa là các khoản vay tiêu dùng thường có rủi ro lớn hơn. - Nguồn trả nợ của khách hàng : trích từ thu nhập, không hẳn phải từ kết quả của việc sử dụng những khoản vay đó.
  12. CVTD thường có tài sản đảm bảo. Do người vay không sử dụng tiền vay vào các hoạt động kinh doanh,việc khách hàng trả nợ thường phụ thuộc vào các nguồn thu nhập khác,khó để ngân hàng kiểm soát hơn.nên ngân hàng hạn chế rủi ro bằng cách đòi khách hàng có tài sản đảm bảo. mức thu nhập ổn định, trình độ học vấn là những tiêu chí quan trọng để NHTM quyết định cho khách hàng vay - Lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng: Thường thì các khoản CVTD được định giá c ao để bù chi ph í lớn mà NH sẽ bỏ ra và bù đắp rủi ro phát sinh. Mặt khác do số lượng các khoản vay tiêu dùng thường khá lớn nên thu nhập từ hoạt động CVTD mang lại lợi nhuận khá cao cho NH. - Rủi ro trong cho vay tiêu dùng: CVTD là hình thức đem lại rủi ro cao nhất trong các loại hình cho vay của NH. Sở dĩ có nhận định trên là do nguồn thu nhập để trả nợ cho khoản vay hoàn toàn độc lập với việc sử dụng vốn vay. Các khoản CVTD có mục đích là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân chứ không phải là để sản xuất kinh doanh sinh lời. Hơn thế nữa, khách hàng của các khoản vay tiêu dùng là các khách hàng cá nhân nên khi khách hàng gặp những rủi ro như ốm đau, mất việc, tai nạ , hay tử vong… thì ngân hàng sẽ phải đối mặt với rủi ro không thu được nợ. Thêm vào đó, khả năng vượt qua khó khăn về mặt tài chính của cá nhân thường không tốt bằng của các doanh nghiệp. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng CVTD có rủi ro thấp. Giải thích cho quan điểm này chính là vì giá trị của mỗi khoản vay thường là nhỏ không lớn như cho các doanh nghiệp vay. Vì thế nếu trong trường hợp không thể thu được nợ thì tổn thất của ngân hàng không lớn như khi không thu được nợ của doanh nghiệp. Xác suất để xảy ra việc tất cả các khách hàng vay tiêu dùng đều không có khả năng trả nợ là gần như bằng không, xác suất này thấp hơn rất nhiều so với việc một doanh nghiệp với một khoản vay lớn
  13. không có khả năng trả nợ. - Các khoản CVTD nhạy cảm cùng với chu kỳ kinh tế: Nếu nền kinh tế mở rộng, tâm lí người tiêu dùng lạc quan về tương lai,họ sẽ có mong muốn lớn thoả mãn cuộc sống, khi đó nhu cầu vay mượn NH sẽ tăng. Ngược lại, nếu suy thoái,người dân thấy không tin t ưởng vào tương lai,đặc biệt nếu thất nghiệp thì họ sẽ hạn chế vay mượn NH để giảm gánh nặng tài chính. - Quy mô và giá tr ị các khoản vay tiêu dùng: + Giá trị của các hàng hóa tiêu dùng đa số nhỏ hơn nhiều so với giá trị các khoản đầu tư sản xuất kinh doanh. + Để đảm bảo an toàn trong hoạt động các NH thường áp dụng một định mức nhỏ cho các khoản vay tiêu dùng. Nên giá trị các khoản cho vay tiêu dùng th ường nhỏ hơn nhưng bù lại số lượng khách hàng phong phú, quy mô lớn. 1 .2 .3. Các loại hình cho vay tiêu dùng: 1.2.3.1.Phân loại theo cách thức hoàn trả: Nếu dựa trên tiêu thức là cách thức hoàn trả thì có thể chia CVTD thành: - Cho vay trả một lần - Cho vay trả góp - Cho vay tuần hoàn - Cho vay tiêu dùng trả một lần:
  14. Khách hàng trả 1 lần cho ngân hàng và thường được áp dụng với những khoản vay nhỏ và thời gian không dài. - Cho vay trả góp Thông thường có 4 phương pháp trả góp là: + Phương pháp cộng thêm + Và trả lãi theo số dư vào mỗi định kỳ. + Phương pháp trả vốn gốc bằng nhau và trả lãi tính trên mức hoàn trả của vốn gốc. + Phương pháp trả vốn và lãi bằng nhau trong tất cả các định kỳ. Phương pháp này áp dụng cho những khoản vay lớn hoặc thu nhập định kì của người vay không đủ trả trong 1lần.với cho vay trả góp loại tài sản tài trợ thường có giá trị lớn và khách hàng thường phải trả trước một số tiền nhất định về tài sản cần mua,phần còn lại là vay ngân hàng. - Cho vay tuần hoàn Đối với khoản cho vay này khách hàng được phép sử dụng thẻ tín dụng.Trong thời gian thoả thuận,,lấy nhu cầu chi tiêu và thu nhập làm căn cứ, khách hàng vay và trả nợ nhiều kỳ tuần hoàn theo một hạn mức tín dụng. 1 .2.3.2. Phân loại theo hình thức vay: Căn cứ vào tiêu thức hình thức cho vay thì CVTD gồm: - Cho vay trực tiếp - Cho vay gián tiếp.
  15. Cho vay trực tiếp: Ngân hàng và khách hàng trực tiếp thoả thuận cho vay và thu nợ. Ưu điểm: + Tận dụng tối đa kiến thức, kinh nghiệm, tầm nhìn ………của cán bộ tín dụng nên các khoản vay thường có chất lượng cao h ơn.. + linh hoạt hơn vì quan hệ trực tiếp với khách hàng nên các vấn đề phát sinh sẽ được xử lí tốt hơn và dễ tìm được phương án làm thỏa mãn cho quyền lợi hai bên. + Tốt hơn cho việc quảng bá hình ảnh. Cho vay gián tiếp Cho vay gián tiếp là hình thức cho vay mà trong đó NH mua các khoản nợ phát sinh của các DN đã bán chịu hàng hóa hoặc đã cung cấp các dịch vụ cho người tiêu dùng, hình thức này NH cho vay thông qua các DN bán hàng hoặc làm các dịch vụ mà không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng. Ưu điểm: + Tăng doanh số cho vay và mở rộng dễ dàng đồng thời giảm được chi phí cho vay + Mở rộng mối quan hệ với khách hàng,mức độ rủi ro thấp. Nhược điểm: + Không được tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nên ngân hàng thiếu sự kiểm soát,quy trình và kĩ thuật cho vay cũng khá phức tạp.
  16. 1 .2.3.3.. Phân lo ại cho vay tiêu dùng theo hình thức đảm bảo tiền vay Nếu căn cứ vào hình thức bảo đảm tiền vay thì CVTD bao gồm: - Cho vay với hình thức bảo đảm bằng tài sản thuộc sở hữu hay sử dụng lâu dài của khách hàng - Cho vay có đảm bảo bằng tài sản hình thành từ tiền vay.  Hình thức bảo đảm bằng tài sản thuộc sở hữu hay sử dụng lâu dài của khách hàng. ∙ Cho vay thế chấp. Trong hình thức cho vay này, người vay phải chuyển các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu (hoặc sử dụng) các tài sản đảm bảo sang cho NH nắm giữ trong thời hạn đã cam kết. ∙ Cho vay đảm bảo bằng lương hay thu nhập. Dùng lương để thế chấp vay .Chủ yếu áp dụng cho khách hàng có việc làm và thu nhập ổn định.NH cần có một bảng kê khai các khoản thu nhập về lương và thu nhập khác (có xác nhận của đơn vị trả lương) cũng như chi tiêu thường xuyên của người vay để xét duyệt cho vay. Cho vay cầm cố: Cho vay cầm cố là hình thức NH cho vay tiền và giữ tài sản của khách hàng để đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ của khách hàng trong hợp đồng cầm đồ. quy định pháp luật và chính sách tín dụng của NHCV là cơ sở cho Danh mục và điều kiện của tài sản cầm đồ được NH quy định cụ thể. Thời hạn và mức cho vay:Đối với các loại giấy tờ có giá trị, thời hạn cầm đồ ngắn hơn thời gian lưu hành còn lại của giầy tờ có giá một thời gian nhất định( ví dụ 15 ngày) và tối đa không quá 12 tháng, mức cho vay tối đa của NH thường được tính trên giá trị
  17. đáo hạn, tính theo công thức: Mcv = GĐH x (1 – TLH x Lcv) với: Mcv : Mức cho vay tối đa GĐH : Giá trị đến hạn thanh toán của giấy tờ có giá TLH : Thời gian lưu hành còn lại của giấy tờ có giá LCV : Lãi suất cho vay Đôi với tài sản khác, thời hạn căn cứ theo loại,tính chất, điều kiện bảo quản của tài sản. Mức cho vay xác định từ giá trị, mức tiêu thụ , độ bền của tài sản và tối đa không quá 80% giá trị thị trường của tài sản tại thời điểm cầm đồ. Cho vay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ tiền vay. Hình thức này áp dụng với tài sản giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài:sửa chữa, mua nhà, mua quyền sử dụng đất; mua ô tô… thường là khoảng 50-60% tài sản mua. NH và khách hàng chỉ ký hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ khi khách hàng đã nộp tiền vào tài khoản của mình mở tại NH. 1 .2 .3.4. Phân loại cho vay tiêu dùng căn cứ vào một số tiêu chí khác Ngoài ra CVTD còn được phân loại phân loại dựa trên việc kết hợp hai tiêu thức mục đích khoản vay và phương tiện thanh toán.  Cho vay mua, xây dựng và sửa chữa lớn nhà ở: đây thường là các khoản vay dài hạn và được đảm bảo bằng chính tài sản đó.
  18.  Cho vay qua thẻ tín dụng  Cho vay cầm cố sổ tiết kiệm và giấy tờ có giá  Cho vay cán bộ công nhân viên  Cho vay du học Phân loại dựa trên một danh mục như trên sẽ tạo ra sự linh động, dễ dàng cho khách hàng, và giúp cho NH có thể quản lý chặt chẽ các khoản vay. 1 .2.4 Lãi suất cho vay tiêu dùng Lãi suất là tỷ lệ giữa số tiền lãi mà khách hàng phải trả cho ngân hàng trên tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định. Lãi suất cho vay phụ thuộc vào nhiều yêu tố như: thời hạn của khoản vay, mức độ rủi ro của khoản vay, tình hình của thị trường… Nhìn chung, các mức lãi suất mà ngân hàng đ ưa ra sẽ phải bù đắp đủ chi phí và mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Phần lớn lãi suất được xác định dựa trên lãi suất cơ bản cộng phần lợi nhuận cận biên và phần bù đắp rủi ro,công thức thường đ ược sử dụng : Lãi xuất Chi phí Chi phí Rủi ro Ph ần bù kỳ Lợi cho vay huy hoạt tổn hạn với các nhuận = + + + + tiêu động động thất dự khoản cho cận dùng vốn khác kiến vay dài hạn biên 1 .2 .5 Quy trình nghiệp vụ của cho vay tiêu dùng Bước 1: hướng dẫn về điều kiện tín dụng và kiểm tra hồ sơ vay vốn của khách hàng. Lập hồ sơ đầy đủ bao gồm:CMTND,sổ hộ khẩu,chính quyền địa phương xác nhận về
  19. chữ ký tạm trú ,thường trú, các giấy tờ khác theo quy định của pháp luật, giấy đề nghị vay vốn,giấy xác nhận là cán bộ nhân viên,giấy tờ chứng minh thu nhập……….. Bước 2:thu thập điều tra thông tin liên quan đến khách hàng. Kiểm tra xác minh thông tin khách hàng thông qua:  Hồ sơ vay vốn trước đây của khách hàng  Trung tâm thông tin tín dụng  Bạn hàng và đối tác làm ăn.  Các cơ quan quản lý trực tiếp khách hàng xin vay. Bước 3: Phân tích tín dụng. Theo các nội dung sau: - Năng lực pháp lý của của KH: đạo đức khách hàng. đánh giá đạo đức khách hàng chính xác nhất có thể để tránh những rủi ro đạo đức có thể có.  Độ tin cậy. Mục đ ích khoản tín dụng: cấp cho các mục đích sử dụng hợp lí. Khả năng hoàn trả của khách hàng: được đánh giá qua nhiều tiêu thức như tuổi đời, điều kiện gia đình,số dư tài khoản, địa vị,sức khoẻ…  Các đảm bảo tín dụng.  nếu khoản vay được phê duyệt thì dự kiến lợi nhuận vay được cho ngân hàng.  khoản vay được, cũng cần lưu ý là phải xem tổng thể các lợi ích khác khi thiết
  20. lập quan hệ tín dụng với khách hàng (ví dụ, lợi nhuận của khoản vay có thể không cao như mong muốn, nhưng bù lại, khách hàng luôn duy trì quan hệ tiền gửi ở mức cao, khách hàng thường xuyên có thể có nguồn ngoại tệ để bán cho NH…) phương thức, số lượng và kì hạn cho vay: + NH sẽ cho vay khoản chênh nhau giữa chi phí cần mua sắm với khả năng tài chính tự có sau khi đã trừ khả năng tài chính của cá nhân vay,giá trị tài sản đảm bảo……. + Kỳ hạn: cũng gồm ngắn,trung và dài hạn. +Tùy theo yêu cầu vay vốn của khách hàng, và quan hệ của khách hàng mà NH quyết định phương thức cho vay. Bước 4: Phê duyệt khoản vay Hồ sơ vay vốn do cán bộ tín dụng lập được lãnh đạo phê duyệt (đầy đủ nội dung về số tiền,lãi suất,thời hạn cho vay.)sau đó ngân hàng cho vay được phép giải ngân.. Bước 5: Ký k ết hợp đồng Hợp đồng được lập để xác định quyền lợi của ngân hàng và khách hàng,là một cam kết buộc phải tuân thủ và dựa trên điều khoản của các luật,các quy định. Bước 6:kiểm soát và giải ngân: Sau khi hoàn thành thủ tục kí kết hợp đồng ngân hàng cấp tiền cho khách hàng như thỏa thuận.Tuy nhiên trong giai đoạn này ngân hàng vẫn phải theo dõi và kiểm soát việc sử dụng vốn của khách hàng để có hành động xử lí kịp thời nếu cảm thấy khoản tín dụng ấy có chiều hướng xấu đi. Bước 7: Theo dõi nợ, thu nợ và xử lý nợ quá hạn. Theo dõi n ợ:

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản