intTypePromotion=3

Tiểu luận quản trị chiến lược: Xây dựng chiến lược sản phẩm tại công ty bánh kẹo Hải Hà giai đoạn 2010 - 2015

Chia sẻ: Dsfcf Dsfcf | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:47

0
321
lượt xem
113
download

Tiểu luận quản trị chiến lược: Xây dựng chiến lược sản phẩm tại công ty bánh kẹo Hải Hà giai đoạn 2010 - 2015

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận quản trị chiến lược: Xây dựng chiến lược sản phẩm tại công ty bánh kẹo Hải Hà giai đoạn 2010 - 2015 nhằm khái quát chung về công ty, phân tích môi trường vi mô và vĩ mô. từ hoàn cảnh nội bộ, sử dụng chuỗi giá trị để xác định các khâu tạo giá trị gia tăng cao theo nhóm giá trị tiêu biểu của khách hàng mục tiêu của công ty, định hướng phát triển của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà tới năm 2015.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận quản trị chiến lược: Xây dựng chiến lược sản phẩm tại công ty bánh kẹo Hải Hà giai đoạn 2010 - 2015

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM KHÓA 19 CAO HỌC QTKD  MÔN : QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC ĐỀ TÀI: XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI HÀ GIAI ĐOẠN 2010 - 2015 GV HD: TS. Hoàng Lâm Tịnh HVTH: Nhóm 16 NGUYẾN THẾ ANH LÊ CÔNG CHÁNH TRẦN THỊ MỸ HẰNG NGUYỄN TẤN BỬU VÕ THỊ MAI THANH NGUYỄN THỤY CHÂU THÁI ĐẶNG TRẦN CƯỜNG NIÊN KHÓA: 2009 -2011
  2. MỤC LỤC PHẦN I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI HÀ …1 I. Quá trình hình thành và phát triển.............................................................................1 II. Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty ……………………………………...3 PHẦN II: PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG VI MÔ VÀ VĨ MÔ. TỪ HOÀN CẢNH NỘI BỘ, SỬ DỤNG CHUỖI GIÁ TRỊ ĐỂ XÁC ĐỊNH CÁC KHÂU TẠO GIÁ TRỊ GIA TĂNG CAO THEO NHÓM GIÁ TRỊ TIÊU BIỂU CỦA KHÁCH HÀNG MỤC TIÊU CỦA CÔNG TY ………………………………. 9 I. Các nhân tố rủi ro ……………………………………………………………9 II. Môi trường vĩ mô …………………………………………………………….11 III. Môi trường cạnh tranh nội bộ ngành ............................................................14 IV. Phân tích hoàn cảnh nội bộ và sử dụng chuỗi giá trị để xác định các khâu tạo giá trị gia tăng cao theo nhóm giá trị tiêu biểu của khách hàng mục tiêu của công ty ………………………………………………………………………..17 V. Đánh giá chung vị thế của công ty so với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành ………………………………………………………………………...28 PHẦN III: XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TỚI 2015 …………………………………………………………………………………….34 I. Sự cần thiết phải hoạch định chiến lược sản phẩm ……………………………34 II. Chiến lược sản phẩm đã và đang thực hiện ……………………………………35 III. Định hướng phát triển của Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà tới năm 2015 ......................................................................................................................................36 KẾT LUẬN …………………………………………………………………………………..45
  3. GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh Xây dựng chiến lược - Công ty bánh kẹo Hải Hà PHẦN I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI HÀ I. Quá trình hình thành và phát triển 1. Giới thiệu về công ty 1.1. Tên địa chỉ của Công ty Tên Công ty : Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Hà Viết tắt : HAIHACO Trụ sở chính : 25 Trương Định, Quận Hai Bà Trưng Hà Nội Điện thoại : +84-(0)4-863.29.56 Fax : +84-(0)4-863.16.83 Website : www.haihaco.com.vn Lĩnh vực : Sản xuất - Chế biến - Chế tạo Ngành : SX chế biến thực phẩm 1.2. Thời điểm thành lập và các mốc quan trọng trong quá trình phát triển Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Hà được thành lập ngày 25/12/1960 đã trải qua quá trình phát triển gần nửa thế kỷ, từ một xưởng làm nước chấm và mà giờ đã trở thành một trong những nhà sản xuất bánh kẹo hàng đầu Việt Nam với qui mô sản xuất lên tới 20.000 tấn sản phẩm/năm. Các thành tích trong những năm vừa qua của Công ty đã được nhà nước đánh giá cao thông qua việc được nhận huân chương Độc lập hạng Ba và các huân chương Lao động hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba. Trong thời kỳ sau năm 2000 trở lại đây đứng trước những thách thức mới nảy sinh trong quá trình hội nhập, Công ty đã chủ động đầu tư máy móc thiết bị tiên tiến sản xuất ra những sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao như Kẹo chew, Bánh kem xốp, Bánh xốp có nhân Miniwaf, Bánh dinh dưỡng dành cho học sinh theo chương trình hợp tác với tổ chức quốc tế Gret và Viện dinh dưỡng Bộ Y tế, các sản phẩm bổ sung canxi, vitamin hợp tác sản xuất với hãng Tenamyd Canada. Hiện nay Công ty là một trong số các Nhà sản xuất Bánh kẹo hàng đầu Việt Nam với sản lượng bình quân hàng năm trên 15.000 tấn. Công ty đã áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 và Hệ thống HACCP theo Tiêu chuẩn TCVN 5603:1998 và HACCP CODE:2003. HVTH: Nhóm 16 – K19 Trang 1
  4. GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh Xây dựng chiến lược - Công ty bánh kẹo Hải Hà Công ty cổ phần Bánh kẹo Hải Hà là Doanh nghiệp đầu tiên trong lĩnh vực sản xuất bánh kẹo được cấp chứng nhận hệ thống "Phân tích mối nguy và các điểm kiểm soát tới hạn" (HACCP) tại Việt Nam. Điều này thể hiện cam kết của Lãnh đạo doanh nghiệp về đảm bảo an toàn thực phẩm đối với sức khoẻ của người tiêu dùng. Năm 2003 Công ty thực hiện cổ phần hóa theo quyết định số 191/2003/QĐ-BCN ngày 14/11/2003 của Bộ Công nghiệp. Công ty chính thức hoạt động dưới hình thức Công ty cổ phần từ ngày 20/01/2004 theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103003614 do Sở Kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp và thay đổi lần thứ hai ngày 13/08/2007. Các hoạt động sản xuất kinh doanh chính bao gồm: • Sản xuất, kinh doanh bánh kẹo và chế biến thực phẩm. • Kinh doanh xuất nhập khẩu: nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, sản phẩm chuyên ngành, hàng hoá tiêu dùng và các sản phẩm hàng hoá khác. • Đầu tư xây dựng, cho thuê văn phòng, nhà ở, trung tâm thương mại. HAIHACO có tốc độ tăng trưởng của lợi nhuận trước thuế bình quân là trên 10%/năm, đạt 17,472 tỷ đồng năm 2006 và 14,756 tỷ đồng năm 2005. Tỷ lệ cổ tức duy trì ổn định ở mức trên 12%. Với chiến lược phát triển trong thời gian tới, Công ty sẽ nâng cao được năng lực sản xuất kinh doanh và đa dạng hóa sản phẩm thông qua dự án đầu tư dây chuyền thiết bị đồng bộ sản xuất bánh mềm cao cấp phủ sôcôla. 2. Cơ cấu tổ chức Công ty Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà được tổ chức và hoạt động tuân thủ theo Luật Doanh nghiệp 2005. Các hoạt động của Công ty tuân theo Luật Doanh nghiệp, các Luật khác có liên quan và Điều lệ Công ty. Điều lệ Công ty bản sửa đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua ngày 24/03/2007 là cơ sở chi phối cho mọi hoạt động của Công ty. Trụ sở, chi nhánh Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà: - Trụ sở chính: 25 Trương Định, Quận Hai Bà Trưng Hà Nội - Chi nhánh miền Nam: Lô 27, Đường Tân Tạo, Khu Công Nghiệp Tân Tạo, Quận Bình Tân, TP Hồ Chí Minh - Chi nhánh miền Trung: 134- Ðường Phan Thanh - Quận Thanh Khê, Đà Nẵng - Các nhà máy, xí nghiệp sản xuất HVTH: Nhóm 16 – K19 Trang 2
  5. GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh Xây dựng chiến lược - Công ty bánh kẹo Hải Hà Sơ đồ bộ máy quản lý của Công ty Cổ phần Bánh kẹo Hải Hà : II. Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty: 1. Các nhóm sản phẩm chính: Hiện nay, HAIHACO tập trung phát triển 2 loại sản phẩm chính là Kẹo và Bánh, mỗi loại bao gồm các nhóm sản phẩm sau: - Kẹo: Kẹo “CHEW HAIHA”, Kẹo xốp mềm, Kẹo Jelly “CHIP HAI HA”, Kẹo cứng nhân, Kẹo cây “ HAIHAPOP”; - Bánh: Bánh quy, Bánh kem xốp, Bánh xốp cuộn MINIWAF, Bánh Snack-mimi, Bánh cracker; Bánh Trung thu, Bánh hộp; - Dòng bánh mềm cao cấp phủ sôcôla với công nghệ và thiết bị hiện đại của châu Âu và Hàn quốc sẽ có mặt trên thị trường vào tháng 11 năm 2007 với các nhãn hiệu: Long-pie, Long-cake, Hi-pie, Lolie. 1.1 Kẹo Chew:   Kẹo Chew :là loại kẹo dẻo, có thành phần chủ yếu từ đường Gluco, chất béo, sữa...với các hương vị hoa quả vùng nhiệt đới. Trong các năm 2002 và 2004 Công ty đã đầu tư hai dây chuyền thiết bị đồng bộ sản xuất kẹo Chew trị giá trên 2 triệu Euro của Cộng hòa liên bang Đức với công suất 20 tấn/ngày. Qua 5 năm phát HVTH: Nhóm 16 – K19 Trang 3
  6. GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh Xây dựng chiến lược - Công ty bánh kẹo Hải Hà triển, Công ty đã cho ra đời hàng chục mẫu mã sản phẩm khác nhau, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng đa dạng của nhiều đối tượng khách hàng. Nhãn hiệu “Chew Hải Hà” được Cục Sở hữu trí tuệ cấp bảo hộ độc quyền quyền năm 2003.  Sản phẩm kẹo “Chew Hải Hà” của Công ty được đánh giá là dòng sản phẩm chủ lực, khẳng định lợi thế đi đầu của Công ty và chất lượng của nhóm sản phẩm.  Các nhãn hiệu sản phẩm tiêu biểu cho nhóm hàng này là chuỗi sản phẩm kẹo Chew hoa quả: Chew nho đen, Chew dâu, Chew đậu đỏ, Chew Coffee, Chew Taro, Chew caramen, Chew me cay, Chew sôcôla … 1.2 Kẹo mềm, kẹo cứng:  Kẹo mềm và kẹo cứng là nhóm sản phẩm truyền thống của công ty với 2 dây chuyền nhập khẩu trị giá 1,5 triệu USD, công suất 20 tấn/ngày. Sản phẩm được sản xuất liên tục với trên 40 nhãn hiệu để đáp ứng mọi nhu cầu tiêu thụ của khách hàng.  Nhãn hiệu tiêu biểu: kẹo caramen Gold Bell, kẹo me, kẹo nhân dứa, kẹo cứng nhân sôcôla, kẹo xốp cam, kẹo xốp dâu, kẹo xốp chuối... 1.3 Kẹo Jelly:  Các nhãn hiệu được đăng ký độc quyền với Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam. Kẹo Jelly được đầu tư nghiên cứu với nhiều chủng loại, hương vị mang tính cách tân, mẫu mã phong phú, rất phù hợp với các đối tượng khách hàng trẻ trung, năng động.  Các loại kẹo Jelly mà Công ty đang sản xuất: Jelly cốc, Jelly xốp, Jelly “Chip Hải Hà”; 1.4 Bánh quy & cracker  Bánh quy, cookie có thành phần chủ yếu từ bột, trứng, đường, sữa. Với công suất 6 tấn mỗi ngày trên dây chuyền sản xuất trị giá 1 triệu USD của Đan Mạch, các sản phẩm của Công ty sản xuất ra có chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu người tiêu dùng, nhất là trong các dịp Lễ, Tết hàng năm.  Bánh craker là loại sản phẩm chế biến từ bột lên men. Công ty đầu tư một dây chuyền trị giá 1 triệu USD, công suất 7 tấn/ngày, với các nhãn hiệu như Bánh Dạ HVTH: Nhóm 16 – K19 Trang 4
  7. GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh Xây dựng chiến lược - Công ty bánh kẹo Hải Hà Lan Hương, bánh kẹp kem, Bánh cracker vừng, Bánh cracker dừa, Bánh Bisavit- A... 1.5 Bánh kem xốp: Bánh kem xốp là dòng sản phẩm truyền thống của Công ty, với công suất 5 tấn/ngày. Các sản phẩm được sản xuất với công nghệ hiện đại, giữ vững được chất lượng và liên tục cải tiến. 1.6 Bánh hộp, Bánh Trung thu:  Bánh Trung thu là mặt hàng có tính mùa vụ rõ rệt, đây cũng là một sản phẩm Công ty mới khai thác. Tuy nhiên sản lượng bánh Trung thu của Công ty có tốc độ tăng trưởng cao qua các năm.  Bánh kẹo hộp cũng là sản phẩm có tính mùa vụ. Các sản phẩm bánh, kẹo cao cấp của Công ty được đóng gói trong hộp sắt, hộp giấy, hộp nhựa với nhiều kích cỡ và chủng loại khác nhau, phục vụ trong dịp Lễ, Tết là quà biếu đặc biệt, sang trọng. 1.7 Bánh mềm cao cấp:  Bánh mềm cao cấp phủ và không phủ sôcôla sẽ là dòng sản phẩm cao cấp phục vụ cho cuộc sống công nghiệp hiện đại, với chất lượng và kiểu dáng mới lạ so với tất cả các sản phẩm bánh mềm phủ sôcôla hiện có được sản xuất và tiêu thụ trên thị trường Việt Nam.  Công ty đầu tư dây chuyền đồng bộ, xây dựng mới nhà xưởng đảm bảo tiêu chuẩn HACCP với chiến lược tạo ra sản phẩm độc đáo, chất lượng sản phẩm vượt trội nhằm chiếm lĩnh thị trường trong và ngoài nước. HVTH: Nhóm 16 – K19 Trang 5
  8. GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh Xây dựng chiến lược - Công ty bánh kẹo Hải Hà HVTH: Nhóm 16 – K19 Trang 6
  9. GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh Xây dựng chiến lược - Công ty bánh kẹo Hải Hà 2. Sản lượng sản phẩm/giá trị dịch vụ qua các năm 2.1 Doanh thu từng nhóm sản phẩm qua các năm Bảng 5: Doanh thu các nhóm sản phẩm qua các năm Năm 2007 Năm 2008 6 tháng đầu năm 2009 Doanh Doanh Sản Tỉ Sản Doanh Tỉ Sản Tỉ Dòng sản phẩm thu thu lượng trọng lượng thu (tỷ trọng lượng trọng (tỷ (tỷ (tấn) (%) (tấn) đồng) (%) (tấn) (%) đồng) đồng) Kẹo mềm các loại 4.763 98,2 29,5 3.745 81,4 24,7 1.424 27,8 18,6 Kẹo cứng các loại 2.309 38,1 11,4 1.724 34,5 10,5 714 17,8 11,9 Bánh quy & craker 2.867 44,3 13,3 2.215 39,9 12,1 696 16,6 11,1 Bánh kem xốp 1.586 31,5 9,5 1.683 36,0 10,9 652 15,7 10,5 Kẹo Jelly 776 23,3 7 918 28,4 8,6 448 15,7 10,5 Kẹo Chew 4.115 94,6 28,5 4.287 106,0 32,1 1.838 49,6 33,1 Các sản phẩm khác 60 2,8 0,8 70 3,6 1,1 243 6,4 4,3 Tổng cộng 16.476 332,8 100,0 14.642 329,8 100,0 6.015 149,6 100,0 2.2 Cơ cấu doanh thu của từng nhóm sản phẩm Biểu đồ 1: Cơ cấu doanh thu của từng nhóm sản phẩm qua các năm (Nguồn: Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà) Năm 2007 Năm 2008 kẹo chew kẹo chew Kẹo Jelly Kẹo Jelly 0.80% 1.10% 29.50% 28.50% Bánh kem xốp 24.70% 32.10% Bánh kem xốp Bánh quy & craker Bánh quy & craker 7.00% 10.50% 11.40% Kẹo cứng các loại 8.60% Kẹo cứng các loại 13.30% 9.50% 12.10% 10.90% Kẹo mềm các loại Kẹo mềm các loại Các sản phẩm khác Các sản phẩm khác 6 tháng đầu năm 2009 6 tháng đầu năm 2009 kẹo chew 4.30% Kẹo Jelly 18.60% 33.10% Bánh kem xốp Bánh quy & craker 11.90% Kẹo cứng các loại 11.10% 10.50% 10.50% Kẹo mềm các loại Các sản phẩm khác 2.3 Lợi nhuận qua các năm HVTH: Nhóm 16 – K19 Trang 7
  10. GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh Xây dựng chiến lược - Công ty bánh kẹo Hải Hà Bảng 6: Lợi nhuận theo dòng sản phẩm qua các năm 2007 2008 6 tháng đầu năm 2009 Dòng sản phẩm Lợi nhuận Tỉ trọng Lợi nhuận Tỉ trọng Lợi nhuận Tỉ trọng (tỷ đồng) (%) (tỷ đồng) (%) (tỷ đồng) (%) Kẹo mềm các loại 3,3 24,9 4,5 27,3 1,0 19,6 Kẹo cứng các loại 1,4 10,2 1,4 8,5 0,6 11,7 Bánh quy & craker 0,8 5,5 0,6 3,6 0,1 1,7 Bánh kem xốp 1,2 8,9 1,8 10,9 0,3 5,1 Kẹo Jelly 1,2 8,6 1,3 7,9 0,8 14,9 Kẹo Chew 5,0 37,5 6,2 37,6 2,3 45,2 Các sản phẩm khác 0,6 4,4 0,7 4,2 0,1 1,9 Tổng cộng 13,5 100,0 16,5 100,0 5,2 100,0 Nguồn: Báo cáo tài chính đã được VACO kiểm toán các năm 2007, 2008 và báo cáo tài chính 6 tháng đầu năm 2009 của Công ty HVTH: Nhóm 16 – K19 Trang 8
  11. GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh Xây dựng chiến lược - Công ty bánh kẹo Hải Hà PHẦN II PHÂN TÍCH MÔI TRƯỜNG VI MÔ VÀ VĨ MÔ. TỪ HOÀN CẢNH NỘI BỘ, SỬ DỤNG CHUỖI GIÁ TRỊ ĐỂ XÁC ĐỊNH CÁC KHÂU TẠO GIÁ TRỊ GIA TĂNG CAO THEO NHÓM GIÁ TRỊ TIÊU BIỂU CỦA KHÁCH HÀNG MỤC TIÊU CỦA CÔNG TY. I. Các nhân tố rủi ro 1. Rủi ro về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người có ảnh hưởng đến tất cả các ngành tiêu dùng, đặc biệt là việc làm tăng hoặc giảm sức tiêu thụ sản phẩm bánh kẹo. Những sản phẩm bánh kẹo mặc dù mang tới cho người sử dụng một lượng dinh dưỡng nhất định tuy nhiên sức tiêu thụ các sản phẩm bánh kẹo phụ thuộc nhiều vào tình trạng của nền kinh tế. Theo đánh giá của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc UNDP, những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân cao. Các chuyên gia phân tích đều cho rằng Việt Nam có khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định như hiện nay. Tuy nhiên khi nền kinh tế suy giảm, người tiêu dùng sẵn sàng giảm lượng tiêu thụ các sản phẩm bánh và kẹo, ngược lại, khi nền kinh tế tăng trưởng khả quan và bình ổn, mức sống của người dân được cải thiện nhu cầu sử dụng các sản phẩm bánh kẹo cũng sẽ tăng theo. 2. Rủi ro về luật pháp Ngành bánh kẹo là ngành mang tính cạnh tranh cao. Các sản phẩm phải thay đổi mẫu mã liên tục nhằm đáp ứng những nhu cầu mới của thị trường. Với đặc điểm đó, HAIHACO nhận định sẽ gặp phải những tranh chấp thương mại, bản quyền, mẫu mã…với các đối thủ cùng ngành. Đây là một vấn đề quan trọng, bảo vệ quyền lợi khách hàng cũng như uy tín thương hiệu của Công ty nhất là khi Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập với Thế giới. Bên cạnh đó, Công ty hoạt động theo Luật doanh nghiệp nên bất kỳ thay đổi nào của Luật doanh nghiệp cũng có tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. 3. Rủi ro về tỷ giá Một số nguyên liệu được nhập khẩu nên sự biến động về tỷ giá cũng sẽ ảnh hưởng tới giá thành sản phẩm. Bên cạnh đó, phần lớn máy móc của Công ty đều được nhập từ HVTH: Nhóm 16 – K19 Trang 9
  12. GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh Xây dựng chiến lược - Công ty bánh kẹo Hải Hà nước ngoài do vậy những dự án đầu tư mới của Công ty cũng phải gánh chịu những biến động về tỷ giá. 4. Rủi ro về hàng giả, hàng kém phẩm chất Mặc dù thị trường bánh kẹo Việt Nam hiện nay khá đa dạng với sự tham gia đông đảo của các công ty trong nước và nước ngoài, nhưng vấn nạn hàng giả, hàng kém phẩm chất vẫn còn tồn tại. Các sản phẩm hàng giả và hàng nhái bắt chước mẫu mã, kiểu dáng của các thương hiệu nổi tiếng như Hải Hà, Kinh Đô, Bibica…ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín của những thương hiệu nổi tiếng. Những năm qua, công tác phòng chống hàng giả cũng đã có những hiệu quả nhất định, tuy nhiên theo Công ty nhận định số lượng bánh kẹo giả lưu hành trên thị trường vẫn còn khá lớn, chiếm khoảng 15% thị phần bánh kẹo cả nước. 5. Rủi ro biến động giá nguyên vật liệu Nguyên vật liệu chiếm tỉ trọng lớn trong giá thành sản phẩm (khoảng 65%-70%), vậy nên biến động giá nguyên vật liệu sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới giá thành sản phẩm. Tuy nhiên, do đặc thù của ngành bánh kẹo là tính cạnh tranh cao nên Công ty không thể cùng lúc nâng giá bán sản phẩm. Giá bán sản phẩm chỉ có thể điều chỉnh khi cả thị trường bánh kẹo điều chỉnh giá bán, chịu áp lực tăng giá nguyên vật liệu trong một thời gian dài. Các rủi ro tăng biến động giá nguyên liệu có thể xảy ra:  25% chi phí nguyên liệu là chi phí cho nguyên liệu đường kính, vậy nên sự biến động giá đường thời gian vừa qua cũng đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Hơn thế nữa, giá bán đường của Việt Nam sản xuất hiện nay cao hơn 20-30% giá đường của Thái Lan, điều này làm tăng chi phí nguyên liệu, giảm sự cạnh tranh của các sản phẩm bánh kẹo Việt Nam. Sự biến động giá đường nguyên nhân là do quy hoạch vùng nguyên liệu còn yếu, giống mía chưa cho năng suất và sản lượng tốt nhất. Tuy nhiên, theo quy hoạch phát triển ngành nguyên liệu mía đường thời gian tới và định hướng năm 2020 của Chính phủ, nguồn nguyên liệu mía đường sẽ nhanh chóng phát triển về cả lượng và chất, đem lại sự bình ổn về giá cả và lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp bánh kẹo Việt Nam.  Dịch cúm gia cầm thời gian qua có tác động rất lớn tới tâm lý người tiêu dùng, tuy Công ty đã sử dụng bột trứng nguyên chất nhập khẩu nhưng dịch cúm cũng gây ra những tác động nhất định, ảnh hưởng tới sức tiêu thụ sản phẩm bánh kẹo. HVTH: Nhóm 16 – K19 Trang 10
  13. GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh Xây dựng chiến lược - Công ty bánh kẹo Hải Hà  Biến động giá nguyên liệu nhập khẩu: Có một số nguyên phụ liệu cho sản xuất bánh kẹo phải nhập khẩu, khi giá thế giới lên sẽ ảnh hưởng rất lớn đến giá bán của các sản phẩm sử dụng nhiều nguyên liệu nhập khẩu. 6. Các rủi ro khác Các rủi ro khác như thiên tai, địch họa, hỏa hoạn .v.v.là những rủi ro bất khả kháng. Nếu xảy ra sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động sản xuất của Công ty. II. Môi trường vĩ mô 1. Nhân tố kinh tế Trong những năm gần đây nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển nhanh chóng, tốc độ tăng trưởng GDP từ năm 2005 đến 2009 lần lượt là: 8,4%; 8,17%; 8,5%; 6,23%; 5,2%. Riêng hai năm 2008 và 2009, GDP tăng thấp do ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế thế giới. Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người tăng từ 715 USD năm 2005 lên hơn 1000 usd năm 2009. Bên cạnh đó sự phân hoá thu nhập với khoảng cách ngày càng xa dẫn đến ngày càng gia tăng người tiêu dùng chấp nhận mức giá cao và có những người chỉ chấp nhận mức giá vừa phải và thấp cho sản phẩm mình tiêu dùng. Khi mức sống của người dân tăng lên thì nhu cầu của thị trường đối với bánh kẹo đòi hỏi phải thoả mãn về số lượng, chất lượng cao hơn, mẫu mã phong phú hơn, phải bảo đảm vệ sinh, an toàn cao hơn. Sự phân hoá giàu nghèo là một thách thức đối với công ty sản xuất bánh kẹo với chất lượng trung bình. Mặc dù nằm trong khu vực khủng hoảng tiền tệ Châu Á nhưng nhìn chung về cơ bản những năm qua việc điều hành chính sách tiền tệ đã có những tác động tích cực tới thị trưòng tiền tệ, thị trường vốn của nước ta, hạn chế những tác động tiêu cực của thị trường tài chính quốc tế. Sự thuận lợi trên thị trường tài chính, tiền tệ sẽ tạo điều kiện cho công ty đầu tư mở rộng sản xuất. 2. Các yếu tố về chính trị pháp luật Cùng với xu thế phát triển của khu vực và thế giới, trong nững năm qua nước ta đang chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tée thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước đã đẩy mạnh xây dựng, đổi mới thể chế pháp luật. Các luật và pháp lệnh quan trọng thể hiện sự thay đổi này là: luật đầu tư trong nước và nước ngoài tại Việt Nam, bộ luật thuế áp dựng thống HVTH: Nhóm 16 – K19 Trang 11
  14. GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh Xây dựng chiến lược - Công ty bánh kẹo Hải Hà nhất cho mọi thành phần kinh tế, luật bảo vệ môi trường, pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm, luật doanh nghiệp, luật bản quyền. Đồng thời với quá trình xây dựng, sửa đổi các bộ luật cho phù hợp, Chính phủ cũng đẩy mạnh cải tiến thể chế hành chính. Sau khi thực hiện luật doanh nghiệp năm 1999, Chính phủ đã bãi bỏ 150 giấy phép con và nhiều loại phí, lệ phí không hợp lý, đơn giản thủ tục giấy phép thành lập doanh nghiệp… đã tạo ra môi trường pháp lý thông thoáng thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Đối với mặt hàng bánh kẹo, Chính phủ đã có pháp lệnh về vệ sinh an toàn thực phẩm, Luật bản quyền sở hữu công nghiệp quy định ghi nhãn mác, bao bì nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và các công ty làm ăn chân chính. Nhưng việc thi hành của các cơ quan chức năng không triệt để nên trên thị trường vẫn còn lưu thông một lượng hàng giả không nhỏ, hàng nhái, hàng không rõ nhãn mác, hàng kém phẩm chất, quá hạn sử dụng… 3. Các nhân tố xã hội Bánh kẹo tuy không phải là nhu cầu thiết yếu của con người nhưng nó là một sản phẩm kế thừa truyền thống ẩm thực của Việt Nam nói chung và của các vùng nói riêng. Do đó bản sắc văn hoá phong tục tập quán, lối sống của từng vùng ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu tiêu dùng bánh kẹo. Đối với người miền Bắc quan tâm nhiều hơn tới hình thức bao bì mẫu mã và khẩu vị ngọt vừa phải, còn người miền Nam lại quan tâm nhiều hơn đến vị ngọt, hương vị trái cây. Việt Nam là xứ sở nhiệt đới với nhiều loại hoa quả có hương vị khác nhau cho nên sẽ rất thuận lợi cho việc sản xuất ra các loại bánh kẹo hương vị hoa quả, ngoài ra còn có sự du nhập của các loại hương vị Châu Âu như: sôcôla, cacao, cà phê. Đây chính là thuận lợi cho công ty trong việc đa dạng hoá chủng loại sản phẩm. Bên cạnh những người tin tưởng vào hàng hoá trong nước thì vẫn còn những người chuộng hàng ngoại, cho rằng hàng ngoại có chất lượng cao hơn hàng trong nước. Đây thực sự là cản trở đối với công ty khi thâm nhập thị trường hàng cao cấp. 4. Các nhân tố kỹ thuật công nghệ So với các nước trong khu vực và trên thế giới, năng lực nghiên cứu, triển khai, chuyển giao công nghệ của nước ta còn rất yếu. Đặc biệt công nghệ sinh học, công nghệ cơ khí, công nghệ chế biến và tự động hoá. Trình độ công nghệ nói chung của nước ta còn lạc hậu hơn so với thế giới tới vài chục năm. Đây là một hạn chế rất lớn đối với các doanh HVTH: Nhóm 16 – K19 Trang 12
  15. GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh Xây dựng chiến lược - Công ty bánh kẹo Hải Hà nghiệp Việt Nam nói chung và công ty Hải Hà nói riêng trong việc đổi mới thiết bị, dây chuyền công nghệ, triển khai sản phẩm mới để cạn tranh với công nghiệp sản xuất bánh kẹo nước ngoài. Mặc dù thị trường mua bán và chuyển giao công nghệ đã phát triển nhưng nó chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho công ty đầu tư để cạnh tranh với doanh nghiệp ở trong nước, còn để có thể cạnh tranh với các công ty bánh kẹo nước ngoài, công ty phải chịu một sức ép về giá mua và chuyển giao công nghệ rất lớn. 5. Các nhân tố tự nhiên Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều đã ảnh hưởng rất lớn tới tính thời vụ của công nghệ sản xuất và tiêu dùng bánh kẹo. Thứ nhất, bánh kẹo là một loại thực phẩm nên luôn phải đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm nhưng nó cũng là loại sản phẩm khó bảo quản, dễ bị hư hỏng. Do đó chi phí bảo quản và chi phí vận chuyển lớn làm tăng giá thành sản phẩm. Thứ hai, phần lớn NVL dùng cho sản xuất bánh kẹo là sản phẩm từ nông nghiệp mà thời tiết nước ta diễn biến rất phức tạp như mưa bão, lũ lụt, hạn hán rất nhiều làm cho thị trường cung cấp NVL không ổn định, chi phí dự trữ NVL lớn. Thứ ba, nhu cầu tiêu dùng bánh kẹo thay đổi rất lớn theo mùa, sản phẩm bánh kẹo được tiêu dùng chủ yếu vào các tháng đầu năm và cuối năm cho nên công tác nhân sự (quản lý, tuyển dụng lao động) và công tác điều đọ sản xuất của công ty gặp nhiều khó khăn. Ngoài những bất lợi trên, các công ty sản xuất bánh kẹo nước ta cũng có nhiều thuận lợi. Với hoa quả, hương liệu đa dạng, nếu công ty có hướng nghiên cứu thay thế NVL nhập ngoại thì công ty sẽ chủ động được NVL và có thể tạo ra được NVL mới, công ty sẽ có được lợi thế cạnh tranh trên thị trường. 6. Các nhân tố môi trường quốc tế Trong xu hướng hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, ngày 28/7/1995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN, sự hình thành khối mậu dịch tự do ASEAN (APTA- ASEAN free Trade Area) và việc ký hiệp định ưu đãi thuế ưu đãi thuế quan (CEPT- Common Effective Preferential Tariffs) đánh dấu một bước ngoặt trong sự phát triển kinh tế của ASEAN, trong đó có Việt Nam. Ngày 11/1/2007 Việt Nam trở thành thành viên 150 của tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Trên con đường hội nhập quốc tế, Theo lịch trình cắt giảm thuế quan trong lộ trình gia nhập APTA của Việt Nam: giai đoạn 2001- 2003 nếu mức thuế suất hiện hành của dòng thuế nào cao hơn 20% thì sẽ HVTH: Nhóm 16 – K19 Trang 13
  16. GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh Xây dựng chiến lược - Công ty bánh kẹo Hải Hà giảm xuống mức dưới 20% và tiếp tục giảm xuống còn 0- 5% trong giai đoạn 2003- 2006. Doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài đều được hưởng các chính sách, cơ chế bình đẳng và công bằng trên một nền quy phạm pháp luật không phân biệt đối xử. Trên sân chơi chung, Công ty bánh kẹo Hải Hà đối mặt với khó khăn khi xuất khẩu sang các nuớc thành viên và phải cạnh tranh quyết liệt ngay trên thị trường nội địa với chính những sản phẩm bánh kẹo của các nước ấy, đặc biệt các mặt hàng này từ trước tới nay vẫn được bảo hộ với mức thuế cao từ 50- 100%. III. Môi trường cạnh tranh nội bộ ngành. 1. Khách hàng Khách hàng là nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của chiến lược sản phẩm. Nếu như sản phẩm của công ty đưa ra thị trường mà không có nhu cầu hoặc ít có nhu cầu thì giá có thấp tới đâu mà quảng cáo có hấp dẫn tới mức nào thì cũng không có ý nghĩa gì hết. Cũng như vậy nếu sản phẩm có chất lượng, mẫu mã tuyệt hảo nhưng giá lại quá cao không phù hợp với túi tiền người tiêu dùng thì nó sẽ không được thị trường chấp nhận. Vì thế khi hoạch định chiến lược sản phẩm, công ty cần nghiên cứu phong tục tập quán, lối sống, thị hiếu, động cơ mua hàng của từng khu vực thị trường. Có thể phân chia khách hàng của công ty thành hai loại đối tượng: khách hàng trung gian (các đại lý) và người tiêu dùng cuối cùng. Đối với các đại lý, mục đích của họ là lợi nhuận và động lực thúc đẩy họ là hoa hồng, chiết khấu bán hàng, phương thức thanh toán thuận lợi của công ty trả cho họ. Với hơn 200 đại lý, hệ thống phân phối của công ty được đánh giá mạnh nhất trong ngành sản xuất bánh kẹo, nhìn trung các đại lý tương đối trung thành, hệ thống đại lý của công ty chủ yếu tập trung ở các tỉnh phía Bắc sẽ tạo những điều kiện thuận lợi cho công ty kinh doanh ở thị trường này. Nhưng hệ thống đại lý ở các tỉnh miền Trung và phía Nam lại có nhiều hạn chế, gây khó khăn khi công ty xâm nhập thị trường. Đối với người tiêu dùng cuối cùng, nó có tính quyết định sự thành công của công ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Công ty cần phải nghiên cứu, phân tích chính xác nhu cầu, khả năng thanh toán… của nhóm khách hàng này. 2. Đối thủ cạnh tranh Thị trường bánh kẹo ở nước ta hiện nay có sự cạnh tranh khá quyết liệt. Bên cạnh hơn 30 nhà máy sản xuất bánh kẹo có quy mô vừa và lớn còn hàng trăm cơ sở sản xuất nhỏ. Có thể kể một số đối thủ cạnh tranh chủ yếu của công ty như: HVTH: Nhóm 16 – K19 Trang 14
  17. GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh Xây dựng chiến lược - Công ty bánh kẹo Hải Hà  Công ty bánh kẹo Hải Châu Đây là công ty sản xuất bánh kẹo đứng thứ 2 trên cả nước chỉ sau công ty bánh kẹo Hải Hà với số vốn đầu tư hơn 60 tỷ đồng và sản lượng 6.000 tấn/ năm. Trong thời gian qua Hải Châu rất chú ý đến vấn đề đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm, công ty đã đầu tư hơn 15 tỷ đồng nhập dây chuyền sản xuất bánh kem xốp phủ sôcôla của Đức, Hà Lan. Đồng thời tổ chức lại hệ thống đại lý với hơn 200 đại lý và siêu thị trên toàn quốc. Điểm mạnh của Hải Châu là: công ty có uy tín lâu năm trong ngành sản xuất bánh kẹo, danh mục sản phẩm rộng, hệ thống phân phối rộng chủ yếu ở miền Bắc, giá cả tương đối rẻ. Tuy nhiên phần lớn sản phẩm của Hải Châu có chất lượng trung bình, mẫu mã chưa thật hấp dẫn, chỉ có mặt hàng bánh kem xốp là mặt hàng chủ lực có chất lượng tốt. Mục tiêu của công ty là tiếp tục giữ vững thị trường miền Bắc, mở rộng thị trường trong nước, hướng tới các phân đoạn thị trường có thu nhập cao và từng bước thâm nhập thị trường nước ngoài. Như vậy công ty Hải Châu cạnh tranh với công ty Hải Hà chủ yếu diễn ra ở thị trường miền Bắc với các sản phẩm bình dân.  Công ty bánh kẹo Tràng An Đây là một công ty sản xuất bánh kẹo tương đối mạnh ở thị trường miền Bắc. Sản phẩm của công ty Tràng An cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm của công ty bánh kẹo Hải Hà, các sản phẩm cạnh tranh chủ yếu là: kẹo cứng, kẹo mềm và đặc biệt là kẹo hương cốm, sản phẩm này của công ty Tràng An rất đa dạng với giá rẻ, hương vị cốm đặc trưng phù hợp với người tiêu dùng miền Bắc.  Công ty đường Quảng Ngãi và công ty đường Biên Hoà Công ty đường Quảng Ngãi với chức năng ban đầu là sản xuất đường và cồn. Với ưu thế sẵn có công ty đã đầu tư 50 tỷ đồng nhập các dây chuyền sản xuất bánh kẹo của Đài Loan, Đan Mạch để đa dạng hoá sản phẩm. Công ty đường Biên Hoà ban đầu sản xuất đường, một vài năm gần đây công ty nhập các máy móc thiết bị sản xuất bánh kẹo của Đan Mạch, Pháp, Italy. Các mặt hàng như kẹo cứng, kẹo dẻo Jelly, sôcôla, bánh biscuit cạnh tranh khá mạnh với Hải Hà về giá cả. HVTH: Nhóm 16 – K19 Trang 15
  18. GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh Xây dựng chiến lược - Công ty bánh kẹo Hải Hà  Công ty TNHH Kinh Đô Đây là công ty mới tham gia vào thị trường bánh kẹo nước ta với các dây chuyền công nghệ, thiết bị hiện đại của các nước hàng đầu thế giới. Danh mục sản phẩm của công ty tương đối rộng (trên 60 chủng loại sản phẩm) với chất lượng cao, mẫu mã đẹp đủ sức cạnh tranh với bánh kẹo ngoại. Sản phẩm chủ yếu của Kinh Đô là bánh tươi, bánh mặn, snack, kẹo sôcôla nhân… cung cấp cho những người có thu nhập cao. Bên cạnh chất lượng sản phẩm cao, mẫu mã đẹp, hấp dẫn người tiêu dùng, công ty rất chú trọng quảng cáo nhằm xây dựng hình ảnh của công ty. Công ty Kinh Đô là một đối thủ cạnh tranh rất lớn của Hải Hà trong quá trình thâm nhập thị trường bánh kẹo cao cấp.  Công ty liên doanh Hải Hà- Kotobuki Là công ty liên doanh với Hải Hà chuyên sản xuất bánh kẹo, tách ra hạch toán độc lập theo giấy phép 489/CP ngày 24/12/1992. So với các công ty khác Hải Hà- Kotobuki có ưu thế về công nghệ, sản phẩm chủ yếu của công ty gồm: snack, bánh tươi, sôcôla, kẹo cứng, bimbim và các loại bánh hộp khác. Sản phẩm của công ty hết sức đa dạng, chất lượng cao, mẫu mã đẹp nhưng giá còn cao. 3. Nguồn cung cấp nguyên vật liệu Các loại nguyên vật liệu chính dùng trong sản xuất của công ty như: đường, sữa, cà phê, gluco, nước hoa quả, bột ngô, bột gạo được mua chủ yếu từ các nhà sản xuất trong nước. Còn các loại NVL mà trong nước không đáp ứng được hoặc chất lượng trong nước không đảm bảo cho yêu cầu sản xuất sản phẩm công ty phải nhập ngoại như: bột mì, bơ, cacao, sữa bột, short, phẩm mầu và các loại hương liệu. Để tăng tính chủ động nguồn cung cấp NVL, giảm bớt sự phụ thuộc vào các nhà cung ứng. Công ty đã lựa chọn ký kết hợp đồng kinh tế với các nhà cung ứng truyền thống có uy tín trong nước và quốc tế với số lượng nhà cung ứng hợp lý sao cho có thể đảm bảo được số lượng, chất lượng NVL khi có sự biến động từ phía nhà cung ứng nào đó, đồng thời công ty cũng có được những lợi thế khi mua với số lượng lớn. Hiện nay, ngành mía đường, ngành sữa Việt Nam đang phát triển mạnh tạo ra nhiều thuận lợi cho công ty trong việc lựa chọn nhà cung ứng. Tuy nhiên hiện nay giá đường trong nước còn cao hơn các nước trong khu vực như: Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêxia và xuất hiện xu hướng sát nhập xuôi theo chiều dọc của các nhà máy đường sẽ tạo sức ép rất lớn cho công ty trong việc cạnh tranh về giá với các công ty này. HVTH: Nhóm 16 – K19 Trang 16
  19. GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh Xây dựng chiến lược - Công ty bánh kẹo Hải Hà 4. Các đối thủ tiềm ẩn Ngành công nghiệp sản xuất bánh kẹo có quy trình công nghệ kỹ thuật khá đơn giản, vốn đầu tư tương đối ít so với một số ngành công nghiệp khác. Mặt khác hiện nay những pháp lệnh, quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm cũng như sự quản lý của Nhà nước và các cơ quan ban ngành đối với ngành sản xuất bánh kẹo còn lỏng lẻo, thiếu chặt chẽ. Do vậy rào cản ra nhập ngành sản xuất bánh kẹo còn thấp. Vì vậy ngành bánh kẹo rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc quy hoạch đầu tư, quan tâm đến quá trình sản xuất, lưu thông và sử dụng các sản phẩm bánh kẹo đảm bảo các vấn đề về dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm, sức khoẻ cho người dân và đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà sản xuất. Đối với các công ty bánh kẹo cần tổ chức hiệp hội bánh kẹo để có những biện pháp hữu hiệu bảo vệ thị trường trong nước chống lại sự xâm nhập của các công ty nước ngoài khi lịch trình cắt giảm thuế quan đến gần. Với lợi thế về quy mô sản xuất, công nghệ chế biến, ngành bánh kẹo nên nâng cao hàng rào ra nhập thị trường bằng các biện pháp như: chính sách giá cả, chính sách sản phẩm… 5. Sản phẩm thay thế Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới với nhiều loại hoa quả đa dạng, thơm ngon. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ thì ngành sản xuất chế biến hoa quả cũng phát triển theo, đáp ứng thị hiếu của những người ưa mới lạ như: mít sấy, khoai sấy, các loại nước ép hoa quả, sữa tươi mang hương vị hoa quả… được người tiêu dùng rất ưa chuộng. Các sản phẩm thay thế trên là mối đe doạ rất lớn đối với sản phẩm hiện tại của công ty, nhưng nó cũng gợi mở cho công ty hướng nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới cho tương lai. IV. Phân tích hoàn cảnh nội bộ và sử dụng chuỗi giá trị để xác đỊnh các khâu tạo giá trị gia tăng cao theo nhóm giá trị tiêu biểu của khách hàng mục tiêu của công ty. 1. Nguyên vật liệu Phần lớn nguyên liệu sử dụng trong sản xuất bánh kẹo của Công ty được cung cấp bởi các doanh nghiệp lâu năm, có uy tín. HVTH: Nhóm 16 – K19 Trang 17
  20. GVHD: TS. Hoàng Lâm Tịnh Xây dựng chiến lược - Công ty bánh kẹo Hải Hà Các nguyên liệu chính được sử dụng như: bột mì, đường, trứng, sữa, dầu, bơ, shortening, hương liệu khác. Tất cả các nguyên liệu được sử dụng phải đáp ứng chặt chẽ các điều kiện về an toàn vệ sinh thực phẩm của Bộ Y tế và quy trình kiểm định riêng của công ty ban hành. 1.1. Nguồn nguyên vật liệu  Các nguyên liệu chính: đường kính, đường gluco, bột mì, chất béo…được mua từ các nhà cung cấp có uy tín trong nước.  Một số loại nguyên liệu như sữa bột, hương liệu, sôcôla…trong nước chưa sản xuất được được nhập khẩu trực tiếp từ các nhà sản xuất từ các nước Mỹ, Pháp, Úc, và một số nước Đông Nam Á.  Bao bì được cung cấp bởi các nhà cung cấp lớn và có uy tín tại Việt Nam.  Các nguyên liệu và phụ gia thực phẩm khác được nhập khẩu từ Mỹ, Châu Âu, Singapore…. 1.2. Sự ổn định của các nguồn cung cấp này Hiện nay, HAIHACO là một trong 5 doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo lớn nhất cả nước với sản lượng năm 2008 là trên 15.000 tấn. Mỗi năm, Công ty tiêu thụ hàng nghìn tấn nguyên liệu đặc biệt là đường kính và đường gluco. Nguồn nguyên liệu này không tập trung vào một hay hai nhà cung cấp mà được cung cấp bởi một số nhà sản xuất có uy tín trong ngành. Điều này vừa tạo nên một sự cạnh tranh về giá, vừa giảm sự phụ thuộc vào mỗi nhà cung cấp. Mặc dù vậy, các đối tác cung cấp nguyên liệu cho HAIHACO luôn được lựa chọn rất kỹ càng theo các tiêu chuẩn chặt chẽ. Tiêu chuẩn đầu tiên để lựa chọn nhà cung cấp là những doanh nghiệp trực tiếp sản xuất, chủ động nguồn nguyên liệu đầu vào. Tiêu chuẩn thứ hai, những doanh nghiệp này cần có một quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường ổn định, tạo lập được uy tín với các bạn hàng. Tiêu chuẩn thứ ba, đảm bảo cung cấp đủ số lượng và chất lượng nguyên liệu như đã cam kết. Tuân thủ theo những quy định chặt chẽ này, những năm qua và đặc biệt là sau khi Công ty chính thức chuyển sang hoạt động dưới mô hình Công ty cổ phần (năm 2004), HAIHACO luôn nỗ lực đổi mới công nghệ, phấn đấu đạt doanh số bán cao, đồng thời giảm chi phí giá vốn hàng bán qua các năm. HVTH: Nhóm 16 – K19 Trang 18

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản