intTypePromotion=3

Tiểu luận: Thực trạng chính sách và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp

Chia sẻ: Le Thi Huyen Trang | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:27

0
398
lượt xem
189
download

Tiểu luận: Thực trạng chính sách và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tham khảo luận văn - đề án 'tiểu luận: thực trạng chính sách và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp', luận văn - báo cáo phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu và làm việc hiệu quả

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Thực trạng chính sách và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp

  1. Tiểu Luận Thực trạng chính sách và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp
  2. Mục Lục LỜI NÓI ĐẦU ............................................................................................................................. 3 A.TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ................................................................................................ 4 1.Lý do lựa chọn đề tài ................................................................................................................ 4 2.Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................................... 4 3. Phạm vi nghiên cứu ................................................................................................................. 4 B. NỘI DUNG ............................................................................................................................. 6 I. Sơ lược về đầu tư trục tiếp nước ngoài ..................................................................................... 6 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG ............................................................................................. 6 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài ........................................................................................ 6 2.1. Hợp đồng hợp tác kinh doanh ............................................................................................... 6 3. Những nhân tố ảnh hưởng tới thu hút vốn FDI........................................................................ 7 3.1 Các yếu tố điều tiết vĩ mô ...................................................................................................... 8 3.1.1 Các chính sách .................................................................................................................... 8 3.1.2 Luật đầu tư .......................................................................................................................... 8 3.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng khác ................................................................................................ 8 II.Thực trạng ĐTNN trong lĩnh vực Nông nghiệp ..................................................................... 10 1. Tỉ trọng ĐTNN vào lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn thấp so với các ngành KTQD khác .................................................................................................................................................... 10 2. Phân bổ ĐTNN không đồng đều giữa các vùng, miền .......................................................... 10 3. Xu thế đầu tư trong nông nghiệp ở Việt Nam........................................................................ 11 4- Cơ cấu ĐTNN trong lĩnh vực Nông-Lâm-Ngư : ................................................................... 15 5. Các chính sách thu hút FDI vào lĩnh vục nông nghiệp ở Việt Nam thời gian qua ................ 16 5.1 Chính sách đất đai ................................................................................................................ 16 5.2. Chính sách lao động. ........................................................................................................... 18 5.3 Chính sách thị trường và tiêu thụ sản phẩm......................................................................... 18 .4.Chính sách công nghệ. ........................................................................................................... 19 6.Những thành tựu và hạn chế của ĐTNN vào lĩnh vực NLN-NT trong những năm qua: ....... 20 6.1 Thành tựu ............................................................................................................................. 20 6.2 Hạn chế ................................................................................................................................ 20 III. Mục tiêuđịnh hướngvà những chính sách cần thực hiện để thu hút ĐTNN trong lĩnh vực Nông nghiệp ............................................................................................................................... 22 1. Mục tiêu và định hướng ......................................................................................................... 22 1.1. Mục tiêu: ............................................................................................................................. 22 1.2. Định hướng thu hút ĐTNN trong ngành Nông nghiệp : ..................................................... 22 2.Các khuyến nghị chính sách cho vấn đề ................................................................................. 23 2.1 Nhóm giải pháp chung cho nền kinh tế: .............................................................................. 23 2.1.1. Tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn. ................................................................................. 23 2.1.2. Đảm bảo các quyền cơ bản của nhà đầu tư. ..................................................................... 23 2.1.3. Chiến lược bảo hộ và các ưu tiên dành cho các nhà đầu tư và người nước ngoài. .......... 24 2.1.4. Miễn giảm thuế. ............................................................................................................... 25 2.1.5. Những khoản trợ cấp của chính phủ ................................................................................ 26
  3. Thực trạng chính sách và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp LỜI NÓI ĐẦU Hiện nay xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, quá trình này diễn ra trên mọi mặt của đời sống xã hội, từ kinh tế, văn hóa, chính trị, giáo dục… Trong đo, sự thay đổi rõ rệt nhất là trong đời sống kinh tế nước ta. Trong những năm gần đây đặc biệt la từ sau khi nước ta giai nhập tổ chức thương mại thế giới WTO thi nền kinh tế nước ta đã có nhiều biến chuyển. Cụ thể là trong hoạt động thu hút vốn FDI từ nước ngoài đã tăng trưởng một cách rõ rệt. Để có những kết quả đó là do những nỗ lực không ngừng của Chính phủ Việt Nam trong xây dựng cơ sở hạ tầng, sửa đổi hệ thống chinh sách phu hợp với thực tế, tạo moi trường tốt nhất cho các nhà đầu tư nước ngoài vào nước ta đầu tư. Việc thu hút vốn vào nước ta được thực hiện thông qua quá trình tiến hành đầu tư xây dựng cac nha may sản xuất chế biến tại cac khu công nghiệp, khu chế xuất. Từ năm 1991 đến nay chúng ta đa tiến hành đầu tư phát triển các khu công nghiệp, tạo điều kiện vật chất cơ sở hạ tầng tốt nhất cho cac nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào nước ta. Đến nay tinh đó phần lớn lượng FDI đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, chứ không nhiều các nhà đầu tư quan tâm tới lĩnh vực nông nghiệp cho dù Việt Nam là một quốc gia có nên nông nghiệp lâu đời và đang là một trong những quốc gia xuất khẩu các mặt hàng nông sản hàng đầu thế giới : Lúa , gạo, cà phê, hạt điều…Không những tỷ lệ các nhà đầu tư vào nông nghiệp ít mà chúng lại đang có xu hướng giảm đi. Việc thu hút FDI thông qua các khu công nghiệp, khu chế xuất đã mang lại những kết quả đang kể cho việc phat triển kinh tế nước ta, song bên cạnh đó còn có những vấn đề tồn tại đối với việc thu hút FDI vào nông nghiệp. Được sự định hướng của cô và theo chương trình môn Chính sách phát triển kinh tế xã hội trong bài này em xin đưa ra môt số thông tin về thực trạng và các chính sách nhằm thu hút vốn FDI vào nông nghiệp của nước ta, từ đó đưa ra hướng đi, giải pháp cho vấn đề. Bài viết chỉ được thưc hiện trong một thời gian ngắn nên không thể tránh khỏi sai sót,kính mong cô và các bạn góp ý để vấn để em đưa ra càng hoàn thiện hơn. Sinh viên: Hoàng Văn Tiến
  4. A.TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.Lý do lựa chọn đề tài Trong thời gian qua, dòng vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) vào lĩnh vực nông lâm nghiệp còn hết sức hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng cũng như thế mạnh của Việt Nam và ngày càng có xu hướng giảm sút. Mặt khác, so với hoạt động ĐTNN trong các lĩnh vựckhác, hiệu quả thực hiện các dự án trong lĩnh vực này còn rất hạn chế. Do vậy, báo cáo nghiêncứu này được thực hiện với mục đích đánh giá thực trạng ĐTNN trong lĩnh vực nông nghiệp, đồng thời đưa ra kiến nghị về phương hướng, giả 2.Phương pháp nghiên cứu - Phân tích, tổng hợp các thông tin, tài liệu, báo cáo chính thức đã công bố của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các tổ chức quốc tế về các vấn đề có lien quan đến Báo cáo nghiên cứu. 3. Phạm vi nghiên cứu - Chính sách thu hút ĐTNN trong lĩnh vực nông nghiệp, các cam kết quốc tế có liên quan và kinh nghiệm của một số nước trong khu vực ( một số nước ASEAN, Trung Quốc) để tìm ra giải pháp tối ưu cho việc thu hút FDI vào Việt Nam - Thực trạng thu hút ĐTNN trong lĩnh vực nông nghiệp - Quan điểm, mục tiêu, yêu cầu, định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả thu hút ĐTNN trong lĩnh vực này
  5. B. NỘI DUNG I. Sơ lược về đầu tư trục tiếp nước ngoài 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hình thức di chuyển vốn quốc tế. Trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn. Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thể hiện dưới ba hình thức chủ yếu: Hợp đồng hợp tác kinh doanh. Doanh nghiệp liên doanh. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.1. Hợp đồng hợp tác kinh doanh Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên (gọi là bên hợp danh) quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả cho mỗi bên, để tiến hành đầu tư vào Việt Nam mà không lập thành một pháp nhân. Hình thức đầu tư này đã xuất hiện từ sớm ở Việt Nam nhưng đáng tiếc cho đến nay vẫn chưa hoàn thiện được các quy định pháp lý cho hình thức này. Điều đó đã gây không ít khó khăn cho việc giải thích, hướng dẫn và vận dụng vào thực tế ở Việt Nam. Ví dụ như có sự nhầm lẫn giữa hợp đồng hợp tác kinh doanh với các dạng hợp đồng khác không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.(như hợp đồng gia công sản phẩm, hợp đồng mau thiết bị trả chậm vv...). Lợi dụng sơ hở này, mà một số nhà đầu tư nước ngoài đã trốn sự quản lý của Nhà Nước. Tuy vậy hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài dễ thực hiện và có ưu thế lớn trong việc phối hợp sản phẩm .Các sản phẩm kỹ thuật cao đòi hỏi có sự kết hợp thế mạnh của nhiều công ty của nhiều quốc gia khác nhau. Đây cũng là xu hướng hợp tác sản xuất kinh doanh trong một tương lai gần xu hướng của sự phân công lao động chuyên môn hóa sản xuất trên phạm vi quốc tế. 2.2. Doanh nghiệp liên doanh Doanh nghiệp liên doanh là loại hình doanh nghiệp do hai hay nhiền bên nước ngoài hợp tác với nước chủ nhà cùng góp vón, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp
  6. nhân theo pháp luật nước nhận đầu tư. Đây là hình thức đầu tư được các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng nhiều nhất trong thời gian qua chiếm 65% trong tổng ba hình thức đầu tư (trong đó hình thức hợp tác kinh doanh chiếm 17%, Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài chiếm 18%). Thông qua hợp tác liên doanh với các đối tác Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài tranh thủ được sự hỗ trợ và những kinh nghiệm của các đối tác Việt Nam trên thị trường mà họ chưa quen biết trong quá trình làm ăn của họ tại Việt Nam. Mặt khác do môi trường đầu tư của Việt Nam còn nhiều bất chắc nên các nhà đầu tư nước ngoài không muốn gánh chịu rủi ro mà muốn các đối tác Việt Nam cùng chia sẻ với họ nếu có. Liên doanh với một đối tác ở bản địa, các nhà đầu nước goài yên tâm hơn trong kinh doanh vì họ đã có một người bạn đồng hành. Những năm gần đây, xu hướng của các nhà đầu tư nước ngoài giảm sự quan tâm đến hình thức này và các dự án 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lại có xu hướng tăng lên. Đó là do sau thời gian tiếp xúc với thị trường Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài đã hiểu rõ hơn về luật pháp, chính sách và các quy định khác của Việt Nam. Thậm chí họ còn hiểu rõ về phong tục tập quán và thói quen trong đó thói quen tiêu dùng của người Việt Nam cũng như cách thức kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam. Mặt khác khả năng tham gia liên doanh của các đối tác Việt Nam ngày càng bị hạn chế bởi thiếu cán bộ giỏi, thiếu vốn đóng góp. Do vậy các nhà đầu tư nước ngoài muốn được điều hành trong quản lý doanh nghiệp. 2.3. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài) do các nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam. Tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh.Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo hình thức của công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân Các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được thành lập theo hình thức 100% vốn nước ngoài.Thời gian đầu chưa nhiều, những xu hướng gia tăng của các dự án đầu tư theo hình thức này ngày càng mạnh mẽ. Trong những năm gần đây vì hình thức này có phần dễ thực hiện và thuận lợi cho họ. Nhưng bằng hình thức đầu tư này về phía nước nhận đàu tư thường chỉ nhận được cái lợi trước mắt, về lâu dài thì hình thức này còn có thể phải gánh chịu nhiều hậu quả khó lường. 3. Những nhân tố ảnh hưởng tới thu hút vốn FDI Sau nhiều lần nghiên cứu phân tích, đánh giá lợi hại (được, mất) của nước nhận đầu tư và của người bỏ vốn đầu tư. Hội đồng kinh tế Brazin- Mỹ đã rút ra được 12 nhân tố có ý nghĩa quyết định cho việc lựa chọn một vùng hay một nước nào đó để đầu tư. 12 nhân tố này có thể được chia lại cho gọn như sau:
  7. 3.1 Các yếu tố điều tiết vĩ mô 3.1.1 Các chính sách Chính sách tiền tệ ổn định và mức độ rủi ro tiền tệ ở nước tiếp nhận đầu tư. Yếu tố đầu tiên ở đây góp phần mở rộng hoạt động xuất khẩu của các nhà đầu tư. Tỷ giá đồng bản bị nâng cao hay bị hạ thấp đều bị ảnh hưởng xấu tới hoạt độnh xuất nhập khẩu. Chính sách thương nghiệp.Yếu tố này có ý nghĩa đặc biệt đối với vấn đề đầu tư trong lĩnh vực làm hàng xuất khẩu. Mức thuế quan cũng ảnh hưởng tới giá hành xuất khẩu. Hạn mức (quota) xuất nhập khẩu thấp và các hàng rào thương mại khác trong lĩnh vực xuất nhập khẩu cũng như có thể không kích thích hấp dẫn tới các nhà đầu tư nước ngoài. Chính yếu tố này làm phức tạp thêm cho thủ tục xuất khẩu và bị xếp vào hàng rào xuất khẩu khác. Chính sách thuế và ưu đãi. Chính sách ưu đãi thường được áp dụng để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Chính sách kinh tế vĩ mô. Chính sách này, mà ổn định thì sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các nhà đầu tư bản xứ lẫn nước ngoài. Nếu không có những biện pháp tích cực chống lạm pháp thì có thể các nhà đầu tư thích bỏ vốn vào nước này. Nếu giá cả tăng nhanh ngoài dự kiến thì khó có thể tiên định được của kết quả hoạt độnh kinh doanh. 3.1.2 Luật đầu tư Yếu tố này có thể làm hạn chế hay cản trở hoạt động của các công ty nước ngoài trên thị trường bản địa. (Luật này thường bảo vệ lợi ích của các nhà bản xứ). Nhiều nước mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài theo các điều kiện giống như cho các nhà đầu tư bản xứ. ở Việt Nam, luật khuyến kích đầu tư nước ngoài triển khai còn chậm và khônng đáp ứng được sự mong mỏi bởi mức độ ưu đãi và khuyến khích còn hạn chế,chưa nhất quán. 3.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng khác Yếu tố hàng đầu là đặc điểm của thị trường bản địa (quy mô, dung lượng của thị trường sức mua của dân cư bản xứ và khả năng mở rộng quy mô đầu tư). Đặc điểm của thị trường nhân lực. Công nhân lao động là mối quan tâm hàng đầu ở đây, đặc biệt đối với những nhà đầu tư nước ngoài muốn bỏ vốn vào các lĩnh vực cần nhiều lao động, có khối lượng sản xuất lớn. Trình độ nghề nghiệp và học vấn của các công nhân đầu đàn (có tiềm năng và triển vọng) có ý nghĩa nhất định. Khả năng hồi hương vốn đầu tư. Vốn và lợi nhuận được tự do qua biên giới (hồi hương) là tiền đề quan trọng để thu hút vốn đầu tư nước ngoài.ở một số nước mang ngoại tệ nước ngoài phải xin giấy phép của ngân hàng trung ương
  8. khá rườm rà. Bảo vệ quyền sở hữu. Quyền này gồm cả quyền của người phát minh sáng chế, quyền tác gỉa, kể cả nhãn hiệu hàng hóa và bí mật thương nghiệp vv... Đây là yếu tố đặc biệt có ý nghĩa lớn đối với những người muốn đầu tư vào các ngành hàm lượng khoa học cao và phát triển năng động (như sản xuất máy tính, phương tiện liên lạcvv....) ở một số nước, lĩnh vực này được kiểm tra, giám sát khá lỏng lẻo, phổ biến là sử dụng không hợp pháp các công nghệ ấy của nước ngoài. Chính vì lý do này mà một số nước bị các nhà đầu tư loại khỏi danh sách các nước có khả năng nhận vốn đầu tư. Điều chỉnh hoạt động đầu tư của các công ty đầu tư nước ngoài. Luật lệ cứng nhắc cũng tăng chi phí của các công ty đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư rấtbthích có sự tự do trong môi trường hoạt động và do vậy họ rất quan tâm đến mt đạo luật mềm dẻo giúp họ ứng phó linh hoạt, có hiệu quả với những diễn biến của thị trường. Ví dụ có những nước cấm sa thải công nhân là không phù hợp với lợi ích của công ty nước ngoài. Chính sách lãi suất ngân hàng và chính sách biệt đãi đối với một số khu vực cũng có ý nghĩa đối với các nhà đầu tư ở một số nước. Ổn định chính trị ở nước muốn nhận đầu tư và trong khu vực này. Đây là yếu không thể xem thường mỗi khi bỏ vốn đầu tư vì rủi ro chính trị có thể gây thiệt hại lớn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Cơ sở hạ tầng phát triển. Nếu các yếu tố nói trên đều thuận lợi nhung chỉ một khâu nào đó trong kết cấu hạ tầng (giao thông liên lạc, điện nước) bị thiếu hay bị yếu kém thì cũng ảnh hưởng và làm giảm sự hấp hẫn của các nhà đầu tư.
  9. II.Thực trạng ĐTNN trong lĩnh vực Nông nghiệp 1. Tỉ trọng ĐTNN vào lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn thấp so với các ngành KTQD khác Đến hết năm 2003, cả nước đã cấp giấy phép đầu tư cho 5.424 dự án ĐTNN với tổng vốn đăng ký 54,8 tỷ USD, trong đó có 4.376 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký 41 tỷ USD. Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn nhất, chiếm 66,9% về số dự án và 57,2% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ, chiếm 19,5% về số dự án và 35,8% về số vốn đầu tư đăng ký; lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, chiếm 13,6% về số dự án và 7% về vốn đầu tư đăng ký (Thống kê của Bộ KH&ĐT). Trong giai đoạn 1998 - 2003, ngành nông nghiệp đã tiếp nhận 781 dự án FDI với tổng vốn đăng ký trên 3,8 tỉ USD. Trong đó, 528 dự án đã đi vào thực hiện với tổng vốn thực hiện trên 1,75 tỉ USD. (Thống kê của Bộ NN&PTNT). Bình quân mỗi năm ngành NN&PTNT thu hút gần 50 dự án tương ứng khoảng 200 triệu USD. Nhìn chung, các dự án FDI trong nông nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, chủ yếu gắn với nguồn nguyên liệu địa phương. Năm 2003, các doanh nghiệp FDI trong ngành đang sử dụng khoảng 75.000 lao động công nghiệp và hàng vạn lao động nông nghiệp, nộp ngân sách trên 17 triệu USD, tạo ra kim ngạch xuất khẩu xấp xỉ 500 triệu USD. Tỉ lệ vốn đưa vào thực hiện bình quân khoảng 50% tổng số vốn đăng ký. Và giai đoạn tư năm 2003 cho tới nay 2. Phân bổ ĐTNN không đồng đều giữa các vùng, miền Cơ cấu vốn ĐTNN còn có một số bất hợp lý. Trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp mặc dù đã có những chính sách ưu đãi nhất định, nhưng ĐTNN còn quá thấp và tỷ trọng vốn ĐTNN đăng ký liên tục giảm. ĐTNN tập trung chủ yếu vào những địa phương có điều kiện thuận lợi như miền Đông Nam Bộ (54%), trong khi có tác động rất hạn chế đến khu vực miền núi phía Bắc (4%), đồng bằng sông Hồng (5%), Bắc Trung Bộ (5%), Tây Nguyên (4%) và đồng bằng song Cửu Long (13%). Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, một số ưu đãi của Chính phủ đã được quy định trong nghị định của Chính phủ như miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu 5 năm cho sản xuất đối với các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư và các dự án đầu tư vào các địa bàn có điều kiện inh tế-xã hội đặc biệt khó khăn, nhưng thiếu hướng dẫn nên chưa được áp dụng
  10. Hình 1: Phân phối FDI theo các vung kinh tế 3. Xu thế đầu tư trong nông nghiệp ở Việt Nam Khủng hoảng kinh tế thế giới đã làm thay đổi lưu lượng và cấu trúc dòng vốn FDI toàn cầu. Theo Báo cáo Đầu tư Thế giới 2009 (WIR 2009) của Liên hiệp quốc, dòng FDI sẽ giảm từ 1.700 tỷ USD trong năm 2008 xuống còn 1.200 tỷ USD trong năm 2009, sau đó có thể tăng lên 1.400 tỷ USD trong năm 2010 và 1.800 tỷ USD trong năm 2011. Về cơ cấu, do dòng vốn FDI đổ vào các nước phát triển giảm mạnh trong năm 2008, tỷ trọng FDI vào các nước đang phát triển đã chiếm tới 43% tổng lượng FDI toàn cầu. Trong sự thay đổi này, một xu thế quan trọng đối với các nước đang phát triển là dòng FDI chảy vào khu vực nông - lâm - ngư nghiệp (gọi chung là khu vực nông nghiệp) trong mấy năm trở lại đây đang tăng lên. Nếu như trong những năm 1990, lượng vốn FDI trong nông nghiệp của toàn thế giới chưa tới 1 tỷ USD/năm, thì trong giai đoạn 2005-2007, con số này đã lên tới 3 tỷ USD/năm. Không những thế, các tập đoàn đa quốc gia ngày nay không chỉ tham gia vào các hoạt động ở hạ nguồn (như chế biến và siêu thị), mà còn mở rộng lên thượng nguồn, tham gia cả hoạt động sản xuất và ký hợp đồng tiêu thụ với nông dân, làm cho quy mô của FDI trong khu vực nông nghiệp ngày càng lớn. Trong khi xu thế FDI vào khu vực nông nghiệp của cả thế giới đang ngày một tăng, thì ở Việt Nam lại đang xảy ra điều ngược lại. Nếu như lượng giải ngân FDI trung bình trong khu vực nông – lâm – ngư nghiệp của Việt Nam trong 20 năm, từ 1988 đến 2007 là khoảng 100 triệu USD/năm, thì con số này giảm xuống còn 62 triệu trong giai đoạn 2002-2004 và chỉ còn 51 triệu trong giai đoạn 2005-2007. Tỷ trọng của FDI trong khu vực nông – lâm – ngư nghiệp cũng giảm một cách tương ứng.
  11. Bảng 1: Cơ cấu vốn ĐTNN vào Việt Nam năm 2002 Bảng 2: Cơ cấu vốn ĐTNN vào Việt Nam năm 2009
  12. Năm 2002, lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp chiếm khoảng 8% trong tổng cơ cấu đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam. Tuy nhiên đến năm 2009, lĩnh vực này chỉ còn 1%. Trong khi đó, các lĩnh vực dịch vụ, bất động sản lại chiếm đến hơn 70%. Năm 2008, vốn đăng ký FDI vào nước ta tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và xây dựng với 572 dự án, tổng số vốn đăng ký 32,62 tỷ USD. Khối doanh nghiệp FDI đã đóng góp vào ngân sách Nhà nước 1,982 tỷ USD, tăng 25,8% so với năm 2007 tạo ra 200.000 việc làm mới. Tuy nhiên, trong cơ cấu vốn FDI, lĩnh vực nông nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ và ngày càng có xu hướng giảm, nhất là trong 3 năm gần đây. Trong 10 năm (1998 – 2008), FDI trong nông nghiệp chỉ chiếm 10,7% tổng số dự án FDI của cả nước với 966 dự án. Vốn đầu tư cho lĩnh vực này cũng rất thấp và dàn trải, chiếm khoảng 4,24% tổng vốn đầu tư FDI. “Đây là một trong những điểm yếu của chúng ta trong việc thu hút vốn FDI, mặc dù Nhà nước luôn khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nhưng do hạn chế trong các giải pháp xúc tiến thương mại, chưa quan tâm đầy đủ trong việc giao đất, giải phóng mặt bằng cũng như quản lý hợp đồng đầu tư với nông dân... nên các nhà đầu tư nước ngoài rất thờ ơ Và Thống kê của Cục Đầu tư Nước ngoài cho thấy, trong tổng số vốn đăng ký đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam 8 tháng đầu năm 2010 khoảng hơn 11,5 tỷ USD thì đầu tư vào nhóm nông, lâm, thủy sản chỉ có chiếm 1,2 %, với 10 dự án. Trong năm 2009, mặc dù chưa có số liệu về vốn FDI giải ngân, nhưng nhìn vào tỷ trọng 0,4% của vốn FDI đăng ký trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp cũng có thể thấy vai trò của FDI trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam đang tiếp tục suy giảm. Điều đáng lo ngại không chỉ ở chỗ dòng FDI vào nông - lâm - ngư nghiệp ở Việt Nam đi ngược lại xu thế chung của thế giới, và do vậy khó tận dụng được cơ hội thị trường và lợi thế của Việt Nam, mà còn là sự không tương thích giữa tầm quan trọng của khu vực nông nghiệp trong nền kinh tế nước ta. Trong khi nông - lâm - ngư nghiệp chiếm tới hơn 50% lực lượng lao động, đóng góp khoảng 20% cho GDP và chiếm tới 7/10 măt hàng xuất khẩu chủ yếu của đất nước và khoảng 23% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước thì tỷ trọng đầu tư cho khu vực này lại giảm gần một nửa, từ 13,8% vào năm 2000 xuống chỉ còn 7,1% vào năm 2008, chủ yếu do sự suy giảm của đầu tư nhà nước.Để thấy rõ được tỷ lệ FDI trong lĩnh vực nông nghiệp với toàn bộ nền kinh tế em xin so sánh cơ cấu vốn FDI đầu tư vào nền kinh tế Viêt Nam trong năm 2007 và 2009 dựa theo biểu đồ sau:
  13. Biểu đồ 1 : Phân phối theo ngành và khu vực của FDI (2007) Từ biểu đờ trên ta có thể thấy được dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nông nghiệp là rất ít so với các lĩnh vực khác.Trong khi FDI vào nghành công nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất với 45% tổng đầu tư FDI vào Việt Nam với 17.855 triệu USD năm 2007 với 1445 dự án, hay BĐS là 26%,xây dựng 6%... thì ngành nông nghiêp chỉ thu hút 282.47 triệu USD chiếm 2% tổng vốn đầu tư FDI vào nước ta năm 2007 và chỉ còn 0.4% năm 2009.Rõ ràng 2%(năm 2007) và 0.4% (năm 2009) là một con số quá nhỏ với một đất nước có tới gần 2/3 lượng lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, và với một nền nông nghiệp lâu đời đang đóng góp hơn 20% GDP cho quốc gia hằng năm Cơ cấu vốn đầu tư FDI vào Việt Nam năm 2009 Dvụ lưu trú và ăn uống KD bất động sản CN chế biến,chế tạo Xây dựng Khai khoáng Nghệ thuật và giải trí Bán buôn,bán lẻ;sửa chữa Vận tải kho bãi Nông,lâm nghiệp;thủy sản Các lĩnh vực khác Hình 2 : Phân phối theo ngành và khu vực của FDI (2009)
  14. 4- Cơ cấu ĐTNN trong lĩnh vực Nông-Lâm-Ngư : Dành ưu đãi cho các dự án đầu tư vào lĩnh vực Nông Lâm ngư nghiệp đã được chú trọng ngày từ khi có luật đầu tư nước ngoài 1987. Tuy nhiên đến nay do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân rủi ro đầu tư cao trong lĩnh vực này, nên kết quả thu hút ĐTNN vào lĩnh vực Nông – Lâm ngư chưa được như mong muốn. Đến hết năm 2007, lĩnh vực Nông- Lâm- Ngư nghiệp có 933 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký hơn 4,4 tỷ USD, đã thực hiện khoảng 2,02 tỷ USD; chiếm 10,8% về số dự án ; 5,37% tổng vốn đăng ký và 6,9% vốn thực hiện, (giảm từ 7,4% so với năm 2006). Trong đó, các dự án về chế biến nông sản, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất 53,71% tổng vốn đăng ký của ngành, trong đó, các dự án hoạt động có hiệu quả bao gồm chế biến mía đường, gạo, xay xát bột mì, sắn, rau. Tiếp theo là các dự án trồng rừng và chế biến lâm sản, chiếm 24,67% tổng vốn đăng ký của ngành. Rồi tới lĩnh vực chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc chiếm 12,7%. Cuối cùng là lĩnh vực trồng trọt, chỉ chiếm gần 9% tổng số dự án. Có 130 dự án thuỷ sản với vốn đăng ký là 450 triệu USD, Cho đến nay, đã có 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào ngành nông- lâm-ngư nghiệp nước ta, trong đó, các nước châu Á ( Đài Loan, Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông,..) chiếm 60% tổng vốn đăng ký vào ngành nông nghiệp (riêng Đài Loan là 28%). Các nước thuộc EU đầu tư vào Việt Nam đáng kể nhất gồm có Pháp (8%), quần đảo British Virgin Islands (11%). Một số nước có ngành nông nghiệp phát triển mạnh (Hoa Kỳ, Canada, Australi)a vẫn chưa thực sự đầu tư vào ngành nông nghiệp nước ta. Các dự án ĐTNN trong ngành nông-lâm-ngư nghiệp tập trung chủ yếu ở phía Nam. Vùng Đông Nam Bộ chiếm 54% tổng vốn đăng ký của ngành, đồng bằng sông Cửu Long 13%, duyên hải Nam Trung Bộ 15%. Miền Bắc và khu vực miền Trung, lượng vốn đầu tư còn rất thấp, ngay như vùng đồng bằng sông Hồng lượng vốn đăng ký cũng chỉ đạt 5% so với tổng vốn đăng ký của cả nước. Nông,lâmnghiệp Số dự án Vốn đăng ký (USD) Vốn thực hiện (USD) Nông-Lâm nghiệp 803 4,014,833,499 1,856,710,521 Thủy sản 130 450,187,779 169,822,132 Tổng số 933 4,465,021,278 2,026,532,653 Bảng 3: Cơ cấu vốn ĐTNN năm 2007 trong nông – lâm - ngư
  15. 5. Các chính sách thu hút FDI vào lĩnh vục nông nghiệp ở Việt Nam thời gian qua Mục tiêu của chính sách thu hút FDI của Việt Nam là thu hút vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý của nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, tạo việc làm cho người lao động và mở rộng xuất khẩu. Hoạt động thu hút FDI liên quan chặt chẽ đến quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn, rõ ràng, thông thoáng, bình đẳng và có khả năng cạnh tranh với các nước khác trong khu vực và nông nghiêp giường như cũng không là phải ngoại lê. Thời gian qua, chính sách thu hút FDI đã được điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện dần từng bước một cách có hệ thống, và nông nghiệp cũng đang là 1 trong các lĩnh vực mà nhà nước quan tâm, chú trọng tới.Sau đây là một số chính sách đối với việc thu hút ĐTNN vào kinh tế Việt Nam nói chung và lĩnh vực nông nghiệp nói riêng. 5.1 Chính sách đất đai Mục tiêu của chính sách đất đai là tạo điều kiện thuận lợi và hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, bảo đảm cho các nhà đầu tư yên tâm và tin tưởng đầu tư lâu dài ở Việt Nam Đặc điểm đặc thù ở Vịêt Nam đó là: đất đai là tài sản quốc gia, thuộc sở hữu toàn dân. Các nhà đầu tư nước ngoài không có quyền sở hữu về đất đai. Các loại văn bản pháp lý liên quan đến đất đai gắn với hoạt động đầu tư trực tiếp nứơc ngoài là Luật đất đai, Luật đầu tư nước ngoài tại Vịêt Nam. Mức tiền thuê đất được xác định tuỳ thuộc vào: + Mức quy định khởi điểm của từng vùng + Địa điểm của khu đất + Kết cấu hạ tầng của khu đất + Hệ số ngành nghề Theo quyết định số 1477 – TC/TCĐN ngày 31-12-1994 của bộ tài chính ban hành bản quy định về quyền cho thuê mặt đất, mặt nước, mặt biển áp dụng đối với các hình thức đầu tư nước ngoài. - Khung giá cho thuê đất được quy định từ 0,375 USD/m2/năm đến 1,7 USD/m2/năm tuỳ theo nhóm đô thị, - Riêng đất nông nghiệp sử dụng đối với vùng không phải là đô thị giá thuê được qui định cụ thể như sau: + Những vùng đá, đồi trọc, đất xấu khó sử dụng từ 30-50 USD/ha/năm + Các vùng đất khác từ 150 – 170 USD/ha/năm . - Đối với mặt sông hồ, vịnh, mặt biển giá thuê có 2 mức:
  16. + Mặt nước sông, hồ, vịnh từ 75-525 USD/ha/năm. + Mặt biển từ 150- 600 USD/km2/năm. Trong trường hợp sử dụng không cố định thì áp dụng mức giá từ 1500 USD đến 7500 USD. Mức giá thuê đất, mặt nước, mặt biển nêu trên là mức giá áp dụng cho thực trạng diện tích đất cho thuê không bao gồm chi phí đền bù, giải toả. Mặc dù trong các văn bản nói trên đã cố gắng phân loại để xác định mức giá tiền thuê khác nhau cho phù hợp với điều kiện địa điểm, loại đất, hạ tầng cơ sở nhưng vẫn không tránh khỏi những bất hợp lý. Trong thực tế khi góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất và các dự án có vốn đầu tư nước ngoài thuờng có những vướng mắc sau: + Do Việt Nam chưa có quy định về tính giá trị nên trong một số trường hợp phần góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng lại có quá lớn so với giá trị của khu đất làm cho việc đàm phán kéo dài vì bên nước ngoài khó chấp nhận. + Trong một số trường hợp, khi đàm phán với nước ngoài, các đối tác Việt Nam đã đưa ra mức giá cho thuê thấp để được bên nước ngoài chấp nhận. Nhưng khi thẩm định dự án, họ lại được yêu cầu phải đàm phán để tăng giá thuê đất thì gặp khó khăn, mất nhiều thời gian và cũng khó thuyết phục bên nước ngoài. + Một số dự án nhầm lẫn giữa việc góp vốn bằng giá trị nhà xưởng với việc góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. Một số dự án chỉ tính tiền thuê đất của diện tích xây dựng nhưng không tính các diện tích khác như đường nội bộ, diện tích trồng cây xanh…Đlà cách hiểu sai chế độ qui định. Để tiếp tục tăng mức hấp dẫn của môi trường đầu tư nước ngoài, chính sách sử dụng đất cho các dự án đầu tư nước ngoài đã được cải thiện. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hiện đã sửa đổi chính sách đất đai theo hướng khuyến khích và rõ ràng hơn: Gía tiền thuê đất, mặt khác, mặt biến đổi với từng dự án được giữ ổn định tối thiểu là 5 năm, khi điều chỉnh tăng thì mức tăng không vượt quá 15% của mức qui định lần trước. Trong trường hợp doanh nghiêp có vốn đầu tư nước ngoài, các bên hợp doanh đã trả tiền thuê đất cho cả đời dự án, nếu giá tiền thuê có tăng trong thời hạn đó thì tiền thuê đã trả không bị điều chỉnh lại. Do Việt Nam còn thiếu qui hoạch chi tiết để phục vụ cho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài cho việc tạo ra các địa điểm ổn định thu hút vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa quan trọng. Tuy nhiên chính sách đất đai áp dụng đối với lĩnh vực đầu tư nước ngoài, nhất là tại khu vực nông nghiệp vẫn còn những vướng mắc nhất định: + Gía thuê đất của Việt Nam cao hơn so với nhiều nước trong khu vực. Nếu tính cả chi phí đền bù, giải toả thì giá đất bị đẩy lên quá cao. Đây là yếu tố làm giảm sức cạnh tranh để thu hút vốn đầu tư. Thời điểm tính giá trị quyền sử dụng đất để góp vốn vào các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chưa hợp lý. + Việc giao đất, nhất là các dự án có đền bù và giải toả kéo dài trong nhiều trường hợp việc giải toả này kéo dài trong một số năm thậm chí có dự án kéo dài tới 5 năm. Thủ tục thuê đất, cấp đất, giá đền bù, giải phóng mặt bằng còn phức tạp gây mất cơ
  17. hội và thời gian của các nhà đầu tư. Hiệu lực pháp luật của các qui định về đất đai còn thấp. Luật đất đai mặc dù đã sửa đổi song thiếu những văn bản hướng dẫn chi tiết. + Thiếu qui hoạch chi tiết cho việc thu hút FDI. Một số địa phương tự ý sử lý vấn đề đất đai áp dụng đối với các nhà đầu tư nước ngoài. 5.2. Chính sách lao động. Chính sách lao động có mục tiêu giải quyết việc làm, nâng cao tay nghề, kỹ năng cho người lao động, nâng cao trình độ quản lý và cải thiện thu nhập cho người lao động. Số lao động của Việt Nam làm việc trong các dự án có vốn đầu tư nước ngoài phần lớn là lao động trẻ, có khả năng thích ứng nhanh với yêu cầu công nghệ sản xuất tiên tiến nhưng hạn chế lớn về thể lực, kinh nghiệm và tay nghề dù phần lớn lao động lao động trong lĩnh vực nông nghiệp xuất thân từ nông thôn.Đồng thời tính kỷ luật của người lao động chưa cao.Sự hiểu biết về pháp luật của người lao động còn hạn chế. + Phần đông thiếu sự hiểu biết về các qui định của pháp luật lao động, chưa nắm vững các chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của mình để tiến hành ký hộp đồng còn mang tính hình thức, bị thiệt thòi, bị áp đặt dẫn đến mâu thuẫn phát sinh tranh chấp. + Một số người lao động đòi hỏi vượt quá qui định pháp luật và do sự hạn chế về ngoại ngữ nên có những bất đồng do không hiểu nhau dẫn đến mâu thuẫn. Tuy nhiên chính sách lao động còn những hạn chế. Mặc dù đã giải quyết được công ăn việc làm cho một lực lượng lao động nhất định, song mục tiêu nâng cao tay nghề cho công nhân, nâng cao trình độ quản lý cho đội ngũ cán bộ còn nhiều hạn chế. 5.3 Chính sách thị trường và tiêu thụ sản phẩm Trước năm 1996, chính sách đầu tư nước ngoài tại Việt Nam vẫn chủ yếu là thay thế nhập khẩu. Do đó, chính sách về thị trường chủ yếu là thị trường trong nước. Theo điều 3 của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 Nhà nước Việt Nam khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào: - Thực hiện các chương trình kinh tế lớn, sản xuất hàng xuất khẩu và hàng thay thế hàng nhập khẩu. -Sử dụng kỹ thuật cao, công nghệ hiện đại, đầu tư theo chiều sâu, khai thác và tận dụng các khả năng và nâng cao công suất của các cơ sở kinh tế hiện có. - Sử dụng nhiều lao động, nguyên vật liệu và tài nguyên thiên nhiên sẵn có ở Việt Nam. -Xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng. - Dịch vụ thu tiền nước ngoài như dịch vụ du lịch, sửa chữa tàu, dịch vụ sân bay, cảng khẩu khác.
  18. Luật sửa đổi, bổ xung gần đây đã khuyến khích đầu tư với mục tiêu ưu tiên hàng đầu là hàng xuất khẩu. Vì vậy, việc tiêu thụ sản phẩm ở các dự án có vốn đầu tư nước ngoài đã có định hướng xuất khẩu. Năm 2009, xtuất khẩu của khu vực nông thôn chiếm 7/10 mặt hàng xuát khẩu chủ yếu của Việt Nam.Thành tựu này có được cũng có một phần đóng góp không nhỏ của ĐTNN trong lĩnh vực mở rộng thị trường cho sản xuất nông nghiêp. Tuy nhiên, việc thúc đẩy xuất khẩu chỉ mới dừng lại ở tình trạng sản phẩm thô lượng được qua chế biến không nhiều, do đó bên Việt Nam do đó mà giá cả, tình hình lơị nhuận thu được từ xuất khẩu theo ý kiến chủ quan của em thì chưa đạt hiệu quả cao. Đây là yếu tố gây thua thiệt cho bên Việt Nam –một vấn đề đang đặt ra gay gắt hiện nay. Ngoài ra, việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá do sản xuất nông nghiệp tạo ra vẫn còn kém nhiều loại sản xuất ra nhưng lại không biết bán cho ai, trong khi sản phẩm của nông nghiệp lại có tính chất bảo quản không được lâu.Đó chính là vấn đề mà hiện nay Nhà nước và các nhà ĐTNN muốn đầu tư vào nông nghiệp quan tâm và đang tìm hướng giải quyết .4.Chính sách công nghệ. Mục tiêu của chính sách công nghệ là thu hút công nghệ, máy móc, thiết bị hiện đại của nước ngoài để phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá- hiện đại hóa đất nước, đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề, thực hiện nội địa hoá công nghệ để tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế nói chung. Điều này được khẳng định trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là thu hút công nghệ hiện đại để đầu tư theo chiều sâu vào các cơ sở kinh tế hiện có hoặc thu hút công nghệ cao để sản xuất hàng xuất khẩu. Qua xem xét trên thực tế thì nhiều dự án phát huy tác dụng tốt trong chuyển giao công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực chăn nuôi, lâm nghiệp Tuy nhiên, công nghệ tiên tiến nhập vào chưa nhiều, chưa đáp ứng được nhu cầu cần thiết cả về số lượng, lẫn qui mô,chưa cân đối với các ngành kinh tế, nhất là ở một số ngành then chốt có tác dụng tạo môi trường cho nông nghiệp đi lên như:Công nghiệp chế biến…. Nhìn chung trong các liên doanh với nước ngoài hàm lượng công nghệ thể hiện trong giá trị gia tăng của sản phẩm chế biến còn thấp, Mức độ hiện đại và tinh vi của chính bản thân công nghệ còn thấp. Trừ một số ít dây chuyền công nghệ nhập vào tương đối hiện đại, còn lại phần lớn ở trình độ thấp so với các nước trong khu vực, thậm chí có cả công nghệ lạc hậu, thiết bị cũ kỹ, gây ô nhiễm môi trường sau đó phải xử lý..
  19. 6.Những thành tựu và hạn chế của ĐTNN vào lĩnh vực NLN-NT trong những năm qua: 6.1 Thành tựu - Một là, các dự án ĐTNN trong lĩnh vực NLN-NT đã góp phần bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển trong lĩnh vực này, tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước. - Hai là, hoạt động của các dự án ĐTNN trong lĩnh vực này đã bước đầu thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế NLN-NT, góp phần đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao giá trị hang nông sản xuất khẩu và tiếp thu một số công nghệ mới. - Ba là, ĐTNN trong lĩnh vực NLN-NT đã góp phần tạo thêm nhiều việc làm mới, nâng cao thu nhập cho dân cư các địa phương, cải thiện đời sống kinh tế -xã hội của nhiều vùng nông nghiệp và nông thôn. 6.2 Hạn chế - Tỷ trọng ĐTNN vào lĩnh vực này còn thấp, chiếm khoảng 7% và liên tục giảm qua cá thời kỳ từ 1988 đến nay. - ĐTNN vào lĩnh vực này chưa phát huy đầy đủ tiềm năng của đất nước. - Phân bổ nguồn vốn ĐTNN không đồng đều giữa các địa phương. - Đối tác nước ngoài trong lĩnh vực này còn thiếu tính đa dạng. => .Những nguyên nhân làm hạn chế số lượng cũng như chất lượng nguồn vốn ĐTNN vào lĩnh vực này: Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 6/2007 tổng số dự án thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) còn hiệu lực 7.490 dự án với 67,3 tỷ USD, vốn thực hiện gần 30 tỷ. Trong đó đầu tư vào nông nghiệp chỉ là 758 dự án với 3,78 tỷ, chiếm 10% về tổng số dự án và 5,6% về tổng giá trị vốn. Vốn FDI thực hiện trong nông nghiệp, nông thôn chỉ là 1,9 tỷ. Đầu tư vào nông nghiệp chủ yếu cho chế biến nông sản, thực phẩm 53,7% tổng số vốn, trồng rừng và chế biến lâm sản 24,7%, chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc 12,7%, trồng trọt 8,9%. Tỷ trọng đầu tư cho ngành thấp và có xu hướng giảm, hiệu quả hoạt động của các dự án chưa cao, chưa phát huy đầy đủ tiềm năng của đất nước. Phân bổ không đồng đều giữa các vùng miền. Các quốc gia lớn chưa thực sự đầu tư vào nông nghiệp, thiếu tính đa dạng. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, điều này có 3 nhóm nguyên nhân chính.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản