intTypePromotion=1
ADSENSE

Tiểu luận: Vận dụng lý luận giá trị thặng dư trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

Chia sẻ: Tran Quang | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:32

260
lượt xem
50
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ quá trình vận dụng lý luận giá trị thặng dư vào sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam. Qua nghiên cứu đề tài giúp chúng ta hiểu được quá trình vận dụng lý luận giá trị thặng dư vào sự phát triển nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận: Vận dụng lý luận giá trị thặng dư trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay

  1. A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Theo V.I Lênin, lí luận giá trị thặng dư là ‘‘hòn đá tảng của học thuyết kinh   tế của Mác’’ và học thuyết kinh tế của C.Mác là “nội dung căn bản của chủ nghĩa   Mác’’.Để  đạt được mục đích làm giàu tối đa của mình nhà tư  bản đã mua sức lao   động của công nhân kết hợp với tư liệu sản xuất ra sản phẩm, thu về giá trị  thặng   dư. Nhưng nhà tư bản bao giờ cũng chỉ trả một phần giá trị sức lao động cho người  công nhân thông qua hình thức tiền lương và bóc lột giá trị thặng dư do người công  nhân sáng tạo ra trong quá trình sản xuất. Trong  xã hội tư  bản, mối quan hệ giữa tư bản và lao động là mối quan hệ  cơ bản, sâu sắc nhất, xuyên qua tất cả  các quan hệ  sản xuất của xã hội đó.Giá trị  thặng dư, phần giá trị do lao động của công nhân làm thuê sáng tạo ra ngoài sức lao  động bị  nhà tư  bản chiếm không, phản ánh mối quan hệ  sản   xuất  cơ  bản nhất  đó.Giá trị  thặng dư  do lao động không công của công nhân làm thuê sáng tạo ra là  nguồn gốc làm giàu của giai cấp các nhà tư  bản, sản xuất ra giá trị  thặng dư  là cơ  sở  tồn tại của chủ  nghĩa tư  bản.Toàn    bộ  hoạt động của nhà tư  bản hướng đến   tăng cường việc tạo ra giá trị thặng dư thông qua hai phương pháp cơ bản là tạo ra  giá trị thặng dư tuyệt đối và tạo ra giá trị thặng dư tương đối. Do vậy, sản xuất ra giá trị  thặng dư tối đa cho nhà tư  bản là nội dung chính  của quy luật giá trị  thặng dư. Nó tác động đến mọi mặt của xã hội tư  bản. Nó  quyết định sự  phát sinh , phát triển của chủ  nghĩa tư  bản và sự  thay thế  nó bằng   một xã hội khác cao hơn, là quy luật vận động của phương thức sản xuất tư  bản   chủ nghĩa. Hiện nay, nền kinh tế  Việt Nam là nền kinh tế  hàng hóa nhiều thành phần,  giai đoạn phát triển kinh tế  thị  trường định hướng xã hội chủ  nghĩa.   Chỉ  có phát  triển kinh tế thị trường mới làm cho nền kinh tế nước ta phát triển năng động. Phát  triển nền kinh tế thị trường là phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất xã   hội, cũng có nghĩa là sản phẩm xã hội ngày càng phong phú, đáp  ứng nhu cầu đa  dạng của mọi người. Ở nông thôn nước ta, sự phát triển kinh tế thị trường và việc  tăng tỷ lệ hàng hóa nông sản đã làm cho hàng hóa bán ra của nông dân nhiều lên, thu  1
  2. nhập tăng lên, đồng thời các ngành nghề ở nông thôn cũng ngày một phát triển, tạo   ra cho nông dân nhiều việc làm. Với những lý do trên tôi chọn đề  tài: “Vận dụng lý luận giá trị  thặng dư   trong quá trình phát triển kinh tế thị  trường  ở Việt Nam hiện nay  ” làm đề  tài  tiểu luận của mình. 2. Mục đích,  nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Làm rõ quá trình vận dụng lý luận giá trị  thặng dư  vào sự  phát triển kinh tế  thị trường ở Việt Nam 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Làm rõ lí luận giá trị thặng dư, phân tích quá trình và vận dụng lý luận giá trị  thặng dư vào sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam 2.3. Phạm vi nghiên cứu Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay 3. Phương pháp nghiên cứu ­ Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng – chủ nghĩa duy vật lịch  sử ­Phương pháp cụ thể: tổng hợp,phân tích , thống kê, so sánh 4. Ý nghĩa đề tài Qua nghiên cứu đề tài giúp chúng ta hiểu được quá trình vận dụng lý luận giá  trị thặng dư vào sự phát triển nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay 5. Kết cấu  đề tài Gồm có phần mở  đầu,nội dung,kết luận và danh mục tham khảo. Ngoài ra   còn 2 chương: Chương 1: lý luận về giá trị thặng dư Chương 2: vận dụng lý luận giá trị  thặng dư  vào sự  phát triển nề  kinh tế  ở  việt nam hiện nay 2
  3. B. NỘI DUNG CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ  THEO QUAN ĐIỂM  CHỦ NGHĨA MÁC­LÊNIN 1.1. Khái niệm giá trị thặng dư Là phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động trên toàn bộ giá tri do lao động   của công nhân làm thuê sáng tạo ra và bị  nhà tư  bản chiếm đoạt. Giá trị  thặng dư  cũng như tỉ suất giá trị thặng dư phản ánh quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, mức  độ bóc lột công nhân làm thuê của nhà tư bản. Sản xuất giá trị thặng dư là quy luật   kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản.  Một mặt, nó thúc đẩy nền sản xuất tư  bản chủ  nghĩa phát triển ngày càng   mạnh mẽ; mặt khác, nó làm tăng những mâu thuẫn vốn có của chủ  nghĩa tư  bản.   Nhà tư bản mua hàng hoá sức lao động đúng giá trị  của nó, nhưng sức lao động ấy  lại tạo ra cho nhà tư bản một giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó; do nhà tư bản  đã mua sức lao động, toàn bộ kết quả của quá trình lao động sản xuất thuộc về nhà  tư bản, cho nên phần giá trị  mới tăng thêm (ngoài phần giá trị  sức lao động mà nhà   tư bản đã trả công cho người lao động) bị nhà tư bản chiếm đoạt là giá trị thặng dư.  K.Marx có công lao to lớn xây dựng học thuyết về giá trị  thặng dư, chứng minh rõ   chính lao động của công nhân làm thuê, chứ  không phải tư  liệu sản xuất, là nguồn   gốc tạo ra giá trị  thặng dư, và nhờ đó mà Mac đã bóc trần bản chất của bóc lột giá   trị thặng dư bị che đậy. Trong đời sống kinh tế ­ xã hội hiện thực của chủ nghĩa tư bản, giá trị thặng  dư  biểu hiện với nhiều hình thức khác nhau: lợi nhuận, lợi tức, địa tô tư  bản chủ  nghĩa. Trong thời đại ngày nay, do điều kiện cách mạng khoa học ­ kĩ thuật phát   triển rất cao, điều kiện lao động của người công nhân thay đổi với hệ  thống máy  móc hiện đại (tự  động hoá, tin học hoá, người máy...), chủ  nghĩa tư  bản có những   hình thức phát triển, những động lực và phương pháp quản lí hiện đại (tư  bản độc   quyền nhà nước những công ti siêu quốc gia, đa quốc gia) thì sự bóc lột giá trị thặng   dư  được diễn ra dưới những hình thức khác nhau, theo những phương pháp khác  3
  4. nhau, tạo ra những năng suất lao động và tỉ suất giá trị thặng dư rất cao, nhưng bản   chất của sự bóc lột giá trị thặng dư của chủ nghĩa tư bản không thay đổi. Vấn đề lý  luận mang tính cốt lõi cần ưu tiên làm sáng rõ để việc nhận thức về nền kinh tế thị  trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam sớm nhận được sự  đồng thuận  là vấn đề nhận thức nội hàm khái niệm giá trị thặng dư. Nội hàm khái niệm giá trị  thặng dư  được tiếp nhận từ  lý luận kinh tế  của  Mác có thể gói gọn trong định nghĩa rằng: Giá trị thặng dư là giá trị do lao động của   công nhân làm thuê sản sinh ra vượt quá giá trị sức lao động của họ và bị nhà tư bản   chiếm đoạt toàn bộ. Việc sản sinh và chiếm đoạt giá trị  thặng dư  là sự  phản ánh   quan hệ  sản xuất căn bản của phương thức sản xuất tư  bản chủ nghĩa, phản ánh   quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản. 1.2. Vai trò của giá trị thặng dư Việc ứng dụng những thành tựu khoa học­ kĩ thuật hiện đại đã thúc đẩy lực   lượng sản xuất  ở nước tư bản chủ nghĩa phát triển tang lên trình dộ cao hơn. Nhờ  đó không những các tập đoàn tư bản độc quyền thu được lợi nhuận siêu cao mà đời  sống của những người lao động tại xí nghiệp cũng được cải thiện,khác xa đời sống   của những công nhân dưới chủ nghĩa tư bản đầu thế kỉ XVIII. Trước thực tế,cộng với sự  sụp đổ  của mô hình chủ  nghĩa xã hội tập trung  quan liêu ở Đông Âu và Liên Xô, nhiều người cho rằng học thuyết giá trị  thặng dư  không còn đúng nữa. Bởi vậy,việc luận giải vai trò của ía trị  thặng dư  trong nền   kinh tế thị trường là vô cùng cấp bách. Giá trị thặng dư có những vai trò đối với nền kinh tế thị trường như sau: ­Thứ  nhất: Học thuyết giá trị  thặng dư  không chỉ  là cơ  sở  đề  hiểu rõ bản  chất và xu hướng vận động của chủ  nghĩa tư  bản mà còn chỉ  chúng ta con đường   tạo ra lực lượng sản xuất của chủ nghĩa tư  xã hội hay nói cách khác là hàng nghìn  công nhân có việc làm ­Thứ hai: Mở rộng địa bàn và quy mô sản xuất,tích lũy thêm giá trị thặng dư ­Thứ  ba: Thúc đẩy sự  phát triển khoa học­công nghệ  hiện đại để  tăng năng  suất và giá trị thặng dư ­Thứ tư: Làm giàu cho giai cấp tư sản 4
  5. 1.3.Các phương pháp tìm kiếm giá trị thặng dư: Mục đích của các nhà tư  bản là sản xuất ra giá trị  thặng dư  tối đa. Vì vậy,  các nhà tư bản dùng nhiều phương pháp để tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng  dư. Khái quát có hai phương pháp để đạt được mục đích đó là sản xuất giá trị thặng  dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối. a) Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của sản xuất tư  bản chủ  nghĩa, khi kỹ  thuật còn thấp, tiến bộ chậm chạp thì phương pháp chủ  yếu để  tăng giá trị  thặng  dư là kéo dài ngày lao động của công nhân. Sản xuất giá trị  thặng dư tuyệt đối là phương pháp sản xuất ra giá trị  thặng  dư  được thực hiện trên cơ  sở  kéo dài tuyệt đối ngày lao động của công nhân trong  điều kiện thời gian lao động tất yếu không đổi và giá trị thặng dư được sản xuất ra   bằng phương pháp này được gọi là giá trị thặng dư tuyệt đối. Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và  4 giờ là thời gian lao động thặng dư.  Do đó, tỷ suất giá trị thặng dư là:  m’=  ×100(%)=100% Giả  sử  nhà tư  bản kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ, trong khi thời gian tất   yếu không thay đổi, vẫn là 4 gịờ.  Do đó, tỷ suất giá trị thặng dư là: Như  vậy, khi kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao  động tất yếu không thay đổi, thì thời gian lao động thặng dư  tăng lên, nên tỷ  suất   giá trị thặng dư  tăng lên. Trước đây, tỷ suất giá trị  thặng dư  là 100% thì bây giờ  là   150%. Các nhà tư bản tìm mọi cách kéo dài ngày lao động, nhưng ngày lao động có  những giới hạn nhất định. Giới hạn trên của ngày lao động do thể chất và tinh thần  của người lao động quyết định. Vì công nhân phải có thời gian ăn, ngủ, nghỉ  ngơi,   giải trí để  phục hồi sức khỏe. Việc kéo dài ngày lao động còn vấp phải sự  phản  5
  6. kháng của giai cấp công nhân. Còn giới hạn dưới của ngày lao động không thể  bằng thời gian lao động tất yếu, tức là thời gian lao động thặng dư  bằng không.   Như  vậy, về  mặt kinh tế, ngày lao động phải dài hơn thời gian lao động tất yếu,  nhưng không thể vượt quá giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động. Trong phạm vi giới hạn nói trên, độ dài của ngày lao động là một đại lượng  không cố định và có nhiều mức khác nhau. Độ dài cụ thể của ngày lao động do cuộc  đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư  sản trên cơ  sở  tương quan lực   lượng quyết định. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đòi ngày lao động tiêu   chuẩn, ngày làm 8 giờ đã kéo dài hàng thế kỷ. b)  Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối Việc kéo dài ngày lao động bị  giới hạn về  thể  chất và tinh thần của nguời   lao động và vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ  của giai cấp công nhân.   Mặt khác, khi sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển đến giai đoạn đại công nghiệp   cơ khí, kỹ thuật đã tiến bộ làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, thì các   nhà tư bản chuyển sang phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động  xã hội, tức là bóc lột giá trị thặng dư tương đối. Sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp sản xuất ra giá trị  thặng   dư được thực hiện bằng cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu lại để kéo dài một  cách tương ứng thời gian lao động thặng dư  trên cơ  sở  tăng năng suất lao động xã  hội trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi. Giá trị thặng dư được sản xuất  ra bằng phương pháp này được gọi là giá trị thặng dư tương đối. Giả  sử  ngày lao động là 8 giờ  và nó được chia thành 4 giờ  là thời gian lao  động tất yếu và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư.  Do đó, tý suất giá trị thặng dư là: Giả  định rằng ngày lao động không thay đổi, nhưng bây giờ  công nhân chỉ  cần 3 giờ  lao động đã tạo ra được một lựơng giá trị  mới bằng với giá trị  sức lao   động của mình. Do đó, tỷ lệ phân chia ngày lao động sẽ thay đổi: 3 giờ là thời gian  lao động tất yếu và 5 giờ là thời gian lao động thặng dư.   6
  7. Do đó, bây giờ tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là: Như vậy, tỷ suất giá trị thặng dư đã tăng từ 100% lên 166%. Làm thế nào để có thể rút ngắn được thời gian lao động tất yếu? Thời gian  lao động tất yếu có quan hệ với giá trị  sức lao động. Muốn rút ngắn thời gian lao   động tất yếu phải giảm giá trị  sức lao động. Muốn hạ  thấp giá trị  sức lao động  phải giảm giá trị  những tư  liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân.   Điều đó chỉ  có thể  thực hiện được bằng cách tăng năng suất lao động trong các  ngành sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt thuộc phạm vi tiêu dùng của công nhân   và tăng năng suất lao động trong các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất để sản xuất   ra những tư liệu sinh hoạt đó, tức là tăng năng suất lao động xã hội. Nếu trong giai đoạn đầu của chủ  nghĩa tư  bản, sản xuất giá trị  thặng dư  tuyệt đối là phương pháp chủ  yếu, thì đến giai đoạn tiếp sau, khi kỹ  thuật phát  triển, sản xuất giá trị  thặng dư  tương đối là phương pháp chủ  yếu. Lịch sử  phát  triển của lực lượng sản xuất và của năng suất lao động xã hội dưới chủ  nghĩa tư  bản đã trải qua ba giai đoạn: hợp tác giản đơn, công trường thủ  công và đại công  nghiệp cơ khí, đó cũng là quá trình nâng cao trình độ bóc lột giá trị  thặng dư tương   đối. Hai phương pháp sản xuất giá trị  thặng dư  nói trên được các nhà tư  bản sử  dụng kết hợp với nhau để  nâng cao trình độ  bóc lột công nhân làm thuê trong quá  trình phát triển của chủ  nghĩa tư  bản. Dưới chủ  nghĩa tư  bản, việc áp dụng máy   móc không phải là để giảm nhẹ cường độ  lao động của công nhân, mà trái lại tạo  điều kiện để tăng cường độ lao động. Ngày nay, việc tự động hóa sản xuất làm cho   cường độ  lao động tăng lên, nhưng dưới hình thức mới, sự  căng thẳng của thần   kinh thay thế cho cường độ lao động cơ bắp. • Giá trị thặng dư siêu ngạch Cạnh tranh giữa các nhà tư bản buộc họ phải áp dụng phương pháp sản xuất  tốt nhất để tăng năng suất lao động trong xí nghiệp của mình nhằm giám giá trị  cá  biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị  xã hội của háng hóa, nhờ  đó thu được giá trị  thặng dư siêu ngạch. 7
  8. Giá trị  thặng dư  siêu ngạch là phần giá trị  thặng dư  thu được do tăng năng   suất lao động cá biệt, làm cho giá trị  củ  biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị  thị  trường của nó. Xét từng trường hợp thì giá trị  thặng dư  siêu ngạch là hiện tượng tạm thời,  nhanh chóng xuất hiện rồi cũng lại nhanh chóng mất đi. Nhưng xét toàn bộ  xã hội  tư  bản thì giá trị  thặng dư  siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường xuyên. Theo  đuổi giá trị  thặng dư  siêu ngạch là khát vọng của nhà tư  bản và là động lực mạnh  nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất  lao động, làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng. Mác gọi giá trị  thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tứơng của giá trị  thặng dư  tương đối, vì giá  trị  thặng dư siêu ngạch và giá trị  thặng dư tương đối dều dựa trên cơ sở tăng năng  suất lao động (mặc dù một bên là dựa vào tăng năng suất lao động cá biệt, còn một   bên dựa vào tăng năng suất lao dộng xã hội). Sự  khác nhau giữa giá trị  thặng dư  siêu ngạch và giá trị  thặng dư  tương đối  còn thể hiện  ở  chỗ  giá trị  thặng dư  tương đối do toàn bộ  giai cấp các nhà tư  bản   thu được. Xét về mặt đó, nó thể hiện quan hệ bóc lột của toàn bộ giai cấp các nhà   tư bản đối với toàn bộ giai cấp công nhân làm thuê. Giá trị thặng dư siêu ngạch chỉ  do một số nhà tư  bản có kỹ  thuật tiên tiến thu được. Xét về  mặt đó, nó không chỉ  biểu hiện mối quan hệ  giữa tư  bản và lao động làm thuê, mà còn trực tiếp biểu   hiện mối quan hệ cạnh tranh giữa các nhà tư bản. Từ  đó, ta thấy rằng giá trị  thặng dư  siêu ngạch là động lực trực tiếp, mạnh  nhất thúc đẩy các nhà tư  bản cải tiến kỹ  thuật, áp dụng công nghệ  mới vào sản  xuất, hoàn thiện tổ chức lao động và tổ chức sản xuất để tăng năng suất lao động,  giảm giá trị của hàng hóa. 8
  9. 9
  10. CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ VÀO SỰ PHÁT  TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜ NG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1. Tình hình phát triển kinh tế ở việt nam hiện nay Trong suốt 30 năm qua nước ta đã đạt được những thành tựu rất đáng khích  lệ. Từ  một nước lạc hậu,thiếu đói thường xuyên,kém phát triển,đến nay chúng ta  đã trở thành nước có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể hiện  một cách khái quát,rõ ràng tư  tưởng,quan điểm của Đảng về  nền kinh kinh tế  thị  trường ở nước ta. 2.1.1. Nền kinh tế thị trường nhiều thành phần Nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay là sản phẩm của quá trình   Đảng và nhân dân ta nhận thức ,vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin,thể hiện   tư duy mới của chúng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Tại Đại hội VI, khi đề  ra đường lối đổi mới đất nước, Đảng ta chủ  trương   đa dạng hoá các loại hình sở hữu, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định   hướng xã hội chủ  nghĩa. Đây là bước tiến quan trọng về  tư  duy lý luận và nhận  thức thực tiễn. Đảng không chỉ thừa nhận sự tồn tại như một tất yếu của nền kinh   tế nhiều thành phần trong suốt thời kỳ quá độ, mà còn nhận thấy sự cần thiết phải  có chính sách đúng đắn nhằm sử dụng và phát triển các thành phần kinh tế, trong đó  có kinh tế tư nhân nhằm thực hiện những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Cùng với   sự vận động của thực tiễn và sự phát triển của nhận thức, lý luận về phát triển nền  kinh tế  nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ  nghĩa tiếp tục được Đảng  Cộng sản Việt Nam bổ sung, hoàn thiện qua các kỳ Đại hội VII, VIII, IX và X. Tại   Đại hội X (năm 2006), Đảng ta xác định cơ cấu nền kinh tế nước ta gồm năm thành  phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế tư bản nhà  nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Điểm mới ở đây là đã gộp kinh tế cá thể,  tiểu chủ và tư bản tư nhân thành thành phần kinh tế tư nhân, đồng thời khẳng định   đảng viên được phép làm kinh tế tư nhân. Văn kiện Đại hội X cũng khẳng định các   thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường định hướng   xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các thành phần kinh tế bình đẳng với nhau. Điều này có  10
  11. tác dụng tích cực tạo sự  yên tâm phát triển sản xuất kinh doanh của tất cả  các   doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế phi nhà nước.      Trong nền kinh tế nhiều thành phần  ở  nước ta hiện nay, có những thành   phần kinh tế đã thể hiện tốt vai trò của mình.    Về  kinh tế  nhà nước, thành phần kinh tế này lấy sở  hữu công cộng về  tư  liệu sản xuất là cơ  sở  kinh tế. Kinh tế  nhà nước không chỉ  bao gồm các doanh  nghiệp nhà nước, mà còn bao gồm các tài sản, công cụ kinh tế quan trọng thuộc sở  hữu nhà nước, v.v.. Văn kiện Đại hội X của Đảng xác định rõ: “Kinh tế  nhà nước  giữ  vai trò chủ  đạo, v.v.. Kinh tế  nhà nước và kinh tế  tập thể  ngày càng trở  thành  nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”. kinh tế  Nhà nước không ngừng lớn mạnh và đóng vai trò chủ  đạo. nó nắm   những lĩnh vực then chột trong nền kinh tế, nhữngngành, những lĩnh vực có tác  động đến toàn bộ các hoạt động kinh tế ­ xã hội hoặc cóý nghĩa quan trọng đối với  sự   ổn định và phát triển kinh tế  ­ xã hội, chính trị  của đấtnước như  ngành điện,  nước, giao thông, thông tin liên lạc, công nghiệp quốc phòng...Nó là một công cụ có  sức mạnh vật chất mang tính quyết định để  nhà nước điều tiết vàhướng dẫn nền   kinh tế hàng hoá nhiều thành phàan phát triển theo định hướng xã hộichủ nghĩa.     Một hình thức doanh nghiệp đang được khuyến khích phát triển đó là cổ  phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước. Mục đích của việc làm này là nhằm thu hút  nguồn vốn từ  người lao động, hạn chế  tiêu cực, nâng cao tinh thần lao động. Đặc  biệt Nhà nước có chính sách động viên chính các cán bộ, công nhân của doanh   nghiệp mua cổ phần. Trong các doanh nghiệp đó, Nhà nước nắm phần lớn cổ phần   hoặc cổ phần khống chế. Việc thực hiện cổ phần hoá đã được tiến hành thí điểm   ở thành phố Hồ Chí Minh và đang được nhân rộng. Vấn đề còn vướng mắc là Nhà  nước cần hoàn chỉnh quy chế  và tiêu chuẩn lựa chọn hội đồng quản lý, giám đốc  điều hành và tuyên truyền cho mọi người thấy lợi ích to lớn của việc cổ phần hoá.      Cùng với kinh tế  nhà nước, kinh tế  tập thể   được coi là một thành phần  kinh tế của chủ nghĩa xã hội.Thành phần kinh tế này tồn tại và phát triển dựa trên  hình thức sở  hữu tập thể  và sở  hữu của các thành viên. Sự  phát triển theo định   hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đòi hỏi phát triển mạnh mẽ và vững chắc thành   phần kinh tế này, bởi như V.I.Lênin đã nhấn mạnh, đó là mô hình dễ tiếp thu nhất   11
  12. của những người nông dân để tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ  nghĩa. Rút bài học  kinh nghiệm sâu sắc từ phong trào tập thể hoá trước đổi mới và thực tế những năm   đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc phát triển thành phần  kinh tế này, chủ trương xây dựng các hợp tác xã kiểu mới phù hợp với trình độ của  lực lượng sản xuất và nhu cầu của các chủ thể sản xuất. Để nó có thể hoạt động với hiệu quả cao cần tuân thủ những nguyên tắc cơ  bản của quá trình hợp tác hoá mà V.I. lênin đã đề ra. Đó là tự nguyện, dân chủ, cùng  có lợi dưới sự  lãnh đạp của Đảng. Trong đó, nguyên tắc tự  nguyện là nguyên tắc   đầu tiên, cơ  bản nhất. Ngoài ra còn có những nguyên tắc khác như: phải sử  dụng   các hình thức đa dạng, từ  lĩnh vực lưu thông, dịch vụ, đến lĩnh vực sản xuất, phát   triển từ thấp đến cao, từ tổ nhóm hợp tác đến hợp tác xã, quản lý dân chủ...Tất cả  các nguyên tắc trên có liên quan mật thiết với nhau. Chẳng hạn, không thể đảm bảo  nguyên tắc tự nguyện, nếu như gia nhập hợp tác xã mà không mang lại lợi ích cho   người lao động, trước hết là lợi ích kinh tế  và để  các tổ  chức kinh tế  đó có thể  mang lại lợi ích cho người lao động, thì nó phải sản xuất ­ kinh doanh có hiệu quả.      Ở nước ta, quan trọng hợp tác hoá đối với những người sản xuất nhỏ diễn   ra từ sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc (1954). "Năm 1958, ở miền Bắc có từ 65 ­   67% số  hộ  nông dân đã vào kinh tế  tập thể  dưới hình thức tổ  đội công. Đến năm   1960 đa số hộ nông dân (85,8%) đã vào hợp tác xã (chủ yếu là bậc thấp)". Tiếp sau  đó là chuyển từ  hợp tác xã bật thấp lên hợp tác xã bậc cao, các tư  liệu sản xuất  được tập thể hoá ở mức độ cao và mở rộng quy mô sản xuất. Ở miền Nam sau khi   giải phóng, các tổ  chức kinh tế  hợp tác cũng được thành lập. Trong tiểu thủ  công  nghiệp, thương nghiệp và dịch vụ, quá trình hợp tác hoá cũng diễn ra như vậy.      Về  Kinh tế  tư  nhân  bao gồm cá thể, tiểu chủ  và tư  bản tư  nhân. Nhìn  chung, sau hơn 20 năm đổi mới, kinh tế tư nhân đã có bước phát triển mạnh mẽ và   đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Trong những năm gần   đây, kinh tế kinh doanh phát triển khá nhanh, hoạt động có hiệu quả trên nhiều lĩnh   vực, chiếm 45,7% GDP (trong đó kinh tế  hợp tác đóng góp 6,8%GDP). Như  vậy,   kinh tế  tư  nhân đạt 38,9% GDP, tương đương với tỷ  trọng GDP của kinh tế  nhà  nước(5). 12
  13. Trong kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể, tiểu chủ dựa trên hình thức tư hữu nhỏ  về tư liệu sản xuất, có vai trò quan trọng trong nhiều ngành nghề ở cả thành thị và  nông thôn, có khả  năng huy động vốn và lao động. Đóng góp của kinh tế  cá thể,  tiểu chủ trong lĩnh vực nông nghiệp khá lớn, tỷ trọng GDP khá cao nhưng lại đang  giảm liên tục. Sự  giảm sút này không đáng lo ngại, thậm chí là một dấu hiệu tích   cực, phản ánh sự di chuyển khá mạnh mẽ của nó vào các bộ phận, các thành phần   kinh tế có trình độ cao hơn; thực chất, là sự  thu hẹp cách thức sản xuất nhỏ lẻ để  tiến lên những hình thức sản xuất tiến bộ  hơn. Đây là một xu thế  tất yếu, do sự  phát triển của nền kinh tế  thị  trường và quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá   đang diễn ra một cách mạnh mẽ buộc những thành viên của kinh tế cá thể, tiểu chủ  phải thay đổi, di chuyển vào các bộ phận, các thành phần kinh tế khác để bảo đảm   lợi ích, do đó làm tăng sức cạnh tranh và cơ  hội để  phát triển khoa học và công   nghệ, nâng cao năng lực sản xuất. Đối với kinh tế tư bản tư nhân, đây là bộ phận kinh tế dựa trên hình thức sở  hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ  nghĩa xã hội, bộ  phận kinh tế  này đã đóng góp tích cực vào việc phát triển lực   lượng sản xuất, huy động vốn, tạo việc làm cho người lao động, v.v.. Từ  khi Luật Doanh nghiệp tư  nhân và Luật Công ty ra đời (21/12/1990), các   doanh nghiệp tư  nhân đã thực sự  đi vào hoạt động với đầy đủ  tư  cách pháp nhân,  kinh tế tư bản tư nhân đã có sự phát triển đáng kể, phát huy có hiệu quả khả năng  huy động vốn và tạo việc làm mới cho người lao động; đóng góp của nó cũng ngày   càng tăng. Tuy nhiên, do mới hình thành, nên tỷ trọng cơ cấu GDP của nó chưa cao.   Đối với thành phần kinh tế này, Đảng ta chủ trương  khuyến khích phát triển rộng  rãi trong những ngành nghề sản xuất, kinh doanh mà pháp luật không cấm; tạo môi   trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để nó phát triển trên những định   hướng ưu tiên của Nhà nước, v.v.. Về Kinh tế tư bản nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên hình thức sở hữu   hỗn hợp về  vốn giữa kinh tế  nhà nước với kinh tế  tư  bản tư  nhân trong và ngoài   nước dưới các hình thức hợp tác, liên doanh. Trong quan niệm của V.I.Lênin, kinh  tế tư bản nhà nước là hình thức kinh tế quá độ đặc biệt quan trọng và cần thiết để  13
  14. đi lên chủ  nghĩa xã hội. Ông coi nó là thứ  chủ nghĩa tư  bản mà 2/3 là chủ  nghĩa xã   hội, là cái “không đáng sợ”, thậm chí còn là “phòng chờ” để đi vào chủ nghĩa xã hội. Tuy vậy, sự vận động hiện thực của thành phần kinh tế này ở nước ta đang  là một vấn đề  cần phải bàn. Các cơ  chế, chính sách, điều kiện  ở  Việt Nam hiện  nay chưa tạo ra sự thuận lợi cho thành phần kinh tế này phát triển. Những năm đầu  tiên khi chúng ta mới thực hiện đường lối mở  cửa, có lẽ  các doanh nghiệp nước   ngoài hy vọng vào việc khai thác những tiềm năng của một thị  trường còn rất mới   mẻ, nên họ  đã đầu tư  rất lớn vào Việt Nam, liên doanh, liên kết giữa kinh tế  nhà   nước với các doanh nghiệp nước ngoài diễn ra mạnh mẽ, vốn đầu tư  nước ngoài  vào Việt Nam  ở  mức cao. Tuy nhiên, chỉ  sau đó một thời gian, số  vốn này giảm   mạnh. Chính vì nguồn vốn đầu tư  giảm nên tỷ  trọng GDP của thành phần kinh tế  này cũng liên tục giảm. Đầu tư  nước ngoài là bộ  phận phát triển nhất của kinh tế  tư bản nhà nước ở nước ta, nếu đầu tư nước ngoài giảm sút thì tất yếu sẽ làm cho  thành phần kinh tế này kém phát triển, thậm chí là không phát triển. Tuy nhiên, theo chúng tôi, trong thời gian tới, kinh tế tư bản nhà nước có khả  năng phát triển mạnh mẽ, bởi hiện nay, chúng ta đã gia nhập Tổ chức Thương mại   thế giới (WTO), Đảng và Nhà nước ta đang tìm mọi biện pháp tích cực và hiệu quả  để cải thiện môi trường đầu tư. Hơn nữa, hiện nay, một số thành phần kinh tế khác  đang phát triển rất mạnh mẽ, nên trong tương lai không xa, nhu cầu liên doanh, liên  kết sẽ tăng cao, từ đó sẽ làm cho kinh tế tư bản nhà nước phát triển, tạo điều kiện  thuận lợi cho việc chuyển sang nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Về Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một thành phần kinh tế mới nảy sinh  trong quá trình xây dựng chủ  nghĩa xã hội  ở  nước ta. Năm 1987, khi Luật Đầu tư  trực tiếp nước ngoài được ban hành thì kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mới thực  sự  có bước phát triển nhanh chóng. Hiện nay, đã có hàng ngàn công ty nước ngoài   có dự  án đầu tư   ở  Việt Nam. Tính từ  năm 1988 đến năm 2003, nước ta đã thu hút   được trên 40 tỷ  USD đầu tư  trực tiếp nước ngoài và đã thực hiện được hơn 20 tỷ  USD. Năm 2005, các doanh nghiệp có vốn đầu tư  nước ngoài đóng góp khoảng  15,9% GDP, năm 2007 khoảng 17%. Từ khi chúng ta gia nhập WTO, nguồn vốn đầu  tư  trực tiếp nước ngoài (FDI) đổ  vào Việt Nam tăng đột biến, năm 2007 là hơn 20   14
  15. tỷ USD (tăng khoảng 70% so với năm 2006), sáu tháng đầu năm năm 2008 là 31,6 tỷ  USD.     Như vậy, cùng với quá trình tổng kết kinh nghiệm và phát triển sáng tạo lý   luận về  chủ  nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ  nghĩa xã hội, chúng ta đã bước   đầu tìm ra những biện pháp, bước đi mang tính quy luật của quá trình đi lên chủ  nghĩa xã hội. Một trong những biện pháp đó, xét về  mặt kinh tế, là phát triển nền   kinh tế  nhiều thành phần. Để  nền kinh tế  nhiều thành phần phát triển theo đúng  định hướng xã hội chủ  nghĩa, một mặt, chúng ta phải tạo môi trường phát triển   thuận lợi, đảm bảo tính độc lập, tự  chủ  của các thành phần kinh tế, trong đó kinh   tế nhà nước phải thực sự đóng vai trò chủ đạo; mặt khác, chúng ta phải tăng cường  vai trò của Đảng và Nhà nước trong lãnh đạo, quản lý kinh tế. 2.1.2. Kinh tế thị trường phát triển chưa đồng đều      Thời gian qua, hệ thống các loại thị trường ở nước ta đã được hình thành.   Tuy nhiên, đối chiếu với một nền kinh tế thị trường vận hành đầy đủ, đồng bộ theo  các quy luật của kinh tế thị trường, hiện đại và hội nhập quốc tế và tiềm năng, thế  mạnh của nền kinh tế  nước ta thì nhìn một cách tổng quát, đến nay vẫn còn tình  trạng chưa ăn khớp, chưa đồng bộ, vận hành chưa thông suốt ở  một số  thị  trường   và phân đoạn thị trường ở Việt Nam.  Quy mô, cơ cấu, tốc độ phát triển của một số thị trường và phân đoạn thị  trường còn mất cân đối, khập khiễng, chưa tương hợp được nói đến như sau: ­Thị  trường hàng hóa, dịch vụ  có quy mô tương đối lớn, tốc độ  phát triển   nhanh nhưng chưa bền vững, tăng trưởng không đều, có những năm suy giảm(1).  Cơ  cấu thị  trường hàng hóa, dịch vụ  chưa hợp lý, tập trung chủ  yếu  ở  khu vực   thành thị và đô thị lớn; thị trường ở khu vực nông thôn quy mô nhỏ, hàng hóa ít. Thị  trường hàng hóa, dịch vụ có sự chia cắt, thiếu liên thông, không đồng đều giữa các  vùng, miền. Trong cơ  cấu thị  trường hàng hóa, dịch vụ, khu vực thương nghiệp,   chủ yếu là bán lẻ hàng hóa, chiếm tỷ trọng cao nhất (76,8%); còn khu vực dịch vụ  (khách sạn, nhà hàng, du lịch, dịch vụ) chiếm tỷ trọng nhỏ (23,2%).  ­Thị  trường lao động  phát triển không đồng đều, mất cân đối. Quy mô thị  trường lao động nhỏ, tính ổn định của thị trường không cao. Quy mô của thị trường  lao động chính thức thấp, chỉ đạt khoảng 30%, chủ  yếu là thị  trường lao động phi   15
  16. chính thức và không chính quy. Trong cơ  cấu thị  trường lao động, tỷ  lệ  lao động  làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn còn chiếm tỷ lệ cao hơn   so với khu vực công nghiệp ­ xây dựng và dịch vụ. ­Thị trường bất động sản, thị trường quyền sử dụng đất phát triển chưa bền  vững,  một  số  phân đoạn  thị  trường  còn  phát  triển  méo mó,   các  nguyên  tắc   thị  trường chưa được vận dụng hiệu quả, Nhà nước vẫn là chủ  thể  can thiệp chính  trên thị trường. Một số thị trường bất động sản ở các đô thị lớn, như thị trường nhà   ở, nhà chung cư tăng trưởng nóng. Thị trường đất đai nông nghiệp tồn tại nhiều bất  cập, như quy mô đất nông nghiệp của các hộ nông nghiệp ít thay đổi, nhỏ lẻ, manh   mún, gây rất nhiều khó khăn cho việc tích tụ và tập trung ruộng đất. ­Thị  trường vốn quy mô nhỏ, thanh khoản yếu, thiếu hấp dẫn, chưa đủ  khả  năng thu hút mạnh các dòng vốn đầu tư  nước ngoài, nhất là các dòng vốn lớn. Có  sự mất cân đối giữa thị trường vốn ngắn hạn và dài hạn. Cơ cấu tín dụng mất cân  đối về kỳ hạn, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn chiếm tỷ lệ cao.  ­Thị  trường khoa học ­ công nghệ quy mô còn nhỏ, kết nối cung ­ cầu còn  nhiều hạn chế. Các nghiên cứu khoa học và công nghệ  có tính  ứng dụng thấp, ít  gắn kết với thực tiễn, chưa đáp  ứng được nhu cầu đổi mới công nghệ  của doanh   nghiệp. Năng lực nghiên cứu của các viện, trung tâm nghiên cứu thấp. Các doanh   nghiệp ít có nhu cầu mua bán, chuyển giao công nghệ ở trong nước.  Trình độ  phát triển và hiệu quả  hoạt động của các loại thị  trường không   đồng đều. Nhìn tổng thể, trình độ  phát triển một số  loại thị  trường trong nền kinh tế  nước ta còn thấp, điều này được thể hiện rõ ở chỉ số tự do kinh tế của nước ta chỉ  ở mức 51­52/100 điểm, thấp hơn nhiều so với một số nước trong khu vực như Thái  Lan, Ma­lai­xi­a, Xin­ga­po. Trình độ  phát triển thị  trường hàng hóa, dịch vụ   ở  khu vực nông thôn còn  thấp. Các kênh phân phối hiện đại, các tổ chức kiểm định chất lượng hàng hóa, tổ  chức bảo vệ người tiêu dùng... trên thị trường hàng hóa, dịch vụ chưa phát triển. Hệ  thống thương mại và các kênh phân phối trong nước có nhiều cấp trung gian, hiệu   quả  hoạt động thấp. Hiệu quả  hoạt động của thị  trường hàng hóa và dịch vụ  chỉ  16
  17. đạt 4,2/7 điểm, xếp thứ  81/133 theo như xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế  thế  giới   năm 2016.  Quan hệ  cung ­ cầu trên thị  trường lao động bị  mất cân đối. Tồn tại nhiều  nghịch lý trên thị trường lao động, như thừa lao động trình độ thấp nhưng lại thiếu   lao động trình độ cao hay tỷ lệ sinh viên mới tốt nghiệp đại học ra trường chưa tìm   được việc làm phù hợp với trình độ  đào tạo cao, hoặc phải đi làm công nhân trong   các khu công nghiệp. Tranh chấp lao động, đình công, bãi công diễn ra phức tạp. Thị trường bất động sản vẫn có phân đoạn phát triển tự phát, tình trạng đầu  cơ làm méo mó quan hệ thị trường vẫn tồn tại. Tình trạng giao dịch “ngầm” vượt   ngoài các quy định pháp luật, gây nhiều lãng phí và tổn thất cho ngân sách nhà nước   vẫn tồn tại trên thị trường bất động sản. Cơ  chế  giám sát, kiểm tra, kiểm soát nội bộ, đặc biệt là hệ  thống quản trị  rủi ro đối với hệ  thống ngân hàng còn chưa theo kịp diễn biến thị  trường và còn  nhiều bất cập. Thị trường cổ phiếu còn thiếu minh bạch và mang tính đầu cơ  hơn  là đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Năng lực khoa học và công nghệ  của nước ta vẫn còn thấp, chưa gắn kết   được giữa khoa học và công nghệ  với thực tiễn sản xuất, kinh doanh của doanh   nghiệp. Hiệu quả  hoạt động của các tổ  chức khoa học và công nghệ  thấp, thiếu  nhiều tổ chức trung gian, tư vấn về khoa học và công nghệ. Việc chuyển đổi các tổ  chức khoa học ­ công nghệ công lập thành các tổ chức tự chủ, tự chịu trách nhiệm  còn chậm và gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. 2.1.3. Kinh tế thị trường phát triển chưa vững chắc Việc chạy đua chỉ  số  GDP của các nước đang phát triển trong đó có Việt  Nam bất yếu tố  con người và môi trường đã khiến thế  hệ  mai sau của đất nước   này mất dần cơ hội phát triển trong tương lai khi mà tiềm năng của đất nước không   vững chắc,ô nhiễm môi trường, tài chính suy giảm, gặp các vấn đề  về  an ninh  lương thực và năng lực dẫn đến phát triển không bền vững .Bản chất của mô hình  phát triển không bền vững là phát triển không quan tâm đến môi trường, kích thích  tiêu thụ quá mức và khai thác nguồn tài nguyên quá mức. 17
  18. Biểu hiện kinh tế: Tăng trưởng nhanh và theo chiều rộng, tiềm lực kinh tế  còn yếu, chưa đạt mức tiềm năng,tốc độ  tăng trưởng có nguy cơ  suy giảm trong   tương lai. stt Nội dung 2010 2011 2012 2013 2014 1 Tăng trưởng GDP thực tế 6.4 5.89 5.3 5.4 5.8 2 Chỉ số tiêu dùng (CPI) 11.8 18.1 6.8 6.0 7.0 3 Tổng vốn ĐTPT so với GDP 38.5 33.3 31.1 30.4 30.0 4 Tốc độ tăng xuất khẩu 26.5 34.2 18.2 15.4 10.0 5 Nhập siêu so kim ngạch xuất  ­17.4 ­10.2 0.7 0.7 ­0.6 khẩu 6 Tỉ lệ hộ nghèo 14.2 12.6 11.1 9.9 2 7 Tỉ lệ thất nghiệp thành thị 4.3 3.6 3.2 3.6 4 Số nợ hiện nay của Việt Nam so với các nước khác thì chưa thuộc loại cao   và chưa tới giới hạn nguy hiểm, song số nợ đó đang tăng lên nhanh chóng và sẽ có   nguy cơ đe dọa tính bền vững của sự phát triển trong tương lai, nhất là khi vốn vay  chưa được sử dụng có hiệu quả. Đầu tư của nhà nước còn lãng phí, thất thoát Năm Tốc độ tăng trưởng GDP 2008 6,23% 2011 5,89% 2012 5,3% Từ năm 2007,nền kinh tế có dấu hiệu lạm phát rất cao, từ 2007­2012 khủng   hoảng tài chính. Đặc trưng của giai đoạn này là tốc độ  tăng trưởng kinh tế  chùng   lại.Năm 2018,tăng trưởng GDP thấp nhất,lạm phát tăng tốc đều  ở  10­20%. Năm  18
  19. 2011,một số gói kích cầu được tung ra với số tiền rất lớn nhưng mang lại hiệu quả  ngược lại như:bong bóng chứng khoán,lạm phát tăng cao,thâm hụt ngân sách,gây   bất  ổn tỉ  giá,bất  ổn kinh tế  vĩ mô…   Giai  đoạn này một số  tập  đoàn lớn như  vinasin, vinalines lâm vào khủng hoảng gây lãng phí lớn. Năm 2012,nền kinh tế Việt  Nam lâm vào tình trạng khó khan trong đó nổi bật là nợ xấu ngân hang và hàng tồn  kho tăng cao. Một lượng lớn doanh nghiệp rơi vào khó khăn hoặc phá sản 2.2. Vận dụng lý luận giá trị thặng dư vào sự phát triển của nền kinh tế thị  trường ở Việt Nam hiện nay Trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa và hội nhập quốc  tế, phát triển nguồn nhân lực được coi là một trong ba khâu đột phá của chiến lược  chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế ­ xã hội của đất nước; đồng thời phát triển  nguồn nhân lực trở  thành nền tảng phát triển bền vững và tăng lợi thế  cạnh tranh   quốc gia. Nhân lực là nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển của mỗi quốc gia.   Trình độ phát triển của nguồn nhân lực là một thước đo chủ  yếu sự phát triển của   các quốc gia. Vì vậy, các quốc gia trên thế  giới đều rất coi trọng phát triển nguồn  nhân lực. Trong thế  kỷ  XX, đã có những quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên,  nhưng do phát huy tốt nguồn nhân lực nên đã đạt được thành tựu phát triển kinh tế ­   xã hội, hoàn thành công nghiệp hoá và hiện đại hoá chỉ trong vài ba thập kỷ.  Ở  nước ta, Đảng và Nhà nước luôn khẳng định quan điểm coi con người là  trung tâm của sự phát triển, của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay,   trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá và hội nhập quốc tế, phát triển nhân lực   được coi là một trong ba khâu đột phá của chiến lược chuyển đổi mô hình phát   triển kinh tế  ­ xã hội của đất nước; đồng thời, phát triển nhân lực trở  thành nền  tảng phát triển bền vững và tăng lợi thế cạnh tranh quốc gia.  Các nước phát triển lợi dụng  ưu thế  về  vốn, kỹ  thuật, đẩy nhanh đào tạo  nhân tài, tranh giành người tài với các nước khác. Các nước đang phát triển tăng   cường đầu tư kinh phí cho khoa học công nghệ giáo dục đào tạo nhân tài, đồng thời   ngăn ngừa chảy máu chất xám bằng những chính sách ưu đãi thích hợp. Chính phủ  19
  20. Ấn Độ  đầu tư  1,1% tổng sản phẩm kinh tế  quốc dân, 87% tổng đầu tư  khoa học   công nghệ cho đào tạo [Định hướng phát triển đội ngũ tri thức Việt Nam – tr.57]. Sau chiến tranh thế giới thứ II, Nhật Bản là nước bại trận bị chiến tranh tàn  phá nặng nề  nhưng quốc gia này vẫn khẳng định sự  lựa chọn truyền thống trong  giáo dục. Hệ thống giáo dục Nhật Bản được ưu tiên trên nhiều khía cạnh, được sự  quan tâm tạo điều kiện của gia đình và xã hội. Hàn Quốc bị ảnh hưởng nhiều của   nền văn hóa Nho học Trung Hoa nên rất chú trọng phát triển giáo dục. Nhờ đó đầu   tư  trong giáo dục của Hàn Quốc không ngừng tăng lên trong 50 năm qua. Đối với  Trung Quốc, họ có chính sách mạnh dạn tìm người tài. Trước mắt Trung Quốc đang  thực hiện việc phát hành “thẻ  xanh”, một loại thẻ  dành cho những kỹ  thuật viên,   các nhà đầu tư, các nhà doanh nghiệp với đặc quyền vào Trung Quốc không cần  visa. Việc phát triển nhân lực, một mặt, cần phải có tầm nhìn chiến lược phát  triển tổng thể  và dài hạn, nhưng đồng thời, trong mỗi thời kỳ  nhất định, cần xây   dựng những định hướng cụ  thể, để  từ  đó đánh giá thời cơ, thách thức, những khó  khăn, hạn chế và nguyên nhân… để đề ra mục tiêu và giải pháp phát triển thích hợp   cho giai đoạn đó phù hợp với bối cảnh kinh tế­xã hội trong nước và quốc tế. 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2