intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Tối ưu hóa quy trình tổng hợp altretamin làm thuốc điều trị ung thư bằng phần mềm tin học modde 5.0

Chia sẻ: Ni Ni | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
23
lượt xem
0
download

Tối ưu hóa quy trình tổng hợp altretamin làm thuốc điều trị ung thư bằng phần mềm tin học modde 5.0

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết này thông báo kết quả ứng dụng phần mềm tin học Modde 5.0 để thiết kế và tối ưu hóa quy trình tổng hợp altretamin. Altretamin được tổng hợp từ phản ứng giữa cyanuric clorid với dimethylamin trong dung môi aceton và sử dụng NaOH làm chất trung hòa axít.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tối ưu hóa quy trình tổng hợp altretamin làm thuốc điều trị ung thư bằng phần mềm tin học modde 5.0

TẠP CHÍ Y - DƯỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 9-2014<br /> <br /> MỐI LIÊN QUAN GIỮA OSTEOCALCIN, CTX HUYẾT THANH VỚI<br /> T-SCORE VÀ YẾU TỐ NGUY CƠ LOÃNG XƢƠNG<br /> Ở PHỤ NỮ SAU MÃN KINH<br /> Hoàng Văn Dũng*; Lê Bạch Mai**; Nguyễn Thị Ngọc Lan***; Vũ Xuân Nghĩa****<br /> TÓM TẮT<br /> Mục tiêu: tìm hiểu mối liên quan giữa nồng độ osteocalcin, CTX huyết thanh với T-score và một<br /> số yếu tố nguy cơ loãng xương ở phụ nữ mãn kinh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: phụ nữ<br /> nông thôn đã mãn kinh tự nhiên ít nhất 5 năm, tuổi từ 50 - 70, đo mật độ xương (MĐX) bằng<br /> phương pháp siêu âm định lượng vị trí gót chân, định lượng osteocalcin và CTX huyết thanh bằng<br /> phương pháp điện hoá phát quang miễn dịch. Kết quả: osteocalcin huyết thanh trung bình 19,92 ±<br /> 5,32 ng/ml, tăng 17,2% ở nhóm loãng xương so với nhóm có MĐX bình thường; giảm dần theo<br /> nhóm tuổi, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. CTX huyết thanh trung<br /> bình 0,65 ± 0,19 ng/ml, tăng 57,7% ở nhóm loãng xương so với nhóm có MĐX bình thường; tương<br /> quan nghịch với MĐX, thời gian mãn kinh và tương quan thuận với tuổi, p < 0,05. Kết luận: nồng độ<br /> osteocalcin và CTX tăng lên ở BN loãng xương. Nồng độ CTX huyết thanh tương quan thuận với<br /> tuổi, thời gian mãn kinh, tương quan nghịch với T-score, p < 0,05.<br /> * Từ khóa: Loãng xương; Phụ nữ sau mãn kinh; Osteocalcin; CTX huyết thanh.<br /> <br /> Investigation of Correlations between Serum Osteocalcin, CTX Serum<br /> with Mineral Bone Density and Risk Factors in Postmenopausal Women<br /> Summary<br /> Objective: To investigate the correlations between serum osteocalcin, CTX and T-score and risk<br /> factors of osteoporosis in postmenopausal women. Subjects and methods: Rural women have at<br /> least 5 years lnatural postmenopausal, aged 50 - 70. T-score was measured by quantitative<br /> ultrasounds in the heel bone, osteocalcin and CTX were measured by electrochemical luminescent<br /> immune Results: Mean serum osteocalcin was 19.92 ± 5.32 ng/ml; increased 17.2% in the<br /> osteoporosis group compared with normal bone density group; decreased with age, but the<br /> difference was not statistically significant with p > 0.05. Mean serum CTX was 0.65 ± 0.19 ng/ml;<br /> increased 57.7% in the osteoporosis group; inversely correlated with bone mineral density,<br /> menopausal duration correlated with age with p < 0.05. Conclusion: Osteocalcin and CTX levels<br /> increased significantly in patients with osteoporosis. CTX serum concentrations correlated with age,<br /> menopausal duration, inversely correlated with T-score, p < 0.05.<br /> Key words: Osteoporosis; Postmenopausal women; Osteocalcin; CTX.<br /> * Bệnh viện Bạch Mai<br /> ** Viện Dinh dưỡng Quốc Gia<br /> *** Đại học Y Hà Nội<br /> **** Học viện Quân y<br /> Người phản hồi (Corresponding): Hoàng Văn Dũng (dungnoitru26@yahoo.com)<br /> Ngày nhận bài: 20/10/2014; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 26/11/2014<br /> Ngày bài báo được đăng: 03/12/2014<br /> <br /> 120<br /> <br /> TẠP CHÍ Y - DƯỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 9-2014<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Đo MĐX bằng phương pháp hấp thụ tia<br /> X năng lượng kép (DEXA) cho biết mật độ<br /> khoáng của xương (g/cm2), không cho biết<br /> tổn thương vi cấu trúc cũng như chất<br /> lượng của xương. Tốc độ chu chuyển<br /> xương phản ánh chất lượng của xương,<br /> tốc độ chu chuyển xương tăng làm tăng<br /> phá hủy vi cấu trúc phần bè xương, làm<br /> giảm chất lượng xương, tăng nguy cơ<br /> loãng xương và tăng khả năng gãy xương.<br /> Mỗi một đơn vị chu chuyển xương diễn ra<br /> trong 3 - 6 tháng. Tốc độ chu chuyển<br /> xương phản ánh tốc độ của quá trình tạo<br /> xương và hủy xương. Xét nghiệm nồng độ<br /> dấu ấn chu chuyển xương cho phép đánh<br /> giá tốc độ chuyển xương, khi nồng độ các<br /> dấu ấn chu chuyển xương tăng lên phản<br /> ánh tốc độ chu chuyển xương và nguy cơ<br /> loãng xương tăng cũng như gãy xương<br /> [5]. Hiện nay, một số xét nghiệm dấu ấn<br /> chu chuyển xương được ứng dụng phổ<br /> biến trong nghiên cứu và thực hành lâm<br /> sàng với độ nhạy và độ đặc hiệu cao.<br /> Thường phối hợp hai dấu ấn của hai quá<br /> trình hủy xương và tạo xương để đánh<br /> giá chu chuyển xương [4].<br /> + Đánh giá quá trình hủy xương: CTX<br /> (Carboxy-terminal collagen crosslinks Beta CrossLab) trong máu hoặc nước<br /> tiểu, NTX (N-telopeptid của collagen), DPD<br /> (deoxypyridinoline) trong nước tiểu.<br /> + Đánh giá quá trình tạo xương:<br /> osteocalcin, phosphatase kiềm đặc hiệu<br /> xương (BSAP - Bone Specific Alkalin<br /> Phosphatase) và procollagen týp 1 (P1NPProcollagen type 1 N-terminal propeptide).<br /> Việc sử dụng các dấu ấn chu chuyển<br /> xương để đánh giá nguy cơ gãy xương<br /> 121<br /> <br /> và theo dõi điều trị loãng xương được<br /> đưa vào hướng dẫn quốc gia về quản lý<br /> BN loãng xương ở các nước phát triển và<br /> một số nước trong khu vực Đông Nam Á.<br /> Tại Việt Nam, đã có một số nghiên cứu<br /> ứng dụng vai trò dấu ấn chu chuyển<br /> xương, tuy nhiên chưa phổ biến. Chúng<br /> tôi tiến hành đề tài này nhằm:<br /> - Khảo sát giá trị nồng độ osteocalcin<br /> và CTX huyết thanh ở phụ nữ sau mãn kinh.<br /> - Tìm hiểu mối liên quan giữa nồng độ<br /> osteocalcin, CTX huyết thanh với T-score<br /> và một số yếu tố nguy cơ loãng xương ở<br /> phụ nữ mãn kinh.<br /> ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP<br /> NGHIÊN CỨU<br /> 1. Đối tƣợng nghiên cứu.<br /> - Nghiên cứu được tiến hành tại xã<br /> Tam Hưng, huyện Thanh Oai, TP. Hà Nội.<br /> - Thời gian: tháng 01 đến tháng 06<br /> năm 2013.<br /> - Đối tượng nghiên cứu: phụ nữ nông<br /> thôn đã mãn kinh tự nhiên ≥ 5 năm, tuổi<br /> ≥ 50 và ≤ 70 tuổi (sinh năm từ 1942 đến<br /> 1962). Loại trừ những phụ nữ mãn kinh<br /> do phẫu thuật buồng trứng, tử cung, phụ<br /> nữ mắc các bệnh liên quan đến chuyển<br /> hóa (đái tháo đường, Basedow), người có<br /> dị tật xương - khớp bẩm sinh, mắc các bệnh<br /> (ung thư, suy thận), gãy xương, phẫu<br /> thuật xương khớp trong vòng 5 năm,<br /> đang dùng các thuốc điều trị loãng xương:<br /> calcitonin, estrogen, corticoid trong vòng<br /> 6 tháng gần đây.<br /> 2. Phƣơng pháp nghiên cứu.<br /> Nghiên cứu điều tra cắt ngang trên<br /> 141 phụ nữ đã mãn kinh tự nhiên thoả<br /> mãn đủ tiêu chuẩn nghiên cứu.<br /> <br /> TẠP CHÍ Y - DƯỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 9-2014<br /> <br /> * Nội dung nghiên cứu:<br /> - Tuổi đối tượng nghiên cứu.<br /> - Chỉ số khối cơ thể.<br /> <br /> + C-telopeptide crosslink (CTX) huyết<br /> thanh: đánh giá quá trình hủy xương.<br /> * Phân tích và xử lý số liệu:<br /> <br /> - Thời gian mãn kinh, mãn kinh tự<br /> nhiên hay sau phẫu thuật tử cung, buồng<br /> trứng, số lần sinh đẻ.<br /> <br /> - Các số liệu được xử lý trên máy vi<br /> tính bằng phương pháp thống kê y học<br /> theo chương trình SPSS 16.0.<br /> <br /> - Khám lâm sàng và khai thác tiền sử:<br /> phát hiện các bệnh tật liên quan.<br /> <br /> - Trung bình, độ lệch chuẩn và tỷ lệ<br /> được dùng để mô tả đặc điểm của đối<br /> tượng nghiên cứu.<br /> <br /> - Đo MĐX: bằng phương pháp siêu âm<br /> định lượng vị trí gót chân, sử dụng máy<br /> đo Sonost-3000 (Hãng Osteosys, Hàn<br /> Quốc). Nguyên lý, máy đo sử dụng hai<br /> đầu dò, một đầu dò truyền xung siêu âm<br /> và một đầu dò nhận xung siêu âm ở bên<br /> đối diện của xương gót chân. Trong quá<br /> trình truyền xung siêu âm, đầu dò sẽ di<br /> chuyển dọc theo xương gót của BN. Tốc<br /> độ truyền xung tính theo m/s (SOS Speed of Sound). Ở mô xương bình<br /> thường, xung siêu âm truyền qua mô<br /> xương có thời gian ngắn, tốc độ truyền<br /> xung nhanh, ở BN loãng xương, thời gian<br /> truyền xung siêu âm dài hơn, tốc độ<br /> truyền xung chậm hơn và biên độ nhận<br /> xung bên đối diện sẽ ít hơn. So sánh tốc<br /> độ truyền âm qua vị trí xương gót chân<br /> người trẻ tuổi, khoẻ mạnh từ cơ sở dữ<br /> liệu trong máy đo (quần thể tham chiếu<br /> của người châu Á), tính ra được chỉ số T<br /> (T-score). MĐX bình thường T-score<br /> ≥ -1,0; giảm MĐX: -2,5 < T-score < -1,0;<br /> loãng xương: T-score ≤ -2,5 [2].<br /> - Định lượng nồng độ dấu ấn sinh học<br /> chu chuyển xương: bằng phương pháp<br /> điện hóa phát quang miễn dịch trên máy<br /> Elecsys - 2010 - Roche tại Trung tâm<br /> Nghiên cứu Y - Dược học quân sự, Học<br /> viện Quân y. Gồm có 2 chỉ tiêu:<br /> + Osteocalcin huyết thanh: đánh giá<br /> quá trình tạo xương.<br /> 122<br /> <br /> - Test "χ2 " dùng kiểm định sự khác biệt<br /> giữa 2 tỷ lệ.<br /> - Test “t” dùng kiểm định sự khác biệt<br /> giữa 2 trị số trung bình.<br /> - Hệ số tương quan “r”: đánh giá hệ số<br /> tương quan với biến liên tục. Phân loại<br /> mức độ: r < ± 0,3 có mối tương quan yếu;<br /> r = ± 0,3 đến ± 0,6 có mối tương quan trung<br /> bình, r ≥ ± 0,7 có mối tương quan chặt chẽ.<br /> - Khoảng tin cậy 95% được áp dụng cho<br /> toàn bộ các test, khác biệt khi giá trị p < 0,05.<br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ<br /> BÀN LUẬN<br /> Một chu kỳ chu chuyển xương gồm 3<br /> giai đoạn: giai đoạn hủy xương, giai đoạn<br /> chuyển đổi và giai đoạn tạo xương mới.<br /> Thời gian cho một chu kỳ chu chuyển<br /> diễn ra khoảng 3 - 6 tháng. Định lượng<br /> dấu ấn sinh học chu chuyển xương cho<br /> phép đánh giá được tốc độ chu chuyển<br /> xương, từ đó đánh đánh giá được tốc độ<br /> mất xương. Đây là kỹ thuật mới, hiện đại<br /> để nghiên cứu và ứng dụng trong thực<br /> hành lâm sàng chẩn đoán, theo dõi điều<br /> trị loãng xương hiện nay.<br /> 1. Đặc điểm chung nhóm nghiên cứu.<br /> - Tuổi trung bình 58,78 ± 4,9 (50 - 70 tuổi).<br /> - Thời gian mãn kinh trung bình 10,5 ±<br /> 5,7 năm (5 - 33 năm).<br /> <br /> TẠP CHÍ Y - DƯỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 9-2014<br /> <br /> 2. Nồng độ osteocalcin và CTX huyết thanh.<br /> Bảng 1: Đặc điểm nồng độ osteocalcin và CTX huyết thanh.<br /> (ng/ml)<br /> <br /> Giá trị trung bình (ng/ml)<br /> <br /> Điểm cắt giá trị xét nghiệm theo đường cong ROC<br /> <br /> - Nồng độ osteocalcin huyết thanh<br /> trung bình 19,92 ± 5,32 ng/ml, 53,2% BN<br /> có nồng độ osteocalcin huyết thanh cao<br /> > 18,65 ng/ml.<br /> - Nồng độ CTX huyết thanh trung bình<br /> 0,65 ± 0,19 ng/ml, 54,6% BN có nồng độ<br /> CTX huyết thanh cao > 0,615 ng/ml.<br /> Kết quả này cao hơn nghiên cứu của<br /> Lê Thu Hà: nồng độ osteocalcin trung<br /> bình ở phụ nữ mãn kinh là 16,9 ± 9,2<br /> ng/ml, nhóm trẻ tuổi chưa mãn kinh là<br /> <br /> CTX (ng/ml)<br /> <br /> (n = 141)<br /> <br /> (n = 141)<br /> <br /> 19,92 ± 5,32<br /> <br /> 0,65 ± 0,19<br /> <br /> 18,65<br /> <br /> 0,615<br /> <br /> < 18,65 (46,8%)<br /> <br /> < 0,615 (45,4%)<br /> <br /> ≥ 18,65 (53,2%)<br /> <br /> ≥ 0,615 (54,6%)<br /> <br /> 13,8 ± 5,9 ng/ml [1], nhưng thấp hơn so<br /> với nghiên cứu của Marlena C và CS ở<br /> phụ nữ mãn kinh người Indonesia và<br /> Philippines có nồng độ osteocalcin trung<br /> bình 31,85 ± 2,62 ng/ml và 32,33 ± 2,24<br /> ng/ml [3]. Nồng độ các dấu ấn chu<br /> chuyển xương nói chung đều tăng và<br /> dao động lớn, phụ thuộc vào tình trạng<br /> loãng xương, mãn kinh và tuổi cao. Do<br /> đó, ở đối tượng nghiên cứu khác nhau<br /> sẽ có kết quả dao động khác nhau.<br /> <br /> 3. Mối liên quan giữa nồng độ osteocalcin và CTX huyết thanh trung bình với<br /> tuổi và loãng xƣơng.<br /> Bảng 2: So sánh giữa nồng độ dấu ấn chu chuyển xương giữa các nhóm tuổi.<br /> (n)<br /> <br /> (ng/ml)<br /> <br /> CTX (ng/ml)<br /> <br /> 50 - 54<br /> <br /> 35<br /> <br /> 20,88 ± 4,59<br /> <br /> 0,65 ± 0.18<br /> <br /> 55 - 59<br /> <br /> 51<br /> <br /> 20,11 ± 6,54<br /> <br /> 0,59 ± 0,16<br /> <br /> 60 - 64<br /> <br /> 35<br /> <br /> 19,69 ± 4,81<br /> <br /> 0,68 ± 0,17<br /> <br /> 65 - 70<br /> <br /> 20<br /> <br /> 18,19 ± 3,36<br /> <br /> 0,75 ± 0,19<br /> <br /> Tổng<br /> <br /> 141<br /> <br /> p > 0,05<br /> <br /> p < 0,01<br /> <br /> Nồng độ osteocalcin huyết thanh giảm dần theo tuổi, tuy nhiên sự khác biệt không<br /> có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Ngược lại, nồng độ CTX có xu hướng tăng lên theo<br /> tuổi, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,01). Osteocalcin là một dấu ấn sinh học<br /> của quá trình tạo xương, ở người trẻ cân bằng tạo xương cao hơn huỷ xương, do đó<br /> nồng độ dấu ấn tạo xương tăng cao hơn nồng độ dấu ấn hủy xương.<br /> 123<br /> <br /> TẠP CHÍ Y - DƯỢC HỌC QUÂN SỰ SỐ 9-2014<br /> <br /> Bảng 3: So sánh nồng độ dấu ấn chu chuyển xương với mức độ loãng xương.<br /> (n = 141)<br /> <br /> CTX (ng/ml)<br /> (n = 141)<br /> <br /> (ng/ml)<br /> <br /> A. Bình thường (≥ -1)<br /> <br /> 4<br /> <br /> 16,46 ± 4,64<br /> <br /> 0,457 ± 0,115<br /> <br /> B. Giảm (-2,5 đến -1)<br /> <br /> 68<br /> <br /> 20,78 ± 4,10<br /> <br /> 0,588 ± 0,134<br /> <br /> C. Loãng xương (≤ -2,5)<br /> <br /> 69<br /> <br /> 19,29 ± 6,23<br /> <br /> 0,721 ± 0,197<br /> <br /> Mức độ tăng nồng độ dấu ấn chu chuyển<br /> xương ở nhóm loãng xương so với nhóm<br /> bình thường (%) = (C-A ) x 100/A<br /> <br /> 17,2<br /> <br /> 57,7<br /> <br /> p<br /> <br /> p > 0,05<br /> <br /> p < 0,001<br /> <br /> - Ở nhóm loãng xương, nồng độ<br /> osteocalcin huyết thanh tăng so với nhóm<br /> có MĐX bình thường (17,2%), tuy nhiên<br /> sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê<br /> (p > 0,05).<br /> - Ở nhóm loãng xương, nồng độ CTX<br /> huyết thanh tăng so với nhóm có MĐX<br /> bình thường là 57,7%, sự khác biệt có<br /> ý nghĩa thống kê (p < 0,001).<br /> Ở người già, cân bằng bị đảo lộn, hủy<br /> xương cao hơn tạo xương. Ở phụ nữ<br /> mãn kinh đang có loãng xương, tốc độ<br /> chu chuyển xương tăng lên, mà tốc độ<br /> <br /> chu chuyển xương là vòng quay của cả<br /> tạo xương và hủy xương. Tuy nhiên,<br /> hủy xương mạnh hơn tạo xương. Do đó,<br /> cả hai dấu ấn sinh học chu chuyển xương<br /> (ostocalcin và CTX) đều tăng lên ở giai<br /> đoạn loãng xương, nhưng dấu ấn hủy<br /> xương tăng mạnh hơn dấu ấn tạo xương<br /> [5]. Điều này lý giải tại sao nồng độ<br /> osteocalcin của đối tượng nghiên cứu cao<br /> hơn so với người trẻ tuổi và tăng lên ở<br /> nhóm có loãng xương và mức độ tăng<br /> không nhiều bằng dấu ấn hủy xương CTX.<br /> <br /> 4. Mối tƣơng quan giữa osteocalcin và CTX huyết thanh với T-score và thời<br /> gian mãn kinh.<br /> Bảng 4: Mối tương quan giữa T-score, tuổi, thời gian mãn kinh với dấu ấn chu<br /> chuyển xương.<br /> <br /> Nồng độ osteocalcin<br /> <br /> Nồng độ CTX<br /> <br /> r = 0,1, p > 0,05<br /> <br /> y = -0,175 x tuổi + 0,185<br /> r = - 0,17, p < 0,05<br /> <br /> r = -0,14, p > 0,05<br /> <br /> y = -0,109 x<br /> T-score + 0,381<br /> r = -0,43, p < 0,01<br /> <br /> y = 0,008 x tuổi + 0,194<br /> r = 0,21, p < 0,05<br /> <br /> y = 0,009 x thời gian mãn<br /> kinh + 0,56<br /> r = 0,27, p < 0,01<br /> <br /> - Nồng độ osteocalcin huyết thanh<br /> không có mối tương quan với T-score (r<br /> = 0,1;<br /> p > 0,05), tương quan<br /> nghịch mức độ yếu với tuổi (r = -0,17; p<br /> < 0,05) và không thấy mối tương quan<br /> với thời gian mãn kinh<br /> (r = -0,14; p<br /> > 0,05).<br /> 124<br /> <br /> - Nồng độ CTX huyết thanh có mối<br /> tương quan nghịch mức độ trung bình<br /> với T-score (r = -0,43, p < 0,01), tương<br /> quan thuận mức độ yếu với tuổi (r = 0,21, p<br /> < 0,01) và tương quan thuận mức độ<br /> yếu với thời gian mãn kinh (r = 0,27; p<br /> < 0,01).<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản