Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Chính trị học: Tư duy chính trị Hồ Chí Minh - Những đặc điểm chủ yếu và ý nghĩa phương pháp luận

Chia sẻ: Nguyễn Minh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:27

0
106
lượt xem
32
download

Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Chính trị học: Tư duy chính trị Hồ Chí Minh - Những đặc điểm chủ yếu và ý nghĩa phương pháp luận

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Luận án Tiến sĩ Chính trị học: Tư duy chính trị Hồ Chí Minh - Những đặc điểm chủ yếu và ý nghĩa phương pháp luận luận án phân tích làm rõ những yếu tố hình thành tư duy chính trị Hồ Chí Minh; phân tích và rút ra những đặc điểm thể hiện qua nội dung và phương pháp tư duy chính trị Hồ Chí Minh; ý nghĩa phương pháp luận của những đặc điểm đó đối với công cuộc đổi mới tư duy chính trị ở Việt Nam hiện nay,

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tóm tắt Luận án Tiến sĩ Chính trị học: Tư duy chính trị Hồ Chí Minh - Những đặc điểm chủ yếu và ý nghĩa phương pháp luận

  1. HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ THANH DUNG T¦ DUY CHÝNH TRÞ Hå CHÝ MINH - NH÷NG §ÆC §IÓM CHñ YÕU Vµ ý NGHÜA PH¦¥NG PH¸P LUËN Chuyên ngành: Chính trị học Mã số : 62 31 20 01 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHÍNH TRỊ HỌC HÀ NỘI - 2014
  2. Công trình được hoàn thành tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Người hướng dẫn khoa học: GS, TS Nguyễn Văn Huyên Phản biện 1:......................................................... ......................................................... Phản biện 2:......................................................... ......................................................... Phản biện 3:......................................................... ......................................................... Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Vào hồi...... giờ....... ngày...... tháng...... năm 2014 Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia và Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
  3. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cho đến nay, trong giới nghiên cứu về Hồ Chí Minh nói chung và sự nghiệp chính trị của Người nói riêng, chủ yếu tập trung khai thác và làm rõ những sáng tạo, độc đáo thể hiện trong tư tưởng và hành vi chính trị Người. Những tư tưởng và hành vi đó không có ngay mà được chín dần, được kiểm tra, sàng lọc và ngày càng hoàn thiện. Chúng là kết quả của một quá trình tư duy và trải nghiệm, của những phép thử đúng - sai, và của cả niềm tin, ước vọng cá nhân. Vậy, nguồn gốc, căn nguyên đưa tới những sáng tạo trong tư tưởng và hành động chính trị Hồ Chí Minh là gì? Ralph Waldo emerson từng viết: “Tổ tiên của mọi hành động là tư duy”. Mọi tư tưởng, hành động của con người trước hết được bắt nguồn từ tư duy. Tư duy đúng sẽ chi phối tư tưởng và hành động đúng. Để có tư tưởng và hành động chính trị đúng trước hết phải bắt nguồn từ một tư duy khoa học, cách mạng. Chính cách tư duy ở mỗi người khác nhau sẽ tạo nên tư tưởng và hành động khác nhau. Vậy, ở Hồ Chí Minh có tư duy chính trị đặc sắc như thế nào để tạo ra những sáng tạo riêng có trong tư tưởng và hành vi chính trị Người? Tư duy chính trị Hồ Chí Minh có đặc điểm gì để xác lập những tư tưởng chính trị làm biến đổi cả bản đồ thế giới trong thế kỷ XX? Công cuộc đổi mới ở Việt Nam được chính thức bắt đầu từ năm 1986 với sự đổi mới trước hết là tư duy. Thực chất là đổi mới tư duy chính trị trên các phương diện kinh tế, văn hóa, xã hội. Đổi mới tư duy chính trị là cơ sở, định hướng cho quá trình đổi mới toàn diện ở Việt Nam. Trong quá trình đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng lý luận cho quá trình đổi mới. Sau gần 30 năm thực hiện, bên cạnh những kết quả đạt được là rất lớn, thực tiễn cách mạng đang đặt ra những yêu cầu mới đòi hỏi cả Hệ thống chính trị cần đẩy mạnh hơn nữa, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, tinh thần, trí tuệ, bản lĩnh, khí phách của người Việt Nam để xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Hơn bao giờ hết, cần khai thác những di sản mà Hồ Chí Minh để lại cần được khai thác nhằm tìm thấy những chỉ dẫn quí báu cho sự nghiệp cách mạng hiện nay. Việc tìm hiểu những đặc điểm chủ yếu của tư duy chính trị Hồ Chí Minh do đó không chỉ giải mã được cội nguồn của những sáng tạo trong tư tưởng và hành động chính trị Hồ Chí Minh mà còn lấy đó làm cơ sở lý luận cho sự nghiệp đổi mới hiện nay. Sự nghiên cứu không chỉ bổ sung những hiểu biết sâu sắc về sự nghiệp chính trị Hồ Chí Minh mà còn góp phần vào việc nghiên cứu con người chính trị với những năng lực và tố chất cần có của một lãnh tụ. Đây cũng là cơ sở để góp thêm những nghiên cứu trong lịch sử tư tưởng và các lý thuyết chính trị trong ngành chính trị học ở Việt Nam. Đề tài do đó có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn. Nhận thức sự cần thiết của việc nghiên cứu, học viên lựa chọn đề tài "Tư duy chính trị Hồ Chí Minh - những đặc điểm chủ yếu và ý nghĩa phương pháp luận" làm luận án Tiến sỹ của mình.
  4. 2 2. Mục đích, nhiệm vụ của luận án 2.1. Mục đích Trên cơ sở lý luận về tư duy, tư duy chính trị và tư duy chính trị Hồ Chí Minh, luận án phân tích làm rõ những yếu tố hình thành tư duy chính trị Hồ Chí Minh; phân tích và rút ra những đặc điểm thể hiện qua nội dung và phương pháp tư duy chính trị Hồ Chí Minh; ý nghĩa phương pháp luận của những đặc điểm đó đối với công cuộc đổi mới tư duy chính trị ở Việt Nam hiện nay. 2.2. Nhiệm vụ của luận án Để thực hiện mục tiêu trên, luận án giải quyết các nhiệm vụ sau: - Làm rõ những vấn đề lý luận về tư duy, tư duy chính trị, tư duy chính trị Hồ Chí Minh và những yếu tố hình thành tư duy chính trị Hồ Chí Minh - Làm rõ những đặc điểm chủ yếu về nội dung và phương pháp của tư duy chính trị Hồ Chí Minh - Chỉ ra ý nghĩa phương pháp luận của tư duy chính trị Hồ Chí Minh đối với việc tiếp tục đổi mới tư duy chính trị trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu - Những đặc điểm chủ yếu của tư duy chính trị của Hồ Chí Minh. - Ý nghĩa phương pháp luận đối với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Tiếp cận từ góc độ triết học khoa học hoặc Hồ Chí Minh học đã có rất nhiều công trình nghiên cứu với các cách kiến giải khác nhau. Đề tài chỉ nghiên cứu từ góc độ triết học chính trị để tìm hiểu những nét độc đáo trong tư duy chính trị Hồ Chí Minh. Luận án không nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung mà thông qua việc nghiên cứu những tư tưởng chính trị, hành vi chính trị để tìm hiểu tư duy chính trị của Người. Tuy nhiên, cuộc đời Hồ Chí Minh là cuộc đời chính trị, hoạt động chính trị là hoạt động chủ yếu chi phối mọi tư tưởng trên các lĩnh vực khác. Mọi tư duy, suy nghĩ của Người về các lĩnh vực khác của đời sống cũng không thoát ly khỏi mục đích chính trị. Bởi chính trị của Người là chính trị nhân văn, vì con người, lấy tự do, hạnh phúc của con người là mục tiêu.Vì vậy, có thể nói phạm vi nghiên cứu trực tiếp đến đề tài hẹp nhưng lại được thực hiện trên phổ rộng lớn của tư duy nhận thức và cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cụ thể: - Về thời gian: Tư duy chính trị Hồ Chí Minh hình thành, phát triển gắn với cuộc đời hoạt động chính trị phong phú của Người. Đó là quá trình liên tục được bổ sung, phát triển và hoàn thiện. Vì thế, để nhận diện và làm rõ những đặc điểm chủ yếu của tư duy chính trị Hồ Chí Minh cần gắn với cuộc đời, sự nghiệp chính trị của Hồ Chí Minh. - Về không gian: cuộc đời hoạt động chính trị Hồ Chí Minh vô cùng phong phú, được hình thành từ sự trải nghiệm thực tiễn của các nước trên thế giới. Do đó, luận án
  5. 3 trên cơ sở lần theo quá trình hoạt động của Người ở các nước qua các bài viết, bài nói và những câu chuyện về cuộc đời sự nghiệp của Người để tìm ra những đặc điểm chủ yếu trong tư duy chính trị Hồ Chí Minh. - Về mặt nội dung: Tư duy chính trị Hồ Chí Minh có phạm vi rất rộng, luận án không nghiên cứu cấu trúc, chức năng, hình thái của tư duy như góc độ của tâm lý học, mà chỉ giới hạn, tìm hiểu các dấu hiệu đặc trưng của tư duy chính trị Hồ Chí Minh dưới góc độ triết học chính trị. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu - Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về cách mạng Việt Nam. - Phương pháp luận của việc thực hiện luận án là biện chứng duy vật và quan điểm lịch sử. - Ngoài ra luận án còn sử dụng những phương pháp cụ thể như: lịch sử và lô gic, so sánh, phân tích, tổng hợp, gắn lý luận với thực tế, phỏng vấn chuyên gia, phân tích văn bản.v.v.. 5. Đóng góp khoa học của luận án 5.1. Đóng góp về mặt khoa học - Luận án đã góp phần làm rõ và sâu sắc thêm những vấn đề về tư duy duy, tư duy chính trị, tư duy chính trị Hồ Chí Minh và những yếu tố tác động đến sự hình thành tư duy chính trị Hồ Chí Minh. - Luận án phân tích và khái quát được một số đặc điểm chủ yếu về nội dung và phương pháp tư duy chính trị Hồ Chí Minh. Từ đó luận giải nguồn gốc của những sáng tạo trong tư tưởng và hành vi chính trị Hồ Chí Minh là từ tư duy. - Rút ra một số nhận xét khoa học đóng góp vào sự phát triển của phân ngành tư tưởng chính trị Việt Nam thông qua nghiên cứu trường hợp tư duy chính trị Hồ Chí Minh. 5.2. Đóng góp về mặt thực tiễn - Trên cơ sở khái quát những đặc trưng cơ bản của tư duy chính trị Hồ Chí Minh để phân tích, làm rõ và khẳng định giá trị, tầm vóc vĩ đại của Người thông qua sự vận dụng của Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn hiện nay. - Các dữ liệu, tri thức của luận án có thể làm tài liệu giảng dạy cho các lớp học có mục tiêu hướng tới tăng cường năng lực tư duy chính trị và hành vi chính trị của cán bộ lãnh đạo, quản lý. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6.1. Ý nghĩa lý luận Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần xây dựng khung lý thuyết về tư duy, tư duy chính trị nói chung và tư duy chính trị Hồ Chí Minh nói riêng. Đó là cơ sở, là công cụ để phân tích và hiểu sâu cơ sở hình thành và những đặc trưng cơ bản của tư duy chính trị Hồ Chí Minh. Đây là một nội dung chưa được nghiên cứu một cách
  6. 4 chuyên biệt và có hệ thống nhưng lại rất cần thiết để cắt nghĩa nguồn gốc hình thành tư tưởng và hành vi chính trị của con người nói chung và của Hồ Chí Minh nói riêng. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn Luận án sẽ góp vào bức tranh tổng thể trong nghiên cứu về Hồ Chí Minh và coi đó như một trường hợp chính trị điển hình để, vận dụng trong thực tiễn chính trị hiện nay. Luận án là tài liệu tham khảo và gợi mở cho những công trình nghiên cứu về chính trị học, Hồ Chí Minh học và những chuyên ngành liên quan. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4chương, 9 tiết. Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu đề cập đến tư duy Đây là một trong những hướng thu hút nhiều người nghiên cứu nhất và có nhiều thành công. Qua các công trình khoa học, các tác giả đã phân tích, làm rõ những vấn đề như nguồn gốc, bản chất, đặc điểm của tư duy và tư duy biện chứng duy vật; lịch sử hình thành, phát triển của tư duy biện biện chứng duy vật; mối quan hệ giữa nội dung và phương pháp, trình độ và năng lực của tư duy, các nguyên tắc và quy luật của tư duy và tư duy biện chứng duy vật; mối quan hệ giữa tư duy hình thức và tư duy biện chứng… Thông qua đó, các tác giả đã góp phần làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận chung nhất về tư duy và tư duy biện chứng duy vật, đặt cơ sở thế giới quan, phương pháp luận để xây dựng phương pháp tư duy khoa học và sử dụng phương pháp ấy trong nhận thức và cải tạo thế giới. Đồng thời thông qua các công trình nghiên cứu, tác giả đặt ra và gợi mở nhiều vấn đề cần được quan tâm, tiếp tục nghiên cứu và giải quyết. Ngoài ra, nghiên cứu tư duy gắn với sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong nước, đặc biệt từ sau khi Đảng ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước từ 1986 tới nay. Cách tiếp cận và nội dung có những điểm khác nhau, song điểm chung của các công trình là giải quyết các vấn đề lý luận chung về tư duy và tư duy biện chứng duy vật gắn liền với sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đóng góp của các công trình khoa học là làm sáng tỏ lý luận chung về đổi mới tư duy, vai trò của đổi mới tư duy đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực trạng tư duy của chúng ta hiện nay, những căn bệnh cần khắc phục trong tư duy của chúng ta và nguyên nhân của nó. Sau khi phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, các tác giả đề xuất phương hướng, biện pháp khắc phục những hạn chế, tiêu cực trong cách nghĩ, cách làm của cán bộ ta nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới nói chung và đổi mới tư duy nói riêng do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Trong đó, các tác giả đều khẳng định tính khoa học, cách
  7. 5 mạng của tư duy biện chứng duy vật cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, đó là cách tốt nhất để khắc phục những hạn chế trong tư duy của chúng ta. 1.2. Các công trình về tư tưởng chính trị, tư duy chính trị Đây là nội dung còn ít được nghiên cứu cả trong và ngoài nước. Các nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về tư duy chính trị, nhưng nhìn chung đều thống nhất rằng, tư duy chính trị là một quá trình tập hợp và chuyển hóa thông tin để hình thành những quan điểm dựa trên tri thức về các vấn đề chính trị. Các tác giả đã phân biệt tư duy chính trị với tư duy về chính trị. Chính trị tất nhiên là một yếu tố quan trọng của tư duy chính trị. Tư duy về chính trị muốn nói đến các vấn đề bền vững về tư tưởng và đạo đức được đề cập đến ngôn ngữ chính trị về các vấn đề liên quan đến cách thành viên của cộng đồng chính trị như giới hạn của tự do của con người, các phương pháp ảnh hưởng đến bình đẳng xã hội hay điều gì tạo ra chiến tranh, … Tư duy chính trị muốn nói đến một hệ thống các tư duy - thực tiễn liên quan đến hành động tập thể, phân biệt với tư duy nghệ thuật, tư duy lịch sử, tư duy đạo đức. Nhưng tư duy chính trị phải bao gồm ít nhất 6 đặc trưng: i) Sắp xếp ý nghĩa của các mục tiêu xã hội, các yêu cầu, các quá trình và các cấu trúc theo tầm quan trọng hay mức độ khẩn cấp; ii) Huy động sự ủng hộ bằng cách chấp nhận, biện hộ, chỉ trích hoặc phản đối các thực thể tập thể, thủ tục và các hoạt động của họ; iii) phản ánh sự ổn định hay bất ổn qua việc tính toán các kế hoạch hợp tác, sự bất đồng, sự xung đột về quan niệm và tranh luận của các nhóm; iv) ra quyết định và hoạch định chính sách thông qua các kế hoạch xây dựng và chỉ đạo tập thể và đưa ra tầm nhìn chung; v) nắm giữ quyền lực của ngôn từ thông qua các kỹ năng thuyết phục, hùng biện,thể hiện cảm xúc hay đe dọa; vi) đưa ra chủ đề cho hiện tại: phân chia và điều chỉnh các lĩnh vực và ranh giới thẩm quyền giữa các lĩnh vực xã hội, đồng thời vẫn duy trì được các đặc quyền chính trị trong mức hạn định. Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng đã bàn đến cấu trúc của tư duy chính trị, các phương pháp tư duy chính trị và các yếu tố tác động đến quá trình hình thành, định hình tư duy chính trị của các cá nhân, các cộng đồng, khẳng định ảnh hưởng của tư duy chính trị đến đời sống chính trị của các quốc gia, đến quan hệ giữa tư duy chính trị và văn hóa chính trị, trách nhiệm công dân… 1.3. Những công trình nghiên cứu liên quan đến tư duy, tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh Các công trình khoa học mặc dù đã đi đến một quan niệm thống nhất có một tư duy chính trị Hồ Chí Minh, nhưng mới chỉ dừng lại ở dạng nêu vấn đề hoặc nghiên cứu phương pháp luận, phương pháp cách mạng hay phương pháp tư duy nói chung. Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về tư duy chính trị Hồ Chí Minh để vận dụng vào thực tiễn chính trị hiện nay ở nước ta. Những công trình này cung cấp cách tiếp cận đa chiều để tác giả có các khái niệm công cụ và tri thức chuyên ngành khi nghiên cứu luận án. Các nghiên cứu trong và ngoài nước đã có đóng góp nhất định vào qua trình khám phá về tư duy, về hoạt động của bộ não con người và bước đầu đề cập
  8. 6 đến một loại hình tư duy của con người: tư duy chính trị. Tuy nhiên, các nghiên cứu bàn trực tiếp đến tư duy chính trị Hồ Chí Minh còn rất ít và tản mạn. Điều này tuy gây khó khăn cho tác giả khi nghiên cứu, nhưng cũng tạo nên tính mới của đối tượng và phương pháp tiếp cận. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài sẽ góp phần khỏa lấp một "khoảng trống" trong nghiên cứu Hồ Chí Minh và nghiên cứu chính trị học. Luận giải một vấn đề ít được đặt ra trong nghiên cứu nên đề tài khó khăn khi kế thừa những công trình liên quan trực tiếp. Điều này sẽ không tránh khỏi những khó khăn trong nghiên cứu đề tài, nhất lại là một luận án với những chuẩn qui pháp lý và những giới hạn về thời gian, thời lượng cũng như độ chín của người nghiên cứu. Tuy nhiên, nhận thức là một quá trình mà càng tìm hiểu đối tượng ta lại càng thấy sự hiểu biết của mình càng nhỏ bé. Hơn nữa, việc hiểu một cách đầy đủ và toàn diện về một con người nằm ngoài năng lực của bất kỳ ai. Đặc biệt là việc nghiên cứu một nhân vật lịch sử hay cá nhân con người Hồ Chí Minh, ta cũng chỉ mong hiểu được một góc cạnh trong bức tranh tổng thể ấy. Điều đó là hết sức cần thiết cho việc hiểu con người tổng thể một cách sâu sắc hơn, toàn diện hơn. Đó cũng đồng thời góp thêm những tri thức nhỏ bé trên con đường khoa học rộng lớn. Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TƯ DUY CHÍNH TRỊ VÀ CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH TƯ DUY CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH 2.1. Những vấn đề lý luận về tư duy, tư duy chính trị và tư duy chính trị Hồ Chí Minh 2.1.1. Khái niệm tư duy Tư duy là một khái niệm phức tạp với nhiều sự luận giải khác nhau trên nhiều phương diện, góc độ phụ thuộc vào lập trường triết học hay lĩnh vực nghiên cứu, chuyên ngành nghiên cứu.v.v… Song các định nghĩa đều có điểm chung là: quá trình con người tư duy phải đi liền với nhận thức, đi từ cảm nhận thực tế khách quan đến phân tích và suy xét thực tế khách quan (có cả phán đoán, phán đoán là biểu hiện của tư duy, nó xác định giá trị đúng, sai của một đối tượng được con người tư duy) theo lôgic cần thiết để nhận biết sâu sắc thực tế khách quan (thông qua ngôn ngữ, dấu hiệu hay hình tượng) và đề ra phương hướng vận động cùng giải pháp cải biến thực tế khách quan nhằm đem lại lợi ích cho chính con người và cho cộng đồng. Luận án không đi tìm hiểu tư duy với tư cách là quá trình tâm lý phức tạp như cách tiếp cận của tâm lý học; cũng không nghiên cứu tư duy với tư cách là mổ sẻ quá trình hoạt động của các nơ ron thần kinh trong phân tâm học… Ở đây nghiên cứu tư duy với tư cách là hoạt động diễn ra trong bộ não người với các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu nhằm hình thành những quan điểm, tư tưởng, lời nói, hành động để cải tạo hiện thực khách quan. Đó là giai đoạn cao của quá trình nhận thức bao gồm việc thu nhận, xử lý thông tin và sản sinh ra tri thức mới bằng các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh… nhằm nhận thức và cải tạo thế giới thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
  9. 7 Tư duy xuất hiện khi thực tiễn nảy sinh vấn đề, nói cách khác, thực tiễn đặt ra vấn đề đòi hỏi phải tư duy. Khi thực tiễn đặt ra tác động, truyền tải tri thức vào bộ óc con người, khi đó, trong bộ óc diễn ra quá trình phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu… tức các thao tác tư duy diễn ra nhằm xử lý thông tin. Kết quả của quá trình ấy sẽ thể hiện qua ngôn ngữ (gồm lời nói và chữ viết, hành vi). Trong quá trình ấy tri thức và hoàn cảnh thực tiễn được xem là nguyên liệu, đầu vào của tư duy. Từ tri thức về sự vật mà con người có những hành động tương ứng. Đến lượt mình, chính những hành động thực tiễn ấy lại cung cấp cứ liệu cho một quá trình tư duy mới. Vậy, tư duy được xét đến bao gồm nội dung tư duy, cách thức tư duy và sản phẩm của tư duy. Nội dung tư duy chính là tình huống do thực tiễn đặt ra và nó sẽ được phản ánh xuyên suốt trong quá trình tư duy thông qua các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu.. để tạo ra sản phẩm của tư duy là tư tưởng, quan điểm, hành vi. Sản phẩm của tư duy là tri thức (những hiểu biết về sự vật, hiện tượng). Tri thức ấy biểu hiện qua tư tưởng, quan điểm, hành vi của con người. Vậy, tư tưởng, quan điểm, hành vi là biểu hiện cho những hiểu biết của con người về thế giới khách quan, đó là sản phẩm của quá trình phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu diễn ra trong bộ óc của con người. Do đó, tìm hiểu tư duy (với tư cách là quá trình) khác với tìm hiểu tư tưởng (với tư cách là kết quả của quá trình tư duy), mặc dù giữa chúng có mối quan hệ mật thiết, không tách rời nhau. Tư tưởng - dưới bất cứ hình thức biểu hiện nào (khái niệm, phạm trù, quan điểm, chính kiến…) đều là kết quả của tư duy. Tư duy đúng sẽ dẫn đến tư tưởng, hành động đúng và ngược lại sẽ dẫn đến tư tưởng, hành động sai. * Phân loại tư duy: Có nhiều cách phân loại dựa vào những tiêu chí khác nhau: - Dựa theo cấp độ của tư duy, có tư duy kinh nghiệm, tư duy lý luận. Tư duy kinh nghiệm là một giai đoạn của nhận thức lý tính, mà trong đó người ta rút ra những tri thức về sự vật, hiện tượng khách quan, chủ yếu, thông qua con đường khái quát, quy nạp những tài liệu kinh nghiệm. Tư duy lý luận là giai đoạn nhận thức lý tính, mà trong đó tri thức được rút ra trên cơ sở khái quát những thành tựu của các giai đoạng trước đó. - Theo lĩnh vực tư duy: có tư duy chính trị, kinh tế, khoa học, triết học, nghệ thuật, quân sự, văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo.v.v… - Theo loại hình tư duy, có tư duy biện chứng, siêu hình, tư duy lô gic, phi lô gic, tư duy tổng hợp, phân tích, tư duy sáng tạo, giáo điều, tư duy tích cực, tiêu cực v.v… Sự phân loại tư duy cũng chỉ mang tính tương đối bởi chúng tồn tại đan xen, hòa quyện nhau. Cùng sử dụng một loại hình tư duy cho nhiều lĩnh vực khác nhau và ngược lại khi tư duy về một lĩnh nào đó có thể sử dụng đồng thời nhiều loại hình, nhiều hình thức tư duy khác nhau. Do đó, ở mỗi chủ thể, các loại hình tư duy, các hình thức tư duy hòa quyện tạo nên sự thống nhất và đặc trưng riêng ở tư duy của mỗi người. Như vậy, có nhiều cách phân loại tư duy khác nhau, trong đó “tư duy chính trị” là một loại hình tư duy dựa trên lĩnh vực phát triển của xã hội. Tư duy chính trị sẽ có những đặc điểm chung nằm trong khái niệm “tư duy’ nhưng cũng có những điểm riêng, mang tính đặc thù để phân biệt với tư duy trong các lĩnh vực khác. Đặc điểm này chịu sự chi phối của hoạt động chính trị đem lại.
  10. 8 2.1.2. Tư duy chính trị Tư duy chính trị là hoạt động của bộ não người nhằm thu nhận, xử lý và sản sinh những tri thức về giành, giữ và thực thi quyền lực giúp con người nhận thức, hoạch định và thực thi các quyết sách chính trị. Nói cách khác, tư duy chính trị là suy nghĩ về những vấn đề chính trị theo một cách thức nhất định. Theo nghĩa này, tư duy chính trị ra đời cùng với sự xuất hiện của nhà nước, mang tính giai cấp và bị chi phối bởi lập trường giai cấp. Sản phẩm của quá trình tư duy là những tư tưởng, quan điểm hay những “công nghệ” để giải quyết những mâu thuẫn trong thực tiễn chính trị. Tư duy chính trị của mỗi người phụ thuộc vào nhiều yếu tố: khách quan là điều kiện thực tiễn, những giá trị tư tưởng trong lịch sử, hệ tư tưởng chính thống chi phối và chủ quan là năng lực của mỗi chủ thể. Cùng hoàn cảnh thực tiễn như nhau, cùng một điều kiện sống, một lập trường giai cấp, một ý thức hệ như nhau nhưng cách tư duy ở mỗi người là khác nhau. Do đó, cách tư duy của mỗi người chủ yếu do yếu tố chủ quan qui định. Yếu tố chủ quan được hình thành từ tố chất bâm sinh, được rèn luyện qua hoạt động thực tiễn với những năng lực, phẩm chất và khí phách nhất định để chuyển hóa yếu tố khách quan vào lăng kính chủ quan của từng người. Tư duy chính trị có mối quan hệ chặt chẽ, tác động biện chứng với tư tưởng chính trị. Tư tưởng chính trị là hệ thống những quan điểm phản ánh quan hệ chính trị, kinh tế giữa các tầng lớp, các giai cấp, các quốc gia, các dân tộc xung quanh vấn đề giành, giữ chính quyền, tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước. Tư tưởng chính trị bao giờ cũng nảy sinh từ những điều kiện kinh tế - xã hội của một xã hội nhất định. Như vậy, giữa tư duy chính trị và tư tưởng chính trị có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại. Tư duy chính trị là quá trình trăn trở, suy nghĩ về những vấn đề chính trị, còn tư tưởng là kết quả của quá trình tư duy ấy. Để hiểu tư duy chính trị của một người phải thông qua tư tưởng, lời nói, hành động của người đó và soi vào lý luận nhận thức để thấy được những đặc trưng cơ bản của quá trình tư duy. Tư duy chính trị của một người chỉ được biết đến thông qua việc tìm hiểu tư tưởng, quan điểm, lời nói, bài viết và những hoạt động thực tiễn của người đó. Nếu thực tiễn cung cấp chất liệu để hình thành tư tưởng thì tư duy là nỗ lực của chủ thể trong việc khái quát hóa thực tiễn để biểu đạt bản chất của thực tiễn đó dưới hình thức lý luận. Do đó, để nghiên cứu tư duy chính trị cần tìm hiểu thông qua tư tưởng chính trị và hành vi chính trị (với tư cách là sản phẩm và hình thức biểu hiện của tư duy). Đây là khái niệm công cụ để có thể hiểu sâu hơn các nội dung khác liên quan. Tìm ra được tư duy chính trị là cơ sở để lý giải thuyết phục sự ra đời của những lý thuyết chính trị và hành vi chính trị. Bởi lẽ, mọi hành vi chính trị đều bị chi phối bởi đường lối chính trị, quyết sách chính trị, tư duy chính trị. Thậm chí nhà chính trị đưa ra được một quyết sách chính trị đúng đắn sẽ chi phối hành vi chính trị đúng. Ngược lại, nếu đường lối chính trị sai lầm sẽ đưa cả dân tộc đó đi xuống những nấc thang của lịch sử. Vậy, đường lối chính trị có vai trò quan trọng, chi phối mọi hoạt động của con người chính trị trong xã hội ấy. 2.1.3. Khái niệm tư duy chính trị Hồ Chí Minh Tư duy chính trị Hồ Chí Minh là hoạt động diễn ra trong bộ óc Người nhằm đưa ra những quan điểm và hành vi chính trị giải đáp thực tiễn chính trị Việt Nam. Nói một
  11. 9 cách tổng quát, tư duy chính trị Hồ Chí Minh là cách nghĩ của Người về các vấn đề chính trị nhằm giành, giữ và thực thi quyền lực cho nhân dân Việt Nam. Tìm hiểu những đặc điểm của tư duy chính trị Hồ Chí Minh là đi tìm những đặc tính, tính chất hay những nguyên tắc chi phối quá trình tư duy nhằm đạt được mục tiêu chính trị đặt ra. Những đặc trưng riêng biệt ấy là một trong những căn nguyên hình thành những sáng tạo trong tư tưởng và hành vi chính trị Hồ Chí Minh. Việc khái quát, tìm hiểu những đặc điểm của tư duy chính trị Hồ Chí Minh (với tư cách là đặc điểm của quá trình suy nghĩ về những vấn đề chính trị) là sự thống nhất giữa nội dung và phương pháp. Khi tư duy về một nội dung cần sử dụng phương pháp gì và ngược lại, sử dụng phương pháp tư duy này trong giải quyết nội dung gì, thậm chí cùng một nội dung nhưng sử dụng nhiều phương pháp. Nội dung và phương pháp là thống nhất, hòa trộn nhau trong một chủ thể nhận thức và tạo thành phong cách của chủ thể. Thông qua phương pháp xử lý một nội dung để tìm ra những đặc điểm chung chi phối quá trình tư duy. Vì vậy, tư duy với tư cách là quá trình suy nghĩ về những vấn đề chính trị thì đặc điểm của quá trình đó là những đặc tính khái quát nổi bật được thể hiện thông qua cách nghĩ về những nội dung chính trị. Đó không phải là đặc điểm về nội dung hay phương pháp tư duy, mà là đặc điểm của tư duy (với tư cách là quá trình thống nhất giữa nội dung và phương pháp tư duy). Hay đó là sự thực hành phương pháp tư duy vào những nội dung chính trị. Thông qua những sáng tạo trong tư tưởng và hành vi chính trị (tức nội dung của tư duy) để tìm tính nhất quán chi phối quá trình tư duy. Đó chính là những đặc điểm khác biệt chi phối quá trình tư duy chính trị Hồ Chí Minh. Người đã suy nghĩ như thế nào và bằng cách nào về những vấn đề chính trị? Cùng một nội dung chính trị giống nhau nhưng cách nghĩ của mỗi người không đồng nhất sẽ đưa đến kết quả rất đa dạng. Thậm chí cùng một nội dung tư duy và phương pháp tư duy như nhau nhưng kết quả lại khác nhau. Sự khác nhau đó là từ phương pháp tư duy hay nội dung tư duy hay cách vận dụng phương pháp tư duy? Chẳng hạn, cùng vận dụng phương pháp biện chứng nhưng thực hiện ở mỗi người khác nhau đưa đến kết quả khác nhau. Hồ Chí Minh vận dụng phương pháp biện chứng mác xít nhưng không phải là duy nhất mà kế thừa cả tư duy Đông - Tây, kim - cổ.. để tạo ra cái riêng của Người. Tư duy chính trị Hồ Chí Minh vì thế là sự kế thừa, phát triển sáng tạo hay gọi đó là tư duy “vượt gộp” trên bản sắc dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh là gạch nồi giữa Việt Nam với thế giới, giữa truyền thống và hiện đại. 2.2. Các yếu tố tác động tới sự hình thành tư duy chính trị Hồ Chí Minh 2.2.1. Yếu tố khách quan * Thực tiễn xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam chịu sự tác động trực tiếp bởi chính sách xâm lược và thống trị của thực dân Pháp. Sự cai trị của thực dân Pháp đã làm xã hội Việt Nam có sự chuyển biến sâu sắc trên mọi lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội.v.v.. Ở quê hương, Nguyễn Tất Thành được tận mắt chứng kiến cuộc sống nghèo đói, bị bóc lột đến tận xương tủy của nhân dân. Người nhận thấy nỗi nhục mất nước hằn trên gương mặt của mỗi người dân xứ Nghệ. Vào Huế Người lại được tận mắt chứng kiến tình cảnh khốn khổ của người dân lao động và hình ảnh của những ông
  12. 10 Tây da trắng nghênh ngang, hách dịch và tàn ác. Lớn lên, trở về quê hương, càng đi vào cuộc sống của nhân dân, Nguyễn Tất Thành càng thấm thía thân phận cùng khổ của người dân mất nước: sưu cao thuế nặng, phu dịch. Được tiếp xúc với các sĩ phu yêu nước và nghe họ bàn luận về việc nước, đã giúp Người dần hiểu được về thời cuộc và sự day dứt của các thế hệ cha anh trước cảnh nước mất, nhà tan. Những gì học được, nghe được, kèm theo những lời giảng giải của cha, đối với anh là những bài học hết sức sống động, có ấn tượng mạnh mẽ. Trong nhận thức của Nguyễn Tất Thành đã sớm nuôi ý chí đánh đuổi thực dân Pháp. Tư duy chính trị Hồ Chí Minh được nảy mầm từ đó. Chính hoàn cảnh quê hương, đất nước, gia đình là cái nôi nuôi dưỡng ý chí đi tìm phương cách đòi lại nền độc lập, tự do cho đồng bào. Đó là nguồn gốc thực tiễn tác động trực tiếp cho sự hình thành, phát triển tư duy chính trị của Người. Không được tắm mình trong thực tiễn ấy, những tư duy về con đường cứu nước khó có thể được định hình và hành động đi tìm con đường ấy khó thành hiện thực. * Thực tiễn chính trị thế giới những năm đầu thế kỷ XX Thứ nhất, phong trào cách mạng thế giới đã có sự chuyển đổi từ dân chủ kiểu cũ sang dân chủ kiểu mới. Thứ hai, Cách mạng tháng Mười Nga giành thắng lợi và sự ra đời của Quốc tế III cùng những cống hiến vĩ đại của Lênin là nhân tố tác động trực tiếp và quyết định đến sự hình thành tư duy chính trị Hồ Chí Minh. Thứ ba, phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thời kỳ này có những chuyển biến và đặt ra những yêu cầu mới cần có một hệ tư tưởng phù hợp, đáp ứng yêu cầu cấp bách của cách mạng. Quá trình bôn ba, tìm tòi, khảo nghiệm và xác định con đường cứu nước, giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh không chỉ đáp ứng thực tiễn chính trị Việt Nam mà còn phản ánh xu hướng của phong trào cách mạng thế giới. Điều đó phản ánh tính khoa học, cách mạng của tư duy chính trị Hồ Chí Minh. Như vậy, những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội của quê hương, đất nước, thời đại là mảnh đất hiện thực đầu tiên tác động tới sự hình thành tư duy chính trị Hồ Chí Minh. Ngoài nguồn gốc thực tiễn, tư duy chính trị Hồ Chí Minh còn được hình thành dựa trên sự kế thừa những thành tựu lý luận trong lịch sử tư tưởng của con người. * Yếu tố tư duy - lý luận - Tư duy chính trị điển hình của người Việt Nam: tính cộng đồng; lấy nhân nghĩa làm gốc. - Tư duy chính trị phương Đông điển hình: “lấy dân làm gốc” hướng đến việc đi tìm một ông vua lý tưởng, một chủ thể thực thi quyền lực nhà nước. Tính cộng đồng làng xã và xu hướng tập quyền của thiết chế chính trị trung ương coi trọng chữ “hòa”, chữ “đồng”. - Tư duy chính trị duy lý phương Tây điển hình. Đó là tư duy tôn trọng và đề cao con người, cá nhân; tôn trọng cái tự nhiên của sự vận động và phát triển xã hội. Tư duy phương Tây chú trọng tìm cách hợp lý hóa, khách quan hóa trong thiết kế, xây
  13. 11 dựng và vận hành thể chế, thiết chế chính trị. Tư duy chú trọng xây dựng hình thức tổ chức chính quyền vận hành một cách khách quan, phù hợp với ý chí và lợi ích của giai cấp cầm quyền nhưng ít phụ thuộc vào cá nhân người nắm quyền. Tư duy về sự tập trung quyền lực vào lãnh tụ có đủ đức độ, tài năng và uy tín; sự tham gia lãnh đạo của đội ngũ những người ưu tú về phẩm chất và đặc biệt là trí tuệ vào bộ máy nhà nước. - Tư duy chính trị Mác - Lênin với phương pháp tư duy biện chứng duy vật. Đây là phương pháp tư duy điển hình, bao trùm nhất chi phối tư duy trên mọi lĩnh vực. Ở một khía cạnh nào đó, các phương pháp tư duy khác chính là biểu hiện cụ thể của tư duy biện chứng. Nhờ phương pháp tư duy biện chứng, Hồ Chí Minh thâu thái, tổng - tích hợp và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tiếp thu và nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, lựa chọn con đường như Lênin chỉ dẫn, vận dụng phương pháp tư duy biện chứng, Nguyễn Ái Quốc đã sáng tạo con đường đi phù hợp cho cách mạng Việt Nam để giành được thắng lợi hoàn toàn. Mặc dù học thuyết Mác - Lênin, xét về mặt địa lý cũng thuộc tư duy phương Tây, nhưng do tính quyết định và ảnh hưởng chủ yếu của hệ tư tưởng này đối với sự hình thành, phát triển tư duy chính trị Hồ Chí Minh nên tách ra thành một yếu tố riêng. Tóm lại, tư duy chính trị Hồ Chí Minh là sự gặp gỡ giữa trí tuệ dân tộc với trí tuệ thời đại. Chính sự vận động, phát triển của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX đến những năm 20 của thế kỷ XX, khi bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin, tư duy chính trị Hồ Chí Minh được hình thành. Từ tiếp thu, vận dụng sáng tạo, Hồ Chí Minh từng bước góp phần bổ sung, pháp triển, làm phong phú chủ nghĩa Mác - Lênin bằng những luận điểm mới, được rút ra từ thực tiễn của đất nước và dân tộc. Bối cảnh kinh tế - chính trị trong và ngoài nước cùng với những yếu tố lý luận trên là nguồn gốc khách quan tác động đến sự hình thành tư duy chính trị Hồ Chí Minh. 2.2.2. Nhân tố chủ quan và hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh Về phẩm chất, ở Hồ Chí Minh hội tụ những phẩm chất của một chiến sĩ cách mạng chân chính. Người có tâm hồn của một nhà yêu nước lớn, một chiến sỹ cộng sản nhiệt thành cách mạng, sẵn sàng chịu đựng hy sinh vì độc lập của Tổ quốc, tự do cho đồng bào. Người có lòng tin mãnh liệt ở nhân dân, có tác phong bình dị, chân thành, khiêm tốn, hoà mình với quần chúng và có sức cảm hoá lớn đối với mọi người. Về năng lực, Hồ Chí Minh có những năng lực phi thường. Đó là trí thông minh, sắc sảo, nhạy bén với cái mới, có tư duy độc lập sáng tạo; có trí tuệ uyên bác, kiến thức sâu rộng, được tiếp xúc với nhiều nền văn hoá khác nhau, nhờ đó Người tự học được nhiều thứ ngoại ngữ, biết đón nhận những biến chuyển tích cực của tình hình thế giới và kế thừa những thành tựu tư tưởng của nền văn hóa nhân loại để vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam và giải đáp những yêu cầu của cách mạng Việt Nam. Những năng lực bẩm sinh và phẩm chất cá nhân hiếm có đã qui định việc Hồ Chí Minh tổng - tích hợp hóa và chủ thể hóa các giá trị tinh hoa văn hóa dân tộc, thời đại để hình thành tư tưởng của mình trong quá trình tiếp biến, chọn lọc, tái tạo, chuyển hóa, phát triển tri thức. Những phẩm chất ấy không phải tự nhiên mà có. Đó là kết quả của phức hợp các điều kiện, các hoạt động tích cực, chủ động của bản thân Hồ Chí Minh. Trong đó, trước hết phải kể đến sự dấn thân, thâm nhập đời sống nhân dân lao
  14. 12 động, không phải chỉ đời sống người lao động Việt Nam mà cả đời sống người lao động ở nhiều nước khắp các châu lục, không phải chỉ ở các nước thuộc địa mà cả các nước chính quốc. Từ đó, Hồ Chí Minh có cái nhìn toàn diện, sâu sắc về đời sống con người lao động dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về đời sống thống khổ của người lao động các nước thuộc địa. Cũng từ đó, Người hoạt động đấu tranh cách mạng không mệt mỏi trong phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa trên thế giới. Tóm lại, điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và các tiền đề tư tưởng, lý luận là những cơ sở khách quan ảnh hưởng đến sự hình thành tư duy chính trị Hồ Chí Minh. Trong sự hình thành và phát triển tư duy, yếu tố sinh học và sự tiến hoá của nó đóng vai trò hết sức quan trọng, song cái quyết định tính sáng tạo của tư duy phải là các quan hệ xã hội. Điều đó cho thấy, những cơ sở khách quan là điều kiện cần nhưng chưa đủ cho sự hình thành tư duy chính trị Hồ Chí Minh. Những nhân tố chủ quan thuộc về năng lực, phẩm chất cá nhân và những hoạt động thực tiễn là nhân tố giữ vai trò quyết định nhất, chìa khóa cho những sự sáng tạo đưa tới thành công trong sự nghiệp chính trị của Người. Những yếu tố trên được Người kết hợp, vận dụng nhuần nhuyễn hình thành nên những đặc sắc trong tư duy chính trị Người. Nói cách khác, tư duy chính trị Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nhân tố khách quan và chủ quan. Những nhân tố này luôn có sự vận động, biến chuyển theo dòng lịch sử, tạo tiền đề cho sự biến đổi, phát triển của tư duy chính trị Hồ Chí Minh. Tư duy chính trị Hồ Chí Minh do đó luôn có sự bổ sung, phát triển trên nền tảng thực tiễn tương ứng làm nên những đặc trưng riêng, nổi bật, không trộn lẫn với bất kỳ nhà chính trị nào. Tiểu kết chương 2 Tư duy là quá trình hoạt động của bộ não người ở trình độ nhận thức lý tính bao gồm các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu… nhằm tìm ra bản chất, qui luật vận động của sự vật. Kết quả của quá trình tư duy là tri thức được biểu hiện thành quan điểm, tư tưởng, hành vi thông qua ngôn ngữ. Vì vậy, con người chỉ có thể hiểu được tư duy của một người thông qua ngôn ngữ (gồm lời nói, chữ viết, hành động). Đây là phương pháp luận khi nghiên cứu các loại hình tư duy của con người. Nghiên cứu tư duy chính trị Hồ Chí Minh không nằm ngoài qui luật đó. Tư duy chính trị Hồ Chí Minh vừa chịu ảnh hưởng của tư duy chính trị chủ nghĩa Mác - Lênin (tức trên lập trường của giai cấp vô sản), vừa trên lập trường của người yêu nước chân chính; vừa chịu ảnh hưởng của tư duy duy lý phương Tây, vừa mang cốt cách của tư duy duy cảm của người Á Đông; vừa chịu ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo nhưng lại rất Việt Nam, dân tộc nhưng lại ảnh hưởng của thế giới, nhân loại…Nói cách khác, tư duy chính trị Hồ Chí Minh là tư duy biện chứng mang bản sắc Việt Nam, ở đó có sự kế thừa và phát triển một cách chọn lọc tư duy chính trị loài người: Đông - Tây, kim - cổ nhưng đậm chất dân tộc. Vì vậy, đó là tư duy tiên tiến, hiện đại, khoa học, hợp lôgic của sự phát triển trên nền tảng dân tộc, tư duy thế giới nhưng lại rất Việt Nam. Nhờ đó, Người đưa ra những lập luận, tư tưởng, quan điểm mang dáng dấp của phương Đông và phương Tây, Việt Nam và thế giới, dân tộc và nhân loại.- một tư duy chính trị đặc sắc riêng có ở Hồ Chí Minh.
  15. 13 Tư duy chính trị Hồ Chí Minh là quá trình Người suy nghĩ để giải quyết các vấn đề chính trị theo những nguyên tắc riêng, nhất quán. Sự khác biệt đó bắt nguồn từ tiền đề (tức nhân tố đầu vào) của quá trình tư duy đưa đến nét riêng trong cách thức tư duy và kết quả tư duy. Đó là nhân tố khách quan được chủ quan hóa nhờ những năng lực và phẩm chất riêng có ở Người. Tất cả hòa quyện trong con người Hồ Chí Minh tạo ra cốt cách, năng lực và phẩm chất cá nhân hơn người để hình thành một phong cách riêng trong sự thống nhất giữa tư duy - tư tưởng - phương pháp Hồ Chí Minh. Ở đó tư duy là chìa khóa, căn nguyên đưa tới những sáng tạo trong tư tưởng và hành động chính trị của Người. Nhờ đó, Người đã để lại một di sản quí báu không chỉ cho nhân dân Việt Nam mà cả những người tiến bộ trên thế giới. Chương 3 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA TƯ DUY CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH 3.1. Những điểm đặc sắc trong nội dung tư duy chính trị Hồ Chí Minh 3.1.1. Tư duy về sự lựa chọn mục tiêu của cách mạng Việt Nam Điều này được thể hiện trước hết ở tư duy về sự lựa chọn con đường cách mạng Việt Nam: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là nội dung quan trọng, bao trùm, xuyên suốt chứa đựng những điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh so với các bậc tiền bối, các nhà chính trị đương thời trong nước và thế giới. Việc xác định mục tiêu cách mạng trước hết bắt nguồn từ sự sáng suốt trong lựa chọn hướng đi tìm con đường giải phóng dân tộc - con đường sang phương Tây. Đây là một sáng tạo trong tư duy Người khác với các chí sĩ yêu nước cùng thời và bắt đầu cho một sự nghiệp chính trị Hồ Chí Minh. Con đường mà Người lựa chọn là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Mục đích ấy được khẳng định nhất quán ngay từ những năm 1920, khi tìm thấy con đường cứu nước cho đến sau khi giành được chính quyền, xây dựng chính quyền. Theo Người, chỉ có Chủ nghĩa xã hội mới đem lại cuộc sống tự do, hạnh phúc thực sự cho nhân dân. Mục tiêu của con đường cách mạng trong tư duy Hồ Chí Minh do đó có sự khác biệt cơ bản với các con đường của các nhà yêu nước trong lịch sử dân tộc. 3.1.2. Tư duy về con đường, cách thức đạt mục tiêu cách mạng Đó là tư duy về phương pháp cách mạng, lực lượng cách mạng, vai trò của tổ chức đảng đối với sự thắng lợi của cách mạng. Hồ Chí Minh đã đưa ra những luận điểm sáng tạo, thậm chí trái ngược với quan điểm của các đồng chí trong Quốc tế Cộng sản. Điển hình là quan điểm về lực lượng cách mạng. Trong Chánh cương vắt tắt, Người viết: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, v.v. để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến, v.v.) thì phải đánh đổ”. Các đồng chí cộng sản quốc tế khi đó do bị chi phối bởi khuynh hướng tả, cô độc, biệt phái, hẹp hòi nên có những nhận định sai lầm trong nhiều vấn đề của cách
  16. 14 mạng giải phóng dân tộc. Họ nhận định nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng là giải phóng giai cấp, chỉ khi giai cấp vô sản giành thắng lợi mới giúp đỡ các dân tộc thuộc địa giành thắng lợi. Họ xác định, lực lượng thực hiện cuộc cách mạng chủ yếu là công nông, giai cấp tư sản dân tộc, tiểu tư sản, trung nông.. là lực lượng phản cách mạng. Rõ ràng, những quan điểm, chủ trương của Nguyễn Ái Quốc nêu ra lúc đó là hoàn toàn trái ngược với những nhận thức xơ cứng, những sai lầm “tả khuynh” đang tồn tại trong Quốc tế Cộng sản lúc đó nên đã phê phán Nguyễn Ái Quốc gay gắt, làm ảnh hưởng đến vai trò và hoạt động Người. Nhưng, với bản lĩnh chính trị vững vàng, Hồ Chí Minh không sợ bị qui kết vào khuynh hướng chủ nghĩa xét lại, cũng không tự trói mình vào tư duy giáo điều, mà vươn tới sự kết hợp một cách sáng tạo những giá trị phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tiễn Việt Nam. Những sáng tạo trong các nội dung đó là biểu hiện của những đặc sắc trong nội dung tư duy chính trị Hồ Chí Minh. 3.1.3. Tư duy về xây dựng một thể chế nhà nước lý tưởng cho nhân dân Việt Nam Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng một mô hình nhà nước mới ở Việt Nam sau khi giành độc lập là nhà nước do nhân dân lao động làm chủ hay còn gọi nhà nước của dân, do dân, vì dân. Nhà nước đó đoạn tuyệt với chế độ quân chủ cha truyền con nối và chế độ thống trị của thực dân Pháp. Đó là một thể chế cộng hòa, quyền lực phải thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình một cách trực tiếp hoặc thông qua các đại diện do nhân dân trực tiếp bầu ra. Nhưng loại hình cộng hòa nào phù hợp nhất với hoàn cảnh lịch sử và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam. Sự lựa chọn một thể chế đáp ứng thực tiễn xã hội Việt Nam cũng là một sáng tạo vô song của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự sáng tạo này là kết quả những năm tháng bôn ba hải ngoại với một năng lực tư duy và hoạt động thực tiễn phong phú của Người. Hồ Chủ tịch đã tìm ra một mô hình đặc thù của Nhà nước Việt Nam phù hợp với điều kiện ở một dân tộc phương Đông, muốn thoát khỏi chế độ thực dân nửa phong kiến, muốn xây dựng một cuộc sống đầy đủ, ấm no cho nhân dân, độc lập có chủ quyền và lại không phụ thuộc vào các nước mạnh khác. Theo Người, trong nhà nước ấy, nhân dân là người giữ vai trò quyết định trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Người dân có quyền làm chủ bản thân, nghĩa là có quyền được bảo vệ thân thể, được tự do đi lại, tự do ngành nghề, tự do ngôn luận, tự do học tập… trong khuôn khổ của pháp luật cho phép. Người dân có quyền làm chủ các tập thể, làm chủ địa phương, làm chủ nơi sinh sống và làm việc. Người dân có quyền làm chủ các đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội thông qua bầu cử và bãi miễn. Nhà nước ấy là sự kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo các mô hình trong lịch sử để lựa chọn một mô hình phù hợp với thực tiễn và truyền thống văn hóa của nhân dân Việt Nam. Nhà nước đó là sự thống nhất giữa tính giai cấp, tính nhân dân, tính nhân loại, mang những đặc điểm riêng trên cơ sở kế thừa những tiến bộ các mô hình nhà nước Việt Nam và thế giới. Đó là sản phẩm của tính độc lập, sáng tạo và tính cách mạng trong tư duy chính trị Hồ Chí Minh đã tạo nên nét đặc sắc, sự khác biệt và những thành công trong sự nghiệp chính trị Hồ Chí Minh.
  17. 15 3.2. Những đặc điểm chủ yếu của quá trình tư duy chính trị Hồ Chí Minh 3.2.1. Tính hệ thống Tư duy hệ thống và nhất quán là điểm nổi bật trong tư duy lý luận của Hồ Chí Minh. Người có cái nhìn bao quát, nhìn nhận sự vật trong một chỉnh thể thống nhất giữa cái bộ phận với cái toàn thể, giữa cá biệt với xu thế chung của thế giới. Từ nhận thức cái chung, tính hệ thống của cách mạng thế giới để nhận rõ vị trí, vai trò của cách mạng Việt Nam trong xu thế ấy. Đạt được tầm đó, Hồ Chí Minh đưa chính trị không những là khoa học mà còn là nghệ thuật lãnh đạo, là tài ba và năng lực bẩm sinh của nhà chính trị. Tính hệ thống trong tư duy chính trị Hồ Chí Minh thể hiện trên nhiều phương diện. Đó là tính hệ thống trong mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc Việt nam với phong trào cách mạng thế giới; là việc nhìn nhận về một xã hội Xã hội chủ nghĩa không nhất thành bất biến mà cần phải được xem xét trong trạng thái vận động biến đổi và được cải tạo thường xuyên. Tính hệ thống trong tư duy chính trị của Người còn thể hiện ở cách nhìn đa chiều, ở sự cùng tồn tại các thuộc tính đối lập và sự tương tác giữa các mặt đối lập, sự chuyển hóa giữa các mặt đó với nhau để sáng tạo nên những chất lượng cao hơn trong quá trình phát triển của các hệ thống; hay đó là việc tìm thấy điểm tương đồng trong sự khác biệt giữa các học thuyết cũng như thấy được sự khác biệt trong khi xem xét cơ sở lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Tính hệ thống trong tư duy đã giúp Hồ Chí Minh hình thành hệ quan điểm, tư tưởng, đường lối, phương pháp, lực lượng, vai trò của tổ chức…. để giành, giữ và thực thi quyền hành cho nhân dân Việt Nam. Đó cũng là điểm nổi bật chi phối quá trình tư duy chính trị Hồ Chí Minh. 3.2.2. Đề cao tính thực tiễn, chống chủ nghĩa giáo điều Hồ Chí Minh là nhà mác xít điển hình không chỉ nhận thức mà còn vận dụng sáng tạo học thuyết Mác để phân tích cụ thể vấn đề giải phóng dân tộc theo phương pháp làm việc biện chứng và quan điểm thực tiễn. Xuyên suốt quá trình tư duy chính trị, quan điểm thực tiễn được coi là điểm xuất phát, là động lực và là mục đích của sự nghiệp chính trị Hồ Chí Minh. Nhờ tư duy thực tiễn, Người vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam và đưa ra cách đi riêng cho cách mạng. Đó cũng là cội nguồn của những tư tưởng và hành vi chính trị sáng tạo ở Người. Tính thực tiễn trong tư duy Hồ Chí Minh được thể hiện thông qua quan điểm về mối quan hệ giữa lý luận với thực tiễn; ở quá trình hình thành những luận điểm về cách mạng Việt Nam. Và hơn hết, tính thực tiễn thể hiện bằng chính hành động của Người. Ở Hồ Chí Minh, nghĩ để làm, nghĩ để hành động, để cải tạo thực tiễn, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân. Việc giải phóng đồng bào, nhân dân đang là nhiệm vụ cấp thiết, phải đặt lên hàng đầu. Vì vậy, phải tìm tòi, suy nghĩ để giải đáp được những yêu cầu của thực tiễn đang đặt ra, không có thời gian để suy nghĩ viển vông, hay nghĩ những gì xa vời với yêu cầu thực tiễn. Với Người chỉ tư duy những gì thực tiễn đang đòi hỏi để giải quyết chính thực tiễn ấy. Mọi suy tư của Người đều bắt nguồn từ thực
  18. 16 tiễn và phục vụ thực tiễn thông qua hành động. Tư duy chính trị Hồ Chí Minh do đó luôn được hiện diện trong hành động, bằng hành động để diễn tả tư duy, thậm chí tư duy chủ yếu được hiểu thông qua hành động. Đây là điểm khác biệt so với nhiều nhà tư tưởng, nhà chính trị trên thế giới. 3.2.3. Tính dân tộc, lấy lợi ích dân tộc là ưu tiên chính trị hàng đầu Từ những bài viết đầu tiên đến trang viết cuối cùng, từ thể loại báo, thơ ca, truyện ngắn đến các văn bản chính luận.v.v.. đều thể hiện khát vọng độc lập, tự do của Hồ Chí Minh. Toàn bộ Di chúc của Người cuối cùng là “toàn đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”. Ttrong suy nghĩ của Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc phải là một nền độc lập hoàn toàn, thực sự, nền độc lập được thực hiện một cách triệt để theo nguyên tắc nước Việt Nam của người Việt Nam, mọi vấn đề thuộc về chủ quyền quốc gia đều do nhân dân Việt Nam tự giải quyết, không có sự can thiệp của nước ngoài, nhân dân Việt Nam không chấp nhận bất cứ sự can thiệp nào; mọi sự ủng hộ và giúp đỡ Việt Nam đấu tranh cho độc lập, tự do đều được hoan nghênh và ghi ơn; mọi sự áp đặt xâm phạm chủ quyền quốc gia đều chối từ, gạt bỏ. Nền độc lập đó do chính nhân dân Việt Nam đấu tranh giành và đem lại cuộc sống tự do, hạnh phúc cho chính nhân dân. Cả cuộc đời của Người đều suy nghĩ phải làm gì để thực hiện cho được quyền độc lập của đất nước, quyền tự do cho nhân dân, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Đó là nguyên tắc, là phương hướng trong tư duy và hành động chính trị Hồ Chí Minh. 3.2.4. Tính linh hoạt, ứng biến Hồ Chủ tịch là một chiến sĩ cộng sản luôn nhất quán trong mục tiêu và mềm dẻo trong phương pháp. Mục đích tối cao của Người là độc lập cho dân tộc, tự do hạnh phúc cho đồng bào. Mục tiêu là bất biến, nhưng con đường đạt được đầy khó khăn gian khổ, đòi hỏi phải có sự chiến đấu, hy sinh của nhiều lớp người, nhiều thế hệ. Trong mỗi bước đi lên, cách mạng phải đối phó với muôn vàn sự biến đổi, đòi hỏi người cách mạng phải sáng suốt, tỉnh táo, nhạy bén để thay đổi cách thức đấu tranh cho thích hợp với những điều kiện lịch sử cụ thể mà các cuộc đấu tranh đặt ra. Những sách lược trong một thời điểm, thời kỳ nhất định không được làm tổn hại đến “cái bất biến”, tức cái mục tiêu lâu dài đã được xác định. Phương pháp mềm dẻo, lúc tiến, lúc lui, có lúc cần thỏa hiệp trên nguyên tắc để đạt mục đích lâu dài. Đó không những là khoa học mà còn là một nghệ thuật cách mạng của Hồ Chí Minh. Điều này được thể hiện nổi trội nhất ở giai đoạn cách mạng Việt Nam những năm 1945 - 1946. Chính tính linh hoạt, ứng biến trong quá trình lãnh đạo cách mạng đã thể hiện nét đặc sắc và tài năng của Người. Đây cũng là một đặc trưng tiêu biểu, làm nên đặc sắc của quá trình tư duy chính trị Hồ Chí Minh. 3.2.5. Tính dự báo Ở Hổ Chí Minh, năng lực tư duy dự báo được hình thành ngay từ những năm đầu hoạt động cách mạng và là một trong những nhân tố quyết định đến thành công
  19. 17 của cách mạng Việt Nam. Tư duy ấy được thể hiện qua những nhận định về thời cuộc, về xu thế của tình hình chính trị quốc tế để đưa ra những quyết sách đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Đó là biểu hiện của một tư duy chiến lược với khả năng phân tích tình hình trong nước, thế giới, nắm vững được qui luật khách quan của lịch sử, nhận diện đúng đặc điểm và xu thế phát triển của thời đại để dự báo chính xác khả năng và chiều hướng phát triển của cách mạng thế giới để nhận định tình hình cách mạng Việt Nam. Tư duy ấy là biểu hiện của sự thấm nhuần phép biện chứng duy vật kết hợp với triết lý của phương Đông và Việt Nam, trên cơ sở nắm được tình hình địa - chính trị thế giới, trong nước để có những quyết sách tối ưu. Điều này thể hiện tầm nhìn xa, rộng và sâu - một trong những nhân tố quyết định đến sự thành bại của sự nghiệp chính trị mà không phải bất cứ nhà chính trị nào cũng có được. Tính dự báo trong tư duy chính trị Hồ Chí Minh được thể hiện xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Qua những nhận định, những đường lối, chủ trương Người vạch ra cho cách mạng là những điển hình của tư duy ấy. Đây cũng là một biểu hiện thiên tài của Hồ Chí Minh mà chắc chắn không có ở nhiều nhà chính trị, nhà cách mạng trong nước và thế giới. 3.2.6. Tính nhân văn, văn hóa Tính nhân văn, văn hóa trong tư duy chính trị Hồ Chí Minh thực chất là tư duy về con người, lấy con người làm trung tâm và tất cả vì con người. Tư duy lấy con người là gốc được Hồ Chí Minh khẳng định và thực hành một cách nhuần nhuyễn, khéo léo làm nên văn hóa trong chính trị Hồ Chí Minh. Sự nhân văn trong ứng xử đối với con người đã nâng Người lên tầm văn hóa. Đó là văn hóa chính trị Hồ Chí Minh thể hiện cả trong suy nghĩ và hành động. Tính nhân văn, văn hóa trong tư duy chính trị Hồ Chí Minh được thể hiện ở tư duy coi trọng quyền con người, đặt mục tiêu cao nhất, mục tiêu cuối cùng của sự nghiệp cách mạng là giải phóng con người. Mục tiêu ấy sẽ chi phối mọi suy nghĩ và hành động chính trị Hồ Chí Minh. Đây là sự kế thừa truyền thống trị nước của dân tộc ta và cũng là sự vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân. Nhân dân vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu của cách mạng. Tư duy chính trị Hồ Chí Minh lấy dân làm gốc cũng chính là tư duy về một nền chính trị đạo đức. Sự nghiệp Người theo đuổi suốt đời là phấn đấu “cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Theo đó, đạo đức cao nhất theo Người là “hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc”. Tính nhân văn trong tư duy chính trị Hồ Chí Minh còn thể hiện ở tinh thần khoan dung với con người, với những người đã mắc phải sai lầm và khoan dung cả với kẻ thù. Chính điều này đã nâng Người lên tầm văn hóa không chỉ là văn hóa khoan dung mà văn hóa trong mọi cử chỉ, mọi hành vi, trong đời sống thường ngày và trong cả những thời kỳ khắc nghiệt nhất của sự nghiệp cách mạng. Văn hóa khoan dung giúp Người không ngừng rộng mở để thâu hóa những yếu tố tích cực, tiến bộ và nhân văn của thế giới để làm giàu cho văn hóa dân tộc. Nhờ đó làm nên một đặc sắc trong tư duy chính trị Hồ Chí Minh - tư duy nhân văn, văn hóa.
  20. 18 Tiểu kết chương 3 Những đặc điểm cơ bản của tư duy chính trị Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tư duy chính trị truyền thống của Việt Nam với tư duy chính trị thế giới. Đó vừa là sự kế thừa, phát huy đồng thời là sự vận dụng sáng tạo vào thực tiễn chính trị Việt Nam trong đó Hồ Chí Minh là một bộ phận cấu thành. Từ những sáng tạo được thể hiện qua những nội dung đặc sắc của tư duy chính trị Hồ Chí Minh như: tư duy về sự lựa chọn con đường cách mạng; tư duy về con đường, cách thức đạt mục tiêu cách mạng và tư duy về xây dựng một thể chế nhà nước nhân dân cho thấy, có điểm chung khi Người suy nghĩ về những vấn đề đó. Điểm chung ấy chính là những đặc tính, những nguyên tắc chi phối quá trình tư duy. Khi tư duy, Người luôn nhất quán những nguyên tắc đó để đưa ra những nhận định, tư tưởng và hành động cho cách mạng. Luận án khái quát ở những đặc tính cơ bản của tư duy chính trị Hồ Chí Minh bao gồm: tính hệ thống, tính thực tiễn, tính dân tộc, tính linh hoạt, tính dự báo, tính nhân văn, văn hóa. Trong đó, điểm bao trùm nhất của tư duy chính trị Hồ Chí Minh là tính thực tiễn. Những đặc điểm khác như tính dân tộc, tính linh hoạt, tính dự báo, tính nhân văn đều được hình thành xuất phát từ thực tiễn Việt Nam bao gồm những điều kiện lịch sử và truyền thống văn hóa dân tộc. Những đặc điểm đó tạo nên tính hệ thống trong tư duy chính trị Người. Đây chính là cội nguồn, là cơ sở thực tiễn quan trọng để Người thâu hóa, tiếp biến và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam, thể hiện tính dân tộc đậm nét trong tư duy chính trị Hồ Chí Minh nhưng cũng là một điển hình của tư duy tiến tiến, hiện đại của người Việt Nam mà Hồ Chí Minh là một hình ảnh hoàn chỉnh nhất. Những đặc điểm đó không phải là một thực thể nhất thành bất biến mà có sự hình thành, phát triển theo thực tiễn dân tộc và thời đại. Ở mỗi giai đoạn lịch sử, xuất phát từ những thực tiễn khác nhau sẽ qui định nội dung và cách tư duy của Người khác nhau. Chẳng hạn, tư duy chính trị Hồ Chí Minh thời kỳ trước và sau những năm 1911, 1920, 1945, 1954, 1965 có nội dung và phương pháp khác nhau. Bởi, tư duy của Người luôn xuất phát từ thực tiễn nhằm giải đáp những yêu cầu của thời đại. Tuy nhiên, luận án không phân tích tư duy chính trị Hồ Chí Minh theo lát cắt lịch sử mà sử dụng những nội dung trong từng giai đoạn cụ thể đó làm cứ liệu để minh chứng cho những khái quát mang tính chung nhất, điển hình nhất, mang tính nhất quán, chi phối cả quá trình tư duy Người. Điều đó nói lên tính thống nhất, đa dạng trong chỉnh thể tư duy chính trị Hồ Chí Minh. Vì vậy, bản thân tư duy chính trị Hồ Chí Minh là một thực thể có quá trình hình thành, phát triển, vận động liên tục theo thời gian nhưng có sự nhất quán, chi phối cả quá trình tư duy. Đó là điển hình của một năng lực tổng - tích hợp văn hóa Đông - Tây, kim cổ, thế giới và trong nước được sàng lọc và chủ quan hóa thông qua lăng kính của Người. Có thể, những đặc điểm này cũng tồn tại ở nhiều người nhưng tính nổi bật và khả năng thực hành ở mỗi người khác nhau. Ở Hồ Chí Minh, đó là những đặc trưng nổi trội, xuyên suốt và là một bộ phận cấu thành cuộc đời, sự nghiệp chính trị, tạo thành phong cách của Người. Nhờ đó, Người đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, đem lại quyền tự do, ấm no, hạnh phúc thực sự cho con người.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản