intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 849_1568189308.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-11 15:08:43
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Tư liệu học tập: Tích hợp liên môn theo chủ đề các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, GDCD cho học sinh khối 11

Chia sẻ: Sinh Sinh | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:8

0
12
lượt xem
0
download

Tư liệu học tập: Tích hợp liên môn theo chủ đề các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, GDCD cho học sinh khối 11

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đối với học sinh, trước hết, các chủ đề liên môn, tích hợp có tính thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho học sinh. Học các chủ đề tích hợp, liên môn, học sinh được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc. Điều quan trọng hơn là các chủ đề tích hợp, liên môn giúp cho học sinh không phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, vừa gây quá tải, nhàm chán, vừa không có được sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng ứng dụng của kiến thức tổng hợp vào thực tiễn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tư liệu học tập: Tích hợp liên môn theo chủ đề các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, GDCD cho học sinh khối 11

  1. TƯ LIỆU HỌC TẬP TÍCH HỢP LIÊN MÔN THEO CHỦ ĐỀ  CÁC MÔN NGỮ VĂN, LỊCH SỬ, ĐỊA LÍ,  GDCD CHO HỌC SINH KHỐI 11 I. Môn Ngữ văn 1.Tìm hiểu về  Hai Bà Trưng: Hai Bà Trưng là biểu tượng của tinh thần quật cường  của dân tộc ta buổi đầu bị giặc Hán đô hộ . Sử ghi tên chị là Trắc, tên em là Nhị, vốn con  gái Lạc tướng  ở  Giao Châu ta, người huyện Mê Linh thuộc Phong Châu. Chị  lấy Thi  Sách người huyện Chu Diên. Thi Sách là người có dũng lược , chuộng hào khí.Thấy  chừng cơ  sự, quan Thứ sử là Tô Định bèn đặt vào phép, buộc tội Thi Sách mà hãm hại.   Chị  giận lắm, cùng với em cử  binh đánh đuổi Tô Định , công hãm Giao Châu.    đó các  quận Nhật Nam Hợp Phố, Cửu Chân nghe tin bèn hưởng  ứng, lược định được hơn 65  thành ở cõi Lĩnh Ngoại, tự lập làm vua đất Việt, đóng ở Chu Diên rồi xưng là họ Trưng”   (Trích Việt điện u linh). Nhận định về  Hai Bà, Sử  gia Lê Văn Hưu viết : “ Trưng Trắc,   Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam Hợp Phố ,cùng 65   thành trì ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay,   có thể thấy hình thế đất Việt ta đủ dựng được nghiệp bá vương” (Trích Đại Việt sử ký  toàn thư).  2. Hai Bà Trưng  trong thơ  văn: Một số bài thơ ca ngợi Hai Bà Trưng VỊNH HAI BÀ TRƯNG Giúp dân dẹp loạn trả thù mình, Chị rủ cùng em kết nghĩa binh. Tô Ðịnh bay hồn vang một trận, Lĩnh Nam mở cõi vững trăm thành. Mới dày bảo vị gia ơn trọng, Ðã đội hoa quan xuống phúc lành. Còn nước còn non còn miếu mạo, Nữ trung đệ nhất đấng tài danh. (Hồng Đức quốc âm thi tập) * NHỊ TRƯNG MIẾU Lục thập dư thành tận vọng phong, Thùy tri nữ tử diệc anh hùng. Đương thì khởi đặc bình Tô Định, Mã Viện cơ phi “Quắc thước ông” Đặng Minh Bích Dịch thơ: Hơn sáu mươi thành hết sức trông,
  2. Ai hay nhi nữ cũng anh hùng. Há riêng Tô Định tan thần xác, Mã Viện chi còn “Quắc thước ông” ! Nhóm Lê Quí Đôn dịch. * BÀ TRƯNG Bà Trưng quê ở Châu Phong Giận phường tham bạo, thù chồng chẳng quên Chị em nặng một lời nguyền Phất cờ nương tử, thay quyền tướng quân Ngàn tây nổi áng phong trần Ầm ầm binh mã đến gần Long Biên Hồng quần nhẹ bước chinh yên Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thành Đô kỳ đóng cõi Mê Linh Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta Ba thu gánh vác sơn hà Một là báo phục, hai là bá vương. Uy thanh động đến Bắc phương Hán sai Mã Viện lên đường tiến công Hồ Tây đua sức vẫy vùng Nữ nhi mà chống anh hùng được nao Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo Chị em thất thế cùng liều với sông Phục Ba mới dựng cột đồng Ải quan truyền đến biên công cõi ngoài Trưng Vương vắng mặt còn ai Đi về thay đổi mặc người Hán quan. Đại Nam quốc sử diễn ca. * VỊNH HAI BÀ TRƯNG Cột đồng chìm chín suối, Bia đá rọi nghìn thu. Vì nước thương người khuất, Xúm tay chỉ đứa thù. Non sông tươi nét mặt, Hào kiệt hổ chòm râu. Ai biết, ai không biết, Hồ Tây nước thẳm sâu.
  3. 3. Cây lộc vừng trăm tuổi trước Đền thờ Trần Nguyên Hãn Chum lôc v ̀ ̣ ừng thăp l ́ ửa/ Chay vao thang, vao năm/ Gi ́ ̀ ́ ̀ ữa trời xanh xư ś ở/ Môt dâu son ̣ ́   lăng thâm” ̣ ̀ .  Nhưng câu th ̃ ơ  đa đ ̃ ưa chúng ta trở vê quê h ̀ ương xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tinh ̉   ́ ơi đo, co cây l Vinh Phuc. N ̃ ́ ́ ộc vừng quanh năm soi bóng xuống hồ  bán nguyệt  ở   trước cổng Tam quan Đền thờ Tả Tướng quốc Trần Nguyên Hãn.  Cứ đến mỗi muà   hoa, cây lộc vừng cô thu nh ̉ ̣ ư  biến thành ngọn đuốc khổng lồ  bùng cháy trên nền   trời rực rỡ. Từ ngọn đuốc, những đốm sáng đỏ lung linh rơi xuống mặt hồ, trôi dập   dềnh theo sóng nước tạo nên một tấm thảm đỏ  thiên nhiên tuyệt mỹ.  Câu chuyêṇ   ma ng̀ ười cao niên kể  lai: “ ̣ Cây lôc v ̣ ưng v ̀ ưa la môt ch ̀ ̀ ̣ ưng nhân lich s ́ ̣ ử cua manh ̉ ̉   đât va con ng ́ ̀ ươi xa S ̀ ̃ ơn Đông vừa găn liên v ́ ̀ ơi câu chuyên vê Ta T ́ ̣ ̀ ̉ ướng quôc Trân ́ ̀  Nguyên Hañ ”. Sau khi Trần Nguyên Hãn chết, nhân dân địa phương cảm phục tài đức của ông nên đã   xây Đền thờ  tự. Ngôi Đền uy nghi, bề  thế  được xây trên chính mảnh đất của gia đình   ông.  Trải qua 600 trăm năm tồn tại và phát triển, cây gắn bó mật thiết va la câu nôi dong lich ̀ ̀ ̀ ́ ̀ ̣   sử găn v ́ ới đời sống sinh hoạt, truyền thống văn hóa, tinh thân c̀ ủa người dân Sơn Đông.  Năm 2016, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam đã trao Bằng chứng nhận  Cây  di   sản  Việt  Nam   dành  cho cây  lộc vừng  trước   Đền  thờ   Tả   Tướng quốc  Trần  Nguyên Hãn. Ông Nguyễn Ngọc Thanh, Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường   Việt Nam cho biết: “Xét về độ tuổi, cây lộc vừng có thời gian tồn tại lâu đời nhất so với  các cây lộc vừng khác trên cả nước. Hình thái, cảnh quan xung quanh cây rất đẹp. Không  chỉ đơn thuần là cây cảnh, cây lộc vừng còn mang ý nghĩa lịch sử, gắn với truyền thống   văn hóa của đất và người Sơn Đông. Cho đến nay, cây thuộc hàng “Độc nhất vô nhị”,   đứng đầu về giá trị thẩm mỹ trong số những Cây di sản trên cả nước”. (Báo Quân đội nhân dân, Thứ hai, ngày 11 tháng 3 năm 2019) II. Môn Lịch sử 1.Khởi nghĩa Hai Bà Trưng:  Thời kỳ Bắc thuộc, đất nước ta bị nhà Hán đô hộ, với chính sách thống trị tàn bạo và các  chế độ cống nạp hà khắc, nhất là sau khi thái thú Tô Định được cử đến cai trị.  Bấy giờ   ở  huyện Mê Linh (vùng đất từ  Ba Vì đến Tam Đảo, nay thuộc Hà Nội, Vĩnh  Phúc), có hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị là con gái Lạc tướng thuộc dòng dõi Hùng   Vương. Chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách, con trai Lạc tướng huyện Chu Diên (vùng  Đan Phượng và Từ Liêm ­ Hà Nội). Hai gia đình Lạc tướng cùng nhau mưu việc lớn. Họ  bí mật tìm cách liên kết với các thủ  lĩnh  ở  mọi miền đất nước để  chuẩn bị  nổi dậy.   Không may, Thi Sách bị quân Hán giết. Mùa xuân năm 40 (tháng 3 dương lịch), Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa ở Hát Môn (Hà  Nội). Tương truyền, ngày xuất quân, bà Trưng Trắc đã đọc lời thề, sau này được viết  thành 4 câu thơ':
  4. "Một xin rửa sạch nước thù, Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng, Ba kẻo oan ức lòng chồng, Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này.” Nghĩa quân nhanh chóng đánh bại kẻ thù, làm chủ Mê Linh ; rồi từ Mê Linh, tiến đánh cổ  Loa và Luy Lâu. Tô Định hoảng hốt phải bỏ thành, cắt tóc, cạo râu, lẻn trốn về Nam Hải  (Quảng Đông ­ Trung Quốc). Quân Hán ở các quận khác cũng bị đánh tan. Cuộc khởi nghĩa đã giành được thắng lợi. Nền độc lập được khôi phục, chấm dứt giai   đoạn 246 năm thống trị (lần thứ nhất) của phong kiến phương Bắc. Sau khi khởi nghĩa   thắng lợi, đất nước thanh bình, bà Trưng Trắc được tướng sĩ và nhân dân suy tôn lên  ngôi Vua, lấy hiệu là Trưng Nữ Vương, định đô ở Mê Linh. Lên ngôi được 3 năm, quân giặc lại tràn sang, Hai Bà Trưng tiếp tục lãnh đạo quân dân   chống giặc. Ngày mùng 6 tháng Hai năm Quý Mão, tương truyền sau khi quyết chiến với   kẻ thù, quyết không để sa vào tay giặc, Hai Bà đã gieo mình xuống sông Hát tuẫn tiết.  Hai Bà Trưng ­ những người con gái Lạc tướng đất Mê Linh và cuộc khởi nghĩa của Hai  Bà Trưng (năm 40­43 sau Công nguyên) đã đi vào lịch sử dân tộc, in đậm trong  tâm tư,   tình cảm của mỗi người dân Việt Nam và trở thành niềm tự hào bất diệt và tấm gương  sáng cho bao thế hệ phụ nữ Việt Nam. 2.Tiểu sử Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn(1390 ­ 1429) Trong lịch sử hàng ngàn năm chống ngoại xâm của dân tộc đã để lại biết bao nhiêu  danh nhân, trong số  đó  Trần Nguyên Hãn, cùng với “Ngôi sao khuê”  (Nguyễn Trãi)  trong cuộc kháng chiến chống quân Minh ( thế kỷ XV) của thủ lĩnh Lê Lợi đã ghi dấu ấn   thật đậm nét. Trần Nguyên Hãn là cháu nội của quan Đại Tư Đồ thời Trần là Trần Nguyên Đán   (1326 ­ 1390), anh em con cô con cậu với Nguyễn Trãi (cháu ngoại Trần Nguyên Đán).  Khi quân Minh xâm lược nước ta, cuộc kháng chiến do nhà Hồ lãnh đạo bị thất bại (đầu   thế kỷ XV). Trần Nguyên Hãn cùng với Nguyễn Trãi đã lặn lội tìm đến Lam Sơn (Thanh  Hóa) ­ nơi người anh hùng dân tộc Lê Lợi phất cờ tụ nghĩa. Sách “Đại Nam nhất thống   chí” ghi: “Trần Nguyên Hãn người Sơn Động, Lập Thạch (nay thuộc Vĩnh Phúc) có học  thức, giỏi binh pháp. Ông theo Lê Thái Tổ  (Lê Lợi) khởi nghĩa, có công lớn trong sự  nghiệp đánh quân Minh, được phong hàm Đại tư đồ, chức “Tả tướng quốc”. Trong suốt hơn 10 năm kháng chiến chống quân Minh (1418 ­ 1429), tên tuổi Trần  Nguyên Hãn đã gắn với những chiến thắng quan trọng đánh dấu bước phát triển cùng   từng chặng đường và những chiến công quết định đến thắng lợi của cuộc kháng chiến.   Đó   là: ­ Cuộc tấn công vào Nghệ  An cùng nghĩa quân Lam Sơn (1424) do  Trần Nguyên  Hãn cùng các tướng lĩnh khác giành thắng lợi to lớn. ­ Cuộc vây hãm thành Đông Quan (1426), Trần Nguyên Hãn cùng với Lê Lợi tiêu  diệt lực lượng quan trọng của Vương Thông với chiến thắng ở Đông Bộ Đầu với chiến  công này năm 1427 Trần Nguyên Hãn được Bình đại vương Lê Lợi phong hàm Thiếu 
  5. úy. ­ Cuộc công phá thành Xương Giang (1427) một trận quyết chiến, chiến lược, thể  hiện tài năng quân sự  thiên bẩm của Trần Nguyên Hãn. Tiếp đó là đánh tan viện binh  của nhà  Minh, đẩy quân xâm lược Minh vào thế suy kiệt và thất bại. ­ Cuối 1427 trong “Hội thề  Đông Quan” Trần Nguyên Hãn là một trong  những  đại diện cao cấp của Lam Sơn. Tên ông được xếp ngay sau tên của Lê Lợi   Sau   cuộc   khởi   nghĩa,   Trần   Nguyên   Hãn   được   Lê   Lợi   phong   làm   Tả   Tướng  quốc(1428) và được ban Quốc tính nhưng ông xin về  hưu trí tại quê nhà. Năm Kỷ  Dậu   (1429), Lê Lợi nghe lời sàm tấu của gian thần tố cáo Trần Nguyên Hãn thông đồng với  Tù trưởng địa phương làm phản nên đã ban Tờ  chiếu bắt giam Trần Nguyên Hãn, ông  liền tự  sát để  chứng minh sự  trong sạch. Hai mươi sáu năm sau, vua Lê Nhân Tông đã   xuống chiếu  minh oan cho ông. Đến đời nhà Mạc, ông được truy phong là Tả  Tướng  quốc.  III. Môn Địa lí 1.Vị trí địa lí tỉnh Vĩnh Phúc:   Vĩnh Phúc là một tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng, Việt Nam. Vĩnh Phúc là tỉnh  nằm trong quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội.  ­ Diện tích      : 1.236,5 km² ­ Dân số 2016: 1.066.000 người ­ Mật độ         :  863 người/km² Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong  khu vực châu thổ  sông Hồng thuộc trung du và  miền núi phía bắc, gồm 9 đơn vị hành chính: thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và  7 huyện: Lập Thạch, Sông Lô, Tam Dương, Bình Xuyên, Tam Đảo, Vĩnh Tường, Yên  Lạc với 113 xã, 24 phường và thị trấn.  Vĩnh Phúc nằm  ở vùng đỉnh của châu thổ sông Hồng, khoảng giữa của miền Bắc  nước Việt Nam, khu vực chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng vì vậy có ba vùng   sinh thái: đồng bằng  ở  phía Nam tỉnh, trung du  ở  phía Bắc tỉnh, vùng núi  ở  huyện Tam   Đảo. ­ Phía bắc giáp hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, đường ranh giới là dãy núi Tam  Đảo.
  6. ­ Phía tây giáp tỉnh Phú Thọ, ranh giới tự nhiên là sông Lô. ­ Phía nam giáp Hà Nội, ranh giới tự nhiên là sông Hồng. ­ Phía đông giáp hai huyện Sóc Sơn và Đông Anh­ Hà Nội. Vĩnh Phúc tiếp giáp với sân bay quốc tế  Nội Bài, là điểm đầu của quốc lộ  18 đi  cảng Cái Lân (tỉnh Quảng Ninh), đồng thời có đường sắt Hà Nội ­ Lào Cai, đường quốc  lộ 2 chạy dọc tỉnh. Chảy qua Vĩnh Phúc có 4 dòng chính: sông Hồng, sông Lô, sông Phó   Đáy và sông Cà Lồ. Hệ thống sông Hồng là tuyến đường thuỷ quan trọng, thuận lợi cho   tàu   bè. 2. Vị trí địa lí đền thờ Tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn Đền thờ Trần Nguyên Hãn  ở thôn Đa Cai, xã Sơn Đông, Huyện Lập Thạch, tỉnh   Vĩnh Phúc. Lập Thạch là một vùng đất cổ có truyền thống lịch sử, văn hoá lâu đời, có bề  dày văn hiến và nhiều phong tục cổ tốt đẹp của nền văn minh lúa nước. Là một huyện   gần kề với đỉnh của đồng bằng châu thổ sông Hồng, tiếp giáp với kinh đô Văn Lang thời   Hùng Vương, nên các phong tục tín ngưỡng còn đậm sắc thái tinh thần của người Việt  cổ. Đền thờ  Tả  Tướng Quốc Trần Nguyên Hãn được xây dựng trên một thế  đất bằng   phẳng, rộng cao, tương truyền chính là nơi đặt Phủ  đệ  cũ của Trần Nguyên Hãn. Đền  được cấu trúc theo kiểu chữ “Đinh”, xung quanh có tường bao bọc tạo thành khuôn viên  chữ “điền” vuông vắn. Ở đền Trần Tả Tướng ở quê hương sơn Đông, có đôi câu đối: “Lam Sơn tướng nghiệp tồn linh địa Lô thủy thần tâm đối nghĩa thiên” Ngày 15 ­ 01 ­ 1984, Bộ  Văn hóa nước Cộng hòa xã hội chủ  nghĩa Việt Nam ra quyết  định số 06/VH ­ QĐ xếp hạng di tích lịch sử đền thờ Trần Tả Tướng tại xã Sơn Đông là  di tích quốc gia. Năm 2010, Nhà nước đã đầu tư  lớn để  tôn tạo, nâng cấp khu đền thờ  Trần Tả  Tướng.  Hiện nay, đền thờ  Trần Nguyên Hãn tại Đa Cai, Sơn Đông, Vĩnh Phúc là một điểm du   lịch tâm linh rất thu hút ở tỉnh Vĩnh Phúc. Trước Đền Trần Tả Tướng có bệ thờ tảng đá lớn. Đó là Đá mài gươm của Trần Nguyên   Hãn. Nguyên đó là một tảng đá lớn dạng đá mài, nổi lên bề mặt vài mét, nằm liền góc ao   Tó, nơi có bến thuyền rồng của Tả  Tướng khi về  hưu. Tương truyền thời đi bán dầu,  nuôi chí cứu dân, đánh giặc, Trần Nguyên Hãn thường đem kiếm thiêng của Trần Quang   Khải mà mẹ ông trao, mài ở đây. Lũ lụt năm Tân Hợi 1971, tảng đá này bị phù sa sông Lô vùi lấp sâu khoảng hai mét do lũ   lụt. Ngày 12/1/1998, tảng đá thiêng  này được chính quyền và nhân dân xã Sơn Đông trục  vớt lên, chuyển về  đặt trong khuôn viên đền thờ  Tả  Tướng Quốc để  mọi người cùng  
  7. chiêm ngưỡng dấu tích còn lại của người anh hùng dân tộc, niềm tự  hào lớn của trang  Sơn Đông, niềm tự hào lớn của quê hương Vĩnh Phúc. IV. Đền thờ Hai Bà Trưng (Mê Linh­ Hà Nội) 1. Vị trí địa lí huyện Mê Linh (Hà Nội) Huyện Mê Linh (Hà Nội) nằm  ở bờ Bắc của sông Hồng thuộc địa phận thủ đô Hà Nội. ­ Diện tích: 14.251,2 ha ­ Dân số: 204,2 nghìn người ­ Mật độ dân số: 1.433 người/km2 Phía Bắc giáp thị xã Phúc Yên và huyện Bình Xuyên của tỉnh Vĩnh Phúc.  Phía Nam giáp sông Hồng, ngăn cách với huyện Đan Phượng và huyện Đông Anh. Phía Tây giáp huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Phía Đông giáp huyện Sóc Sơn. 2.Vị trí địa lí đền thờ Hai Bà Trưng ­ Đền Hai Bà Trưng nằm trên 1 khu đất cao, rộng, nhìn ra khu vực đê sông Hồng. Toàn   bộ  khu du tích này rộng đến 128.824m2 gồm các hạng mục như  cổng đền, nghi môn   ngoại, nhà khách, nghi môn nội, gác trống, gác chuông, nhà tả, hữu mạc, đền thờ của Hai  Bà Trưng, đền thợ  phụ  thân và phụ  mẫu của Hai Bà, còn có cả  đền thơ  phụ  thân phụ  mẫu của ông Thi Sách, cùng các khu thờ nữ tướng triều Hai Bà Trưng... ­ Đền Hai Bà Trưng tọa lạc tại thôn Hạ Lôi, xã Mê Linh, huyện Mê Linh, thành phố Hà  Nội. Có lẽ chính vì thế mà ngoài cái tên Hai Bà Trưng, ngôi đền này còn có tên gọi khác   là đền Hạ  Lôi.Theo thuyết phong thuỷ: Đền toạ  lạc trên thế  đất "Trán con voi trắng"  trong hình cao “Bạch tượng uyên hồ” (voi trắng uống nước trong hồ), đến tận bây giờ  vẫn còn vết tích của những nơi như  ao Mắt Voi, vòi voi và hồ  Ao bàng; phía trước là   đường kéo quân của Hai Bà Trưng xưa kia chạy vòng phía trước Đền. Sau đền là khu   vực thành cổ gồm 2 lớp: trong là thành, ngoài là quách, dân gian gọi là Thành Ống. III. Giáo dục công dân 1. Trách nhiệm của công dân đối với việc giữ  gìn, bảo tồn di sản văn hóa tại nơi trải   nghiệm như:    Giữ  vệ  sinh môi trường, cảnh quan khu di tích, thể  hiện nếp sống văn   minh (trang phục phù hợp, hành động có văn hóa…)
  8. 2. Thông qua đó giáo dục truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam (tình cảm gắn bó  với quê hương đất nước; tình yêu thương đối với đồng bào, giống nòi, dân tộc; lòng   tự  hào dân tộc chính đáng; đoàn kết kiên cường chống giặc ngoại xâm…) 3. Thể hiện được trách nhiệm của thanh niên:  ­ Noi gương những người anh hùng, chúng ta ra sức học tập, sáng tạo; rèn luyện đạo  đức, tác phong, sống trong sáng, lành mạnh; góp phần xây dựng quê hương đất nước   bằng những việc làm thiết thực như: bảo vệ  môi trường, phòng chống các tệ  nạn xã   hội…  ­ Trung thành vời Tổ  quốc, với chế  độ  XHCN;  Cảnh giác trước mọi âm mưu chia rẽ,   xuyên tạc của các thế lực thù địch; phê phán, đấu tranh với những thái độ, việc làm gây   tổn hại đến an ninh quốc gia, xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. ­ Ra sức xây dựng nước Việt Nam giàu đẹp; Sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ bảo vệ  Tổ quốc Việt Nam XHCN. 4. Ý nghĩa của việc trải nghiệm sáng tạo và học tập tích hợp liên môn tại các di tích lịch  sử của học sinh trường THPT Trần Nguyên Hãn, Hải Phòng:  Đây là hoạt động nhằm giáo dục truyền thống yêu nước, ý chí quật cường của dân tộc   Việt Nam trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, lan tỏa những nét đẹp văn hóa truyền   thống.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản