intTypePromotion=1

Sáng kiến kinh nghiệm Mầm non: Sử dụng các trò chơi học tập nhằm phát triển các thao tác tư duy cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá về môi trường xã hội ở trường Mầm non

Chia sẻ: Lê Thị Quỳnh Nga | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:27

0
842
lượt xem
99
download

Sáng kiến kinh nghiệm Mầm non: Sử dụng các trò chơi học tập nhằm phát triển các thao tác tư duy cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá về môi trường xã hội ở trường Mầm non

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sáng kiến kinh nghiệm Mầm non: Sử dụng các trò chơi học tập nhằm phát triển các thao tác tư duy cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá về môi trường xã hội ở trường Mầm non nhằm giúp trẻ rèn luyện, củng cố và khắc sâu những điều đã học đồng thời phát triển vốn kinh nghiệm mà trẻ tích lũy được qua hoạt động chơi. Đặc biệt là phát triển ngôn ngữ trong những trò chơi yêu cầu mô tả bằng lời hoặc biết kết hợp linh hoạt giữa các hoạt động tư duy,... Mời các bạn tham khảo nội dung chi tiết tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Sáng kiến kinh nghiệm Mầm non: Sử dụng các trò chơi học tập nhằm phát triển các thao tác tư duy cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá về môi trường xã hội ở trường Mầm non

  1. MỤC LỤC 1
  2. 1. Đặt vấn đề Trẻ  em hôm nay thế  giới ngày mai, vì thế  chúng ta phải coi trọng công tác  chăm sóc và giáo dục trẻ tạo mọi điều kiện để trẻ có thể phát triển tốt nhất. Trong  công tác chăm sóc và giáo dục trẻ  thì Bộ  Giáo dục luôn đưa ra những đổi mới về  chương trình để phù hợp với thực tiễn. Giáo dục mầm non là một bậc học trong hệ thống giáo dục Việt Nam với chỉ  thị 153/CP của Hội Đồng Chính Phủ ra ngày 12/8/1966 về “ Công tác giáo dục Mầm   non nhằm giáo dục trẻ  bằng cách tổ  chức vui chơi, giáo dục các cháu những đức   tính tốt, chăm sóc sức khỏe, tập cho cháu vừa chơi vừa học để  chuẩn bị  cho cháu   vào trường phổ thông”. Căn cư Quyết định của thủ tướng chính phủ “ Một số chính   sách phát triển giáo dục Mầm non” 161/2001/QĐ­TT điều 3: Xây dựng chương trình  giáo dục mầm non tại cơ sở để trẻ em phát triển toàn diện về  thể chất, tình cảm,  trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên về nhân cách cho trẻ mẫu giáo. Theo nhà giáo dục xô viết vĩ đại A.X Macarenco đã viết “ Trò chơi có một ý  nghĩa quan trọng trong đời sống trẻ em, có ý nghĩa giống như ý nghĩa của hoạt động   công tác và sự phục vụ của người lớn lên trong công tác phầ lớn trẻ em như thế ấy.   Do đó việc giáo dục những nhà hoạt động tương lai bắt đầu từ trò chơi”. Vì thế sử  dụng các trò chơi học tập nhằm phát triển các  thao tác tư duy cho trẻ mẫu giáo rất  quan trọng đối với  trẻ. , thông qua các tro chơ học tập, trẻ được làm quen tiếp xúc   với nhieu trò chơi với những hình thức khác nhau, nhằm  phát triển toàn diện cả về  thể chất lẫn tinh thần.Các trò chơi học tập luôn chiếm vị trí đặc biệt trong đời sống  tuổi thơ  mỗi người. Trò chơi học tập là hoạt động chủ  đạo  ở  trường mầm non ,   được người lớn tổ  chức, hướng dẫn nhằm giúp trẻ  thỏa mãn nhu cầu vui chơi và  nhận thức đồng thời giáo dục và phát triển thể  chất toàn diện cho trẻ   ở  lứa tuổi  này. Với  trẻ mẫu giáo thì học bằng chơi chơi mà học. “ Nghĩa là trong quá trình cho  trẻ mẫu giáo hoạt động vui chơi ta dần giúp trẻ xây dựng những nhận thức, ý thức   cho trẻ đồng thời qua đó xây dựng những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết cho hoạt động  học tập sau  này của trẻ  . Trẻ  nhận thức được thế  giới xung quanh và tiếp nhận   việc giáo dục, học tập một cách nhẹ nhàng thoải mái . Vai trò của trò chơi học tập đối vói  trẻ mẫu giáo là hoạt động chủ  đạo của   trẻ, thông qua trò chơi trẻ  được phát triển nhân cách toàn vẹn  làm thay đổi hình  thức hoạt động học tập, tạo ra bầu không khí trong lớp học trở  nên dễ  chịu, thoái  mái hơn. Trẻ tiếp thu kiến thức tự giác và tích cực hơn. Giúp trẻ rèn luyện, củng cố  và khắc sâu những điều đã học đồng thời phát triển vốn kinh nghiệm mà trẻ  tích   lũy được qua hoạt động chơi. Đặc biệt là phát triển ngôn ngữ trong  những trò chơi  2
  3. yêu cầu mô tả bằng lời hoặc biết kết hợp linh hoạt giữa các hoạt động tư  duy (so  sánh, phân tích, tổng hợp,...) và các kỹ  năng xử  lý nhanh nhẹn, thông minh đối với  những trò chơi yêu cầu hành động. Giúp trẻ  rèn luyện các kỹ  năng học tập, thúc   đẩy các hoạt động trí tuệ như: tập trung chú ý, kiên trì tìm tòi, sáng tạo vận dụng tri   thức... Nhờ  sử  dụng trò chơi học tập mà quá trình dạy và học trở  thành một hoạt   động vui và hấp dẫn hơn. Giúp trẻ rèn luyện các phẩm chất đạo đức như: tính thật   thà, trung thực, tôn trọng kỷ luật, biết giúp đỡ, hỗ trợ đồng đội trong khi chơi, biết   đánh giá và tự  đánh giá kết quả  chơi...Ngoài ra một số  trò chơi học tập như  ghép   hình, tranh ảnh, ..giúp trẻ biết cảm thụ cái đẹp, yêu cái đẹp và tạo ra cái đẹp từ đó   góp phần giáo dục thẩm mỹ cho trẻ. Trò chơi học tập giúp cho học sinh phát triển toàn diện cả  về  thể  chất lẫn  tinh thần. Trò chơi làm cho học sinh được phát triển các năng lực một cách tự nhiên,   giúp trẻ trao đổi kinh nghiệm, tương tác lẫn nhau từ đó tiếp thu kiến thức được dễ  dàng. Ở trường mầm non đa số các cô giáo đã biết tổ chức các trò chơi kết hợp với  các bài học . Giúp trẻ  tiếp thu bài học nhanh,hứng thú học   nhằm kích thích phát   triển tư  duy của trẻ, thiết lập cho trẻ các mối quan hệ  xã hội. Song vì điều kiện   thực tế   ở  trường mầm non còn hạn chế  nên việc tổ  chức các trò chơi van chua   dược kết hợp  hài hòa giữa chơi và học .Chính vì những lý do trên mà tôi chọn đề  tài: “ Sử dụng các trò chơi học tập nhằm phát triển các thao tác tư duy cho trẻ mẫu   giáo 5­ 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá về môi trường xã hội ở  trường mầm   non ”. 2. Lý luận chung về vấn đề nghiên cứu 2.1. Một số vấn đề về trò chơi học tập của trẻ mầm non 2.1.1. Khái niệm trò chơi học tập Trò chơi học tập là loại trò chơi có luật, thường do người lớn nghĩ ra cho trẻ  chơi. Đó là loại trò chơi đòi hỏi trẻ phải thực hiện một quá trình hoạt động trí tuệ  để giải quyết nhiệm vụ học tập được đặt ra như nhiệm vụ chơi, qua đó mà trí tuệ  của trẻ được phát triển. 2.1.2. Đặc điểm trò chơi học tập Trò chơi học tập là loại trò chơi mà nhiệm vụ  trí lực được thực hiện dưới  hình thức nhiệm vụ vui chơi thoải mái. Nội dung học tập được lồng ghép vào nội  dung chơi, động cơ  học tập hòa quyện vào động cơ  chơi. Việc thực hiện các thao  tác chơi, hành động chơi chính là việc thực hiện các nhiệm vụ  trí dục. Như  vậy   3
  4. giữa chơi và học co quan hệ chặt chẽ với nhau. Do vậy “học mà chơi, chơi mà học”  được xem là phương thức học tập độc đáo của trẻ lứa tuổi mầm non. ­ Nội dung chơi: Là nhiệm vụ  nhận thức mà trẻ  phải giải quyết trong quá  trình chơi và phải có kết quả. ­ Hành động chơi: Là những thao tác mà trẻ phải thực hiện nhiệm vụ mà trò  chơi đặt ra.hành động chơi càng phong phú bao nhiêu thì trò chơi càng lí thú bấy  nhiêu.Hệ  thống các thao tác trong hành động chơi do nhiệm vụ  chơi quy định và  được diễn ra theo một luật chơi. Các hành động chơi như  là họa tiết của chủ  đề  chơi, những hành động  ấy càng phong phú, đa dạng bao nhiêu thì trẻ  tham gia vào  trò chơi càng nhiều bấy nhiêu và bản thân trò chơi cung hấp dẫn bấy nhiêu.  Thật   vậy, hành động chơi càng phong phú đa dạng điều đó có nghĩa là đứa trẻ  tham gia  vào trò chơi rất tích cực. Tính tích cực của trẻ bộc lộ đã tạo cho cô giáo có cơ hội   được hình thành mối quan hệ qua lại giữa các trẻ với nhau, trẻ biết hành động theo   thứ tự, theo lượt phù hợp với trò chơi, biết tính đến mong muốn của người khác và   biết giúp đỡ bạn bè lúc khó khăn. ­ Luật chơi: là những quy định mà nhất thiết trẻ phải tuân thủ trong khi chơi,   nếu phá vỡ chúng thì trò chơi cũng bị phá vỡ. + Trong trò chơi học tập hành vi chơi và động cơ chơi có sự thống nhất chặt   chẽ  với nhau và bao giờ  cũng có kết quả  nhất định, trẻ  nhận được kết quả  hành   động . + Trong trò chơi học tập, luôn tồn tại mối quan hệ qua lại giữa cô và trẻ  và  giữa trẻ  với nhau.Quan hệ  chơi do nhiệm vụ chơi, hành động chơi, luật chơi quy   định. + Tính tự lập và sáng kiến của trẻ được thể hiện qua quá trình trẻ thực hiện   các thao tác chơi, hành động chơi, tự lựa chọn các phương thức hành động trong các  tình huống chơi, trong việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo những hiểu biết, kĩ năng,   kĩ xão của mình để  giải quyết nhiệm vụ  nhận thức hoặc phán đoán được tình   huống xảy ra nhằm thay đổi chiến thuật chơi của mình. +Trò chơi học tập phong phú và đa dạng về thể loại có nhiều cách phân loại   và điều này tùy thuộc vào quan điểm của các nhà nghiên cứu. Trên thực tế có nhiều   cách phân loại theo các tiêu chí khác nhau như theo nội dung chơi :trò chơi giáo dục  nhận thức, trò chơi làm quen với thiên nhiên,trò chơi phát tiển ngôn ngữ, hình thành   biểu tượng toán học sơ đẳng.Theo chủ  đề  chơi hoặc không có chủ  đề, trò chơi đi   du lịch, trò chơi theo nhiệm vụ, trò chơi đề  nghị, trò chơi đàm thoại, trò chơi giải  4
  5. đáp...Theo tính chất sử dụng đồ chơi và tài liệu học tập trò chơi với đồ vật, trò chơi   bằng lời..... * Ý nghĩa: Trò chơi học tập có ý nghĩa quan  trọng  đối với trẻ. Nó vừa là con đường   vừa là phương tiện góp phần phát riển trí tuệ  của trẻ  mẫu giáo. Trong quá trình   chơi trẻ phải huy động và sử  dụng các giác quan,ngôn ngữ  của mình để  thực hiện   các thao tác chơi, nhiệm vụ chơi. Nhờ vậy các giác quan của trẻ cũng trở nên nhanh   nhạy, ngôn ngữ trở nên mạch lạc và  tư duy phát triển hơn. Mặt khác, trò chơi học   tập sẽ giúp trẻ  củng cố, khắc sâu các biểu tượng các tri thức, khái niệm một cách  có hệ thống. Các trò chơi học tập sẽ giúp trẻ  nhìn nhận, phân tích, so sánh, khái quát hóa  các tri thức đã được lĩnh hội trước đó. Trò chơi học tập còn giúp trẻ  rèn luyện và  phát triển trí nhớ. Các biểu tượng tri thức được lòng vào nội dung của trò chơi sẽ  giúp trẻ có ấn tượng sâu sắc hơn. Trò chơi học tập giúp trẻ  phát huy tính tự  giác tích cực, chủ  động của trẻ.  Khi hứng thú trẻ đã được kích thích thì ter sẽ hào hứng chủ động với nhiệm vụ học   tập là cơ sở giúp trẻ dễ dàng ghi nhớ các kiến thức. Tóm lại, trò chơi học tập  ảnh hưởng sâu sắc tới trẻ  . Trẻ  hứng thú với với  hoạt động, trẻ tham gia hoạt động một cách tích cực. Trò chơi với chúng là học tập,  trò chơi với chúng là lao động, cũng có khi trod chơi với chúng là một hình thức giáo   dục nghiêm túc. 2.1.3. Cách tiến hành trò chơi học tập ­ Trò chơi học tập được thực hiện theo quy trình 3 bước sau : Bước 1: Giới thiệu tên trò chơi. + Giới thiệu trò chơi mới. + Hỏi lại trò chơi cũ. ­   Nội dung, hành động và nêu ra luật chơi. ­  Xác định số lượng tham gia vào trò chơi. ­  Xác định vị trí của cô giáo và các trẻ khác trong trò chơi. Bước 2: Trẻ chơi. ­ Nếu là trò chơi mới sau khi hướng dẫn trò chơi cô tổ chức cho trẻ chơi theo   từng nhóm, cô theo dõi trẻ chơi. ­ Đối với những trò chơi có hành động chơi phức tạp thì cô có thể chơi cùng   trẻ 1­2 lần     (nhất là để gây hứng thú cho trẻ ). 5
  6. ­ Nếu là trò chơi cũ thì sau khi cho trẻ ghi nhớ nội dung, luật chơi cô phân  nhánh để trẻ tiến hành chơi. Cô theo dõi trẻ chơi đúng luật hay không, theo dõi thái  độ của trẻ với nhau. ­ Cô kịp thời khen ngợi, động viên trẻ. ­ Nếu trẻ  chơi sai luật thì chơi xong một lượt , cô gợi ý cho các trẻ  khác  nhận xét, trên cơ sở đó cô giúp trẻ nhớ lại luật chơi để thực hiện cho đúng. Bước 3:  Nhận xét ­ Định lượng: kết quả nhiệm vụ nhận thức của trẻ về số lượng cụ thể ­ Định tính: Trẻ  có thực hiện đúng luật chơi, đoàn kết, tương thân tương ái  không ? 2.2. Một số  vấn đề  về  tính tư  duy của trẻ  mẫu giáo 5­6 tuổi thông qua   hoạt động khám phá về môi trường xã hội ở trường mầm non 2.2.1. Khái niệm về tính tư duy của trẻ mẫu giáo Tư  duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những   mối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách  quan mà trước đó ta chưa biết Tư  duy là một mức độ  mới thuộc nhận thức lý tính, khác xa về  chất so với  nhận thức cảm tính, tư duy con người tiến hành với tư cách là chủ thể 2.2.2. Đặc điểm về tính tư duy của trẻ. Một số đặc điểm trong tư duy ở trẻ 4 ­ 5 tuổi: Mức độ  khái quát ngẫu nhiên giảm dần từ  4 đến 5 tuổi trong hoạt động tư  duy của trẻ.Mức độ tích cực huy động vốn kinh nghiệm ( liên tưởng ) của trẻ tăng   lên từ  4 ­ 5 tuổi .Sự khái quát các dấu hiệu chung giảm dần từ  4 ­ 5 tuổi, nhường   chỗ cho các chi tiết đặc thù của các sự vật hiện tượng.Cô giáo cần tổ chức các tiết   học vui chơi kích thích sự phát triển tư duy ở trẻ, kích thích trẻ tìm tòi các dấu hiệu  giống nhau, khác nhau, so sánh các đồ  vật, tranh  ảnh, hoa quả, đồ  chơi.Nhờ  có sự  phát triển các hoạt động tạo hình mà khả năng tưởng tượng của trẻ được nâng lên. Tranh vẽ của trẻ vừa gần với hiện thực vừa mang tính chủ quan cảm xúc rõ   nét. Độ phong phú của các hình ảnh tưởng tượng cao nhờ có sự nhận thức được   màu sắc trong thiên nhiên và qua các tiết nghệ thuật tạo hình. Trẻ có thể xé dán các mẫu hình, truyện cổ tích, biết bố cục... những chủ đề  gần gũi thân quen đối với trẻ... nếu được thầy cô giáo, cha mẹ hướng dẫn chu đáo. 6
  7. Việc hướng dẫn tổ  chức các tiết học tạo hình, vẽ, nặn, cho trẻ  tham quan   các di tích, danh lam thắng cảnh... rất cần thiết cho sự tưởng tượng. + Tính “ có vấn đề” của tư duy. Trên thực tế  không phải hoàn cảnh nào cũng thúc đẩy con người tư  duy.  Muốn kích thích được tư duy phải đồng thời có ba điều kiện sau đây: ­ Trước hết phải gặp hoàn cảnh (tình huống có vấn đề). ­ Thứ  hai, hoàn cảnh có vấn đề  đó phải được cá nhân nhận thức đày đủ,  được chuyển thành nhiệm vụ  của cá nhân, tức là cá nhân phải phân tích cái gì đã   biết, đã cho, và cái gì còn chưa biết phải tìm, đồng thời phải có nhu cầu (động cơ)   tìm kiếm nó, giải quyết vấn đề.. ­ Thứ ba,cá nhân phải có những tri thức, công cụ cần thiết để giải quyết vấn  đề. + Tính gián tiếp của tư duy. Tính gián tiếp của tư duy được thực hiện qua việc sử dụng các công cụ  vật  chất như: Đồng hồ, nhiệt kế, máy móc…và các tài liệu do nhận thức cảm tính cung  cấp và công cụ  tâm lý như: quy tắc, công thức, quy luật…của lòai người va kinh  nghiệm của cá nhân mình. Ngoài ra, tính gián tiếp của tư duy còn thể hiện ở chỗ nó  được biểu hiên trong ngôn ngữ. Con người luôn dùng ngôn ngữ để tư duy. Nhờ đặc  điểm gián tiếp này mà tư  duy đã mở  rộng không giới hạn những khả năng, những  nhận thức của con người. + Tính trừu tượng và khái quát của tư duy. ­ Nhờ có tính trừu tượng và khái quát cua tư duy mà con người không chỉ giải  quyết những nhiệm vụ cua hiện tại mà còn có thể giải quyết những nhiệm vụ của   tương lai, rút ra được quy luật, phương pháp chung. + Tư duy liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ: Tư duy không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ. tư duy phải dùng ngôn ngữ để  làm công cụ, phương tiện để  giải quyết vấn đề. Nếu không có ngôn ngữ  thì quá  trình tư  duy không diễn ra được, các sản phẩm của tư  duy cũng không được chủ  thể và người khác chấp nhận. + Tư duy có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính. Tư  duy phải dựa trên những tai liệu cảm tính, trên kinh nghiệm, trên cơ  sở  trực quan sinh động nhận thức cảm tính là một khâu của mối liên hệ trực tiếp giữa   tư  duy và hiện thực. Ngược lại tư  duy và sản phẩm tư  duy cũng  ảnh hưởng tới   nhận thức cảm tính. Những đặc điểm của tư duy trên có ý nghĩa to lớn đối với việc   7
  8. dạy học va giáo dục bởi vì: Không có khả  năng tư  duy thì trẻ  không thể  lĩnh hội   được kinh nghiệm xã hội, ngay trong hoạt động vui chơi, tư duy giúp trẻ giải quyết  những tình huống xảy ra trong trò chơi, làm nảy sinh nhiều sáng kiến. * Muốn phát triển tư duy cho trẻ cần đặt trẻ vào tình huống có vấn đề . * Phát triển tư duy gắn liền với phát triển ngôn ngữ cho trẻ. * Phát triển tư duy tiến hành cùng và thông qua các hoạt động vui chơi và các  dạng hoạt động khác. * Phát triển tư duy gắn với rèn luyện cảm giác, tri giác, trí nhớ. 2.2.3. Đặc điểm hoạt động môi trường xã hội của trẻ 5­ 6 tuổi ­ Chơi là phương thức thõa mãn nhu cầu được sống và được làm việc như  người lớn. Trong mỗi giờ chơi, mỗi trò chơi phản ánh một mảng của đời sống xã  hội: Bệnh viện, trường học, cửa hàng…mỗi trẻ có vị trí nhất định trong nhóm chơi.   Trong khi chơi, trẻ không chỉ phối hợp với nhau trong nhóm chơi mà còn phối hợp   với nhau giữa các nhóm chơi , sự phối hợp giữa trẻ với nhau như vậy đã hình thành  một xã hội trẻ  em trong khi chơi, trong xã hội  ấy, trẻ  thỏa sức hành động được   sống trong xã hội của người lớn thu nhỏ, được làm việc … như  người lớn vì thế  trẻ luôn là chủ thể tích cực. ­ Chính vì thế có thể nói “ Xã hội trẻ em” là hình thức đầu tiên giúp trẻ được   sống và làm việc cùng nhau, được sống cuộc sống của người lớn. ­ Người lớn cần tổ  chức tốt các hoạt động của “ xã hội trẻ  em” taọ  ra môi   trường lành mạnh có tác dụng giáo dục mạnh mẽ đối với trẻ. 2.3. Đặc điểm phát triển tâm sinh lí của trẻ 5­ 6 tuổi * Tâm lý: ­ Đặc điểm phát triển ngôn ngữ: Đến tuổi Mẫu giáo Lớn hầu hết trẻ đã biết  sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thục trong sinh hoạt hằng ngày Ngôn ngữ  trở  thành phương tiện chủ yếu để  trẻ  giao tiếp với những người xung quanh và là cơ  sở  để  cải tổ  các quá trình tâm lí, giúp cho đời sống tinh thần của trẻ có một chất   lượng mới phong phú, sâu sắc hơn và hòa nhập với xã hội tốt hơn, là phương tiện   làm cho tư duy của trẻ nâng lên một trình độ mới so với độ tuổi trước. ­ Đặc điểm phát triển về trí nhớ: Trí nhớ bắt đầu có chủ định và có tính lôgic   bắt đầu phát triển.Những gì trẻ  hiểu, trẻ  thích, có ý nghĩa, có ấn tượng mạnh mẽ  với trẻ thường được ghi nhớ bền vững hơn. Tuy vậy, trí nhớ  máy móc vẫn giữ vai   trò quan trọng trong đời sống của trẻ. 8
  9. ­ Đặc điểm phát triển về  tư  duy: Tư  duy trực quan hình tượng phát triển  mạnh và xuất hiện một kiểu tư duy mới­ tư duy trực quan sơ đồ. ­ Đặc điểm phát triển về trí tưởng tượng: Trẻ  có trí tưởng tượng rất phong   phú.Tưởng tượng có chủ định được hình thành. ­ Sự  tự  ý thức(ý thức bản ngã): Trẻ  đã hiểu được mình là người như  thế  nào? có những phẩm chất gì? những người xung quanh đối xử với mình ra sao ? Tại   sao lại thế? Mặt khác trẻ có thể đánh giá được sự thành công, thất bại của mình, đánh giá  được  ưu điểm,nhược điêm của mình đó là cơ  sở  để  quá trình tâm lí chuyển dần  sang quá trình có chủ  định, qua đó phẩm chất ý chí được hình thành và nhân cách   của trẻ phát triển mạnh bởi nó có khả năng điều chỉnh của bản thân trẻ. * Sinh lí: ­ Đặc điểm thời kì này là biến đổi về chất lượng hơn là số lượng. + Trẻ  chậm lớn hơn so với thời kì bú mẹ, cường độ  của quá trình chuyển  hóa năng lượng yếu đi, chuyển hóa cơ bản giảm hơn. + Các chức năng chủ  yếu của cơ thể dần hoàn thiện, đặc biệt là vận động  phối hợp động tác,cơ  lực phát triển nhanh, vì vậy thực hiện động tác khéo léo   hơn,gọn gàng hợn, có thể  làm được những việc khó, phức tạp và tự  phục vụ  bản   thân mình. + Hệ thần kinh tương đối phát triển, hệ thần kinh trung  ương và ngoại biên  đã biến hóa, chức năng phân tích tổng hợp của võ não đã hoàn thiện, số lượng các  phản xạ có điều kiện ngày càng nhiều, trí tuệ phát triển nhanh, do đó trẻ có thể nói   những câu dài, có biểu hiện ham học, có  ấn tượng sâu sắc về  những người xung  quanh. ­ Cuối tuổi Mẫu giáo, trí tuệ, thể chất và tính khéo léo phát triển nhanh hơn,   lúc này trẻ đã biết chơi với nhau, đã học thuộc được những bài thơ, bài hát ngắn. Vì   vậy tác động tốt hay xấu của môi trường xung quanh dễ tác động đến trẻ. 3. Xây dựng hệ thống trò chơi học tập 3.1. Cơ sở xây dựng trò chơi học tập * Cơ sở lý luận: Nghành học mầm non là bậc học đầu tiên, là nền tảng giúp trẻ  phát triển  một cách toàn diện về  đạo đức, trí tuệ, thể  lực, thẫm mỹ  và lao động. Giáo dục  mầm non Việt Nam đó xác định mục tiêu là xây dựng và hình thành ở trẻ nhân cách  9
  10. con người mới việt nam Xã Hội Chủ  Nghĩa. Điều đó khẳng định tầm quan trọng   của nghành học mầm non. Nghành học mầm non được Đảng và nhà nước quan tâm, điều đó được vạch  ra trong nghị quyêt đại hội Đại Hội Đảng lần thứ IX, đó là “ Tiếp tục nâng cao đổi   mới chất lượng toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy và học…” Ở  lứa tuổi mẫu giáo, hoạt động vui chơi chiếm vai trò chủ  đạo. Thực hiện   dạy học theo phương châm “ Học mà chơi, chơi mà học”, thông qua hoạt động vui  chơi giúp cho trẻ phát triển môt cách toàn diện. Hoạt động vui chơi ở trẻ mầm non  rất phong phú và đa dạng : Trò chơi học tập , trò chơi dân gian …Mỗi loại trò chơi   đều có nét đặc trưng thú vị riêng của nó. * Cơ sở thực tiễn: Việc nghiên cứu tổ  chức các trò chơi học tập dành cho trẻ  mẫu giáo nhằm  để  hình thành biểu tượng về thế giới động vật còn ớt ái, hình thức nội dung chưa   phong phú nhất là  ở  các trường nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa. Việc tổ  chức các trò chơi học tập còn hạn chế: Qúa trình tư duy, khả năng phân tích, so sánh   và tổng hợp các tiết học , các trò chơi làm trẻ mệt mỏi,căng thẳng không gây hứng  thú cho trẻ, đặc biệt chưa làm nổi bật chủ điểm về thế giới động vật trong việc tổ  chức học tập cho trẻ mẫu giáo vì vậy kết qua đạt được còn rất thấp. 3.2. Hệ thống trò chơi học tập 3.2.1. Trò chơi 1: Hái quả ­ Chuẩn bị : Các loại quả bằng bìa, hoặc tranh lô tô về các loại quả(cam, táo,  na...).  Số hình nhiều hơn số lượng trẻ tham gia chơi, mỗi loại quả này có số lượng  nhiều hơn số lượng cô yêu cầu trẻ hái. Treo các loại quả này lên một cành cây. . ­ Luật chơi: Chỉ hái những quả cùng loại. ­ Cách chơi : Cô gọi 2­3 trẻ lên. Mỗi trẻ hái  một loại quả theo cùng một số  lượng mà cô yêu cầu,trẻ  thi đua xem ai hái nhanh, đủ, đúng.Trẻ  khác hát: Nhanh  nhanh bạn ơi và kiểm tra xem bạn hái có đúng không . 3.2.2. Trò chơi 2: Hãy làm lại như cũ ­ Chuẩn bị : Một số đồ vật : cây,gấu,thỏ,gà,lợn hoặc ô tô,búp bê,bóng... ­  Luật chơi : Không được mở mắt khi đang chuyển chỗ đồ chơi. ­ Cách chơi : Cô giơ đồ chơi cho trẻ gọi tên, gọi một số trẻ lên bày đồ chơi   theo yêu cầu của cô. 10
  11. Trẻ nhắm mắt, cô đổi chỗ 1­2 đồ chơi. Trẻ mở mắt xem có gì thay đổi, thay  đổi thế nào.Gọi một trẻ lên xếp lại như cũ. Trẻ nhắm mắt lại,cô thay thế đồ chơi này bằng đồ chơi khác, trẻ mở mắt ra,   nói xem cái gì đã được thay thế,ở vị trí nào ?. Lúc đầu chỉ đổi chỗ 1­2 đồ chơi, sau đó tăng dần. 3.2.3.  Trò chơi 3 : Đoán xem ai vào ­ Chuẩn bị : Khăn bịt mắt. ­ Luật chơi: + Không được kéo khăn ra khi chưa có hiệu lệnh. + Đi vào phải thật nhẹ nhàng. ­ Cách chơi: Chọn 5­7 trẻ đứng ra ngoài, những trẻ  còn lại đứng thàng vòng   tròn. Chọn một trẻ  đứng vào giữa vòng tròn, cho trẻ  đó quan sát kĩ cách đứng  ở  vòng tròn. Sau đó bị  mắt lại. Cô chỉ  định 2­3 trẻ  trong số  những trẻ  ra ngoài, lần  lượt đi thật nhẹ nhàng đứng vào vòng tròn. Cô hô “Xong rồi”, trẻ đứng ở giữa vòng   mở mắt ra và nói tên bạn mới vào.Khi trẻ bịt mắt nói đúng tên thì trẻ bị nói đúng tên  sẽ  vào bịt mắt thay Nếu trẻ bị bịt mắt nói không đúng thì sẽ  phải bịt mắt một lần   nữa. 3.2.4. Trò chơi 4: Trốn tìm ­ Chuẩn bị : Những đò chơi sẵn có ở lớp. (búp bê, thỏ, gấu ...) ­ Luật chơi : Đếm tới 5 mở mắt đi tìm. ­ Cách chơi : Cô đặt từng đồ chơi lên bàn và hỏi. “ Đây là những con gì ?”.Trẻ  trả  lời (“ búp bê, gấu, thỏ, gà, vịt...”). Cô nói   tiếp “ các bạn búp bê, gấu, thỏ, gà,vịt...rất muốn chơi trốn tìm với các con. Ai thích  chơi với các bạn nào ? Cô gọi 2 trẻ lên chơi, các cháu nhắm mắt lại, cô đếm đến 5 thì các cháu mở  mắt xem các con vật trốn đi đâu. Còn các cháu khác theo dõi xem bạn nói có đúng   không. Khi trẻ nhắm mắt, cô giấu đồ  chơi vào những chỗ trẻ  ít để  ý và đếm tới 5  thì trẻ mở mắt đi tìm. Khi tìm được, trẻ giơ cao đồ chơi và nói vị trí mình tìm thấy . 3.2.5.  Trò chơi  5 : Đoán xem ai mới ra ­ Chuẩn bị: Khăn bịt mắt. ­ Luật chơi: Không được kéo khăn ra khi chưa có hiệu lệnh. 11
  12. ­ Cách chơi: Cho trẻ đứng thành vòng tròn rồi cho 1 trẻ đứng vào giữa vòng   tròn, yêu cầu trẻ quan sát kỹ các bạn đang đứng trong vòng tròn.Sau đó bịt mắt trẻ  lại, cô giáo chỉ  định 2 ­3 trẻ  đi ra ngoài thật nhẹ  nhàng. Khi giáo viên hướng dẫn  nói: “ Bỏ khăn ra”, trẻ đứng giữa tháo khăn bịt mặt ra và nói tên bạn mới ra.  Khi trẻ  bịt mắt nói đúng tên thì trẻ  bị  nói đúng tên sẽ  vào bịt mắt thay. Nếu trẻ bị  bịt mắt  nói không đúng thì sẽ phải bịt mắt một lần nữa. 3.2.6. Trò chơi 6: Con này ăn gì ­ Chuẩn bị : Các bức tranh con vật và các loại thức ăn: cỏ, thịt,lúa, gạo, sữa,   cá ­ Luật chơi : Khi hết thời gian mà ai chưa nối xong sẽ phải nhảy lò cò. ­ Cách chơi : Cô phát một tờ giấy, trong đó có hình vẽ con vật và thức ăn của   chúng và yêu cầu trẻ nối hình con vật với thức ăn của chúng. Có thể tiến hành dưới  nền nhạc trong vòng 2 phút, dưới hình thức thi đua: Ai tìm đúng và xong trước thì  thắng. 3.2.7. Trò chơi 7: Tìm chỗ sai ­ Chuẩn bị : Các tờ giấy A4  hoặc to hơn, trên đó có hình vẽ 4­5 con vật gắn   sai các bộ phận. Ví dụ: Con gà chân có màng, con vịt chân không có màng, mỏ của con gà gắn   nhầm vào mỏ của con vịt. ­ Luật chơi : Ai khoanh không đúng sẽ phải kêu tiếng của con vật đó. ­ Cách chơi : + Chơi theo nhóm hoặc cá nhân. + Cô đưa bức tranh và nói với trẻ: bác họa sĩ vẽ nhầm một số bộ phận của   các con vật. Bây giờ  các cháu (các đội) hãy tìm nhanh giúp bác các chỗ  sai để  bác  sửa lại, tìm được chỗ nào sai thì các cháu khoanh tròn giúp bác. Khi trẻ tìm xong cô   có thể trò chuyện, hỏi trẻ: "Vì sao cháu cho là sai?" để trẻ giải thích, trẻ nào (nhóm  nào) tìm được nhiều nhất, nhanh nhất vả đúng nhất thì thắng cuộc. 3.2.8. Trò chơi 8 : Hãy kể nhanh ­ Chuẩn bị :  Một quả bóng ­ Luật chơi :Không trả lời được phải hát một bài. ­ Cách chơi : + Cô và trẻ ngồi theo vòng tròn. Cô nói hiện tượng và ném bóng đến trẻ nào,  trẻ đó nói hành động, công việc và thái độ cần thể hiện đối với cây cối. ­ Ví dụ: 12
  13. Cô nói: Cây héo ­ Trẻ  nói: Tưới nước cho cây; Cô nói: Cây có sâu bọ  phá   hoại ­ Trẻ nói: Bắt sâu. 3.2.9.  Trò chơi 9: Tìm đúng số nhà ­ Chuẩn bị : Số nhà và những hình tam giác, tròn, vuông hoặc các con vật(gà,  vịt, chó, mèo). ­ Luật chơi : Vào nhầm nhà phải làm cáo. ­ Cách chơi : Có thể  tổ  chức cho trẻ  chơi ngoài trời. Cô vẽ  trên sân những  ngôi nhà hình tam giác, hình vuông, hình tròn(thật rộng) phát cho trẻ mỗi trẻ một”số  nhà”. Một trẻ làm “cáo”, những trẻ khác làm thỏ. Lần 1 : Khi “Cáo” đuổi chạy về nhà của mình. Lần 2 : Các chú Thỏ đổi số nhà cho nhau. 3.2.10.  Trò chơi 10 : Cửa hàng bán hoa ­ Chuẩn bi: ­ Hoa thật hoặc tranh  ảnh của một số loại hoa: th ược dược, hoa   hồng, hoa huệ, cẩm chướng , lay ơn, đồng tiền, cúc vàng... ­ Luật chơi:  +Không nói tên tên hoa mà phải tả  lại được nét đặc trưng của   loại hoa định mua. + Lắng nghe và bổ sung những điểm còn thiếu. ­ Cách chơi: Tổ  chức thành một quâỳ  bán hoa, chọn một trẻ  làm người bán  hoa. Trẻ  khác làm người mua. Người mua khi đến mua không nói tên hoa mà phải  tả  lại nét đặc trưng của loại hoa đó, nếu người mua nói chưa rõ, thì các bạn khác   bổ  sung chi tiết cho rõ hơn. Người bán phải đưa ra đúng hoa thì người mua mới  cầm. Nếu người bán đưa ra không đúng thì người mua mô tả  lại lần thứ  hai. Nếu   người bán vẫn đưa ra không đúng thì phải đổi vai chơi. 3.2.11. Trò chơi 11: Hoa nào quả ấy ­ Chuẩn bị: 4­ 5 bộ lô tô hoa quả. ­ Luật chơi: Xếp đúng hoa nào, quả ấy. ­ Cách chơi: Phát cho mỗi cháu một bộ  lô tô hoa, quả. Sau đó cho các cháu  chọn hoa của quả nào thì để về quả ấy, thi ai chọn và xếp đúng nhanh. 3.2.12. Trò chơi 12: Chuông reo ở đâu ­ Chuẩn bị: Những đồ vật có thể phát ra âm thanh. ­ Luật chơi: Không mở mắt khi bạn rung chuông. ­ Cách chơi: Cô cầm chuông, một trẻ bịt mắt đứng bên cạnh. Cô rung chuông   khi thì ở trên đầu, khi thì ở phía trước hoặc phía sau, bên phải, bên trái. Trẻ xác định  13
  14. hướng chuông reo bằng cách chỉ tay về hướng đó và nói bằng lời. Nếu trẻ đoán sai  phải đổi chỗ cho bạn khác và trò chơi tiếp tục. 3.2.13. Trò chơi 13:Trò chơi thi xem ai nhanh ­ Chuẩn bị: Mỗi trẻ một đồ chơi, mỗi đồ chơi có những màu sắc khác nhau. ­ Luật chơi: Những trẻ có đồ chơi theo đúng yêu cầu thì chạy lê với cô. ­ Cách chơi: Cho trẻ  ngồi theo hình chữ  U. Cô phát cho trẻ  mỗi trẻ  một đồ  chơi và yêu cầu xem đồ chơi đó là hình gì, cái gì? 3.2.14. Trò chơi 14: Con gì biến mất ­ Chuẩn bị: 3 – 4 con vật đồ chơi quen thuộc mà trẻ vẫn chơi hằng ngày. ­ Luật chơi: KhônG mở mắt khi cô dấu đồ chơi. ­ Cách chơi: Trẻ ngồi theo hình chữ U. Cô cầm đồ chơi vừa xếp lần lượt lên  bàn theo hang ngang hoặc vòng tròn vừa hỏi trẻ: “ Đố các cháu biết cô có những con   gì?’’. Cô xếp đến tên con nào trẻ nói tên con ấy. Cô hỏi tiếp: “ Bây giờ các cháu hãy  nhắm mắt lại xem con gì biến mất nhé. 3.2.15. Trò chơi 15:  Về đúng nhà của mình ­ Chuẩn bị: + 3 thẻ : 1 thẻ có 5 chấm tròn, 1 thẻ có 4 chấm tròn, một thẻ có 3 chấm tròn. + Tranh lô tô : 5 tranh gia đình có 5 người (bố, mẹ, và 3 con), 4 tranh gia đình   có 4 người (bố, mẹ, và 2 con),  3 tranh gia đình có 3 người (bố, mẹ, và 1con). + Vẽ 3 vòng tròn bằng nhau và để vào mỗi vòng tròn một thẻ. Có chấm tròn. ­ Luật chơi: Trẻ phải tìm đúng nhà của mình. ­ Cách chơi: Phát cho mỗi cháu một tranh lô tô về gia đình, cháu xem lô tô và  nhận nhà có số chấm tròn bằng số người trong gia đình , cho trẻ đi xung quanh, vừa  đi vừa hát. Khi có tín hiệu: “ Trời mưa”, thì các cháu chạy nhanh về  đúng số  nhà   của mình. 4. Kết luận Qua việc tìm hiểu và nghiên cứu về  đề  tài  “Sử  dụng các trò chơi  học tâp   nhằm phát triển các thao tác tư duy cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua hoạt động   khám   phá về  môi trường xã hội  ở  trường   mầm non”. Tôi nhận thấy tầm quan   trọng của việc tổ  chức các trò chơi đối với trẻ  vô cùng quan trọng, là con đường  cho trẻ phát triển trí tuệ, khả  năng  tư  duy, trí tưởng tượng khả năng sáng tạo làm   nền móng vững chắc cho con đường phát triển sau này của trẻ. Ở trường mầm non   việc tổ  chức các trò chơi rất được chú trọng và quan tâm.Song trên thực tiễn còn  nhiều khó khăn hạn chế nên việc tổ chức hai hoạt động trên cho trẻ ở trường mầm  14
  15. non còn khá nhiều bất cập, chưa tạo được môi trường tốt nhất cho trẻ  hoạt động   và vui chơi. 15
  16. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Đào Thanh Âm, Năm xuất bản(2003),  Giáo dục học mầm non tập 1,2,3,   NXB Đại học Sư phạm. [2]. Phạm Thị  Châu­ Nguyễn Thị  Oanh­ Trần Thị  Sinh,Năm xuất bản (2002),  Giáo dục học mầm non, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. [3]. Nguyễn Ánh Tuyết, Năm xuất bản ( 2005), giáo dục mầm non­  những  vấn   đề lý luận và thực tiễn, NXB Đại học Sư phạm. [4]. Trần Thị Trọng­ Phạm Thị Sửu, Năm xuất bản (2007),  Tuyển tập trò chơi,   bài hát, thơ truyện mẫu giáo, NXB Giáo dục. [5]. Hà Thế Ngữ­ Đặng Vũ Hoạt, Năm xuất bản (1987), Giáo dục học tập 1,2,   NXB Giáo dục. 16
  17. PHỤ LỤC 17
  18. GIÁO ÁN LĨNH VỰC PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC (KHÁM PHÁ XàHỘI) Chủ điểm: Các loại phương tiện giao thông Chủ đề: Phân nhóm các loại phương tiện giao thông Độ tuổi: 5 ­ 6 tuổi Thời gian: 25 ­30p Người soạn,dạy: Nguyễn Thị Bích Nhi Ngày dạy: 15/3/2016 I. Mục tiêu 1. Kiến thức. ­ Trẻ  biết tên, đặc điểm đặc trưng của các nhóm phương tiện giao thông  đường bộ, đường thủy, đường hàng không. ­ Biết phân loại phương tiện giao thông theo môi trường hoạt động, công  dụng và lợi ích. 2. Kĩ năng. ­ Phát triển khả  năng phán đoán, so sánh, phân loại phương tiện giao thông,  phát triển ngôn ngữ mạch lạc. 3.Giáo dục. ­ Giáo dục trẻ  biết cách cháp hành luật lệ  an toàn giao thông, biết một số  hành vi văn minh khi đi trên các phương tiện giao thông. II. Chuẩn bị 1.Chuẩn bị cho cô. ­ Bài hát thật là hay, anh phi công ơi, em tập lái ô tô. ­ Tranh về các loại phương tiện giao thông. 2. Chuẩn bị cho trẻ. ­ Tranh các loại phương tiện giao thông, thẻ chữ đúng, thẻ chữ sai. III. Cách tiến hành               Hoạt động của cô    Hoạt động của trẻ Hoạt động 1: Ổn định tổ chức, giới thiệu bài ­ Xin chào mừng quý vị và các bạn đến với chương  ­ Trẻ lắng nghe 18
  19. trình “Bé với an toàn giao thông”. Đến với chương   trình của chúng ta ngày hôm nay, tôi xin trân trọng  giới thiệu sự có mặt của 3 đội chơi. + Đội thứ 1: là đội nấm vàng. + Đội thứ 2: là đội nấm đỏ. + Đội thứ 3: là đội nấm xanh. ­ Chương trình của chúng ta gồm 3 phần thi: ­ Trẻ lắng nghe + Cùng chung sức. + Vượt qua thử thách. + Trổ tài cùng bé. ­ Xin mời các đội chơi ổn định vị trí để các phần thi   ­ Trẻ lắng nghe được phép bắt đầu. Hoạt động 2: Phân loại phương tiện giao thông  theo môi trường hoạt động ­ Xin mời 3 đội chơi giới thiệu về vị trí của mình. ­ Trẻ lắng nghe ­  Ở  phần thi “cùng chung sức” 3 đội có nhiệm vụ  lên gián các phương tiện giao thông đúng với môi  trường hoạt động. Khi gián xong, chạy về  đập tay  bạn kế tiếp, rồi di chuyển về phía cuối hàng. ­   Luật   chơi:   Phương   tiện   nào   đặt   sai  vị   trí   hoặc  chưa được bạn đập tay mà đã chạy lên dán thì sẽ  không được tính điểm. + Đội nấm vàng sẽ dán các phương tiện giao thông  đường bộ + Đội nấm đỏ  sẽ  dán các phương tiện giao thông   đường thủy + Đội nấm xanh sẽ dán các phương tiện giao thông  đường hàng không ­ Tổ chức cho trẻ chơi ­ Trẻ chơi ­ Nhận xét , đánh giá kết quả ­ Trẻ lắng nghe Hoạt   động   3:   Công   dụng   và   lợi   ích   của   các  phương   tiện   giao   thông,   so   sánh   tìm   ra   những   điểm giống và khác nhau của các phương tiện  giao thông ­ Vừa rồi các đội vừa trải qua phần thi “cùng chung  sức” vô cùng sôi động. Bây giờ, xin mời các đội   ­ Trẻ lắng nghe chơi hướng lên đây để  cùng tham gia vào phần thi  “Vượt qua thử thách. ­ Các đội hãy quan sát thật kĩ các bức tranh và trả  lời thật nhanh các câu hỏi mà ban tổ  chức đưa ra   ­Trẻ lắng nghe nhé! (Cô   cho   trẻ   quan   sát   một   số   bức   tranh   về   các  19
  20. phương tiện giao thông. Nêu những đặc điểm đặc  trưng nhất của từng nhóm phương tiện giao thông,  so  sánh  sự  khác  nhau của   từng  phương  tiện  giao   thông bằng cách trả lời câu hỏi). * Đường bộ: ­ Xe đạp ­ Phương tiện giao thông nào chạy bằng sức đạp  của con người và không tốn nhiên liệu khi chạy? ­ Tàu hỏa ­ Phương tiện giao thông nào chạy trên đường ray? ­ Ô tô ­ Phương tiện giao thông nào chạy bằng động cơ,  có 4 bánh, khi ngồi trên phương tiện giao thông này  thì phải thắt dây an toàn? ­ Phương tiện giao thông gì có hai bánh, chạy bằng   ­ Xe máy động cơ và khi ngồi trên xe thì không được chở quá  2 người, phải độ mũ bảo hiểm? * Đường thủy: ­ Phương tiện giao thông gì có cánh buồm? ­ Thuyền buồm ­ Phương tiện giao thông gì không chạy bằng động  ­ Thuyền thúng cơ mà phải chèo bằng tay? ­ Phương tiện giao thông đường thủy nào chở được  ­ Tàu thủy nhiều người và hàng hóa nhất? *Đường hàng không: ­ Máy bay ­  Phương   tiện   giao   thông   đường   hàng   không   nào  thường được nhiều người sử dụng nhất? ­ Trực thăng ­   Phương   tiện   giao   thông   nào   thường   được   dùng  trong quân sự? ­ Kinh khí cầu ­   Phương   tiện   gì   bay   trên   bầu   trời   có   hình   dáng  giống như cái dù thường được sử dụng để phục vụ  du lịch ? ­ Đều dùng để  chở  người và  => Tất cả các loại phương tiện giao thông trên đều  hàng hóa giống nhau ở điểm gì? ­   Khác   nhau   ở   tên   gọi,   đặc  ­ Chúng khác nhau ở điểm gì? điểm, cấu tạo và môi trường  hoạt động. ­Trẻ lắng nghe =>Cô chốt lại: các phương tiện giao thông tuy có  khác   nhau   về   tên   gọi,   đặc   điểm   cấu   tạo   và   môi  trường hoạt động nhưng đều có đặc điểm chung là  dùng để chở người và hàng hóa từ  nơi này đến nơi  ­Trẻ trả lời khác và được gọi chung là phương tiện giao thông ­  Giáo  dục   trẻ:   Khi  đi  trên  các   phương  tiện   giao  thông thì các con phải như thế nào? ­Trẻ vỗ tay Hoạt động 4: Trò chơi củng cố ­ Phần thi “Trổ  tài cùng bé” sẽ  được bắt đầu sau  20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2