intTypePromotion=1

Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng cổ Phước Tích-Phong Hòa Phong Điền-Thừa Thiên Huế

Chia sẻ: Tran Van Huy | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:98

1
370
lượt xem
122
download

Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng cổ Phước Tích-Phong Hòa Phong Điền-Thừa Thiên Huế

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến những bước phát triển mạnh mẽ của quá trình khu vực hóa, toàn cầu hóa. Sự phát triển mới trong quan hệ giao lưu quốc tế đòi hỏi mỗi quốc gia, dân tộc phải khẳng định tính độc lập tự chủ của mình. Nhân tố quan trọng nhất để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của mỗi nước chính là sức mạnh văn hóa. Chính vì vậy, vấn đề gìn giữ và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống không còn là vấn đề của từng quốc gia riêng rẽ mà đã mang tính...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng cổ Phước Tích-Phong Hòa Phong Điền-Thừa Thiên Huế

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT KHOA NGỮ VĂN & VĂN HÓA HỌC NGÀNH VĂN HÓA HỌC -------- ------- VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LÀNG CỔ PHƯỚC TÍCH – PHONG HÒA PHONG ĐIỀN – THỪA THIÊN HUẾ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC K32 GVHD : Th.S Võ Thị Thùy Dung SVTH : Trần Văn Huy Đà Lạt, tháng 5 năm 2012
  2. LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khóa luận này, cũng như trong quá trình học tập tại trường. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới : - Ban giám hiệu Trường Đại Học Đà Lạt. - Quý thầy cô khoa Ngữ Văn & Văn hóa Học đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường. - Thư viện tổng hợp tỉnh Thừa Thiên Huế. - UBND huyện Phong Điền, Phòng Văn hóa thông tin huyện. - UBND xã Phong Hòa, Ông Nguyễn Thế, Phó phòng văn hóa thông tin Huyện, Trưởng ban quản lý làng cổ Phước Tích, Bác Hoàng Tấn Minh, trưởng thôn Phước Phú cùng toàn thể bà con dân làng Phước Tích đã cho tôi nhiều tư liệu quý báu để hoàn thành khóa luận. Nhân đây, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình người thân và bạn bè đã quan tâm, động viên tôi trong quá trình học tập cũng như làm khóa luận. Đặc biệt tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc tới Th.S Võ Thị Thùy Dung đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này. Đà Lạt, ngày 25 tháng 5 năm 2012 Tác giả Trần Văn Huy
  3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những kết quả và số liệu trong khóa luận là trung thực và chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình thức nào. Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước khoa và nhà trường về lời cam đoan này. Đà Lạt, ngày 25 tháng 5 năm 2012 Tác giả Trần Văn Huy
  4. M ỤC L ỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................................3 1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................3 2. Mục đích nghiên cứu ..........................................................................................4 3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ..................................................................................4 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................................6 5. Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................6 6. Đóng góp của khóa luận .....................................................................................7 7. Bố cục của khóa luận ..........................................................................................7 CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN VÀ NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH LÀNG PHƯỚC TÍCH ..............................................................................................8 1.1. Điều kiện tự nhiên............................................................................................8 1.1.1. Vị trí địa lý hành chính .............................................................................8 1.1.2. Đặc điểm khí hậu ......................................................................................9 1.1.3. Hệ thống giao thông ...............................................................................10 1.1.4. Hệ thống sông ngòi, ao hồ......................................................................11 1.2. Điều kiện kinh tế, xã hội................................................................................13 1.2.1. Dân số .....................................................................................................13 1.2.2. Tình hình kinh tế .....................................................................................14 1.2.3. Tình hình xã hội ......................................................................................14 1.3. Nguồn gốc hình thành làng Phước Tích ........................................................15 1.3.1. Lịch sử hình thành làng Phước Tích ......................................................15 1.3.2. Ngài khai canh làng Phước Tích ............................................................17 CHƯƠNG 2. VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG LÀNG CỔ PHƯỚC TÍCH ........20 2.1. Văn hóa vật chất ...........................................................................................20 2.1.1. Văn hóa cảnh quan kiến trúc của làng ...................................................20 2.1.2. Văn hóa vật thể đình, chùa, đền miếu, nhà rường cổ.............................21 2.2. Văn hóa tinh thần...........................................................................................22 2.2.1. Tín ngưỡng .............................................................................................22 2.2.2. Tôn giáo ..................................................................................................38 2.2.3. Phong tục tập quán.................................................................................39 1
  5. 2.2.4. Lễ hội ......................................................................................................49 2.2.5. Trò chơi dân gian ...................................................................................52 2.3. Văn hóa xã hội ...............................................................................................56 2.3.1. Dòng họ ..................................................................................................56 2.3.2. Văn hóa dòng họ, xóm, phe ....................................................................56 2.4. Văn hóa làng nghề truyền thống ....................................................................57 CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LÀNG PHƯỚC TÍCH ........................................................59 3.1. Vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa làng cổ Phước Tích.............59 3.1.1. Những thành tựu của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa ......59 3.1.2. Những hạn chế của việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa .........60 3.1.3. Nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém trong bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa .............................................................................................................63 3.2. Những giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa làng cổ. ..........64 KẾT LUẬN ..............................................................................................................75 TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................77 P H Ụ LỤ C 2
  6. M Ở Đ ẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến những bước phát triển mạnh mẽ của quá trình khu vực hóa, toàn cầu hóa. Sự phát triển mới trong quan hệ giao lưu quốc tế đòi hỏi mỗi quốc gia, dân tộc phải khẳng định tính độc lập tự chủ của mình. Nhân tố quan trọng nhất để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của mỗi nước chính là sức mạnh văn hóa. Chính vì vậy, vấn đề gìn giữ và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống không còn là vấn đề của từng quốc gia riêng rẽ mà đã mang tính toàn cầu và khu vực. Phước Tích là một làng cổ của tỉnh Thừa Thiên Huế có nền văn hóa lâu đời. Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử dân làng vẫn giữ gìn và tiếp tục phát huy những tinh hoa trong vốn văn hóa truyền thống của làng mình. Tuy nhiên, dưới tác động của quá trình đô thị hóa, sự giao lưu văn hóa phần nào đã làm mai một dần văn hóa truyền thống. Những năm gần đây, xu hướng mở cửa đã thúc đẩy nền kinh tế, xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế phát triển và tăng trưởng nhanh, đó là dấu hiệu đáng mừng ở một tỉnh mà đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên trong một chừng mực nhất định, những tác động không thuận lợi của cơ chế thị trường nếu chúng ta không có những định hướng, giải pháp kịp thời thì hậu quả thật khó lường, bởi tác động đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến không gian lịch sử, văn hóa, cảnh quan truyền thống của các di tích lịch sử - văn hóa, không chỉ riêng ở thành phố Huế, mà còn có thể xảy ra ở nhiều địa phương khác. Làng cổ Phước Tích cũng không phải là một ngoại lệ. Trong tinh thần hướng về cội nguồn, hướng về văn hóa làng xã - nơi nuôi dưỡng văn hóa dân tộc - việc tìm hiểu các giá trị văn hóa truyền thống của ngôi làng cổ Phước Tích để từng bước bảo tồn và tiến hành phục dựng các giá trị văn hóa là một việc làm vô cùng cấp thiết. Bên cạnh đó, việc bảo tồn - phát huy các giá trị văn hóa truyền thống làng Phước Tích hiện nay còn nhiều hạn chế do các điều kiện kinh tế, xã hội và sự nhận thức của con người còn nhiều bất cập so với yêu cầu đặt ra. Vì vậy, vấn đề bảo tồn 3
  7. và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống ở làng hiện nay cần được nghiên cứu cả trên bình diện lý luận lẫn thực tiễn. Chính vì những lý do trên mà chúng tôi đã chọn đề tài “Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng cổ Phước Tích – Phong Hòa – Phong Điền – Thừa Thiên Huế” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình. Hy vọng qua đó có thể góp một phần công sức trong việc giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc nói chung cũng như cho sự phát triển của làng cổ Phước Tích nói riêng. 2. Mục đích nghiên cứu Đề tài khảo sát, thu thập tư liệu về tình hình văn hóa – xã hội truyền thống của làng từ lúc hình thành cho đến nay, qua đó cho thấy khả năng bảo tồn và phát huy trong tương lai. Bởi bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Việc điều tra sưu tầm, nghiên cứu văn hóa của làng cổ Phước Tích (Phong Hòa – Thừa Thiên Huế) cũng không ngoài mục tiêu đó. Thông qua việc nghiên cứu, những giá trị văn hóa của làng cổ sẽ được khắc họa. Trên cơ sở đó, người nghiên cứu sẽ đề xuất những biện pháp khôi phục lại những vẻ đẹp truyền thống, phục dựng lại nghề gốm cổ truyền, các công trình mang sắc thái văn hóa của địa phương. 3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Văn hóa làng là một trong những nét đặc sắc của nền văn hóa Việt Nam, bởi vậy nó đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của không ít các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Có thể kể đến như Việt Nam Phong Tục của Phan Kế Bính (Nxb.Tp. Hồ Chí Minh, 1995), Cơ sở văn hóa Việt Nam của Ngô Quốc Vượng (Nxb. Giáo dục, 1999), Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh (Nxb. Văn hóa Thông tin, 2002), Mấy vấn đề văn hóa làng xã Việt Nam trong lịch sử của Phan Đại Doãn (Nxb. Chính trị quốc gia, 2004). Đây được xem là những công trình tiêu biểu, có đóng góp to lớn trong việc tìm hiểu, nghiên cứu văn hóa làng của người Việt. Đồng thời, đây cũng là những công trình đóng vai trò gợi mở, định hướng cho người nghiên cứu trong quá trình thực hiện khóa luận. 4
  8. Nghiên cứu văn hóa Huế nói chung và làng cổ Phước Tích nói riêng đã thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu văn hóa. Được biết đến sớm nhất là bản chép tay Nghề gốm Phước Tích, (1971) của cụ Nghè Lê Trọng Ngữ (người làng Phước Tích). Cuốn sách đã ghi chép lại lịch sử hình thành nghề gốm, vùng đất chọn làm gốm, cách thức cũng như quy trình sản xuất gốm. Tuy nhiên, tác giả chỉ dừng lại ở việc viết về nghề gốm truyền thống của làng mà chưa đi sâu vào các giá trị văn hóa khác của làng như : nhà rường cổ, đền miếu… Bản chép tay Nghề gốm Phước Tích của Lê Trọng Ngữ đã làm tiền đề cho các nhà nghiên cứu đi sau tìm hiểu về làng cổ này. Dựa vào những tư liệu của người đi trước, tác giả Nguyễn Hữu Thông đã công bố công trình Huế - Nghề và làng nghề thủ công truyền thống, (Nxb. Thuận Hóa, 1994). Cũng giống như Lê Trọng Ngữ, tác giả cũng chỉ mới đề cập đến phương diện nghề gốm truyền thống của làng mà chưa nêu lên được các giá trị văn hóa khác. Năm 2004, hội Kiến trúc sư Việt Nam - Sở Văn hoá Thông tin Thừa Thiên Huế - Ủy ban nhân dân huyện Phong Điền đã xuất bản công trình Làng di sản Phước Tích. Điều đáng ghi nhận là công trình đã đề cập khá toàn diện về những giá trị truyền thống của làng. Gần đây nhà nghiên cứu văn hóa Huế Nguyễn Hữu Thông (chủ biên) đã công bố công trình Từ Kẻ Đôộc đến Phước Tích – chân dung ngôi làng gốm cổ bên dòng Ô Lâu do Nxb. Thuận Hóa ấn hành năm 2011. Trong cuốn sách này, ông đã chỉ ra cho chúng ta thấy bức tranh văn hóa khá toàn diện về làng Phước Tích. Tuy nhiên cũng chỉ mới dừng lại ở những nét văn hóa tiêu biểu của làng như nghề gốm truyền thống, kiến trúc, tín ngưỡng tâm linh, mà chưa đưa ra những biện pháp, cũng như định hướng để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của làng. Ngoài những công trình nghiên cứu kể trên, cũng có khá nhiều bài viết tìm hiểu về văn hóa làng Phước Tích như GS.TS.KTS Hoàng Đạo Kính có bài “Làng cổ Phước Tích – thử nhìn nhận các giá trị và đề xuất hướng phát triển nối tiếp” (in trong Kỷ yếu Làng di sản Phước Tích, 2004) đã cho chúng ta biết được những giá trị văn hóa đặc sắc của làng như nhà rường, nhà vườn, nghề gốm…và cũng đã đề xuất được các hướng phát triển cho làng Phước Tích. Tuy nhiên, vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng chưa được ông quan tâm chú trọng. 5
  9. Cũng trong Kỷ yếu Làng di sản Phước Tích, tác giả Nguyễn Phước Bảo Đàn với bài viết “Làng gốm Phước Tích – thực trạng và triển vọng” đã đưa ra nhiều thông tin thú vị về nghề gốm truyền thống của làng cùng những thuận lợi và khó khăn mà làng gốm đang gặp phải và những triển vọng phát triển trong tương lai. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu một cách tổng quan hoặc đề cập đến làng Phước Tích ở một vài khía cạnh đơn lẻ. Chưa có một công trình nào đi sâu tìm hiểu vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng c ổ. Kế thừa những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, cùng quá trình điền dã tại làng, chúng tôi mạnh dạn chọn vấn đề này làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình. Hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ bé vào công cuộc bảo tồn và phát huy các giá trị của nền văn hóa dân tộc nói chung cũng như văn hóa truyền thống làng Phước Tích nói riêng. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Khóa luận tập trung nghiên cứu các giá trị văn hóa của làng cổ Phước Tích với những biểu hiện phong phú, đa dạng mà phức tạp của nó, để qua đó tìm ra giải pháp bảo tồn và phát huy. Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là toàn bộ các giá trị văn hóa truyền thống như: phong tục tập quán, lễ hội, tôn giáo tín ngưỡng, nghề thủ công truyền thống, các công trình văn hóa…, của làng Phước Tích còn tồn tại đến nay. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp chủ yếu được chúng tôi sử dụng trong quá trình thực hiện khóa luận là phương pháp điền dã dân tộc học. Trong quá trình điền dã chúng tôi đã sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu, quan sát, tham dự…nhằm ghi nhận đầy đủ các thông tin và nội dung phù hợp với đề tài. Phương pháp phân tích, tổng hợp là phương pháp quan trọng được sử dụng trên cơ sở các nguồn tư liệu thu thập được. Nhằm đem lại những kết luận khoa học và khách quan nhất. Ngoài ra, chúng tôi còn vận dụng các phương pháp như liên ngành Văn hóa – Xã hội học, phương pháp định tính…, một cách phù hợp nhất đáp ứng mục tiêu của đề tài. 6
  10. 6. Đóng góp của khóa luận Thực hiện khóa luận, chúng tôi mong muốn góp phần mang đến cái nhìn đầy đủ, toàn diện về văn hóa truyền thống của làng Phước Tích. Qua đó chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong công tác bảo tồn để đề xuất giải pháp cho việc phục hồi, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của làng cổ Phước Tích – Phong Hòa – Thừa Thiên Huế. Ngoài ra, khóa luận sẽ góp phần vào việc làm sáng tỏ thêm một mảng trong bức tranh văn hóa đa màu của dân tộc mà Phước Tích là vùng đất điển hình. 7. Bố cục của khóa luận Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của khóa luận được triển khai trong 3 chương : Chương 1. Tổng quan về địa bàn và nguồn gốc hình thành làng Phước Tích Chương 2. Văn hóa truyền thống làng cổ Phước Tích Chương 3. Thực trạng, giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa làng Phước Tích 7
  11. CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN VÀ NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH LÀNG PHƯỚC TÍCH 1.1. Điều kiện tự nhiên 1.1.1. Vị trí địa lý hành chính Làng cổ Phước Tích được bao bọc bởi sông Ô Lâu, giáp với tỉnh Quảng Trị, cách Thành phố Huế 40km về phía bắc, thành lập từ năm 1470 dưới thời Lê Thánh Tông, được đánh giá vào hàng vẹn nguyên, quý giá không chỉ ở miền Trung mà còn của cả nước. Kết quả điều tra bước đầu cho biết trong số 117 ngôi nhà của làng Phước Tích hiện còn 27 ngôi nhà rường - vườn truyền thống, trong đó có 12 ngôi nhà có giá trị đặc biệt về mặt kỹ thuật và thẩm mỹ. Không những vậy, làng còn có hàng loạt hệ giá trị văn hóa được xem là đầy đủ, độc đáo và hiếm hoi. Cụ thể như: hệ thống thiết chế kiến trúc văn hóa tín ngưỡng như đình, chùa, hệ thống nhà thờ họ, đền, miếu, am... cảnh quan thiên nhiên và cảnh quan xóm làng nhuần nhị, xanh tươi ngút ngàn. Đặc biệt là không gian và văn hóa sống cộng đồng đặc trưng, thuần khiết của làng quê Việt còn được tiếp tục bảo tồn, duy trì tại làng... Làng Phước Tích xưa thuộc tổng Phò Trạch, Phủ Thừa Thiên, đến năm 1945 thuộc xã Phong Lâu, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Sau này khi sáp nhập huyện và tỉnh thì đổi là xã Phong Hòa, huyện Hương Điền (Phong Điền + Hương Điền), tỉnh Bình - Trị - Thiên (Quảng Bình + Quảng Trị + Thừa Thiên), nay lại phân chia lại theo địa lý như cũ: thôn Phước Phú thuộc xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Về địa lý, làng Phước Tích nằm ở vị trí 16035' độ vĩ Bắc và 107005' độ kinh Đông, có diện tích khoảng 1km2. Địa thế khá đặc biệt : Sông Ô Lâu bao bọc quanh làng trừ lối thông ra ngoài tại Cống (Trước đây gọi là Cống ông Khóa Thạo) ở phía chính Bắc và cầu Phước Tích ở phía Tây - Tây Nam, phía Bắc và Đông Bắc giáp 8
  12. các làng Phú Xuân, Mỹ Xuyên, Mỹ Cang, đi về Ưu Điềm (thị trấn - huyện lỵ cũ của huyện Phong Điền) khoảng 4 km theo hướng Đông Bắc. Phía Tây Nam là làng Mỹ Chánh, chợ và ga Mỹ Chánh, từ ga Mỹ Chánh theo đường sắt vào cố đô Huế là 40 km và theo đường Quốc lộ 1 thì từ cầu Mỹ Chánh ra Quảng Trị là 19 km. Phía Nam là làng Hội Kỳ - nơi có mộ phần ngài Thủy tổ của họ Lê Trọng ở Phước Tích. Làng Phước Tích bao gồm cả Hà Cát xứ ở hữu ngạn sông Ô Lâu dành làm nghĩa trang, nơi để mộ phần của những người quá cố. Đây vốn là một doi cồn cát. Phía Tây Bắc làng có một cái hà (hồ) rộng khoảng 2 mẫu, theo truyền thuyết thì doi cồn cát là cây bút còn cái hồ là nghiên mực.[15,56] Có lẽ do vậy mà người làng Phước Tích thường theo nghiệp bút nghiên và có tiếng là làng hiếu học, nhiều người đỗ đạt, ở thời kỳ nào của lịch sử cũng có người đỗ đạt cao, làm những chức quan to cả văn lẫn võ, có công với triều đình, nhà nước và xã hội. Trong làng còn có 1 đền văn miếu tồn tại cho đến bây giờ, có những cây cổ thụ tuổi thọ đến trên 600 năm như cây Thị ở "miếu Cây Thị" (có bộng rỗng có thể chứa cả 1 tiểu đội du kích trong kháng chiến) hay cây Bàng trước từ đường họ Hồ, cây Cừa (Si) ở Bến cây Cừa cũng có tuổi thọ khoảng 400 năm. Bến cây Cừa là nơi đông người qua lại, người trong làng hay xuống bến gánh nước hoặc xuống tắm, đây cũng là một trong những nơi đưa người quá cố qua Hà Cát xứ bằng thuyền, năm Đinh Tỵ - 1977 do bão lụt nên cây Cừa đã đổ, hiện nay đã có một số gốc Cừa con mọc lại. 1.1.2. Đặc điểm khí hậu Phước Tích nằm trong vùng khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình cao. Số ngày nắng kéo dài trong mùa hạ, thường có gió nồm (Đông Bắc) đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của gió Lào (Tây Nam) loại gió này mang tính chất "phơn" rất nóng và khô cho nhiệt độ càng tăng cao. Dẫn đến làm cho thời kỳ khô nắng kéo dài ảnh hưởng trực tiếp đến công việc sản xuất trong làng. Vào mùa đông nhiệt độ thường xuống thấp thất thường, hay chịu tác động của những đợt áp thấp nhiệt đới dẫn đến mưa lớn kéo dài gây nên bão tố, lũ lụt, xói mòn. 9
  13. Bao quanh Phước Tích là dòng Ô Lâu, đây là ưu đãi của thiên nhiên dành cho mảnh đất này. Dòng sông đã mang lại nguồn lợi lớn cho nhân dân Phước Tích từ bao thế kỷ nay. Do chịu ảnh hưởng chung của địa hình miền Trung nên sông ngắn, độ dốc chênh lệch lớn, vào mùa nắng nước sông xuống thấp, mùa mưa nước dâng lên cao gây lũ lụt. Tuy nhiên dòng sông là nơi có nguồn thủy sản, rong rêu mang giá trị lớn về mặt kinh tế cũng như đời sống sinh hoạt của cư dân làng. 1.1.3. Hệ thống giao thông Về phương diện giao thông, từ xưa Phước Tích đã có nhiều thuận lợi về đường thủy lẫn đường bộ. Dòng Ô Lâu và chi nhánh của nó chảy xuyên qua hầu hết địa phận cư trú của các làng từ Phước Tích, Phú Xuân, Mỹ Xuyên đến Ưu Điềm. Đây là tuyến giao thông đường thủy quan trọng vào bậc nhất không riêng gì đối với làng mà cả đối với nhân dân các xã trong vùng. Từ Phước Tích, người dân có thể sử dụng thuyền để lên rừng khai thác lâm thổ sản, ra đầm phá đến cửa biển vào Thanh Hà - Phú Xuân - Huế để giao lưu kinh tế, văn hóa. Phước Tích cách quốc lộ 1A khoảng 2km nằm trên đường quốc lộ 49B có vị trí thuận lợi cho việc đi lại vận chuyển, khai thác nguyên vật liệu, lưu thông hàng hóa, dễ dàng cho việc đón nhận, tiếp xúc những luồng văn hóa, tư tưởng từ nơi khác tới. Với vị trí giao thông thuận lợi, Phước Tích ngày càng được mở rộng và hoàn chỉnh thêm, góp phần thích đáng cho sự giao lưu kinh tế - văn hóa - xã hội. Điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy tạo đã cho Phước Tích nhiều ưu thế để phát triển một nền kinh tế toàn diện, tác động đến quá trình định cư lập nghiệp, phát triển kinh tế của mỗi người dân ngay từ buổi đầu. Tuy nhiên, do có sông Ô Lâu bao quanh, Phước Tích bị bó lại trong một tổng thể không thể thoát ra được, đất đai không có khả năng mở rộng ra, sự giao lưu bên ngoài bị hạn chế, người dân có cuộc sống khép kín, hướng nội. Điều kiện tự nhiên đã mang lại thuận lợi cùng với khó khăn đến cho nhân dân Phước Tích. Để tồn tại và phát triển cho đến ngày nay người dân Phước Tích phải sống trên những thách thức và trở ngại, phải biết tận dụng những ưu đãi để vượt qua các chướng ngại vật phục vụ cho cuộc sống. 10
  14. 1.1.4. Hệ thống sông ngòi, ao hồ - Sông Ô Lâu Phước Tích không những có giá trị vật thể do bàn tay con người tạo dựng mà có cả những di sản do thiên nhiên ban tặng, hòa quyện, đan xen, tạo cho ngôi làng có được cái giá trị quý hiếm toàn diện. Trong đó phải kể đến dòng sông Ô Lâu, một dòng sông đẹp. Dòng sông được khởi nguồn từ những khe suối của dãy Trường Sơn hùng vĩ, nguồn sông cao hơn mặt nước biển ước khoảng 500 mét, chảy ngang qua địa phận Khe Trăng, Khe Trái, Huỳnh Trúc, Huỳnh Liên, thôn Hòa Mỹ, Phong Thu, Mè, Mỹ Xuyên (phía thượng nguồn) rồi chầm chậm chảy qua dãy đá giăng vào địa phận làng Phước Tích, nương theo đôi bờ, uốn lượn, bao quanh từ phía đầu làng nơi có miếu thờ ngài Khai Canh đến tận phía cuối làng nơi có chùa Phước Bửu. Dòng sông trong xanh ấy đã tưới mát cho những vườn quả, hoa viên, nhờ vậy cây trái trong vườn quanh năm tươi tốt. Những ngày trời quang mây tạnh, dòng sông Ô Lâu trôi chảy êm đềm, mặt sông trong vắt, in rõ hình núi xanh, mây trắng với lũy tre làng, cây Bàng, lò gốm trông thật dịu dàng nhưng cũng có lúc giận hờn, trách móc. Dòng sông thật gần gũi, gắn bó với dân làng từ những niềm vui với người còn sống tại Cồn Dương đến nỗi buồn khi phải tiễn đưa người mất về với nghĩa trang Hà Cát. Minh hoạ cho sự gắn bó, gần gũi giữa dòng sông với đời người, ông Nguyễn Duy Mai, người làng Phước Tích có bài thơ "Có.....Không" “Đời người sáng có, chiều không. Ra đi để lại nỗi lòng nhớ thương Sinh thời ở chốn Cồn Dương Chết về Hà Cát, tây phương ngút ngàn. Phù du tiền của trần gian Đi rồi cũng để hai bàn tay không 11
  15. Xác thân phủ kín ở trong. Thuyền tang một chuyến sang sông không về Ô Lâu nặng với tình quê Thuyền tang mấy chuyến đi rồi hở sông? Ô Lâu vẫn mãi dòng sông Đời người sao lại có không thế này?” Từ thượng nguồn dòng sông chảy quanh co, uốn khúc rồi hợp lưu với dòng thác mang nước đổ về phá Tam Giang. Từ thượng nguồn đến phá Tam Giang dài khoảng 30km, uốn lượn nhiều đoạn, một trong những đoạn đẹp nhất của nó là đoạn bao bọc xứ Cồn Dương (Phước Tích) dòng chảy êm đềm, phẳng lặng rất phù hợp cho sự phát triển nghề gốm. Địa hình của Phước Tích nhìn từ đầu đến cuối làng trông như cái nan quạt xòe ra. Vì vậy làng được xây dựng trên một phương vụ hướng về chính Nam, lấy Ô Lâu làm yếu tố minh đường. Theo thuật phong thủy "khí là cha, nước là mẹ" khí là bản thể của nước, nước là cái khí hữu hình, nơi có nước chứng tỏ nơi ấy có khí. Dòng nước quanh co, uốn khúc chảy ngang qua rồi vòng trở lại bao bọc lấy làng, dòng chảy du dương êm đềm bồi lắng mặt bờ thì phúc lộc cho làng càng lớn... - Hà (hồ) sen Hà Trì Hà Sen cũng là một trong số những di sản của làng, hà nằm ở vị trí Trung Tâm, phía trên là phần đất xóm Thượng Hòa, phần dưới là phần đất xóm Hạ Hòa mang đậm nét triết lý phong thủy, có hình dạng trông như một chiếc túi lớn (phần dưới phình rộng, phía trên nhỏ dần, chỗ nhỏ nhất co thắt là nơi đặt chiếc cống xây bằng gạch vồ cuốn tròn, kiểu dáng như một số cống ở Huế vào Đại Nội). Đây là chiếc cống đi lại nằm trên tuyến đường liên thôn (nơi đây biểu tượng cho điểm thắt buộc chiếc túi) Từ đây đến chỗ tiếp giáp với dòng nước của sông Ô Lâu khoảng 100 mét, phía bên này là phần đất làng Phước Tích, bờ bên kia là đất làng Mỹ Xuyên. Hàng năm đến mùa mưa lũ, nước sông Ô Lâu dâng cao đưa nước từ thượng nguồn chảy vào cung cấp cho hà, các loại cá cũng như theo đường này vào sinh sống. 12
  16. Trước đây, dưới triều Nguyễn, hà được giao cho chùa quản lý, sử dụng vào việc hương khói, lễ lược... Để có nguồn thu, chùa chia hà ra làm 2 khu vực, khu vực trên thế đất cao (gọi khu vực trốt hà) dùng trồng lúa 1 vụ, khu vực phía dưới thấp trũng, dùng trồng sen, nuôi cá, nên hà có tên gọi "Tam Bảo Hà Điền" nhờ nguồn thu nhập này, chùa mới có nguồn quỹ để chi dùng hương khói, lễ lược hàng năm. Ngoài ra, một số bộ phận dân làng ở gần khu vực hà cũng được hưởng lợi bằng cách nuôi cá, bắt chim...Mùa hè gần đến ngày Phật Đản, sen hồng, sen trắng nở đầy khoe sắc đưa hương. Phật tử cắt hoa dâng lên cúng Phật. Chung quanh hà là những hàng mưng trải dài quanh năm tỏa bóng. Nơi đây cũng là nơi hội tụ lý tưởng của nhiều loại chim như : cò, vạc, le le, vịt nước... đến săn mồi, làm tổ ngày một nhiều. Diễn tả vẻ đẹp của hà, cụ Đoàn Văn Nghệ có bài thơ mang tự đề "Phước Tích quê ta ơi" (Trích 3 câu trong bài thơ nói về hà) : ... Tiếng chim cu gáy bâng khuâng trưa hè Hà Sen soi bóng le le Tung tăng cá quẫy bên đìa hàng mưng... Cạnh hà có một cồn Trèng khá lớn, nơi đây là nơi đổ các phế phẩm hư hỏng sau mỗi phiên ra lò. Cồn Trèng là nơi minh chứng cho sự ra đời và phát triển của nghề gốm. Bởi nhờ nghề gốm mà dân làng có được cuộc sống ấm no, sung túc, có của ăn, của để. Hà có hình là một cái túi rút đựng tiền của, phải chăng tiền nhân chọn vị trí cạnh hà để đổ phế phẩm gốm (Hà biểu tượng cái túi, cồn Trèng biểu tượng cho tiền của vậy). 1.2. Điều kiện kinh tế, xã hội 1.2.1. Dân số Trong bối cảnh vỡ ra của xã hội truyền thống thời hiện đại, nghề gốm đất nung của làng Kẻ Độôc - Phước Tích vang danh một thời cũng nhanh chóng tàn phai bởi sự công phá ngày càng mạnh mẽ và nghiệt ngã của nhu cầu, thị hiếu và vật dụng, 13
  17. nguyên vật liệu hiện đại. Chính vì thế mà ngôi làng trước đây, dân số rất đông có lúc lên đến 1.900 người. Nhưng đến năm 1981, dân số giảm xuống còn 651 người. Đến năm 2003, dân số của làng chỉ còn 452 người/125 hộ. Theo số liệu thống kê gần đây của thôn thì tính đến năm 2010 chỉ còn 320 người. Đặc biệt là trong đó, lại có đến trên dưới 40% là người già. Như vậy chúng ta có thể nhận thấy từ khi nghề gốm của làng mất vai trò, không còn là nghề chủ đạo trong phát triển kinh tế chung của các hộ gia đình thì dân số đã giảm xuống một cách rõ rệt. Sở dĩ làng có sự giảm dân số như vậy là do những thanh niên trong làng đã vào Nam ra Bắc để lập nghiệp, cho nên chỉ trong vòng mấy năm dân số của làng đã giảm một cách đáng báo động. 1.2.2. Tình hình kinh tế Nền kinh tế của làng trước kia chủ yếu dựa vào nghề làm gốm truyền thống, gốm của làng Phước Tích nổi tiếng một thời, được nhiều nơi biết đến. Không những tạo ra những sản phẩm trong sinh hoạt hằng ngày như : om, tréc, lu, độôc[1],… mà còn có những sản phẩm đạt đến độ tinh xảo, thẩm mỹ cao. Có một số sản phẩm được dùng trong triều Nguyễn xưa. Vì thế có câu : “Om Phước Tích ngon cơm hoàng đế Sen Hà Trì quý thể Phú Xuân” Hiện nay thì nghề gốm đang đứng trước nguy cơ bị mai một, nên người dân trong làng chỉ còn biết làm nghề khác để sinh sống, trong làng ngoài nghề gốm ra còn có nghề ép dầu chuồn, nghề làm bột (bột nấu cháo bánh canh), nghề thợ xây (thợ nề), nghề dạy học, trong làng số lượng thầy cô giáo khá đông bởi vì đây là một làng có truyền thống hiếu học, nhiều người học hành đỗ đạt cao. 1.2.3. Tình hình xã hội Mô hình làng Phước Tích cũng giống hầu hết mô hình làng miền Bắc, cũng khép kín và có cổng làng, dân cư thì sống san sát nhau. Điều này tạo điều kiện cho quan hệ hàng xóm láng giềng ngày càng gắn bó khăng khít. Các gia đình ở làng này hầu hết là gia đình mở rộng, 3-4 thế hệ cùng chung sống với nhau, bao gồm ông bà, . Om là nồi đất hay còn gọi là niêu, Lu là vật dụng để đựng gạo… 1 14
  18. cha mẹ và con cái. Thường thì người con trai trưởng có trách nhiệm thờ cúng ông bà, cha mẹ, nên phải đứng ra phụng dưỡng cha mẹ. Làng trước kia được tổ chức theo các ngõ xóm: xóm Thượng Hòa (xóm ngoài), xóm Trung Hòa (xóm giữa), xóm Hạ Hòa (xóm cuối). Trong đó, xóm Giữa (xóm Lò bây giờ) cồn đất nổi cao thuận lợi cho việc dựng các lò gốm, nên dân cư của xóm này có đời sống khá giả hơn các xóm khác; vì thế, dân làng thường truyền tụng câu ca: “Xóm giữa nhiều bạc, nhiều chì Nhiều o con gái, nhiều dì hẳn hoi” Đứng đầu mỗi xóm có trưởng xóm, ông được dân bầu lên để lo việc quản lý, điều hành công việc của xóm như tu sửa đường sá, bến nước, lo tang ma, cưới xin...Ngoài ra ở Phước Tích còn có các tổ chức tự quản, như xâu, phe. Xâu là tổ chức nghề nghiệp của những người cùng chung một lò gốm (thường 5 đến 7 nhà tập hợp nhau lại làm một xâu). Còn phe là một tổ chức tự quản của những người cùng địa vực cư trú (nó gần giống với tổ chức giáp theo địa vực). Ở Phước Tích có 2 phe: phe đông và phe tây. Đứng đầu mỗi phe có trưởng phe; ông có nhiệm vụ tập hợp những người trong phe để lo gách vác việc chung của làng. 1.3. Nguồn gốc hình thành làng Phước Tích 1.3.1. Lịch sử hình thành làng Phước Tích Năm Hưng Long thứ 14 (1306) thời nhà Trần, Vua Chiêm Thành là Chế Mân dâng sính lễ là hai châu Ô, Rí, để xin cưới công chúa Huyền Trân. Năm 1307 vua Trần Anh Tông đổi tên thành Châu Thuận (phía Nam Quảng Trị) và Châu Hóa (toàn Thừa Thiên Huế ngày nay). Sau khi Chế Mân mất, Chế Bồng Nga lên nối ngôi thường hay đem quân sang đánh phá đòi lại đất hai châu Thuận Hóa. Năm 1470 hiệu Hồng Đức nguyên niên, vua Chiêm là Bàn La Trà Toàn đem mười vạn quân thuỷ bộ sang đánh Châu Hoá. Tướng Trấn giữ là Phạm Văn Hiển bỏ chạy, được tin cấp báo vua Lê Thánh Tông thân hành dẫn binh đánh đuổi giặc Chiêm. Chiến dịch thắng lợi. Đã đưa biên giới Đại Việt vào đến đèo Đại Lãnh. 15
  19. Ngài Hoàng Minh Hùng theo chiếu vua Lê, bình Chiêm thắng lợi được triều đình phong tặng Đặc Tấn phụ quốc thượng Tướng quân, Cẩm y vệ. Đô chỉ huy sứ, Ty chỉ huy sứ, quản trị phó tướng. Hoàng Minh Hùng - người quê gốc làng Cảm Quyết - huyện Quỳnh Lưu - tỉnh Nghệ An. Theo chủ trương của triều đình, chiêu mộ dân vào vùng đất mới để định cư lập nghiệp, Ngài Hoàng Minh Hùng cùng với mười một ngài thuỷ tổ của 11 dòng họ đều là quê hương Cảm Quyết[2]. Tất cả là 12 dòng họ đầu tiên vào xứ Cồn Dương khai hoang lập ấp xây dựng nên Làng Phước Tích ngày nay. Theo sách Ô Châu Cận Lục, vào năm 1553, tên của làng là Dõng Quyết. Trước Thế kỷ XVI, thời (Lê Mạc) thuộc Kim Tòa – Châu Hóa. Sau đổi là Cồn Dương (Giàng) xã Hiệu Phước Giang. Triều Tây Sơn năm 1778 đổi là Hoàng Giang. - Năm 1802 Vua Gia Long đổi tên là Phước Tích . - Năm 1835 Phước Tích thuộc Tổng Phò Trạch - Năm 1945 Phước Tích thuộc xã Phong Lâu (tên được đặt do xã có vị trí cạnh sông Ô Lâu) - Năm 1958 xã đổi tên Phong Hoà, thuộc huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Dưới thời Nguyễn, ngoài việc đổi tên làng, năm 1802 Gia Long lên ngôi đặt kinh đô ở Phú Xuân, theo lệnh, làng Phú Xuân gốc ở Tả Ngạn sông Hương phải giải tỏa đi tìm nơi định cư mới. Một bộ phận dân làng Phú Xuân khoảng 15 hộ đã đến dải đất phù sa của làng Phước Tích, nơi dùng trồng thuốc lá (gọi là phường thuốc) để ở, và lấy tên gốc là Phú Xuân.[3]. Như vậy, trên xứ Cồn Dương từ đầu triều Nguyễn có thêm làng Phú Xuân. Tại làng Phước Tích, sau 12 dòng họ đầu tiên đến khai hoang lập làng, tiếp đến Thế kỷ 19 có thêm 2 họ Lê Văn và Lương Á (Vĩnh). Việc nhập làng của 2 họ này phải trải qua một thời gian phấn đấu, có công xung phong đi lính cho làng, nạp đủ thuế đinh, thuế điền; chấp hành tốt quy ước, luật lệ của làng… Đến đầu thế kỷ 20, có thêm 3 họ Nguyễn Đình, họ Lâm Văn và họ Hoàng Văn được nhập làng. Đến . Gia phả họ Hoàng lưu tại nhà bác Hoàng Bang ở Phước Tích. 2 . Theo Dương Văn An, Ô Châu Cận Lục, 1955. 3 16
  20. đầu thế kỷ 21, xét họ Nguyễn Đức đến sinh sống tại làng đã 7 đời, có dân đinh, có nhà thờ họ, có gia phổ lý lịch rõ ràng, con cháu của họ từ trước đến nay đều sinh hoạt, chấp hành khá tốt hương ước, nên ngày 05 tháng 11 Mậu Tý, tức là ngày 1 tháng 12 năm 2008, Hội đồng tộc trưởng làng Phước Tích đồng ý cho họ Nguyễn Đức được nhập làng. Như vậy tính đến nay, đã có 18 dòng họ có từ đường và một số bà con đến nhập cư. Tất cả trước sau đều hết lòng chung lo xây dựng quê hương làng xóm. Lúc đầu làng chia ra 3 xóm (Tam Hòa). Đến năm Thành Thái thứ hai (1890) lập thêm Xóm Hội, Xuân Viên nhưng vẫn quen tên gọi xóm, mỗi xóm đều có xóm trưởng, xóm phó. Để điều hành công việc của xóm như tế lễ, quan hôn, tang chế… Đến nay thì làng đã có 6 xóm : xóm Hội, xóm Cừa, xóm Thị, xóm Lò, xóm Đình, xóm Dưới. Mỗi xóm chia ra kiệt, cuối mỗi kiệt đều có xây dựng bến nước dọc theo bờ sông Ô Lâu để sinh hoạt tắm giặt, gánh nước tưới cây. Nhờ vậy cây trái vườn quanh năm tươi tốt. Trong làng có tất cả 12 bến, mỗi bến có tên gọi riêng như bến Hội, bến Lò, bến Cừa, bến Cây Bàng, bến Đình, bến Cạn, bến Cây Thị, bến Vạn, bến Miếu Vua, bến Cầu, bến Cạn 2, bến Chùa. 1.3.2. Ngài khai canh làng Phước Tích Ngài khai canh làng Phước Tích, xã Phong Hòa, huyện Phong Ðiền, Thừa Thiên Huế là Hoàng Minh Hùng, tục gọi là Nồi. Ngài theo vua Lê vào bình Chiêm thắng lợi, được triều đình phong tặng "Ðặc tấn phụ Quốc thượng tướng quân, Cẩm y vệ, Ðô chỉ huy sứ ty, Chỉ huy sứ Quảng Trị, Phó tướng Hùng Minh Hầu". Khi trở về, ngài chiêu mộ dân binh vào Nam. Thấy vùng Cồn Dương phù hợp với dự tính lâu dài của mình là nghề gốm. Ngài trở về cố hương, là làng Cảm Quyết (Dũng Quyết), huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An, chiêu tập thêm 11 họ nữa vào đất Cồn Dương khai khẩn lập làng. Ðó là các họ Phan, Ðoàn, Hoàng, Hồ, Lê Ngọc, Nguyễn Bá, Nguyễn Duy, Trần, Trương, Nguyễn Phước, Lê Trọng và Lương Thanh. 17
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản