Nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam”

Chia sẻ: nakatamimosa

Trong hơn 10 năm trở lại đây thế giới đã chứng kiến các cuộc khủng hoảng kinh tế làm suy giảm đáng kể nền kinh tế thế giới như cuộc khủng hoảng tài chính 1997 – 1998 và mới đây là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2009. Trong thời gian gần đây nền kinh tế của các nước chịu ảnh hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu có dấu hiệu phục hồi trở lại, tuy nhiên tình trạng thất nghiệp vẫn còn diễn ra với số lượng lớn. Và cần có một hướng giải quyết cho những...

Bạn đang xem 10 trang mẫu tài liệu này, vui lòng download file gốc để xem toàn bộ.

Nội dung Text: Nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam”

Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam







ĐỀ TÀI



“Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao
động ở Việt Nam”




Giáo viên hướng dẫn :

Sinh viên thực hiện :









Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 1
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam

ĐỀ TÀI............................................................................................................................................. 1
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 3
1. Lý do chọn đề tài.......................................................................................................................... 3
2. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................................................... 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................................... 3
4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................................................. 3
5. Kết quả nghiên cứu...................................................................................................................... 3
6. Kết cấu:........................................................................................................................................ 3
PHẦN NỘI DUNG .......................................................................................................................... 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG .................................. 4
1.Một số khái niệm .......................................................................................................................... 4
1.1 Nguồn nhân lực.......................................................................................................................... 4
1.2 Nguồn lao động .......................................................................................................................... 4
1.3 Sức lao động............................................................................................................................... 4
1.4 Việc làm ..................................................................................................................................... 4
1.5 Thất nghiệp................................................................................................................................ 4
1.6 Thị trường lao động................................................................................................................... 4
1.7 xuất khẩu lao động..................................................................................................................... 5
2.Sự hình thành và phát triển của thị trường lao động hàng hóa quốc tế ..................................... 5
3. Các hình thức xuất khẩu lao động .............................................................................................. 6
3.1 Chia theo hàng hóa sức lao động............................................................................................... 6
3.2 Chia theo cách thực hiện ........................................................................................................... 6
3.3 Các hình thức xuất khẩu lao động mà nước ta đã sử dụng ...................................................... 6
4. Những đặc điểm, sự cần thiết và vai trò của việc xuất khẩu lao động ....................................... 7
4.1 Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động ............................................................................ 7
4.2 Sự cần thiết của việc xuất khẩu lao động .................................................................................. 8
4.3 Vai trò của việc xuất khẩu lao động .......................................................................................... 8
5. Những bài học kinh nghiệm về xuất khẩu lao động.................................................................... 9
5.1 Vai trò của Nhà nước................................................................................................................. 9
5.2 Thu nhập và quyền lợi kinh tế, vấn đề không chỉ đối với người lao động................................ 9
5.3 Việc làm khi lao động trở về nước............................................................................................. 9
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM. 11
I - THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM................................................... 11
1. Khái quát chung về lực lượng lao động ở Việt Nam................................................................. 11
2. Khái quát chung về thị trường xuất khẩu lao động ở Việt Nam .............................................. 12
3. Những thành tựu và hạn chế của xuất khẩu lao động Việt Nam từ năm 1980 đến nay .......... 12
II. THỰC TRẠNG VỀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT NAM............. 24
1. Những thành công và khó khăn ở thị trường truyền thống ..................................................... 24
2. Những khó khăn và bước đầu xâm nhập thị trường lao động mới .......................................... 25
CHƯƠNG III: TRIỂN VỌNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN XUẤT
KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM .............................................................................................. 27
I. TRIỂN VỌNG VÀ MỤC TIÊU XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG ................................................. 27
1. Triển vọng về xuất khẩu lao động của Việt Nam...................................................................... 27
1.2.2 Triển vọng về thị trường tiếp nhận lao động nước ta .......................................................... 28
2. Mục tiêu về xuất khẩu lao động ................................................................................................ 28
II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP............................................................................................................. 31
1 Các giải pháp với cơ quan quản lý Nhà nước ............................................................................ 32
2 Các giải pháp với doanh nghiệp xuất khẩu lao động................................................................. 33
3 Các giải pháp đối với công tác đào tạo xuất khẩu lao động ...................................................... 34
4 Các giải pháp hậu xuất khẩu lao động....................................................................................... 34
PHẦN KẾT LUẬN........................................................................................................................ 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................................. 36


Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 2
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hơn 10 năm trở lại đây thế giới đã chứng kiến các cuộc khủng hoảng kinh tế
làm suy giảm đáng kể nền kinh tế thế giới như cuộc khủng hoảng tài chính 1997 – 1998
và mới đây là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2009. Trong thời gian gần đây nền kinh
tế của các nước chịu ảnh hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu có dấu hiệu phục hồi
trở lại, tuy nhiên tình trạng thất nghiệp vẫn còn diễn ra với số lượng lớn. Và cần có một
hướng giải quyết cho những lao động thất nghiệp này.
Một trong những hướng giải quyết đó là: Xuất khẩu lao động. Nắm bắt được thời
cơ thuận lợi đó trong những năm qua Việt Nam đã đề ra những chính sách, mục tiêu
phương hướng cho việc xuất khẩu lao động nhằm giải quyết việc làm cho người lao động.
Với định hướng xuất khẩu lao động rõ ràng và phù hợp với xu hướng phát triển của nền
kinh tế đã được Đảng và Nhà nước xác định như là một trong những lĩnh vực đối ngoại
đặc biệt, một trong những chiến lược để phát triển nền kinh tế đất nước. Tuy vậy việc
xuất khẩu lao động của nước ta còn gặp một số hạn chế về trình độ tay nghề, ngoại ngữ,
kỉ luật lao động… Đòi hỏi sự nhập cuộc của các nhà quản lý, doanh nghiệp, người lao
động đi xuất khẩu để cùng “chung tay” giải quyết vấn đề trên. Đó là lý do để chúng tôi
chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của đề tài là làm rõ vấn đề xuất khẩu lao động và công tác mở rộng
thị trường và từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục những hạn chế, nhược điểm của lao
động Việt Nam để lao động xuất khẩu của nước ta ngày càng có vị thế vững chắc trên thị
trường lao động quốc tế.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên những tài liệu, số liệu của Cục quản lý lao động ngoài
nước –Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, CIEM – Trung tâm thông tin tư liệu – Viện
nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương và báo cáo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở
năm 2009 về công tác xuất khẩu lao động và số liệu dân số của nước ta.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu như:
 Phương pháp thống kê
 Phương pháp thống kê phân tích
 Phương pháp suy luận
 Phương pháp tổng hợp
5. Kết quả nghiên cứu
Đề tài phân tích thực trạng về xuất khẩu lao động của Việt Nam trong gần 30 năm
qua và đề ra những giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển công tác xuất khẩu lao động
trong giai đoạn 2010 - 2015
6. Kết cấu:
 Chương 1: Cơ sở lý luận chung về xuất khẩu lao động
 Chương 2: Tổng quan về tình hình xuất khẩu lao động của việt nam
 Chương 3: Triển vọng, mục tiêu và giải pháp nhằm phát triển xuất khẩu lao động
ở Việt Nam

Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 3
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
1.Một số khái niệm
1.1 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một lực lượng bao gồm toàn bộ lao động trong xã hội,
không phân biệt về trình độ, tay nghề, nam nữ, tuổi tác.
Hoặc nguồn nhân lực còn được hiểu là một bộ phận của dân số, bao gồm
những người có việc làm và những người thất nghiệp.
1.2 Nguồn lao động
Là nguồn lực về con người bao gồm số lượng dân cư trong độ tuổi lao động
và có khả năng lao động. Nguồn lao động được nghiên cứu ở đây là nhằm vào khía
cạnh khác: Trước hết nó là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, sau nữa xét về
khía cạnh kinh tế - xã hội, nó là khả năng lao động của xã hội.
Ngoài ra, còn có thể hiểu nguồn lao động là tổng hợp cá nhân những con người
cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về vật con người cụ thể
tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về vật chất và tinh thần được
huy động vào quá trình lao động. Nguồn lao động bao gồm những người từ độ tuổi lao
động trở lên (ở nước ta là đủ 15 tuổi).
1.3 Sức lao động
Là tổng hợp thể lực và trí lực của con người trong quá trình tạo ra của cải xã
hội, phản ánh khả năng lao động của con người, là điều kiện đầu tiên cần thiết trong
quá trình lao động xã hội.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường sức lao động cũng là một loại hàng
hóa và cũng được trao đổi trên thị trường ngoài nước. Sức lao động là một loại hàng
hóa đặc biệt không chỉ vì sự khác biệt với hàng hóa thông thường là khi sử dụng nó sẽ
tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó, mà còn được thể hiện ở chất lượng hàng
hóa này phụ thuộc chặt chẽ vào một loạt các nhân tố có tính đặc thù. Chất lượng của
hàng hóa sức lao động ở đây được phản ánh ở khả năng dẻo dai, bền bỉ trong lao động
của người lao động, khả năng thành thạo và sáng tạo trong công việc và khối lượng
công việc hoặc sản phẩm được hoàn thành bởi người lao động trong một đơn vị thời
gian.
1.4 Việc làm
Theo điều 13 – Bộ luật Lao động đã nêu rõ: Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu
nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.
1.5 Thất nghiệp
Là tình trạng người có sức lao động, từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm hoạt động
kinh tế tại thời điểm điều tra không có việc làm nhưng có nhu cầu tìm việc.
1.6 Thị trường lao động
Là nơi diễn ra sự trao đổi hàng hóa sức lao động giữa một bên là những người
sở hữu sức lao động và một bên là những người cần thuê sức lao động đó. Thị trường
lao động là một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế thị trường và chịu sự tác


Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 4
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
động của hệ thống quy luật của nền kinh tế thị trường. Một thị trường lao động tốt là
thị trường mà ở đó lượng cầu về lao động tương ứng với lượng cung về lao động.
1.6.1 Thị trường lao động trong nước
Là một loại thị trường, trong đó mọi lao động đều có thể tự do di chuyển từ nơi
này đến nơi khác nhưng trong phạm vi biên giới một quốc gia.
1.6.2 Thị trường lao động quốc tế
Là một bộ phận cấu thành của hệ thống thị trường thế giới, trong đó lao động
từ nước này có thể di chuyển sang nước khác thông qua Hiệp định, các thỏa thuận
giữa hai hay nhiều quốc gia trên thế giới.
1.7 xuất khẩu lao động
Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung
ứng lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính
chất pháp quy được thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận lao động.
2.Sự hình thành và phát triển của thị trường lao động hàng hóa quốc tế
Do sự phát triển không đồng đều về trình độ phát triển kinh tế xã hội, cũng như
sự phân bố không đồng đều về tài nguyên, dân cư, khoa học công nghệ giữa các vùng,
khu vực, và giữa các quốc gia, dẫn đến không một quốc gia nào lại có thể đầy đủ,
đồng bộ các yếu tố cần thiết cho sản xuất và phát triển kinh tế.
Để giải quyết tình trạng bất cân đối trên, tất yếu sẽ dẫn đến việc các quốc gia
phải tìm kiếm và sử dụng những nguồn lực từ bên ngoài để bù đắp một phần thiếu hụt
các yếu tố cần thiết cho sản xuất và phát triển kinh tế của đất nước mình.
Thường thì các nước xuất khẩu lao động đều là những quốc gia kém hoặc đang
phát triển, có dân số đông, thiếu việc làm hoặc có thu nhập thấp không đủ đảm bảo
cuộc sống gia đình và chính bản thân người lao động. Nhằm khắc phục tình trạng khó
khăn này, thì các quốc gia này phải tìm kiếm việc làm cho những người lao động đó
từ bên ngoài. Trong khi đó, ở những nước có nền kinh tế phát triển thường lại có ít
dân, thậm chí có nước đông dân nhưng vẫn không đủ nhân lực để đáp ứng nhu cầu sản
xuất do nhiều nguyên nhân như: Công việc nặng nhọc, nguy hiểm và độc hại... nên
không hấp dẫn lao động của chính nước họ gây ra thiếu hụt lao động. Để duy trì phát
triển sản xuất thì các nước này chỉ còn cách là đi thuê lao động từ nước ngoài về làm
việc ở những nước kém phát triển hơn, có nhiều lao động dư và có khả năng cung ứng
lao động làm thuê.
Như vậy đã xuất hiện nhu cầu trao đổi giữa một bên là những quốc gia có
nguồng lao động dôi dư với một bên là các nước có nhiều việc làm, cần thiết phải có
đủ số lượng lao động để sản xuất. Do đó vô hình chung đã làm xuất hiện (Cung -
Cầu): cung là đại diện cho bên có nguồn lao động, còn cầu là đại diện cho bên các
nước có nhiều việc lam, đi thuê lao động. Điều này cũng đồng nghĩa với việc đã hình
thành lên một loại thị trường, đó là thị trường hành hóa lao động quốc tế.
Khi lao động được hai bên mang ra thỏa thuận, trao đổi, thuê mướn, lúc này
sức lao động trở thành một loại hàng hóa như những loại hàng hóa hữu hình bình
thường khác. Như vậy, sức lao động cũng là một loại hàng hóa khi nó được đem ra
trao đổi, mua bán thuê mướn và khi đã là một loại hành hóa thì hành hóa sức lao động
cũng phải tuân theo quy luật khách quan của thị trường: Quy luật cung - cầu, quy luật
giá cả, quy luật cạnh tranh... như những loại hàng hóa hữu hình khác.

Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 5
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
Qua sự phân tích ở trên cho ta thấy: Để có thể hình thành thị trường lao động
xuất khẩu trước hết phải xuất phát từ những nhu cầu trao đổi hoặc thuê mướn lao động
giữa bên cho thuê lao động và bên đi thuê lao động. Thực chất, khi xuất hiện nhu cầu
trao đổi, thuê mướn lao động giữa các quốc gia này và quốc gia khác, là đã hình thành
lên hai yếu tố cơ bản của thị trường, đó là cung và cầu về lao động. Như vậy thì thị
trường hàng hóa sức lao động quốc tế đã hình thành từ đây.
Ngày nay trong sự hội nhập và phát triển đời sống kinh tế xã hội thì quan hệ
cung cầu không bị bó hẹp trong phạm vi một quốc gia, biên giới của một nước chỉ còn
ý nghĩa hành chính, còn quan hệ này ngày càng diễn ra trên phạm vi quốc tế, mà trong
đó bên cung đóng vai trò là bên xuất khẩu và cầu sẽ đại diện cho bên nhập khẩu lao
động.
3. Các hình thức xuất khẩu lao động
3.1 Chia theo hàng hóa sức lao động
Xuất khẩu lao đông có nghề: là loại lao động trước khi ra nước ngoài làm việc
thì đã được đào tạo thành thạo một loại nghề nào đó và khi số lao động này ra nước
ngoại làm việc có thể bắt tay ngay vào công việc mà không phải bỏ ra thời gian và chi
phí để đào tạo nữa.
Xuất khẩu lao động không có nghề: là loại lao động mà khi ra nước ngoài làm
việc chưa được đào tạo một loại nghề nào cả. Loại lao động này thích hợp với những
công việc dơn giản, không cần trình độ chuyên môn hoặc phía nước ngoài cần phải
tiến hành đào tạo cho mục đích của mình trước khi đưa vào sử dụng.
3.2 Chia theo cách thực hiện
Xuất khẩu lao động trực tiếp là hình thức các công ty cung ứng lao động trực
tiếp cho các chủ sử dụng ở nước ngoài thông qua hợp đồng cung ứng đi làm việc ở
nước ngoài. Người lao động trực tiếp ký với cá nhân, tổ chức nước ngoài nhưng khi
làm thủ tục phải thông qua một doanh nghiệp chuyên doanh về xuất khẩu lao động để
thực hiện các nghĩa vụ, trách nhiệm với nhà nước.
Xuất khẩu lao động tại chỗ là hình thức người lao động làm việc cho các xí
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ
cao, các tổ chức cơ quan ngoại giao của nước ngoài đóng tại nước của người lao động.
3.3 Các hình thức xuất khẩu lao động mà nước ta đã sử dụng
Sau gần 30 năm thực hiện phát triển lĩnh vực xuất khẩu lao động với những
kinh nghiệm bước đầu có được thi nước ta đã áp dụng được một số hình thức khác
nhau trong hoạt động xuất khẩu lao động như:
 Đưa lao động đi bồi dưỡng học nghề, nâng cao trình độ và làm việc có thời
gian ở nước ngoài.
 Hợp tác lao động và chuyên gia.
 Đưa lao động đi làm việc tại các công trình doanh nghiệp Việt Nam nhận thầu
khoán xây dựng, liên doanh hay liên kết tạo ra sản phẩm ở nước ngoài.
 Cung ứng lao động trực tiếp theo các yêu cầu của công ty nước ngoài thông
qua các hợp đồng lao động được ký kết bởi các doanh nghiệp Việt Nam làm dịch vụ
cung ứng lao động.


Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 6
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
 Người lao động trực tiếp ký với cá nhân, tổ chức nước ngoài nhưng khi làm thủ
tục phải thông qua một doanh nghiệp chuyên doanh về xuất khẩu lao động.
 Xuất khẩu lao động tại chỗ.
4. Những đặc điểm, sự cần thiết và vai trò của việc xuất khẩu lao động
4.1 Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động
4.1.1 Xuất khẩu lao động là một loại hoạt động kinh tế và diễn ra gay gắt
Ở nhiều nước trên thế giới, xuất khẩu lao động là một trong những giải pháp
quan trọng thu hút lực lượng lao động đang tăng lên của nước họ và thu ngoại tệ bằng
hình thức chuyển tiền về nước của người lao động và các lợi ích khác. Những lợi ích
này đã buộc các nước xuất khẩu lao động phải chiếm lĩnh mức cao nhất thị trường lao
động ở nước ngoài, mà việc chiếm lĩnh được hay không lại dựa trên quan hệ cung cầu
sức lao động. Nó chịu sự điều tiết, sự tác động của các quy luật của kinh tế thị trường.
Bên cung phải tính toán mọi hoạt động của mình đẻ làm sao bù đắp được chi phí và có
phần lãi vì vậy cần phải có cơ chế thích hợp để tăng khả năng tối đa về cung lao động.
Bên cầu cũng phải tính toán kỹ lưỡng hiệu quả của việc nhập khẩu lao động.
Như vậy, việc quản lý Nhà nước, sự điều chỉnh pháp luật luôn luôn luôn bám
sát đặc điểm này. Làm sao để mục tiêu kinh tế phải là mục tiêu số 1 của mọi chính
sách pháp luật về xuất khẩu lao động.
4.1.2 Xuất khẩu lao động là một hoạt động thể hiện rõ tính chất xã hội
Thực chất, xuất khẩu lao động không tách rời khỏi người lao động. Do vậy,
mọi chính sách pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động phải kết hợp với chính
sách xã hội: Phải đảm bảo làm sao để người lao động ở nước ngoài được lao động như
cam kết ở trong hợp đồng, cũng như đảm bảo các hoạt động công đoàn... hơn nữa,
người lao động xuất khẩu dẫu sao cũng chỉ có thời hạn do vậy cần phải có những chế
độ tiếp nhận và sử dụng người lao động sau khi họ hoàn thành hợp đồng và trở về
nước.
4.1.3 Xuất khẩu lao động là sự kết hợp hài hòa giữa quản lý vĩ mô của Nhà nước và sự chủ động, tự
chịu trách nhiệm của tổ chức xuất khẩu lao động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Xuất khẩu lao động thực hiện trên cơ sở của hợp đồng cung ứng lao động. Nếu
như trước đây (giai đoạn 1980-1990) Việt Nam tham gia thị trường lao động quốc tế
đã xuất khẩu lao động của mình qua các hiệp định song phương, trong đó quy định
khá chi tiết về điều kiện lương, ăn ở, đi lại, bảo vệ người lao động ở nước ngoài. Thì
ngày nay, trong cơ chế của nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế thì hầu như toàn bộ
hoạt động xuất khẩu lao động đều do các tổ chức xuất khẩu lao động thực hiện trên cơ
sở hợp đồng đã ký. Đồng thời, các tổ chức xuất khẩu lao động cũng chịu trách nhiệm
tổ chức đưa đi và quản lý người lao động. Và như vậy thì các Hiệp định, các thỏa
thuận song phương chỉ có tính nguyên tắc, thể hiện vai trò và trách nhiệm Nhà nước ở
tầm vĩ mô.
4.1.4 Phải đảm bảo lợi ích của ba bên trong quan hệ xuất khẩu lao động
Trong lĩnh vực xuất khẩu lao động lợi ích kinh tế của Nhà nước chính là khoản
ngoại tệ mà người lao động gửi về nước và các khoản thuế. Lợi ích của các tổ chức
xuất khẩu lao động là các khoản thu được chủ yếu từ các loại phí giải quyết việc làm
ngoài nước. Còn lợi ích của người lao động chính là các khoản thu nhập.Chính vì chạy
theo lợi ích mà các tổ chức xuất khẩu lao động có quyền đưa người lao động và

Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 7
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài rất dễ vi phạm quy định của nhà nước, nhất là
việc thu các loại phí dịch vụ. Từ chỗ các quyền lợi của người lao động bị vi phạm sẽ
khiến cho việc làm ngoài nước không thật hấp dẫn người lao động
Ngược lại, cũng vì chạy theo thu nhập cao mà người lao động rất dễ vi phạm
những hợp đồng đã ký kết, bỏ hợp đồng ra làm việc bên ngoài... Do vậy, các chế độ
chính sách phải tính toán làm sao cho đảm bảo được sự hài hòa lợi ích của các bên,
trong đó phải thật chú ý đến lợi ích trực tiếp của người lao động.
4.1.5 Xuất khẩu lao động là hoạt động đầy biến đổi
Hoạt động xuất khẩu lao động phụ thuộc rất nhiều vào nước có nhu cầu nhập
khẩu lao động do vậy cần phải có sự phân tích toàn diện các dự án ở nước ngoài đang
và sẽ được thực hiện để xây dưng chính sách và chương trình đào tạo giáo dục định
hướng phù hợp và linh hoạt. Chỉ có những nước nào chuẩn bị được đội ngũ công nhân
với tay nghề thích hợp mới có điều kiện thuận lợi hơn trong việc chiếm lĩnh thị phần
lao động ở ngoài nước. Và cũng chỉ có nước nào nhìn xa trông rộng, phân tích đánh
giá và dự đoán đúng tình hình mới không bị động trước sự biến đổi của tình hình từ đó
đưa ra được chính sách đón đầu trong hoạt động xuất khẩu lao động.
4.2 Sự cần thiết của việc xuất khẩu lao động
Qua thực tế đã cho ta thấy được Việt Nam là một quốc gia đông dân với hơn 85
triệu người.
Theo số liệu điều tra năm 2009 cho thấy dân số trong độ tuổi lao động là 66%
so với tổng dân số, hằng năm tăng thêm 1,2 triệu lao động/năm, chiếm 3% trong tổng
số lực lượng lao động. Riêng lao động kỹ thuật cao 3 triệu người tốt nghiệp trung cấp
(chiếm 3,9%), 1,1 triệu tốt nghiệp cao đẳng (chiểm 1,3%), 2,7 triệu tốt nghiệp đại học
(chiếm 3,4%), 141 nghìn người có học vị trên đại học (chiếm 0,2%). Chỉ có 4 triệu
người chưa đi học (chiếm 5,1%) so với dân số từ 5 tuổi trở lên
Với tình trạng tốc độ phát triển nguồn lao động nêu trên, mâu thuẫn giữa lao
động và việc làm ngày càng trở nên gay gắt với nền kinh tế. Nếu không giải quyết một
cách hài hòa và có những bước đi thích hợp giữa mục tiêu kinh tế và xã hội sẽ dẫn tới
mất ổn định nghiêm trọng về mặt xã hội. Cùng với hướng giải quyết việc làm trong
nước là chính, xuất khẩu lao động là một định hướng chiến lược tích cực quan trọng,
lâu dài, cần phải được phát triển lên một tầm cao mới.
Để giải quyết được vấn đề này, xuất khẩu lao động đã trở thành một lĩnh vực
cứu cánh cho bài toán giải quyết việc làm không những của Việt Nam mà còn đối với
cả hầu hết các nước xuất khẩu lao động trong khu vực và trên thế giới.
4.3 Vai trò của việc xuất khẩu lao động
Với tư cách là một lĩnh vực hoạt động kinh tế, cần phải đươc xem xét, đánh giá
các mặt hiệu quả tích cực mà xuất khẩu lao động đã mang lại. Một khi nhận thức đúng
đắn về hiệu quả của xuất khẩu lao động, cùng với việc vạch ra các chỉ tiêu, xác định
nó là cơ sở quan trọng cho việc đánh giá hiện trạng và chỉ ra các phương hướng cũng
như các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu lao động.
4.3.1 Về mục tiêu kinh tế
Trong khi nước ta chuyển đổi nền kinh tế chưa lâu, kinh tế nước ta còn gặp vô
vàn khó khăn, mọi nguồn lực còn eo hẹp thì việc hàng năm chúng ta đưa hàng vạn lao


Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 8
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
động ra nước ngoài làm việc đã mang về cho đất nước hàng tỷ USD/năm.Đóng góp
quan trọng vào việc phát triển đất nước.
4.3.2 Về mục tiêu xã hội
Mặc dù còn những hạn chế nhất định với tiềm năng, song xuất khẩu lao động
Việt Nam trong những năm qua bước đầu đã đạt được những thành công nhất định về
mục tiêu mục tiêu kinh tế - xã hội mà Đảng và Nhà nước đề ra.
Trước hàng loạt những khó khăn và gánh nặng thất nghiệp của người lao động
trong nước, cùng với các biện pháp tìm kiếm và tạo công ăn, việc làm trong nước là
chủ yếu thì xuất khẩu lao động đã trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng,
góp phần tạo công ăn việc làm và thu nhập cho hàng vạn lao động mỗi năm, đồng thời
làm giảm sức ép về việc làm và tạo sự ổn định xã hội ở trong nước...
5. Những bài học kinh nghiệm về xuất khẩu lao động
5.1 Vai trò của Nhà nước
Để có thể tồn tại và phát triển phù hợp với những xu hướng vận động của nền
kinh tế thế giới và quá trình hội nhập kinh tế đang diễn ra trong khu vực và trên thế
giới, xuất khẩu lao động càng phải nhận được sực quan tâm, hướng dẫn chỉ đạo đặc
biệt từ phía Nhà nước. Cho nên muốn hay không muốn thì vai trò của Nhà nước trong
bối cảnh hiện nay và kể cả trong tương lai vẫn đóng một vai trò quan trọng và cần
thiết trong việc hoạch định chính sách phát triển xuất khẩu lao động, nhằm đáp ứng
những yêu cầu cấp thiết trong tình hình mới. Thực tế đã chứng minh, càng ngày xuất
khẩu lao động càng được các chuyên gia đưa vào hoạch định chính sách phát triển
kinh tế, coi xuất khẩu lao động là một trong các ngành kinh tế mũi nhọn, quan trọng
của đất nước trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của nước mình. Do đó
để thực hiện tốt những mục tiêu có tính chất chiến lược đã được hoạch định, Nhà nước
phải ban hành hệ thống luật pháp, cơ chế và chính sách nhằm:
+ Tạo hành lang pháp lý cho hoạt động xuất khẩu lao động phát triển.
+ Khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu lao động phát
triển.
+ Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động
5.2 Thu nhập và quyền lợi kinh tế, vấn đề không chỉ đối với người lao động
Vấn đề nguồn thu ngoại tệ thu được từ lao động xuất khẩu lao động đã có tác
động sâu sắc đến sự phát triển của nhiều quốc gia xuất khẩu lao động, trong đó có
Việt Nam chúng ta. Trong điều kiện suy thoái nền kinh tế, chính sách bảo hộ mậu dịch
của các nước phát triển đã tạo nên sức ép lên cán cân thanh toán của những nước
chậm và đang phát triển, thì nguồn kiều hối xuất khẩu lao động trở thành một nguồn
quan trọng trong việc làm cân bằng cán cân thanh toán. Bên cạnh đó một số quốc gia
đã đưa lượng kiều hối từ xuất khẩu lao động vào tính toán thu nhập quốc dân. Chính
những vấn đề này buộc chúng ta phải thừa nhận vai trò tích cực và những thay đổi do
xuất khẩu lao động mang lại cho tổng nguồn thu của nền kinh tế quốc gia. Vì vậy,
không một quốc gia nào khi làm công tác xuất khẩu lao động lại chỉ chú ý và đảm bảo
thu nhập kinh tế, quyền lợi cá nhân người lao động mà không tính đến những lợi ích
quốc gia.
5.3 Việc làm khi lao động trở về nước


Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 9
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
Như ta đã biết sau khi kết thúc hợp đồng trở về thì người lao động thường có
tâm lý không trở lại nghề cũ mà tìm một công việc khác nhẹ nhàng hơn và có thu nhập
cao hơn. Bên cạnh đó, một bộ phận những người lao động khác khi trở về họ thực sự
không thể tự tìm kiếm được việc làm mới, kể cả trở lại nghề cũ hoặc tìm những công
việc có thu nhập không đáng kể. Vì thế, phần lớn họ có nguyện vọng được tiếp tục
xuất khẩu lao động. Tuy vậy, do chúng ta chưa thực sự ý thức được vấn đề hậu xuất
khẩu lao động, nên thường thì người lao động khi trở về lại phải bắt đầu tìm kiếm từ
đầu một khi họ muốn tiếp tục ra nước ngoài làm việc. Chính vì vậy mà không phải ai
muốn trở lại hoặc sang một nước khác có điều kiện làm việc, thu nhập tốt hơn cũng có
thể sang được. Do vậy đây là một thực trạng rất khó khăn. Trong khi đó ở một số
nước như Philippine, Thái Lan ... một khi người lao động đã hoàn thành trở về, họ
thường được chính doanh nghiệp vận động tái xuất bằng những chính sách ưu tiên đặc
biệt, nhằm khuyến khích người lao động tiếp tục trở lại nước cũ hoặc là sang lao động
ở một nước khác có điều kiện làm việc tốt hơn nên có rất nhiều lao động tham gia tái
xuất, thậm chí có rất nhiều lao động cả đời chỉ đi lao động ở nước ngoài. Đây là chính
sách hậu xuất khẩu lao động rất quan trọng mà các quốc gia đã quan tâm khai thác
triệt để từ lâu, nó cúng có thể coi là biện pháp hạn chế thất nghiệp hậu xuất khẩu mà
Việt Nam chúng ta cần phải quan tâm và phát triển hơn nữa.




Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 10
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
CHƯƠNG II: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA
VIỆT NAM
I - THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
1. Khái quát chung về lực lượng lao động ở Việt Nam.
Theo số liệu thống kê năm 2009 dân số Việt Nam là 85.789.573 người, là một
nước đông dân thứ 3 khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 13 trong những nước đông
dân nhất thế giới. Theo báo cáo thì dân số của nước ta đã đạt đến “cơ cấu dân số
vàng” với tỉ trọng dân số dưới độ tuổi lao động chiếm 25%, tỉ trọng dân số trong độ
tuổi lao động là 66% và dân số trên độ tuổi lao động là 9%. Điều đó cho thấy nước ta
đang sở hữu một lực lượng lao động tương đối dồi dào và đây cũng chính là tiềm năng
lớn để phát triển đất nước. Tuy nhiên vấn đề giải quyết việc làm là một trong những
vấn đề nóng bỏng và cấp thiết hơn bao giờ hết.
Trình độ học vấn của lao động của Việt Nam đang được nâng lên từng ngày.
Theo số liệu thống kê ngày 01/4/2009 cho thấy tỉ lệ người từ 5 tuổi trở lên đã đi học là
94,9%: Trong đó có 16,4 triệu người chưa tốt nghiệp tiểu học (chiếm 20,8%), 20,2
triệu người tốt nghiệp tiểu học (chiếm 25,7%) 17,2 triệu người tốt nghiệp trung học cơ
sở (chiếm 21,2%), 12,2 triệu người tốt nghiệp trung học phổ thông (chiếm 15,5%), 1,7
triệu người tốt nghiệp sơ cấp (chiếm 2,1%), 3 triệu người tốt nghiệp trung cấp (chiếm
3,9%), 1,1 triệu tốt nghiệp cao đẳng (chiểm 1,3%), 2,7 triệu tốt nghiệp đại học (chiếm
3,4%), 141 nghìn người có học vị trên đại học (chiếm 0,2%). Chỉ có 4 triệu người
chưa đi học (chiếm 5,1%) so với dân số từ 5 tuổi trở lên. Tỉ lệ này so với năm 1999
đều tăng lên với tỉ lệ đáng kể nhất là tỉ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông, trung cấp,
cao đẳng và đại học. Đó là một điều khả quan cho lực lượng lao động của Việt Nam
trong giai đoạn hiện tại và tương lai.
Có thể khái quát cơ bản về đặc điểm của lực lượng lao động của nước ta như
sau:
Lao động Việt Nam được đánh giá là thông minh, nhanh nhẹn cần cù và có khả
năng nắm bắt công việc nhanh, có thể nói thương hiệu “lao động Việt Nam” đã và
đang được đánh giá cao trên thị trường lao động quốc tế.
Tỉ lệ lao động qua đào tạo có xu hướng tăng lên rõ rệt, hiện nay nước ta tỉ lệ lao
động đã qua đào tạo của nước ta chiếm khoảng hơn 25,3% trong đó tỉ lệ qua đào tạo
chuyên môn kĩ thuật chiếm khoảng 16,8% lực lượng lao động. Điều này chứng tỏ rằng
lực lượng lao động Việt Nam ngày càng được củng cố về chất lượng.
Tuy vậy lực lượng lao động nước ta còn gặp một số hạn chế như sau:
Cơ cấu đào tạo giữa đại học, cao đẳng, trung cấp và công nhân kĩ thuật rất bất
hợp lý, nó thể hiện ở chỗ tỉ lệ này là 1 – 2,6 – 4,2 trong khi đó ở các nước khác là 1 –
4 – 10. Điều đó lý giải tại sao mà lao động ở nước ta luôn xảy ra tình trạng “thừa thầy
thiếu thợ”. Còn theo đánh giá của BERI về sức cạnh tranh của lao động theo thang
điểm 100 thì Việt Nam mới đạt 45 điểm về khung pháp lý, 20 điểm về năng suất lao
động, 32 điểm về chất lượng lao động và 16 điểm về kĩ năng lao động. Điều này phản
ánh chất lượng lao động của Việt Nam so với các nước khác là còn thấp, nếu không
được cải thiện thì sẽ không đủ sức cạnh tranh trong tương lai.
Lực lượng lao động nước ta chưa có tác phong công nghiệp còn thấp, tính kỉ
luật trong quá trình làm việc chưa cao.

Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 11
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
Nhìn chung, nước ta là một nước có nguồn lao động dồi dào, tốc độ phát triển
tương đối cao tuy nhiên lao động nước ta còn yếu về kĩ năng và trình độ lao động, một
cơ cấu lao động bất hợp lý nên đã tạo ra một khó khăn lớn trong quá trình giải quyết
việc làm. Trong tương lai nếu không được khắc phục thì nguồn nhân lực không còn là
điểm mạnh của nước ta trong quá trình phát triển đất nước.
2. Khái quát chung về thị trường xuất khẩu lao động ở Việt Nam
Chi phí nhân công rẻ và cung lao động dồi dào nên thị trường xuất khẩu lao
động Việt Nam có tính hấp dẫn cao. Và cũng thật dễ hiểu tại sao thị trường xuất khẩu
lao động của Việt Nam ngày càng được mở rộng.
Thị trường lao động của nước ta khá đa dạng và phong phú, đáp ứng được
nhiều yêu cầu lao động của các nước. Chính vì vậy mà lao động Việt Nam đã có mặt ở
hầu hết khắp các châu lục trên thế giới. Nhưng có thể thấy thị trường xuất khẩu lao
động của Việt Nam tập trung chủ yếu ở một số quốc gia ở châu Á có nhiều điểm
tương đồng về văn hóa, phong tục tập quán và khí hậu… cộng thêm vào đó là chi phí
đi lại rẻ nên thu hút được nhiều lao động Việt Nam như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài
Loan, Malaysia… Và có một đặc điểm chung là ở những thị trường này không có yêu
cầu cao và quá khắt khe về trình độ lành nghề nên lao động Việt Nam đáp ứng đủ
những điều kiện về thể lực và trí lực. Trong một vài năm tới ở những thị trường này
vẫn còn tiếp nhận lao động giản đơn và bước đầu chuyển dần sang tiếp nhận lao động
có tay nghề trong các lĩnh vực như: Tin học, chế tạo máy…
Bên cạnh những thị trường lao động ở khu vực châu Á đang tiếp nhận lao động
Việt Nam thì còn một số thị trường lao động khác vẫn tiếp nhận một số lượng lao
động của nước ta không nhiều và chủ yếu tập trung ở các ngành nghề lao động giản
đơn.
3. Những thành tựu và hạn chế của xuất khẩu lao động Việt Nam từ năm 1980
đến nay
3.1. Những thành tựu của xuất khẩu lao động trong những năm qua
Trong những năm qua hoạt động xuất khẩu lao động là một trong những vấn đề
được Đảng và Nhà nước quan tâm, đó là một trong những hoạt động nhằm giải quyết
việc làm cho người lao động và cải thiện đời sống dân sinh. Có thể nói đây là một
trong những hoạt động thường niên mà Quốc hội đưa vào chỉ tiêu kế hoạch hằng năm,
đây cũng à xu hướng tất yếu trong thời kì hội nhập với kinh tế quốc tế.
Trong nhiều năm qua hoạt động xuất khẩu lao động của nước ta đã có nhiều
chuyển biến rõ rệt, số lao động được đi làm việc không chỉ tăng theo cấp số cộng mà
đã tăng theo cấp số nhân trong những năm gần đây. Nhìn lại thành tựu mà xuất khẩu
lao đông nước ta đã mang lại qua các thời kì từ năm 1980 đến nay sẽ cho chúng ta
thấy rõ điều đó.
Bên cạnh đó số địa phương và các doanh nghiệp đăng kí với bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng không
ngừng tăng lên, tính đến tháng 6/2009 thì đã có 170 địa phương và doanh nghiệp (xem
phụ lục 1). Nó cho thấy thị trường xuất khẩu lao động ở nước ta đang có hướng đi
đúng đắn và phù hợp.



Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 12
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
SƠ ĐỒ: THỐNG KÊ SỐ LAO ĐỘNG XUẤT KHẨU QUA CÁC THỜI KÌ




(Nguồn số liệu: Cục quản lý lao động ngoài nước –Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội)
Nhìn vào biểu đồ xuất khẩu lao động của nước ta từ năm 1980 đến nay ta có
thể chia làm 3 thời kì chủ yếu như sau:
Thời kì thứ nhất từ năm 1980 đến 1990
Thời kì thứ hai từ năm 1991 đến năm 2000
Thời kì thứ ba từ năm 2001 đến nay
3.1.1. thời kì từ năm 1980 đến năm 1990
Trong thời kì này nước ta chủ yếu có mối quan hệ hợp tác lao động với các
nước ở khu vực Đông Âu đi theo con đường xã hội chủ nghĩa như là Liên Xô, Tiệp
Khắc, CHDC Đức, … Và một số quốc gia thuộc khu vực Trung Đông như Irắc,
Quatar…Nói dung hơn là ở thời kì này nước ta chủ yếu là đưa cán bộ, công nhân viên
đi bồi dưỡng, nâng cao trình độ tay nghề về những ngành kĩ thuật then chốt mà nước
ta đang cần hoặc những ngành có độ phức tạp và tinh vi trong quá trình chế tạo sản
phẩm và trong cả dây chuyền công nghệ hoặc học hỏi thêm những kiến thức và rèn
luyện tay nghề để có thể tự chế tạo ra những sản phẩm mới.



Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 13
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
BẢNG 1: SỐ LIỆU VỀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
THỜI KÌ 1980 – 1990
SỐ LAO Tiền gửi về
NĂM ĐỘNG (Triệu VND)
1980 1570 0
1981 20230 0.955
1982 25970 8.5
1983 12402 25.1
1984 4489 32.1
1985 5008 76.9
1986 9012 433.5
1987 46098 1426.18
1988 71835 23027.9
1989 40618 1084.32
1990 3069 8512.8
TỔNG 240301 34628.255
(Nguồn:Cục quản lý lao động ngoài nước –Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội)
Qua bảng số liệu trên cho ta thấy lao động Việt Nam trong thời kì này đi làm
việc ở nước ngoài chủ yếu là theo chương trình hợp tác và những hiệp định song
phương của các ngành. Thời kì 1980 – 1990 Việt Nam đã đưa được 240301 lao động
đi làm việc ở nước ngoài. Con số này không phải là cố định mà tùy thuộc vào nhu cầu
sử dụng lao động của các nước tiếp nhận lao động nước ta. Ở thời kì này số lượng lao
động được đưa đi nhiều nhất là các năm 1981, 1982, 1987, 1988, 1989.
Mặc dù số lượng lao động được đưa đi trong thời kì này là không tăng lên theo
từng năm nhưng số lượng ngoại tệ gửi về nước tăng lên rõ rệt theo từng năm càng về
cuối thời kì này thì số lượng ngoại tệ đã tăng dần theo cấp số nhân.
Nhưng bên cạnh đó vấn đề đào tạo nghề để xuất khẩu ra các thị trường nước
ngoài trong những năm 1980 đến 1990 cũng rất khả quan.
BẢNG 2: THỐNG KÊ VỀ LAO ĐỘNG XUẤT KHẨU
CÓ NGHỀ VÀ KHÔNG CÓ NGHỀ THỜI KÌ 1980 – 1990
LAO ĐỘNG LAO LAO ĐÔNG
XUẤT ĐỘNG KHÔNG
NĂM KHẨU CÓ NGHỀ NGHỀ
1980 1570 1570 0
1981 20230 14882 5348
1982 25970 12116 13784


Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 14
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam

1983 12402 4603 7799
1984 4489 3297 1192
1985 5008 3658 1350
1986 9012 1800 7212
1987 46098 21024 25074
1988 71835 25109 46726
1989 40618 12034 28584
1990 3069 921 2148
TỔNG 240301 101014 139217
(Nguồn:Cục quản lý lao động ngoài nước –Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội )
Với tổng số 240301 lao động được đưa đi xuất khẩu thì có tới 101014 lao
động có tay nghề chiếm tỉ lệ 42,06% so với 139217 lao động chưa có nghề. Điều này
cho thấy tỉ lệ lao động có tay nghề của nước ta được đưa đi xuất khẩu chiếm một tỉ
trong khá cao. Đặc biệt vào năm 1980 tỉ lệ này là 100% còn từ những năm 1981 trở
đi thì số lượng lao động giản đơn được tăng lên, nguyên nhân chính là do yêu cầu của
phía Chính phủ các nước tiếp nhận lao động Việt Nam không yêu cầu về trình độ tay
nghề của lao động. Phần lớn các nước này phân phối ngay lao động Việt Nam vào
các nhà máy, cơ sở sản xuất. Họ tự kèm cặp đào tạo cho lao động nước ta để trở
thành công nhân thực thụ. Đây là một đặc điểm rất đặc biệt của lao động Việt Nam
khi đi làm việc ở nước ngoài kể từ trước đến nay. Nó cũng rất khác biệt với hoạt
động xuất khẩu lao động của các nước khác trong khu vực như Philippin, Thái
Lan…trong cùng khoảng thời gian này.
Về cơ cấu ngành nghề của lao động Việt Nam xuất khẩu được thể hiện ở bảng
số liệu sau:
BẢNG 3: SỐ LIỆU VỀ CƠ CẤU NGÀNH NGHỀ CỦA LAO ĐỘNG
XUẤT KHẨU VIỆT NAM THỜI KÌ 1980 – 1990
SỐ LAO
NGÀNH NGHỀ ĐỘNG
công nghiệp 178190
Cơ khí 63206
công nghiệp nhẹ 104427
hóa chất 7407
Thực phẩm 3150
Xây dựng và vật liệu
xây dựng 45597
nông ngiệp 1531
Lâm nghiệp 4718

Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 15
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam

Các ngành khác 10265
TỔNG 240301
(Nguồn:Cục quản lý lao động ngoài nước –Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội )
Có thể thấy được rằng cơ cấu ngành nghề mà lao động nước ta được tiếp nhận
là tương đối đa dạng tuy nhiên nó vẫn chưa mang tính đa dạng dạng về loại, nhóm
lao động. Việc làm của lao động Việt Nam đảm trách chủ yếu là lao động giản đơn,
chủ yếu là lao động trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng. Tuy nhiên cơ cấu ngành
nghề này không phải là do lao động Việt Nam được đào tạo từ trong nước mà phần
lớn là do các nước tiếp nhận lao động của nước ta tự kèm cặp, đào tạo và sử dụng cho
đến khi kết thúc thời hạn lao động.
Tóm lại, xuất khẩu lao động của Việt Nam ở thời kì này đã cho thấy chất
lượng lao động xuất khẩu của nước ta đã được nâng lên rõ rệt, nó thể hiện qua kết
quả xuất khẩu lao động tăng dàn theo từng năm, khẳng định lao động Việt Nam đã có
thể đáp ứng nhu cầu về lao động của nước tiếp nhận trong nhiều lĩnh vực và ngành
nghề lao động.
3.1.2. thời kì từ năm 1991 đến năm 2000
Nếu trong giai đoạn 1980 – 1990 nước ta chủ yếu có quan hệ hợp tác lao
động với các quốc gia thuộc khối xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, một số quốc gia ở
Châu Phi, Irắc, Quatar thì đến năm 1991 tình hình ở các nước tiếp nhận lao động Việt
Nam đều có những biến động. Các nước ở khu vực Đông Âu như Liên Xô, Tiệp
Khắc, CHDC Đức có sự biến đổi lớn về thể chế chính trị và thể chế kinh tế, cũng
trong thời điểm này một số quốc gia ở châu Phi có tiếp nhận các chuyên gia Việt
Nam sang làm việc đều rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế. Irắc và một số quốc
gia ở Trung Đông xảy ra chiến tranh vùng vịnh. Tất cả những điều này đã làm cho thị
trường xuất khẩu lao động của nước ta bị thu hẹp và rơi vào tình thế bất lợi
Trước những khó khăn và thách thức như vậy thì vào ngày 09/11/1991 Hội
đồng Bộ trưởng đã ban hành nghị định số 370/HĐBT về việc đưa người lao động
Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Nghị định này đã mở ra một cơ chế
mới trong hoạt động xuất khẩu lao động với mục tiêu và chủ trương là giải quyết việc
làm, tạo thu nhập cho người lao động và tăng nguồn ngoại tệ cho đất nước. Nó cũng
đã mở đường cho thời kì xuất khẩu lao động mới, một số thị trường mới đã được khai
thác và một số thị trường trọng điểm đã được mở rộng như: Đài Loan, Hàn Quốc,
Nhật Bản, Malaysia…. Và đặc biệt là thị trường lao động trên biển. Những thị trường
lao động mới này đã thu hút được hàng triệu lao động tham gia trong thời kì này.
Sau 10 năm thực hiện hoạt động xuất khẩu lao động theo cơ chế mới nước ta
đã thu được những thành tựu đáng khích lệ.
BẢNG 4: SỐ LIỆU VỀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
THỜI KÌ 1991 - 2000
TIỀN GỬI
SỐ LAO VỀ
NĂM ĐỘNG (USD)
1991 1022 7971600

Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 16
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam

1992 810 14289600
1993 3960 45177600
1994 9230 109200000
1995 10050 181272000
1996 12661 249139800
1997 18469 321205000
1998 12000 341874000
1999 20700 404578200
2000 31468 505950400
TỔNG 95298 1822747400
(Nguồn:Cục quản lý lao động ngoài nước –Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội)
Từ năm 1992 cho đến năm 1994 tình hình xuất khẩu lao động của nước ta có
dấu hiệu giảm sút trầm trọng so với những năm trước đây. Mặc dù vậy nhưng số
lượng lao động được đưa đi xuất khẩu đã tăng trở lại và đều đặn trong nhũng năm
tiếp theo. Tuy là ở giai đoạn đầu của thời kì này tình hình xuất khẩu lao động của
nước ta có dấu hiệu đi xuống nhưng số lượng ngoại tệ gửi về nước thì không hề giảm,
cho đến những năm cuối của thời kì này thì số lượng ngoại tệ đã gấp nhiều lần so với
những năm đầu, đơn cử như đến năm 2000 thì lượng ngoại tệ gửi về nước đã gấp
4,64 lần so với năm 1994 và gấp 63,5 lần so với năm 1991. Điều đó chứng tỏ xuất
khẩu lao động của Việt Nam đã vượt qua giai đoạn khó khăn và phát triển nhanh
chóng.
Ở giai đoạn này xuất khẩu lao động ở nước ta có nhiều biến động về số lượng,
nhưng chất lượng của người lao động được đưa đi làm việc ở nước ngoài thì không
ngừng được cải thiện. Số người lao động có tay nghề được đưa đi làm việc luôn cao
hơn số lao động chưa qua đào tạo nghề.
BẢNG 5: THỐNG KÊ VỀ LAO ĐỘNG XUẤT KHẨU
CÓ NGHỀ VÀ KHÔNG CÓ NGHỀ THỜI KÌ 1991 - 2000
LAO LAO ĐÔNG
SỐ LAO ĐỘNG KHÔNG
NĂM ĐỘNG CÓ NGHỀ NGHỀ
1991 1022 520 502
1992 810 423 387
1993 3960 2341 1619
1994 9230 4679 4551
1995 10050 5489 4561
1996 12661 7251 5410
1997 18469 9457 9012

Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 17
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam

1998 12000 6178 5822
1999 20700 11457 9243
2000 31468 16412 15056
TỔNG 120370 64207 56163
(Nguồn:Cục quản lý lao động ngoài nước –Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội)
Qua bảng số liệu trên cho ta thấy được sự thay đổi về chất lượng lao động khi
xuất khẩu ra nước ngoài ngày càng được nâng cao. Tỉ lệ lao động có nghề ở thời kì
này là 53,34 % cao hơn 11,28 so với thời kì 1980 – 1990. Mặc dù vậy tỉ lệ này chưa
vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực như Philippin la 78,63%, Thái Lan là
80,26% và số lượng lao động nước ta tham gia vào các ngành nghề là không đồng
đều. Cũng giống như thời kì 1980 – 1990, thời kì này lao động của nước ta chủ yếu
vẫn làm việc ở nhũng ngành nghề giản đơn không đòi hỏi trình độ chuyên môn kĩ
thuật và độ lành nghề cao của lao động. Nhìn vào bảng số liệu dưới đây sẽ phản ánh
cho chúng ta thấy điều đó:
BẢNG 6: SỐ LIỆU VỀ CƠ CẤU NGÀNH NGHỀ CỦA LAO ĐỘNG
XUẤT KHẨU VIỆT NAM THỜI KÌ 1991 – 2000
SỐ LAO
NGÀNH NGHỀ ĐỘNG
công nghiệp 67050
công nghiệp nặng 5019
công nghiệp nhẹ 62031
Xây dựng và vật liệu xây
dựng 37459
dịch vụ 4199
nông ngiệp 260
Lâm nghiệp 6475
Các ngành khác 4927
TỔNG 120370
(Nguồn:Cục quản lý lao động ngoài nước –Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội)
Đến thời điểm này cơ cấu lao động xuất khẩu của Việt Nam làm việc ở nước
ngoài của nước ta có sự thay đổi có chiều hướng sang những ngành công nghiệp nhẹ
và có sự biến đổi giữa các ngành nghề nhưng sự thay đổi đó là không đáng kể. Lao
động Việt Nam chủ yếu vẫn làm việc trong các lĩnh vực không đòi hỏi trình độ
chuyên môn kĩ thuật. Chủ yếu tập trung ở các ngành công nghiệp và vật liệu xây dựng
có tỉ trọng cao nhất. Đó là một dấu hiệu tốt cho lao động Việt Nam góp phần nâng cao
thu nhập và đào tạo tay nghề cho lao động Việt Nam sau khi về nước.
3.1.2. Thời kì từ năm 2001 đến năm 2010


Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 18
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
Tổng kết kinh nghiệm của 20 năm xuất khẩu lao động nước ta đã rút ra nhiều
bài học mới về công tác đào tạo nghề cho xuất khẩu lao động và mở rộng thị trường
xuất khẩu nên ở giai đoạn 2001 -2010 này đã thu được nhiều thành tựu đáng kể và cao
gấp nhiều lần so với các thời kì trước. Số liệu được tổng hợp dưới đây sẽ cho ta thấy
điều đó.
BẢNG 7: SỐ LIỆU VỀ TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
THỜI KÌ 2001 - 2010

SỐ LAO TIỀN GỬI VÊ
NĂM ĐỘNG (Triệu VND)
2001 36168 689660400
2002 46122 1400000000
2003 75000 1578025000
2004 68600 1485140200
2005 70594 1498000000
2006 85000 1625600000
2007 80000 1687422300
2008 87000 1752891010
2009 75000 1548201000
2010 85000* 1700000000*
TỔNG 708484** 14964939910**
(Nguồn: Cục quản lý lao động ngoài nước –Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội)
(* số liệu dự kiến cho năm 2010)
(** gồm cả số liệu ước tính cho năm 2010)
Vào thời kì này chính sách xuất khẩu lao động của nước ta đã có phần thông
thoáng và mở rộng được nhiều hơn chính và vậy mà số lượng người lao động đi làm
việc ở nước ngoài ngày một tăng lên, nhất là 4 năm trở lại đây, tình hình xuất khẩu lao
động nước ta đã có nhiều khởi sắc. Riêng năm 2009 do ảnh hưởng của cuộc suy thoái
kinh tế toàn cầu nên tình hình xuất khẩu lao động bị giảm nhưng không đáng kể. Theo
dự báo thì năm 2010 tình hình xuất khẩu lao động của nước ta sẽ phục hồi trở lại và
hoàn thành mục tiêu đã đề ra.
Thời kỳ này cũng cho thấy sự biến chuyển rõ rệt về cơ cấu lao động có nghề
xuất khẩu. Cơ cấu lao động có nghề cung đã tăng lên đáng kể so với 2 thời kỳ trước:
BẢNG 8: THỐNG KÊ VỀ LAO ĐỘNG XUẤT KHẨU
CÓ NGHỀ VÀ KHÔNG CÓ NGHỀ THỜI KÌ 2001 – 2010

LAO LAO LAO
ĐỘNG ĐỘNG ĐÔNG
XUẤT CÓ KHÔNG
NĂM KHẨU NGHỀ NGHỀ
2001 36168 18426 17742
2002 46122 26875 19247
2003 75000 33128 41872
2004 68600 42085 26515

Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 19
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
2005 70594 43582 27012
2006 85000 56230 28770
2007 80000 52580 27420
2008 87000 59032 27968
2009 75000 58658 16342
2010 85000 65000* 20000*
TỔNG 708484 460596 247888
(Nguồn:Cục quản lý lao động ngoài nước –Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội)
(* số liệu dự kiến cho năm 2010)
Qua bảng số liệu trên cho thấy giai đoạn này nước ta đã chú ý đến xuất khẩu
lao động có nghề ra nước ngoài, tỉ lệ không hoàn toàn là 100% nhưng đang từng bước
được nâng lên, theo Hiệp hội xuất khẩu lao động Việt Nam thì đến năm 2010 số lao
động xuất khẩu có tay nghề đạt trên 75%. Có thể thấy được công tác xuất khẩu lao
động ở nước ta thời kỳ này chú trọng về chất lượng nhiều hơn là số lượng, điều đó
cũng dễ hiểu muốn khai thác hết tiềm năng của các thị trường cao cấp và củng cố chất
lượng tại các thị trường truyền thống thì không còn cách nào khác ngoài đào tạo nghề
cho người lao động
Do được đào tạo nên cơ cấu lao động cho xuất khẩu của nước ta cũng có nhiểu
thay đổi rõ rệt, nó thể hiện qua bảng số liệu sau:
BẢNG 9: SỐ LIỆU VỀ CƠ CẤU NGÀNH NGHỀ CỦA LAO ĐỘNG
XUẤT KHẨU VIỆT NAM THỜI KÌ 2001 – 2010*
NGÀNH NGHỀ SỐ LAO ĐỘNG
Công nghiệp 512520
công nghiệp nặng 128920
công nghiệp nhẹ 383600
Xây dựng và vật liệu xây
dựng 45896
Dịch vụ 25869
Nông ngiệp 21583
Lâm nghiệp 13589
Các ngành khác 89027
TỔNG 708484
(Nguồn:Cục quản lý lao động ngoài nước –Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội)
(* số liệu bao gồm cả số liệu dự kiến cho năm 2010)
Cơ cấu lao động xuất khẩu của nước ta đã có nhiều sự thay đổi. Sự chuyển dịch
cơ cấu lao động giữa các ngành nghề, lĩnh vực là khá rõ, ở thời kỳ này lao động nước
ta tập trung chủ yếu ở các ngành công nghiệp nhẹ, vật liệu xây dựng. Đặc biệt các lĩnh
vực như nông nghiệp, lâm nghiệp đã được các doanh nghiệp nước ta tập trung khai
thác. Sở dĩ các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp có số lao động nước ta tham gia
nhiều là vì những lĩnh vực này không đòi hỏi phải có chuyên môn kỹ thuật và phù hợp
với trình độ lao động của lao động Việt Nam.
Tóm lại, gần 30 năm đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài nước ta đã
giải quyết được rất nhiều việc làm cho người lao động và góp phần cải thiện đời sống
Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 20
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
cho rất nhiều người lao động. Có thể nói gần 30 năm qua xuất khẩu lao động là một
lĩnh vực xuất khẩu đặc biệt mang lại lợi nhuận kinh tế tương đối cao cho các doanh
nghiệp tham gia vào hoạt động này và góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế trong
30 năm qua. Tuy nhiên xuất khẩu lao động ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế và thiếu
sót cần được khắc phục kịp thời.
3.2. Những hạn chế của xuất khẩu lao động ở Việt Nam
Trải qua gần 30 năm thực hiện việc xuất khẩu lao động đi nước ngoài nước ta
đã đạt được những thành tựu đáng kể như ta đã thấy ở trên nhưng công tác xuất khẩu
lao động vẫn còn nhiều tồn tại và hạn chế đang nổi cộm mà chúng ta cần phải chấn
chỉnh và khắc phục
Về chất lượng lao động là một điều rất được quan tâm của lao động Việt Nam,
lao động nước ta được biết đến với những bất lợi thể hiện ở “ba không”: Không nghề,
không ngoại ngữ và không tác phong công nghiệp. Điều này trở thành một bất lợi lớn
cho lao động nước ta khi làm việc ở nước ngoài.
Như ta đã biết trình độ tay nghề của lao động Việt Nam khi xuất khẩu ra nước
ngoài là rất thấp, chúng ta chủ yếu xuất khẩu những lao động phổ thông chưa qua đào
tạo nghề, không có trình độ chuyên môn kĩ thuật. Chính vì vậy mà thu nhập của người
lao động Việt Nam luôn thấp hơn lao động xuất khẩu của các nước khác.
Sức khỏe của lao động nước ta vẫn còn rất nhiều hạn chế, lao động của nước
ta chỉ đủ sức khỏe làm các công việc ở các ngành nghề như công nghiệp, nông nghiệp,
dịch vụ, làm việc trong các nhà máy còn các công việc như đi biển, xây dựng thì
chưa đạt yêu cầu. Đây cũng là một trong những trở ngại cho lao động Việt Nam.
Trình độ ngoại ngữ của lao động được đánh giá là rất kém. Những mâu thuẫn
trong lao động đều xuất phát từ bất đồng ngôn ngữ giữa giới chủ và lao động Việt
Nam. Nhiều lao động bị trả về nước trước thời hạn do không đạt yêu cầu về trình độ
ngoại ngữ.
Kỉ luật lao động là một điều mà đã gây ra tai tiếng cho lao động nước ta khi
làm việc ở nước ngoài. Lao động nước ta khi làm việc ở các nước sở tại đều thiếu kỉ
luật và thiếu nghiêm túc trong việc thực hiện bảo hộ lao động. Bằng chứng là rất nhiều
lao động nước ta làm việc tại Malaysia thường xuyên bị tai nạn lao động kể từ năm
2004 trở lại đây.
Nguyên nhân chính của những vấn đề nêu ở trên là do: người lao động được
đưa đi làm việc ở nước ngoài đa phần là lao động nông thôn. Những lao động này
phần lớn là chưa qua một lớp đào tạo chính quy về tay nghề. Cuộc sống làm nghề
nông ở một nước còn kém phát triển như Việt Nam đã hình thành nên trong họ tác
phong chậm chạp, thiếu sự gắn bó trong hợp tác lao động, thiếu hiểu biết về sản xuất
công nghiệp. Nhiều người trong số họ còn chưa học hết phổ thông. Mặt khác, những
lao động này hầu hết đều có cuộc sống rất khó khăn, khi đi làm việc ở nước ngoài
luôn mang trên vai gánh nặng thu nhập rất lớn nên họ thường bất chấp tất cả miễn là
kiếm được tiền cao.
Bên cạnh đó tình hình xuất khẩu lao động ở nước ta còn tồn tại một số vấn đề
trong công tác quản lý xuất khẩu lao động. Hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp đưa
người lao động đi làm việc ở nước ngoài tuy nhiên có rất ít doanh nghiệp có văn
phòng đại diện để giải quyết các vấn đề liên quan đến lao động của mình điều đó

Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 21
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
chứng tỏ phần lớn các doanh nghiệp đang hoạt động theo kiểu “đem con bỏ chợ”. Đó
là chưa kể tại một số thị trường, các doanh nghiệp chỉ biết tạo nguồn trong nước, thu
phí, bàn giao lao động và… hết trách nhiệm. Chính vì thế mới xảy ra chuyện lao động
Việt Nam tại nước ngoài không có “người quản lý” dẫn tới việc sống và làm việc vô tổ
chức, bị trục xuất về nước cũng chẳng có cơ quan nào đứng ra giải quyết. Trong thời
gian ngắn gần đây, có hàng trăm lao động Việt Nam đi Trung Đông làm việc bị trục
xuất về nước vì vi phạm pháp luật. Một số khác thì bị bắt, bị phạt tù vì nấu rượu, đánh
nhau và ăn cắp. Nghịch lý là các doanh nghiệp xuất khẩu lao động đang tìm mọi cách
mở rộng thị trường thì người lao động của ta lại vô tư phá. Trước khi lên đường đến
các nước ở khu vực Trung Đông làm việc, phần lớn lao động Việt Nam đều được học
giáo dục định hướng, trang bị kiến thức về luật pháp, lối sống nghiêm khắc ở xứ sở
đạo hồi. Đó là cấm uống rượu, nấu rượu và chọc ghẹo phụ nữ,… Thế nhưng, vừa chân
ướt chân ráo đến đây nhiều lao động của ta đã phá rào – ngang nhiên nấu rượu và chè
chén say sưa. Theo ông Phạm Văn Thắng, trưởng phòng Trung Đông công ty Sovilaco
nói “đúng là lao động của ta coi trời bằng vung”. Nhiều công trình xây dựng ở Quarta
bị lao động Việt Nam ăn cắp vật tư xây dựng, chủ yếu là dây đồng. Để hợp thức hóa
số dây đồng lấy cắp, họ mua axit về đổ vào cho nó biến thành phế liệu…Vì các nước
ở Trung Đông đều cấm uống rượu, nấu rượu lậu nên lao động của ta “sáng tạo” bằng
cách lấy đường và bột nồi nấu chung rồi ủ thành rượu. Mới đây, cảnh sát Quarta bắt
được nhiều vụ lao động Việt Nam nấu rượu lậu với số lượng lớn để bán, trong đó có
vụ ủ rượu trong thùng chứa 60 lít. Một tật xấu khác khiến cho nhiều chủ sử dụng lao
động ở Trung Đông phải thốt lên rằng không hiểu tại sao lao động Việt Nam dễ nổi
nóng và dễ đánh nhau như thế? Chỉ vì những vụ việc va chạm, xích mích nhỏ là họ
gây gỗ và đánh nhau. Theo số liệu chưa đầy đủ, trong số 7.000 lao động được tiếp
nhận vào Quatar làm việc, đã có khoảng 400 người bị trục xuất về nước vì vi phạm
pháp luật. Ngoài ra, còn có vài trăm lao động bị phạt tù vì nấu rượu lậu để bán hoặc ăn
cắp... Điều đáng nói là lao động Việt Nam mới có mặt ở Quatar, Dubai, Ảrập -
Xêút khoảng gần 5 năm nay và số lượng còn khiêm tốn nhưng tiếng xấu “nổi như
cồn”. Cộng đồng lao động nước ngoài đến từ nhiều nước khác nhau như Ấn Độ,
Nêpan, Philippines… lên đến cả triệu người đang làm việc ở đây nhưng thái độ tuân
thủ pháp luật, lối sống của nước sở tại của họ khá cao. Còn lao động của ta thì ngược
lại - nổi đình nổi đám vì các “tật xấu” như gây sự, đánh nhau, sống bừa bãi, đình công
và hay đòi hỏi… Trước thực trạng chất lượng lao động Việt Nam có “vấn đề” như nêu
trên, nhiều doanh nghiệp mới đưa lao động sang thị trường Trung Đông hoặc chuẩn bị
bước chân vào đều có chung tâm lý rụt rè, ngán ngẩm. Họ có chung trăn trở là “doanh
nghiệp thì cố mở thị trường còn người lao động thì lại phá”. Mới đây, Công ty
Sovilaco và một số công ty khác đã bị đối tác hủy hợp đồng đưa hàng trăm lao động
Việt Nam sang làm việc. Lý do là ở những nhà máy đó vừa xảy ra nhiều vụ việc lao
động đánh nhau và hay ăn cắp. Một nguyên nhân khác khiến cho chất lượng lao động
Việt Nam ở đây đáng báo động là có nhiều doanh nghiệp xuất khẩu lao động làm ăn
theo kiểu chụp giật. Họ tuyển lao động ồ ạt từ những vùng sâu, vùng xa nhưng thiếu
trang bị kiến thức, giáo dục định hướng cho họ trước khi đi nước ngoài làm việc.
Một điều đáng lo ngại nữa là tình trạng phá vỡ hợp đồng vẫn còn diễn ra nhưng
chưa có giải pháp hữu hiệu để giải quyết. Ở một số thị trường truyền thống như Hàn
Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, tỷ lệ vi phạm hợp đồng của lao động nước ta vẫn cao
( khoảng 10 – 15%) làm ảnh hưởng tới uy tín của lao động Việt Nam. Hiện tượng các
Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 22
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
tổ chức, cá nhân lợi dụng để lừa đảo, thu tiền bất chính của người lao động đi xuất
khẩu lao động vẫn còn.
Đề án đưa người lao động đi làm việc nước ngoài đến năm 2015 của Chính phủ
đang được thực hiện, theo đó cùng với việc nâng tỷ lệ đưa người lao động Việt Nam
ra nước ngoài, mở rộng thị trường lao động, nâng cao chất lượng, thì siết chặt quản lý,
nhất là đối với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động cũng được đặt ra cấp thiết.
Ngoài ra vẫn còn một số hạn chế trong việc mở rộng thị trường xuất khẩu lao
động của nước ta còn hạn chế. Hiện nay nước ta vẫn đang tập trung chủ yếu vào việc
xuất khẩu lao động ở các thị trường truyền thống và chưa có sự phát triển những thị
trường mới trong bối cảnh mà thị trường truyền thống đang ngày càng bị thu
hẹp.Nhiều thị trường nhiều tiềm năng như Anh, Mỹ, Canada, Pháp… nhưng chưa
được chúng ta quan tâm và khai thác nên có tình trạng lao động Việt Nam đang dẫm
chân lên nhau tại nhiều thị trường truyền thống.
Hiện nay các doanh nghiệp xuất khẩu lao động vẫn còn có thái độ trông chờ, ỷ
lại vào đối tác. Thiếu đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực, kinh nghiệm về quản lý lao
động, chưa chấp hành tốt những quy định về chế độ tuyển chọn, đào tạo, định hướng
nhằm bảo vệ người lao động làm việc tại nước ngoài.
Hoạt động đưa lao động xuất khẩu ở nước ngoài đang là một bức tranh với hai
màu trắng đen đối lập. Một tình trạng khiến cho hình ảnh các công ty xuất khẩu lao
động đang ngày càng xấu đi trong mắt người lao động đó là hiện tượng ngày càng có
nhiều công ty, doanh nghiệp lừa đảo và thủ đoạn môi giới lừa đảo, tuyển dụng ngày
càng tinh vi, phức tạp. Trong thời gian qua đã xuất hiện một số doanh nghiệp không
có chức năng xuất khẩu lao động nhưng cũng làm công tác tư vấn và thu tiền bất hợp
pháp của người lao động dưới danh nghĩa đưa đi học và làm việc tại nước ngoài. Một
số tổ chức, cá nhân đã nhập nhằng lập nên những cái gọi là “trung tâm” hoặc “công ty
cung ứng lao động”, mượn danh pháp hoặc mạo danh các doanh nghiệp có chức năng
xuất khẩu lao động có chức năng xuất khẩu lao động với mục đích lừa đảo người lao
động. Tình trạng lừa đảo xảy ra nhiều ở các thị trường tiềm năng, có thu nhập cao
đang thực hiện thí điểm đặc biệt là ở những thị trường hấp dẫn như Hàn Quốc, Nhật
Bản, Australia, Canada, Mỹ… Đáng chú ý là hơn 80% số vụ lừa đảo đều nhắm vào
lao động có nhu cầu đi làm việc tại Hàn Quốc. Bên cạnh một số tổ chức, cá nhân hoạt
động phi pháp, cò mồi, môi giới lừa đảo, còn có một số đối tượng người Hàn Quốc
thông tin rằng họ có thể tác động tới các cơ quan có thẩm quyền của nước này để
người lao động Việt Nam đã nộp hồ sơ đăng ký dự tuyển sớm được lựa chọn vào xuất
cảnh đi làm việc tại Hàn Quốc. Thêm vào đó, mặc dù chương trình tu nghiệp sinh
sang Hàn Quốc (do các doanh nghiệp xuất khẩu lao động tuyển chọn, đào tạo ngoại
ngữ) đã hết hạn từ 1/1/2007, nhưng vẫn có rất nhiều người bị cò mồi lừa đảo thu tiền,
hứa hẹn sẽ đưa đi theo dạng này. Nguyên nhân chủ yếu là do thông tin về xuất khẩu
lao động chưa đến được với mọi người lao động, phần lớn người lao động không biết
tiếp cận với cơ quan đơn vị nào để làm thủ tục đi làm việc ở nước ngoài. Ở một số địa
phương,công tác quản lý hoạt động xuất khẩu lao động của cơ quan chức năng trên địa
bàn chưa chặt chẽ, chưa kịp thời phát hiện, ngăn chặn những vụ việc lừa đảo người
lao động. Bên cạnh đó,việc mở nhiều chi nhánh, trung tâm của các doanh nghiệp xuất
khẩu lao động cũng khiến tình hình trở nên phức tạp hơn.


Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 23
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
Nguyên nhân chính của tình trạng này là do chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa
các cơ quan chức năng quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động cấp nhà nước với các
cơ quan cấp địa phương và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Chính vì
thế, các cơ quan quản lý chưa nắm rõ tình hình hoạt động cụ thể của các doanh nghiệp
xuất khẩu lao động. Từ đó, có phương hướng chỉ đạo hay sự chấn chỉnh kịp thời để
công tác xuất khẩu lao động đạt hiệu quả cao hơn. Các cơ quan chức năng có thẩm
quyền trong lĩnh vực này chưa tổ chức việc cung cấp một cách có hệ thống thông tin
thị trường lao động nước ngoài làm cơ sở cho hoạt động hiệu quả của các doanh
nghiệp cũng như phổ cập hiểu biết cho người dân về xuất khẩu lao động.
Các chính sách, văn bản về xuất khẩu lao động chưa bám sát thực tế và thường
đi sau thực tế. Thủ tục xuất cảnh và các thủ tục khác có liên quan thường rườm rà,
phức tạp gây mất nhiều thời gian và tiền của của người lao động. Công tác triển khai
thực hiện, kiểm tra, thanh tra hoạt động xuất khẩu lao động được tiến hành chưa thực
sự nghiêm túc và có hiệu quả.
II. THỰC TRẠNG VỀ THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA VIỆT
NAM
1. Những thành công và khó khăn ở thị trường truyền thống
Theo thống kê của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thì hiện nay có
khoảng 1,5 triệu lao động của nước ta đang làm việc tại các thị trường lao động ở
nước ngoài như: Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, … Những người đi xuất
khẩu lao động đã phần nào cải thiện được cuộc sống của gia đình họ và góp phần vào
việc xóa đói giảm nghèo của đất nước. Tuy nhiên trong những năm gần đây thị trường
xuất khẩu lao động của Việt Nam đã có nhiều thay đổi lớn, nhiều thị trường được xem
là “truyền thống” đang rơi vào tình trạng khó khăn.
Thị trường lao động Đài Loan - một thị trường được xem là hấp dẫn với lao
động Việt Nam, nhưng chủ yếu họ chỉ tiếp nhận những lao động có nghề, phải biết
tiếng Hoa ở mức độ cơ sở và kèm theo đó là những quy định ngặt nghèo về sức khỏe.
Mặc dù vậy ở thị trường này không có sự tác động về mặt nhà nước như những thị
trường khác nên đã thu hút được nhiều lao động quan tâm. Theo đánh giá của Ủy ban
lao động Đài Loan thì hiện nay lao động Việt Nam đang làm việc chủ yếu ở những
ngành nghề như: điện tử, may mặc, dệt, chế tạo máy, giúp việc gia đình, thuyền viên
đánh cá…(thống kê sơ bộ thì có khoảng 28 ngành nghề khác nhau). Mức lương hiện
tại của lao động nước ta làm việc tại thị trường này khoảng từ 400 USD/người/tháng
đến 1300 USD/người/tháng. Lao động Việt Nam được giới chủ tại Đài Loan đánh giá
là cần cù, chăm chỉ và nhanh chóng hòa nhập với công việc
Thị trường lao động Hàn Quốc là một thị trường khá dễ tính với lao động nước
ngoài, nhưng họ chỉ tiếp nhận các tu nghiệp sinh đến Hàn Quốc làm việc, với tiêu
chuẩn khá “thông thoáng” là có đủ sức khỏe, chăm chỉ làm việc, đủ trình độ tiếng Hàn
và không cần phải có nghề vì họ muốn tự mình đào tạo công nhân theo tiêu chuẩn kĩ
thuật của riêng mình. Cho đến nay tại Hàn Quốc có hơn 55000 tu nghiệp sinh và
người lao động Việt Nam làm việc tại đây với mức lương từ khoảng 600
USD/người/tháng đến 1600 USD/người/tháng.
Thị trường Malaysia đã từng được xem là “thị trường vàng” của các doanh
nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam, bởi những điều kiện tiếp nhận lao động khá dễ

Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 24
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
dàng, chi phí lao động phải bỏ ra ban đầu thấp. Chính vì vậy mà lao động Việt Nam
đã chọn thị trường này để làm việc. Trong những năm đầu thì thị trường này là một thị
trường tiềm năng cho ngành xuất khẩu lao động của Việt Nam, tuy nhiên trong những
năm gần đây số lao động đăng kí đi làm việc ở Malaysia đã giảm đi đáng kể. Nguyên
nhân chính là do thu nhập của người lao động quá thấp so với chi phí của họ phải trả.
Hiện tại lao động Việt Nam làm việc tại Malaysia có mức lương bình quân khoảng
500000 RM/người/tháng tương đương khoảng 2,5 triệu VNĐ. Mức lương tối thiểu
này đã phù hợp với pháp luật của nước sở tại nhưng không phù hợp với cuộc sống
thực tế của người lao động. Theo nhiều chuyên gia cảnh báo thị trường lao động
Malaysia có nguy cơ bị “xóa sổ” trong một tương lai không xa.
Thị trường lao động Nhật Bản từ trước đến nay được xem là một điểm dừng
chân lý tưởng cho lao động Việt Nam. Với mức thu nhập từ 700 USD/người/tháng
đến 1500 USD/người/tháng đã thu hút nhiều lao động Việt Nam tham gia vào thị
trường này. Tuy nhiên tại thị trường này có yêu cầu khắt khe với các lao động nhập
cư: Người lao động phải biết tiếng Nhật, có tay nghề và đảm bảo sức khỏe để làm việc
với cường độ cao. Chủ yếu thị trường này tiếp nhận các tu nghiệp sinh nhập cảnh làm
việc để nâng cao tay nghề. Trong những năm gần đây do ảnh hưởng của suy thoái
kinh tế toàn cầu nên chính phủ Nhật Bản đã giảm chỉ tiêu số lượng tu nghiệp sinh
nhập cảnh vào nước này. Với nước ta thị trường lao động Nhật Bản là một thị trường
cao cấp cho việc xuất khẩu lao động thì ngày càng trở nên eo hẹp và khó khăn hơn.
Thị trường lao động trên biển là một thị trường lao động khá mới mẻ với lao
động Việt Nam. Đặc điểm của thị trường này là đòi hỏi người lao động phải có trình
độ chuyên môn kĩ thuật để đáp ứng được những yêu cầu khắt khe trong công việc trên
biển. Hiện nay nước ta có khoảng 15000 người lao động làm việc trên biển với chủ
yếu là máy 2, máy 3, phó 2, phó 3 và các chức danh thủy thủ hoặc thợ máy dưới tàu.
Với mức thu nhập khoảng trên 1000 USD/người/tháng đã thu hút được nhiều lao động
tham gia vào thị trường mới mẻ này.
Tuy nhiên tại những thị trường truyền thống này chúng ta gặp không ít khó
khăn do những nguyên nhân xuất phát chủ yếu từ người lao động như là tay nghề còn
yếu kém, ý thức kỉ luật không cao. Theo ước tính của Cục quản lý lao động ngoài
nước hàng năm có hàng nghìn lao động Việt Nam tự ý bỏ hợp đồng lao động đi làm
việc ngoài do vậy nhiều thị trường lao động đã hạn chế tiếp nhận lao động Việt Nam.
Bên cạnh đó những yêu cầu về trình độ tay nghề của lao động xuất khẩu ngày càng
khắt khe hơn nên đây là một trở ngại lớn cho việc xuất khẩu lao động của Việt Nam
tại những thị trường lao động truyền thống này.
2. Những khó khăn và bước đầu xâm nhập thị trường lao động mới
Ngoài việc phải duy trì và phát triển thị trường lao động truyền thống đang
ngày càng trở nên eo hẹp thì nước ta phải đẩy mạnh phát triển những thị trường lao
động mới để đảm bảo giải quyết việc làm cho người lao động nước ta. Có rất nhiều
doanh nghiệp đã có kế hoạch mở rộng thêm nhiều thị trường mới như Libi, Anh, Hy
Lạp, Australia… mà từ trước tới nay nước ta chưa tập trung khai thác.
Hiện nay tại thị trường lao động Libi có khoảng hơn 1000 lao động làm việc
chủ yếu trong các lĩnh vực xây dựng và đánh bắt hải sản với mức thu nhập bình quân
khoảng từ 300 USD/người/tháng đến 400 USD/người/tháng. Theo chủ tịch hiệp hội
xuất khẩu lao động Việt Nam Nguyễn Lương Trào cho biết phía Libi mong muốn
Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 25
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
được sớm kí kết hiệp định hợp tác lao động song phương giữa hai nước để tiếp nhận
và bảo hộ cho lao động Việt Nam. Tuy vậy tại thị trường này thì lao động Việt Nam
chưa đảm bảo sức khỏe cho công việc thuộc lĩnh vực này.
Macao là một thị trường mới và khá hấp dẫn và “khá thoáng” cho xuất khẩu lao
động của Việt Nam. Nhiều lao động Việt Nam làm việc chủ yếu trong các lĩnh vực
dịch vụ như nhà hàng, khách sạn, thợ xây dựng, trang trí nội thất và giúp việc gia đình
với mức lương từ 3 triệu đến 5 triệu VNĐ. Tuy nhiên tại thị trường này lao động Việt
Nam chưa biết được chủ lao động của mình là ai sau khi đã nhập cảnh vào Macao.
Chính vì vậy đã xảy ra tình trạng lao động nước ta sau khi nhập cảnh vào Macao rồi
nhưng vẫn thất nghiệp.
Tại Anh và Hy Lạp bước đầu lao động nước ta đã có việc làm ổn định và thu
nhập khá cao, tuy nhiên số lượng lao động Việt Nam làm việc tại thị trường này chưa
nhiều. Đặc biệt lao động nước ta được làm việc trong các nhà máy sản xuất công
nghiệp, các công trường xây dựng lớn có liên doanh với nước ngoài và có điều kiện ăn
ở sinh hoạt khá tốt.
Australia là một thị trường lao động “mới toanh” cho các doanh nghiệp xuất
khẩu lao động ở Việt Nam. Với mức lương khoảng 1500 – 2000 USD/người/tháng
(VN Media ngày 12/4/2005). Thị trường này cũng thu hút nhiều lao động Việt Nam
tham gia, hiện nay có khoảng hơn 2000 lao động Việt Nam làm việc trong các lĩnh
vực như xây dựng, thu hoạch nông sản trong các trang trại… có điều kiện làm việc và
ăn ở khá tốt.
Bên cạnh đó còn nhiều thị trường tiềm năng như: thị trường lao động vận tải
biển, Ixaren, Băng-la-đét…có mức thu nhập cao và điều kiện làm việc tốt đang được
các doanh nghiệp xuất khẩu lao động nước ta khai thác.




Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 26
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam

CHƯƠNG III: TRIỂN VỌNG, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT
TRIỂN XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
I. TRIỂN VỌNG VÀ MỤC TIÊU XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
1. Triển vọng về xuất khẩu lao động của Việt Nam
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác xuất khẩu lao động
Trong những năm qua xuất khẩu lao động ở nước ta đã đóng góp rất nhiều vào
việc phát triển kinh tế xã hội của cả nước. Chính vì vậy mà xuất khẩu lao động đã
được quốc hội đánh giá là một hoạt động thường niên của mình nhằm chấn chỉnh
những chính sách đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động.
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đang từng bước hoàn thiện hệ
thống phát luật về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, hoạt động
này tạo ra một khung pháp lý vững chắc và đầy đủ để bảo vệ người lao động. Từ năm
1996 đến nay Chính phủ đã ban hành 4 Nghị định và đến ngày 1/7/2007 Luật người
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đã minh chứng cho điều đó.
Chính phủ trực tiếp đàm phán với các nước tiếp nhận lao động Việt Nam để kí
kết các thỏa thuận, hiệp ước về xuất khẩu lao động nhằm phối hợp quản lý, bảo vệ
quyền lợi và nghĩa vụ cho lao động Việt Nam.
Trong thời gian gần đây Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính,
Bộ Kế hoạch - Đầu tư vừa hoàn tất dự thảo đề án “Dạy nghề xuất khẩu lao động đến
năm 2015” và đang tiến hành lấy ý kiến của các địa phương trước khi trình Chính phủ
phê duyệt. Mục tiêu của đề án là đến năm 2010 lao động xuất khẩu được đào tạo nghề
chiếm tỉ lệ tối thiểu 75%; đến năm 2015 chủ yếu xuất khẩu lao động có nghề, lao động
có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao và chuyên gia; 100% lao động xuất khẩu được
đào tạo ngoại ngữ, giáo dục định hướng về pháp luật, phong tục tập quán của nước
tiếp nhận lao động. Khi dự án này được đưa vào áp dụng trong thực tế sẽ góp phần
nâng cao chất lượng của lao động nước ta và sẽ củng cố được thương hiệu lao động
Việt Nam trên thị trường lao động thế giới.
Tổ chức bảo vệ quyền lợi người lao động làm việc ở nước ngoài. Chính phủ
Việt Nam giao cho các đại diện Việt Nam ở nước ngoài bảo vệ quyền lợi và lợi ích
hợp pháp của người lao động. Tại các nước có nhiều lao động Việt Nam làm việc, đã
thành lập các Ban Quản lý lao động trong cơ quan đại diện để thực hiện nhiệm vụ này.
Ngoài ra, luật pháp Việt Nam cũng quy định các doanh nghiệp làm dịch vụ đưa người
lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài phải có trách nhiệm cử đại diện ở các
nước nhận lao động để bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Hỗ trợ người lao động có
đủ năng lực và kiến thức cần thiết để có thể tự bảo vệ quyền lợi của mình khi làm việc
ở nước ngoài. Mọi người đi làm việc ở nước ngoài được đào tạo, bồi dưỡng về tay
nghề, kiến thức pháp luật, phong tục tập quán, cách ứng xử trong công việc và cuộc
sống của nước sẽ đến làm việc.
Xây dựng lộ trình sắp xếp, phát triển doanh nghiệp xuất khẩu lao động theo
định hướng, tiêu chí của Luật đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài
theo hợp đồng, đặc biệt là đầu tư phát triển cơ sở đào tạo của doanh nghiệp để chủ
động tạo nguồn lao động có chất lượng theo yêu cầu của thị trường, xây dựng thương

Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 27
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
hiệu, tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Có cơ chế biện pháp cụ thể để hỗ trợ
người lao động, người nghèo vay vốn, học nghề, làm thủ tục xuất khẩu lao động.
1.2 Những triển vọng về xuất khẩu lao động
1.2.1 Triển vọng về nguồn lao động cho xuất khẩu
Dân số là một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy xuất khẩu lao
động. Nước ta hiện nay đang đang sở hữu một lực lượng lao động dồi dào và đa dạng.
Đến năm 2009 dân số nước ta là 85.789.573 người trong đó dân số trong độ tuổi lao
động là 66% trong tổng dân số. Đây là một lực lượng đóng góp rất nhiều vào hoạt
động phát triển kinh tế trong nền kinh tế quốc dân.
Hàng năm nước ta có khoảng hơn 1,8 triệu người tham gia mới vào thị trường
lao động trong khi đó số người về hưu hàng năm khoảng 700 nghìn người. Điều đó
cho thấy nguồn cung lao động của nước ta ngày càng tăng trong khi cầu về lao động
trong nước không đủ đáp ứng. Với những đặc điểm đó lao động nước ta hiện đang
thiếu việc làm trầm trọng. Chính vì vậy triển vọng cho xuất khẩu lao động là rất lớn.
Dựa trên đặc điểm về lao động của nước ta hiện tại thì Bộ Lao động - Thương
Binh và Xã hội và các doanh nghiệp xuất khẩu lao động đang xúc tiến quá trình đào
tạo nghề cho lao động xuất khẩu nhằm phát triển chất lượng lao động xuất khẩu của
nước ta.
1.2.2 Triển vọng về thị trường tiếp nhận lao động nước ta
Trong những năm gần đây xuất khẩu lao động của nước ta đã có những bước
tiến rõ rệt đó là nhờ sự phối hợp và hỗ trợ của các cơ quan liên quan và với sự năng
động, nhạy bén bằng nhiều biện pháp do vậy chất lượng lao động nước ta từng bước
được cải thiện.
Chính phủ phối hợp với các bộ ngành liên quan đã có nhiều hoạt động mở
rộng và củng cố thị trường xuất khẩu lao động:
Khu vực Châu Á tập trung chủ yếu ở các thị trường Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài
Loan, Singapo, Malaysia, … các thị trường này sẽ tiếp nhận nhiều lao động Việt Nam
trong những năm tới. Năm 2010 thị trường Châu Á được xem là “thị trường vàng” của
xuất khẩu lao động Việt Nam.
Khu vực Bắc Mỹ: Tập trung chủ yếu là Mỹ và Canada, đây là 2 thị trường tiềm
năng đang thu hút nhiều lao động Việt Nam. Theo hiệp hội Xuất khẩu lao động Việt
Nam thì phía Việt Nam đang đàm phán để đưa người lao động Việt Nam sang làm
việc tại các thị trường cao cấp này.
Thị trường Châu Âu: Nhiều thị trường có lao động Việt Nam tham gia là Đức,
Anh, Pháp, Czech, … đang được khai thác một cách triệt để.
Thị trường Trung Đông: Chủ yếu là thị trường ở Các tiểu vương quốc Ả Rập
thống nhất (UAE), Ko-oét, Libi… bước đầu đi vào hoạt động và có hiệu quả cao.
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Bộ Ngoại giao chỉ đạo
các cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài thu thập các thông tin về tình hình và
nhu cầu lao động của nước ngoài xúc tiến mở rộng thêm các thị trường lao động mới.
2. Mục tiêu về xuất khẩu lao động
2.1. Những phương hướng và mục tiêu trước mắt cho xuất khẩu lao động của
Việt Nam trong năm 2010


Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 28
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
Về công tác phát triển thị trường ngoài nước: Trong thời gian tới, Bộ Lao động
– Thương binh và Xã hội vẫn tập trung phát triển các thị trường truyền thống đã và
đang nhận lao động Việt Nam với số lượng lớn như Trung Đông, Đài Loan, Malaysia,
Nhật Bản và Hàn Quốc. Đây là những thị trường luôn tiếp nhận số lượng lớn lao động
Việt Nam với yêu cầu không quá cao về tay nghề, ngoại ngữ, phù hợp với lao động
Việt Nam. Cụ thể là:
Malaysia vẫn là thị trường có khả năng tiếp nhận nhiều lao động Việt Nam.
Trong năm 2010, để đẩy mạnh số lượng lao động đưa sang làm việc tại Malaysia cần
phải làm tốt: Thẩm định các hợp đồng tốt, ổn định, ít rủi ro, hướng dẫn các doanh
nghiệp ký kết, triển khai đưa lao động đi; Hỗ trợ doanh nghiệp phối hợp với các cơ
quan chính quyền, đoàn thể ở địa phương tổ chức tư vấn, tuyển chọn lao động đi làm
việc tại Malaysia. Cung cấp cho người lao động thông tin đầy đủ, khách quan về thị
trường để người lao động đăng ký đi làm việc tại Malaysia; Theo dõi, giải quyết tốt,
kịp thời các vấn đề phát sinh, bảo đảm quyền lợi của người lao động, không để các vụ
việc kéo dài, gây ảnh hưởng xấu tới người lao động và dư luận.
Trung Đông là thị trường trọng điểm đưa lao động đi trong những năm tới. Bộ
Lao động – Thương binh và Xã hội sẽ tiếp tục chỉ đạo triển khai chương trình đưa
4.000 lao động sang làm nhân viên bảo vệ tại UAE. Đây là chương trình hợp tác giữa
Chính phủ hai nước nên nếu thực hiện tốt sẽ là cơ sở để tiếp tục mở rộng hợp tác lao
động giữa hai nước. Bên cạnh đó, Ả rập Xê út cũng là quốc gia Bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội dự kiến tăng cường đầu tư, khai thác để đưa lao động sang
làm việc. Để đưa được nhiều lao động sang Trung Đông, sẽ triển khai thực hiện các
giải pháp sau: Mở rộng công tác hỗ trợ đào tạo các nghề có nhu cầu cao tại thị trường
như nghề hàn 3G, 6G; các nghề xây dựng, cơ khí, dịch vụ; Hỗ trợ đào tạo ngoại ngữ
và nghề trong các lĩnh vực khác cũng có nhu cầu như du lịch, khách sạn, thương mại
bán lẻ.
Thị trường Đài loan vẫn là một thị trường trọng điểm, đang có nhu cầu tiếp
nhận lao động Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất chế tạo và khán hộ công trong viện
dưỡng lão. Tuy nhiên, Đài Loan vẫn chưa nhận trở lại lao động làm việc trong lĩnh
vực thuyền viên tàu cá biển gần và giúp việc gia đình. Trong năm 2010, Bộ sẽ tiếp tục
chỉ đạo, xúc tiến tổ chức Hội nghị lao động với Đài Loan, từ đó mở rộng số doanh
nghiệp và các ngành nghề lao động phía Đài Loan tiếp nhận để nâng cao thị phần lao
động Việt Nam tại Đài Loan.
Sau khi được dỡ bỏ cấm vận, Libya hiện đang có nhu cầu xây dựng lại đất nước
nên khả năng tiếp nhận lao động nước ngoài vào làm việc cao, dự kiến từ 30 – 40 nghìn
lao động/năm. Hiện nay, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đang chỉ đạo xây dựng
phương án triển khai thị trường Libya để mở rộng một cách bền vững theo phương
châm đưa lao động đi phù hợp với khả năng quản lý.
Hàn Quốc trong những năm vừa qua là nước mà nhiều người lao động Việt Nam
mong muốn được đến làm việc. Số lượng lao động Việt Nam được ký hợp đồng và sang
làm việc tại Hàn Quốc luôn đứng đầu trong số các nước đưa lao động sang Hàn Quốc.
Trong năm 2010, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sẽ phối hợp với các cơ quan
hữu quan của Hàn Quốc tiếp tục quảng bá về lao động Việt Nam, thúc đẩy việc tổ chức
kiểm tra tiếng Hàn dành cho lao động có nguyện vọng sang làm việc tại Hàn Quốc. Với
sự hồi phục của nền kinh tế Hàn Quốc và sự cố gắng của Việt Nam, số lượng lao động

Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 29
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
được đưa sang làm việc tại Hàn Quốc trong năm 2010 có thể sẽ tăng hơn nhiều so với
năm 2009.
Chỉ đạo các doanh nghiệp phái cử tu nghiệp sinh sang Nhật Bản thực hiện theo
quy định mới của phía Nhật Bản; Đẩy mạnh việc hợp tác chương trình đưa tu nghiệp
sinh sang Nhật Bản với tổ chức IMM, dành đáng kể chỉ tiêu của chương trình cho
những đối tượng huyện nghèo; Xúc tiến đàm phán sớm để ký kết Hiệp định về đưa lao
động sang Nhật Bản trong khuôn khổ Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản và
chuẩn bị điều kiện, đào tạo chuẩn bị nguồn lao động triển khai chương trình này.
Ngoài các thị trường trên, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tiếp tục chỉ
đạo các cơ quan và doanh nghiệp xuất khẩu lao động tập trung khai thác hợp đồng đưa
lao động trình độ cao sang các nước như Úc, New Zealand, Canada cũng như các hợp
đồng nhận lao động thời vụ (thu hái hoa quả) tại các nước châu Âu như Phần Lan,
Thuỵ Điển…
Bên cạnh đó Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cũng tiếp tục ban hành các
văn bản hướng dẫn thực hiện Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài;
Rà soát để đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật hiện hành phù hợp với tình
hình thực tế.
Ngoài ra trong năm 2010, tiếp tục triển khai các chương trình hỗ trợ đào tạo lao
động xuất khẩu, bao gồm: Hỗ trợ đào tạo một số nghề đặc thù, nghề đòi hỏi kỹ thuật
cao mà thị trường lao động quốc tế có yêu cầu; hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động
nghèo đi làm việc ở nước ngoài. Tiếp tục chỉ đạo các doanh nghiệp thực hiện tốt công
tác đào tạo người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài, đảm bảo tất cả người
lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài đều được tham gia các lớp bồi dưỡng
kiến thức cần thiết về phong tục, tập quán, pháp luật có liên quan của nước tiếp nhận
lao động và tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp phối hợp với các cấp chính quyền tuyển
chọn, đào tạo đủ nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài thông qua việc cung cấp
thông tin, tổ chức tư vấn tại địa phương để người lao động có đủ thông tin khách quan
tham gia xuất khẩu lao động.
Về công tác quản lý lao động: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp
với các bộ ngành liên quan tăng cường công tác quản lý, bảo vệ quyền lợi của người
lao động làm việc ở nước ngoài. Ngoài việc tăng cường công tác quản lý của các cơ
quan đại diện, của Ban Quản lý lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sẽ
xây dựng để thực hiện cơ chế quản lý lao động của doanh nghiệp phù hợp với từng thị
trường tiếp nhận lao động, bảo đảm quản lý chặt chẽ, bảo vệ tốt quyền lợi của người
lao động, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong hoạt động xuất khẩu lao động,
xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, đặc
biệt là tăng cường công tác quản lý của các cấp chính quyền địa phương đối với hoạt
động tuyển chọn lao động trên địa bàn, ngăn ngừa, xử lý kịp thời các hành vi lừa đảo
trong xuất khẩu lao động. Tăng cường công tác phổ biến luật, các văn bản quy định
của pháp luật trong lĩnh vực xuất khẩu lao động tới người dân, đặc biệt đối với các đối
tượng là người lao động ở các huyện nghèo.
Trong năm 2010, Bộ sẽ tiếp tục đẩy nhanh tiến độ triển khai rộng khắp Quyết
định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án

Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 30
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo nhanh và
bền vững, mục tiêu đưa khoảng 7000 lao động các huyện nghèo đi làm việc ở nước
ngoài.
2.2. Những phương hướng và mục tiêu cho xuất khẩu lao động của Việt
Nam trong giai đoạn 2010 – 2015

Theo quyết định 71/2009/QĐ – TTg về việc phê duyệt đề án hỗ trợ các huyện
nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững giai
đoạn 2009 – 2020 thì trong giai đoạn này nước ta tiếp tục đẩy mạnh công tác xuất
khẩu lao động ra nước ngoài.



Trong giai đoạn này tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, giáo dục lao động trước
khi đi. Đào tạo nghề được coi là một vấn đề ưu tiên hàng đầu trong việc phát triển thị
trường lao động Việt Nam hiện nay. Cần tăng cường nguồn lao động có chất lượng, có
ngoại ngữ. Đào tạo kĩ năng, kỉ luật lao động và tác phong làm việc cho người lao động.
Tập trung khai thác những thị trường có chuyên môn. Có như vậy chúng ta mới đưa
lao động đi làm việc ở những thị trường mới có thu nhập cao hơn.

Bên cạnh đó tiếp tục tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền đến các địa
phương về quyết đinh 71/2009/QĐ – TTg. Theo đó các tỉnh thành cần rà soát, bổ sung
đề án xuất khẩu lao động với các nội dung bao gồm: thông tin, tuyên truyền chính
sách, chế độ, tiêu chuẩn, quy chế, quy trình xuất khẩu lao động dễ hiểu, với các hình
thức phù hợp đến tận từng thôn bản. Song song với đó Chính phủ phối hợp với Bộ
Lao động – Thương binh và Xã hội và các bộ ngành liên quan xây dựng lộ trình sắp
xếp, phát triển doanh nghiệp xuất khẩu lao động theo định hướng, tiêu chí của Luật
người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đặc biệt là đầu tư
phát triển cơ sở đào tạo của doanh nghiệp để chủ động tao ra nguồn lao động có chất
lượng cao phù hợp với thị trường, xây dựng thương hiệu, tăng năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp Việt Nam.

Tiếp tục xây dựng cơ chế, biện pháp cụ thể để hỗ trợ người lao động, người
nghèo vay vốn, học nghề, làm thủ tục xuất khẩu lao động.

Tiếp tục tăng cường công tác mở rộng thị trường xuất khẩu, và tăng cường hợp
tác lao động với các nước trong khu vực Châu Á, kí kết các hợp định hợp tác về lao
động để bảo vệ quyền lợi của người lao động Việt Nam khi làm việc ở nước ngoài.

Tiếp tục xây dựng cơ sở pháp lý vững chắc để làm căn cứ để phát triển các
doanh nghiệp xuất khẩu lao động và người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP

Từ các định hướng nêu trên, để thực hiện có hiệu quả hoạt động xuất khẩu lao
động đòi hỏi phải có các giải pháp thiết thực.

Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 31
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
1 Các giải pháp với cơ quan quản lý Nhà nước
1.1 Sửa đổi bổ sung cơ chế quản lý
Thiết lập quan hệ với các quốc gia có nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài.
Do Nhà nước đóng vai trò quyết định cho sự ổn định và phát triển xuất khẩu lao động
Nên ngoài chức năng xác định chủ trương, định hướng và chiến lược thì còn có vai trò
hết sức to lớn trong việc mở rộng thị trường lao động ngoài nước.
Cần hình thành hệ thống tùy viên lao động để tham mưu tư vấn cho Nhà nước
các hiệp định khung hoặc các thỏa thuận nguyên tắc để tạo tiền đề cho các doanh
nghiệp ký kết thực các hợp đồng cụ thể như ở các nước xuất khẩu lao động truyền
thống, có thể thấy vai trò của tùy viên lao động rất quan trọng, có tính quyết định cho
việc thâm nhập, cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường.
1.2 Xác định rõ vai trò và trách nhiệm của các Bộ, ngành liên quan và chính
quyền các cấp trong xuất khẩu lao động
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội là cơ quan chính phủ, thống nhất quản lý
nhà nước về xuất khẩu lao động có trách nhiệm: Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, khai
thác thị trường lao động quốc tế nhằm hình thành một hệ thống thị trường sử dụng lao
động Việt Nam ổn định và phát triển. Nghiên cứu và tổ chức triển khai các chính sách,
chế độ về xuất khẩu lao động. Tổ chức quản lý, kiểm tra đồng thời chỉ đạo và hướng
dẫn các Bộ, ngành, địa phương và các doanh nghiệp triển khai công tác xuất khẩu lao
động theo đúng Luật lao động.
Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội thiết lập
thúc đẩy và tăng cường quan hệ hợp tác song phương với các nước có khả năng thu
hút lao động và chuyên gia Việt Nam.
Bộ Công an phối hợp với Bộ Tư pháp chỉ đạo các cấp triệt để cải cách hành
chính trong các thủ tục, đảm bảo, thuận lợi nhanh chóng tránh phiền hà cho người lao
động và chuyên gia.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ thông tin và
truyền thông, Bộ Công thương….và chính quền các cấp theo chức năng của mình đẩy
mạnh hoạt động xuất khẩu lao động trong phạm vi thuộc Bộ, ngành địa phương mình
theo quy định của Nhà nước, chỉ đạo các tổ chức kinh tế xuất khẩu lao động tổ chức
tốt đời sống văn hóa tinh thần cho người lao động và chuyên gia Việt Nam làm việc ở
nước ngoài.
1.3 Công tác thanh tra, kiểm tra
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội ban hành quy chế và hướng dẫn công tác
thanh tra và kiểm tra về xuất khẩu lao động và chuyên gia, tiến hành thanh tra, kiểm
tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất.
Các Bộ, Ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương quản
lý, thanh tra, kiểm tra hoạt động xuất khẩu lao động trên địa bàn, phát hiện và xử lý
kịp thời các hành vi,vi phạm liên quan đến xuất khẩu lao động.
1.4 Đẩy mạnh xuất khẩu lao động trên nhiều lĩnh vực
Xây dựng, đánh bắt thủy sản, thợ mộc, cơ khí, xây dựng… là những lĩnh vực
được xem là truyền thống đối với lao động xuất khẩu của Việt Nam. Trong những


Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 32
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
năm gần đây thì các lĩnh vực truyền thống đã không ngừng tăng về số lượng xuất khẩu
lao động mà còn tăng cả về chất lượng nguồn lao động xuất khẩu.
Với sự phát triển về nhu cầu cuộc sống như ngày nay thì ngoài việc phát triển
các lĩnh vực truyền thống cần phải chú ý các lĩnh vực mới mà lao động Việt Nam có
thể đáp ứng tốt như, nhân viên tạp vụ nhà hàng, công nhân làm trong các khu công
nghệ cao, sản xuất hàng trang trí nội thất cao cấp…
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp có thể liên kết với các cơ sở dạy nghề, trường
dạy nghề để đào tạo nguời lao động trên các lĩnh vực mới này để có thể đáp ứng tốt
cho các đối tác nước ngoài tiếp nhận lao động Việt Nam.
Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, chuyên gia có kiến thức, trình độ tay nghề
thông thạo ngoại ngữ để giải quyết các tranh chấp trong lao động với giới chủ nước
ngoài.
1.5 Giảm chi phí xuất khẩu lao động
Tiếp tục sửa đổi và giảm các thủ tục rờm rà để giảm các chi phí đi xuất khẩu
lao động xuống tối thiểu và có những chính sách ưu đãi với những người thuộc diện
đặc biệt như gia đình chính sách, người nghèo,… nhằm thu hút tối đa lực lượng lao
động ở nông thôn, vùng núi để góp phần cải thiện đời sống của gia đình họ.
2 Các giải pháp với doanh nghiệp xuất khẩu lao động
Phải xây dựng cho được một đội ngũ doanh nghiệp xuất khẩu lao động mạnh,
là đội quân tiên phong trong khâu khai thác thị trường mới, cạnh tranh với các nước
xuất khẩu lao động khác, tham gia đấu thầu quốc tế làm nền tảng và dọn đường cho
đội ngũ doanh nghiệp phía sau thâm nhập thị trường. Muốn vậy phải tập trung đầu tư
cho các doanh nghiệp này. Trước mắt, chúng ta cần đầu tư vốn, phương tiện hoạt
động, xây dựng bộ máy, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác xuất khẩu
lao động có khả năng tiếp cận và tìm kiếm thị trường. Các cơ quan chủ quản và các cơ
quan quản lý Nhà nước cần hỗ trợ về vốn và về cán bộ để đầu tư xây dựng các tổ chức
kinh tế tham gia vào xuất khẩu lao động trở thành các tổ chức kinh tế mạnh, có đủ
kinh nghiệm và khả năng cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu lao động quốc tế,
xây dựng một số tổ chức kinh tế thành công ty đấu thầu quốc tế.
Ban hành các chính sách ưu đãi với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động trong
các lĩnh vực tài chính, như cho vay với lãi suất thấp, xây dựng chi phí môi giới hoa
hồng linh hoạt để tạo thế chủ động cho doanh nghiệp trong việc tìm được hợp đồng
xuất khẩu lao động. Giao quyền tự chủ cho các doanh nghiệp nghiên cứu thành lập
Hiệp hội xuất khẩu lao động và chuyên gia để các doanh nghiệp đưa lao động đi làm
việc ở nước ngoài có sự phối hợp chặt chẽ với nhau và bảo vệ quyền lợi cho nhau
trước sự cạnh tranh quốc tế trong lĩnh vực xuất khẩu lao động.
Nâng cao điều kiện, tiêu chuẩn cấp giấy phép hoạt động cho doanh
nghiệp xuất khẩu lao động: nâng vốn điều lệ lên 7 tỷ đồng; Về cán có ít nhất 7 cán bộ
có trình độ đại học kinh tế, pháp luật, ngoại ngữ, doanh nghiệp phải có cơ sở đào tạo
quy mô trên 100 học viên nội trú trở lên và dành một phần chi phí cho đào tạo lao
động. Các doanh nghiệp tự nâng cao năng lực và khả năng chuyên môn bằng cách tự
đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, nhân viên của mình. Trong quá trình đào tạo cần
bám sát các chỉ tiêu chuẩn đã được xây dựng trước cho từng vị trí công việc để đáp
ứng yêu cầu của hoạt động xuất khẩu lao động trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu

Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 33
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
hóa. Bên cạnh việc nâng cao năng lực của doanh nghiệp, cần phải thu hồi giấy
phép đối với các doanh nghiệp hoạt động thiếu năng lực và không có hiệu quả, sáp
nhập giải thể các doanh nghiệp có nhiều đầu mối xuất khẩu lao động. Xử lý triệt để và
nghiêm minh đối với các trường hợp hoạt động phi pháp, tuyển chọn lao động thông
qua cò mồi, trung gian gây thiệt hại cho người lao động và xã hội.
3 Các giải pháp đối với công tác đào tạo xuất khẩu lao động
Ở nước ta hiện nay, nguồn lao động thì nhiều nhưng đáp ứng tốt các yêu cầu về
chuyên môn, sức khỏe,…còn hạn chế. Do vậy cần phải tăng cường công tác đào tạo
lao động xuất khẩu để đáp ứng cho thị trường.
Và công tác đào tạo nguồn lao động được coi là yếu tố quyết định ảnh hưởng
đến vấn đề này. Nếu thực hiện không tốt công tác này, người lao động sẽ không đủ
khả năng, trình độ đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng lao động và từ đó có thể
dẫn đến việc không hoàn thành tốt trách nhiệm đề ra, gây thiệt hại, vi phạm hợp
đồng… ảnh hưởng xấu đến uy tín, lợi ích của doanh nghiệp và xa hơn nữa là chiến
lược xuất khẩu lao động của Nhà nước.
Do đó cần có sự quản lý, hướng dẫn chặt chẽ của Nhà nước cho doanh nghiệp
thực hiện:
 Đối với Nhà nước: Có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp đào tạo nguồn lao
động xuất khẩu, cùng doanh nghiệp đầu tư xây dựng các cơ sở, trung tâm dạy nghề…
chú trọng phát triển những nghề mà có nhu cầu cao của người sử dụng lao động.
 Nâng cao chất lượng đào tạo giáo dục phổ thông để khi ra trường, lực lượng
này đủ khả năng, điều kiện về ngoại ngữ tham gia xuất khẩu lao động.
 Từng khu vực, ngành nghề có từng chương trình giảng dạy riêng.
 Đào tạo chuyên môn, kiến thức phải đi kèm đạo tạo về ý thức kỷ luật trách
nhiệm cho người lao động
 Bổ sung cho người lao động về pháp luật
 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phải thường xuyên hướng dẫn cho chính
quyền địa phương, doanh nghiệp và người lao động về định hướng, thông tin các thị
trường một cách cụ thể.
Và điều cuối cùng là cần phải làm cho người lao động thấy được ý nghĩa, vai
trò to lớn, trách nhiệm của họ đối với quê hương, đất nước, doanh nghiệp và gia đình
khi họ được chọn ra nước ngoài làm việc.
4 Các giải pháp hậu xuất khẩu lao động
Sau khi người lao động kết thúc hợp đồng trở về nước thì cần giải quyết các
vấn đề liên quan như là:
Giải quyết việc làm cho họ khi họ trở về nước vì sau một thời gian làm việc ở
nước ngoài họ đã được trang bị kỹ năng nghề nghiệp nên cần sắp xếp, bố trí công việc
phù hợp với tay nghề, trình độ của họ.
Nhà nước cần ban hành các văn bản pháp luật quản lý những người lao động đi
làm việc ở nước ngoài trở về để có thể giải quyết việc làm được tốt hơn.




Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 34
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam




PHẦN KẾT LUẬN
Trong giai đoạn toàn cầu hóa đang diễn ra hết sức sôi động và mạnh mẽ như
ngày nay thì việc giải quyết việc làm cho người lao động đang là một vấn đề cấp thiết.
Xuất khẩu lao động là một xu hướng khách quan cho các nước đang phát triển mà có
cơ cấu dân số trẻ như Việt Nam. Cùng với sự tăng tốc của các cường quốc mạnh và
những phát minh khoa học công nghệ tiên tiến tối ưu thì ngoài việc học hỏi tiếp thu
các thành tựu của nước bạn, chúng ta cần đem chính những nhân công Việt Nam sang
tận các nước đó để tiếp thu những kỹ năng nghề nghiệp và trình độ chuyên môn nước
sở tại. Bởi nếu được trực tiếp quan sát, làm việc thì chúng ta sẽ nhanh chóng lĩnh hội
tốt hơn. Đồng thời xuất cảnh làm cho người lao động Việt Nam có cơ hội mở rộng
tầm nhìn toàn cảnh nền kinh tế thế giới, để rồi cải thiện cuộc sống người lao động, gây
dựng viễn cảnh tương lai tươi sáng hơn cho chính mình và tương lai phồn thịnh của
đất nước mình
Đề tài đã tổng hợp các phương pháp để trình bày và phân tích một cách chi tiết
về các vấn đề liên quan đến xuất khẩu lao động của nước ta. Bên cạnh đó là hệ thống
hóa những vấn đề cơ bản có liên quan đến việc đưa người lao động đi làm việc ở nước
ngoài như: nguồn nhân lực, nguồn lao động, sức lao động, việc làm, thất nghiệp, thị
trường lao động, xuất khẩu lao động….
Bên cạnh đó đề tài còn phân tích những số liệu về số lượng người lao động đi
làm việc ở nước ngoài và cơ cấu ngành nghề khi xuất khẩu để thấy được những thành
tựu và hạn chế của xuất khẩu lao động ở nước ta để đưa ra những giải pháp nhằm phát
triển xuất khẩu lao đông ở Việt Nam.




Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 35
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam




TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Xuân Bá : Một số vấn đề phát triển thị trường lao động ở Việt Nam – NXB
Lao động
2. Đinh Đăng Định: Một số vấn đề lao động việc làm và đời sống người lao động
ở Việt Nam hiện nay
3. Tạp chí thị trường lao động số 7/2006 bài viết “di chuyển lao động”
4. http://www.vietbao.com – “Luật xuất khẩu lao động mới – chế tài liệu có đủ
mạnh” cập nhật ngày 14/01/2006
5. http://www.VnEconomy.vn – bài viết “Xuất khẩu lao động thiếu gắn kết” cập
nhật ngày 27/12/2007
6. http://www.Vnmedia.vn – Bài viết “5 giải pháp để phát triển xuất khẩu lao
động” cập nhật ngày 15/01/2008
7. Đề án đẩy mạnh xuất khẩu lao động và chuyên gia giai đoạn 1998 -2010, Bộ
Lao động – Thương binh và Xã hội ngày 24/8/1998
8. TS. Cao Văn Sâm, một vài suy nghĩ về đào tạo nguồn nhân lực cho xuất khẩu
lao động, tạp chí việc làm với nước ngoài, cục quản lý lao động ngoài nước số
3/2002
9. TS. Cao Văn Sâm, tăng cường đào tạo ngoại ngữ cho lao động xuất khẩu và
chuyên gia, tạp chí việc làm với nước ngoài, cục quản lý lao động ngoài nước
số 1/2001
10. TS. Phạm Đỗ Nhật Tân, thị trường lao động ngoài nước. Thực trạng và giải
pháp ổn định, phát triển thị trường, tạp chí việc làm với nước ngoài, cục quản
lý lao động ngoài nước số 6/2000
11. Viện chiến lược phát triển, cơ sở khoa học của một số vấn đề trong chiến lược
phát triển kinh tế xã hội Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020,
NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 2001
12. Đào Đông Hải, tu nghiệp sinh Việt Nam tại Hàn Quốc, Nhật Bản: Một số tồn
tại và giải pháp, tạp chí việc làm với nước ngoài, cục quản lý lao động ngoài
nước số 4/2002
13. http://www.anninhthudo.vn, Bài viết “Lao động làm việc nước ngoài mỗi năm
gửi về nước 1,7 tỷ USD” cập nhật ngày 01/02/2010
14. Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng của
quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 ngày 29 tháng 11 năm 2006



Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 36
Thực trạng và giải pháp cho xuất khẩu lao động ở Việt Nam
15. TS.Nguyễn Lương Trào, Mấy giải pháp nhằm phát triển bền vững việc làm cho
lao động Việt Nam, trang thông tin hiệp hội xuất khẩu lao động Việt Nam
16. Trung tâm thông tin tư liệu - viện nghiên cứu kinh tế trung ương,Thị trường lao
động xuất khẩu thực trạng và giải pháp, năm 2007
17. http://www.molisa.gov.vn – bài viết “Để nâng cao chất lượng lao động đi làm
việc ở nước ngoài” cập nhật ngày 02/01/2008




Thực hiện: Nguyễn Đức Hoàng & Đoàn Sơn Đức (CD08NL1) 37
Đề thi vào lớp 10 môn Toán |  Đáp án đề thi tốt nghiệp |  Đề thi Đại học |  Đề thi thử đại học môn Hóa |  Mẫu đơn xin việc |  Bài tiểu luận mẫu |  Ôn thi cao học 2014 |  Nghiên cứu khoa học |  Lập kế hoạch kinh doanh |  Bảng cân đối kế toán |  Đề thi chứng chỉ Tin học |  Tư tưởng Hồ Chí Minh |  Đề thi chứng chỉ Tiếng anh
Theo dõi chúng tôi
Đồng bộ tài khoản